Showing posts with label Kinh. Show all posts
Showing posts with label Kinh. Show all posts

Tuesday, 14 April 2026

Tôi chọn làm tỳ-khưu (MN 82)

 TÔI CHỌN LÀM TỲ-KHƯU 
Dhammesaka lược dịch (1999)

Ðây là bài kệ của Ðại đức Raṭṭhapāla tóm lược lại cuộc đối thoại giữa ngài và Vua Koravya để nói lên lý do tại sao ngài trở thành tỳ-khưu (Kinh Raṭṭhapāla, MN 82).

Tôi đã thấy biết bao người giàu có
Chưa bao giờ từ bỏ tánh tham lam
Vẫn mãi mê ham của cải bạc vàng
Vẫn khao khát chạy hoài theo khoái lạc

Tôi đã thấy biết bao là vua chúa
Chưa bao giờ an phận với giang san
Dù biên cương giáp bốn biển ngút ngàn
Vẫn muốn nữa, muốn biên thùy rộng mãi

Người thế gian, từ bần dân, vua chúa
Trước tử thần, tâm vẫn còn tham
Tiếc công danh, tiếc sự nghiệp chưa thành
Nhưng phải bỏ, tay buông xuôi, nhắm mắt

Quanh người chết bao người than, kẻ khóc
“Hỡi người thân! Sao vội bỏ ra đi!”
Trong áo quan, người nằm đó im lìm
Lửa thiêu đốt, xác thân thành tro bụi

Đem theo gì, trên mình manh vải liệm!
Còn lại chi, bia mộ khắc đôi hàng!
Dù muốn về trở lại cõi trần gian
Nhưng phải chịu tái sinh theo nghiệp định

Kẻ còn sống đang tranh giành thừa kế
Người chết nầy chỉ có nghiệp đem theo
Khi ra đi tay trắng chẳng mang gì
Bỏ con cái, bạn đời cùng của cải

Bách niên đại thọ bạc tiền nào mua nổi
Biển ngọc rừng vàng sao tránh khỏi già nua
Lời thánh nhân nhắc nhở lẽ Vô thường
Ngắn ngủi lắm! Kiếp người, nên ghi nhớ!

Bậc có trí quán tưởng luôn sự chết
Phút lâm chung tâm bình thản an nhiên
Kẻ phàm phu không quán tưởng thường xuyên
Nên phút cuối lâm chung đầy sợ hãi

Trí tuệ quý hơn tiền tài của cải
Trí tuệ giúp người đạt Đạo Quả Vô Sinh
Kẻ si mê biết bao kiếp đạt thành
Trôi nổi mãi trong luân hồi vô tận

Từ bào thai người sinh về cõi khác
Tiếp tục hành trình đi mãi không thôi
Còn vô minh, nghiệp quả trói thân mình
Hết Sinh-Tử-Tái Sinh vòng lẫn quẫn

Như kẻ cướp chịu luật đời phân xử
Nghiệp chúng sinh, luật nhân quả nghiêm minh
Để đời sau, nghiệp cũ bước theo mình
Trổ quả dử, khổ người gây nghiệp ác

Dục lạc ngũ trần, vị ngọt ngon thơm ngát
Làm động lòng, làm xao xuyến tâm can
Thấy hiểm nguy trong vị ngọt ẩn tàng 
Làm ẩn sĩ, tôi sống đời thanh thản

Kiếp người mong manh như nhánh cây đầy trái
Gió rung cành, trái xanh, chín, rụng rơi!
Bởi hiểu thế, tôi đắp y cạo tóc
Làm tỳ-khưu vui đạo sống thanh bần.

 – Dhammesaka lược dịch,
California, USA. 
23/07/1999

*-----*



Wednesday, 25 February 2026

Năm cấp độ hiểu biết

NĂM CẤP ĐỘ HIỂU BIẾT

Trong kinh điển Nikāya/A-hàm thường thấy đề cập đến năm cấp độ hiểu biết:

1/ Tưởng tri: sañjānati, 想知 - to perceive, to recognize 
2/ Thức tri: vijānāti, 識知 - to cognize, to be aware of, to discern
3/ Tuệ tri: pajānāti, 慧知 - to know clearly
4/ Thắng tri: abhijānāti, 勝知 - to directly know, know by experience
5/ Liễu tri: parijānāti, 了知 - to fully understand

(các từ Pāli ở trên là động từ, verb)

Khả năng hiểu biết (jānana, jānāti) của con người được phân thành nhiều cấp độ khác nhau, gồm tưởng tri (sañjānāti), thức tri (vijānāti), tuệ tri (pajānāti), thắng tri (abhijānāti), liễu tri (parijānāti), tương ứng với quá trình tu tập, chuyển hóa và thanh lọc tâm thức. Ở cấp độ hiểu biết thế gian của phàm nhân thì có tưởng tri, thức tri và tuệ tri. Ở cấp độ xuất thế của các vị đã nhập dòng thánh giải thoát thì có thắng tri và liễu tri.

. Tưởng tri là hiểu biết thông thường, nhận ra một sự vật hay hiện tượng nhờ ký ức hay do nhớ lại, hồi tưởng lại những gì mình đã trải nghiệm.

. Thức tri là hiểu biết khi sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) tiếp xúc với sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). 

. Tuệ tri là hiểu biết đúng như thật về bản chất của đối tượng, với trí tuệ (paññā) của một phàm nhân. Thí dụ: Thở vô dài, vị ấy tuệ tri “Tôi thở vô dài” (MN 10).

. Thắng tri là hiểu biết thù thắng, vượt lên trên sự hiểu biết thông thường của thế gian, hiểu biết mang tính trực nghiệm sâu sắc, vượt khỏi suy luận. Đây là hiểu biết thấu đáo của vị đã nhập dòng thánh giải thoát.

. Liễu tri là hiểu biết đầy đủ, rốt ráo, viên mãn, đoạn tận mọi chấp thủ. Đây là hiểu biết của chư Phật và các vị A-la-hán.

*-----*



Friday, 20 February 2026

Trường Bộ (Dīgha Nikāya). Tỳ-khưu Indacanda dịch Việt.

TRƯỜNG BỘ ((Dīgha Nikāya)
Tỳ-khưu Indacanda dịch Việt

Tải về máy, tập tin dạng PDF:

Tập I (2021) (10_D_01.pdf)
https://tinyurl.com/yc3a5rda    

Tập II (2023) (11_D_02.pdf)
https://tinyurl.com/ymra7rvt    

Tập III (2024) (12_D_03.pdf)
https://tinyurl.com/mwksdu5d   

Mục lục Trường Bộ (Dīgha Nikāya) 

Ghi chú: SuttaCentral dùng ký hiệu "DN xx" để trích dẫn các bài kinh của Trường bộ (DN: Digha Nikaya). Tựa bài kinh tiếng Việt dựa theo bản dịch của Tỳ-khưu Indacanda, tựa bài kinh tiếng Anh dựa theo bản dịch của Bhikkhu Sujato (SuttaCentral).

Tập I 
DN 1 - Brahmajālasuttam – Kinh Mạng Lưới Cao Thượng - The Divine Net
DN 2 - Sāmaññaphalasuttam – Kinh Quả Báo Hạnh Sa Môn - The Fruits of the Ascetic Life
DN 3 - Ambatthasuttam – Kinh Về Ambattha - With Ambaṭṭha
DN 4 - Sonadandasuttam – Kinh Về Sonadanda - With Soṇadaṇḍa
DN 5 - Kūţadantasuttam – Kinh Về Kūţadanta - With Kūṭadanta
DN 6 - Mahālisuttam – Kinh Về Mahāli - With Mahāli
DN 7 - Jaliyasuttam - Kinh Về Jaliya - With Jāliya
DN 8 - Sihanādasuttam – Kinh Tiếng Rống Sư Tử - The Lion’s Roar to the Naked Ascetic Kassapa
DN 9 - Potthapādasuttam – Kinh Về Potthapāda - With Poṭṭhapāda
DN 10 - Subhasuttam – Kinh Về Subha - With Subha
DN 11 - Kevaddhasuttam – Kinh Về Kevaddha - With Kevaḍḍha
DN 12 - Lohiccasuttam – Kinh Về Lohicca - With Lohicca
DN 13 - Tevijasuttam – Kinh Ba Kiến Thức (Vệ Đà) - Experts in the Three Vedas

Tập II
DN 14 - Mahāpadānasuttam - Đại Kinh Ký Sự - The Great Discourse on Traces Left Behind
DN 15 - Mahānidānasuttam - Đại Kinh Về Căn Nguyên - The Great Discourse on Causation
DN 16 - Mahāparinibbānasuttam - Đại Kinh Viên Tịch Niết Bàn - The Great Discourse on the Buddha’s Extinguishment
DN 17 - Mahāsudassanasuttam - Kinh Về Vua Mahāsudassana - King Mahāsudassana
DN 18 - Janavasabhasuttam - Kinh Về Dạ-xoa Janavasabha - With Janavasabha
DN 19 - Mahāgovindasuttam - Kinh Về Mahāgovinda - The Great Steward
DN 20 - Mahāsamayasuttam - Kinh Đại Hội - The Great Congregation
DN 21 - Sakkapañhasuttam - Kinh Sakka Vấn Đạo - Sakka’s Questions
DN 22 - Mahāsatipaṭṭhānasuttam - Đại Kinh Thiết Lập Niệm - The Longer Discourse on Mindfulness Meditation
DN 23 - Pāyāsisuttam - Kinh Về Pāyāsi - With Pāyāsi

Tập III
DN 24 - Pathikasuttam - Kinh về Pathika - About Pāṭikaputta
DN 25 - Udumbarikasuttam - Kinh tại Khu Vườn của Udumbarikā - The Lion’s Roar at the Monastery of Lady Udumbarikā
DN 26 - Cakkavattisuttam - Kinh Chuyển Luân Vương - The Wheel-Turning Monarch
DN 27 - Aggaññasuttam - Kinh Khởi Nguyên của Thế Giới - What Came First
DN 28 - Sampasādanīyasuttam - Kinh Khởi Niềm Tịnh Tín - Inspiring Confidence
DN 29 - Pāsādikasuttam - Kinh Khơi Dậy Niềm Tin - An Impressive Discourse
DN 30 - Lakkhanasuttam - Kinh Tướng Trạng - The Marks of a Great Man
DN 31 - Sigālasuttam - Kinh về Sigāla - Advice to Sigālaka
DN 31 - Atānātiyasuttam - Kinh Hộ Trì Atānātiya - The Āṭānāṭiya Protection
DN 33 - Sangītisuttam - Kinh Hợp Tụng - Reciting in Concert
DN 34 - Dasuttarasuttam - Kinh Thập Thượng - Up to Ten 

*-----*





Saturday, 24 January 2026

Nguồn gốc của các bộ kinh Nikāya

Nguồn gốc của các bộ kinh Nikāya 
Bhikkhu Bodhi 
Bình Anson dịch

Đức Phật không viết lại những lời dạy của mình, giáo lý của Ngài cũng không được các môn đệ ghi lại. Trong thời Đức Phật còn tại thế, văn hóa Ấn Độ chủ yếu không dựa vào chữ viết. Đức Phật du hành từ thành phố này đến thành phố kia trong vùng đồng bằng sông Hằng, hướng dẫn các vị tăng ni, thuyết giảng cho các cư sĩ đến nghe Ngài, trả lời các câu hỏi của người tò mò muốn hiểu biết và tham gia vào các cuộc thảo luận với mọi người trong mọi tầng lớp xã hội. Các biên bản về giáo lý của Ngài mà chúng ta có được ngày nay không đến từ ngòi bút của Ngài, hoặc từ sự ghi chép của những người đã được nghe Ngài thuyết giảng, nhưng từ các hội nghị kết tập kinh điển do các vị tu sĩ tổ chức sau khi Ngài bát-niết-bàn (parinibbāna) – nghĩa là sau khi Ngài nhập Niết-bàn – để gìn giữ giáo pháp của Ngài.

Không chắc chắn những gì kết tập trong các hội nghị đó ghi lại đúng nguyên văn các lời giảng của Đức Phật. Đức Phật nói một cách tự nhiên và trình bày tỉ mỉ các chủ đề, qua nhiều phương cách để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của những người tìm đến Ngài để được hướng dẫn. Không thể nào ghi nhớ và lưu giữ chính xác những lời giảng đa dạng và sâu rộng như thế qua lối truyền khẩu. Để rập khuôn các bài giảng vào một dạng thức thích hợp cho việc bảo tồn, các vị tu sĩ có trách nhiệm có lẽ đã tập hợp và chỉnh sửa các bài giảng đó cho thích hợp để nghe, ghi nhớ, trì tụng, thuộc lòng và lặp lại – đó là năm yếu tố quan trọng của khẩu truyền. Quy trình này, có lẽ đã bắt đầu ngay khi Đức Phật còn tại thế, đưa đến một mức độ hợp lý về việc đơn giản hóa và chuẩn hóa các bài giảng để bảo tồn.

Trong suốt cuộc đời hoằng pháp của Đức Phật, những bài thuyết giảng được phân thành chín loại theo thể loại văn học: khế kinh (sutta), ứng tụng (geyya), ký thuyết (veyyākaraṇa), kệ ngôn (gāthā), cảm hứng ngữ (udāna), như thị thuyết (itivuttaka), bổn sinh (jātaka), kỳ diệu (abbhūtadhamma, vị tằng hữu) và phương quảng (vedalla). Vào thời điểm nào đó sau khi Ngài nhập diệt, hệ thống phân loại này được thay thế bằng một cấu trúc mới, sắp xếp các bài giảng vào trong các bộ sưu tập lớn gọi là Nikāya trong truyền thống Phật giáo Theravāda, hay Āgama (A-hàm) trong các trường phái Phật giáo Bắc Ấn. Không thể biết hệ Nikāya-Āgama này bắt đầu xuất hiện chính xác vào lúc nào, nhưng khi chúng xuất hiện, hệ thống phân loại này hoàn toàn thay thế hệ thống cũ.

Tiểu Phẩm, một trong những bộ của Luật tạng Pāli, tường thuật việc kinh điển được kết tập trong Hội nghị Kết tập Kinh điển Phật giáo lần thứ nhất, tổ chức ba tháng sau khi Đức Phật bát-niết-bàn (parinibbāna). Theo tường thuật này, không lâu sau khi Đức Phật nhập diệt, ngài Trưởng lão Ma-ha Ca-diếp (Mahākassapa), xem như là vị lãnh đạo Tăng đoàn, chọn năm trăm vị tỳ-khưu, tất cả đều là A-la-hán hay bậc giác ngộ, gặp nhau để biên tập một phiên bản chính thống về các lời dạy của Đức Phật. Hội nghị xảy ra trong mùa mưa an cư tại thành Vương Xá (Rājagaha, bây giờ là Rajgir), kinh đô xứ Ma-kiệt-đà (Magadha), là quốc gia có thế lực bao trùm vùng Trung Ấn. Ngài Ma-ha Ca-diếp đầu tiên mời ngài Ưu-ba-li (Ūpali), vị trưởng lão nổi tiếng thông suốt giới luật, trùng tụng luật tu sĩ. Dựa theo sự trùng tụng này, Luật tạng (Vinaya Piṭaka) được hình thành. Tiếp theo, ngài Ma-ha Ca-diếp mời ngài Ānanda trùng tụng Pháp (Dhamma), nghĩa là các bài kinh giảng (sutta) và từ đó, Kinh tạng (Sutta Piṭaka) được thiết lập. 

Tiểu Phẩm tường thuật rằng sau khi ngài Ānanda trùng tụng Kinh tạng, các bộ Nikāya có nội dung tương tự như ngày nay, với các bài kinh được sắp xếp theo cùng một trình tự như bây giờ được thấy trong kinh điển Pāli. Câu chuyện này chắc là ghi lại lịch sử quá khứ qua lăng kính của thời kỳ về sau. Các bộ Āgama của các bộ phái Phật giáo khác với bộ phái Theravāda cũng có bốn bộ tương ứng với bốn bộ Nikāya, nhưng phân loại và sắp xếp các bài kinh theo thứ tự khác với các bộ Nikāya. Điều này cho thấy nếu sự sắp xếp Nikāya-Āgama phát sinh trong hội nghị kết tập lần thứ nhất, hội nghị chưa sắp đặt dứt khoát vị trí các bài kinh trong cấu trúc này. Ngoài ra, có thể cấu trúc bốn bộ này được tạo ra trong thời kỳ sau. Cũng có thể cấu trúc này được tạo ra tại thời điểm nào đó sau lần hội nghị đầu tiên nhưng trước khi Tăng đoàn phân chia thành nhiều bộ phái. Nếu cấu trúc này được tạo ra trong thời kỳ phân chia bộ phái, có lẽ nó được một bộ phái nào đó tạo ra và được các bộ phái khác vay mượn và các bộ phái sắp xếp các bài kinh qua những tiêu chuẩn khác nhau vào cấu trúc bốn bộ này.

Tường thuật trong Tiểu Phẩm về hội nghị kết tập đầu tiên có thể bao gồm huyền thoại trộn lẫn với dữ kiện lịch sử. Nhưng không có lý do gì để nghi ngờ vai trò của ngài Ānanda trong việc bảo tồn các bài kinh giảng. Là thị giả của đức Phật, ngài Ānanda đã học được các bài giảng từ Đức Phật và các vị đại đệ tử khác, ghi nhớ và giảng lại cho người khác. Trong suốt thời gian Đức Phật còn tại thế, ngài Ānanda được khen ngợi về khả năng nhớ lâu và được Đức Phật khen là vị tỳ-khưu “đệ nhất đa văn” (etadaggaṃ bahussutānaṃ). Ít có vị tu sĩ nào có khả năng nhớ nhiều như ngài Ānanda, nhưng trong thời Đức Phật còn tại thế, các vị tu sĩ đã bắt đầu chia thành từng nhóm để ghi nhớ các bài giảng. Việc chuẩn hóa và đơn giản hóa các bài giảng đã giúp nhiều cho việc ghi nhớ. Khi các bài kinh được sắp xếp vào các bộ Nikāya hay Āgama, vấn đề bảo tồn và truyền tải di sản các bài kinh được giải quyết bằng cách tổ chức các nhóm chuyên sư kinh văn, phụ trách riêng biệt từng bộ kinh. Mỗi nhóm như thế trong Tăng đoàn tập trung ghi nhớ và giải thích một bộ sưu tập khác nhau và nhờ đó, làm giảm gánh nặng cho mỗi cá nhân trong Tăng đoàn phải ghi nhớ tất cả các bài kinh. Qua cách đó, toàn thể giáo pháp tiếp tục được lưu truyền qua ba hay bốn trăm năm kế tiếp, cho đến khi kinh điển được viết xuống lá buông.

Trong những thế kỷ sau khi Đức Phật nhập diệt, Tăng đoàn bắt đầu phân ly vì những vấn đề giới luật và giáo thuyết. Cho đến thế kỷ thứ ba sau ngày bát-niết-bàn (parinibbāna), Phật giáo đã phân chia thành ít nhất là mười tám bộ phái. Mỗi bộ phái có lẽ có những bộ sưu tập kinh điển riêng, mặc dù có những bộ phái có liên hệ chặt chẽ với nhau có thể dùng chung các bộ kinh có thẩm quyền. Trong khi các bộ phái Phật giáo có thể tổ chức các bộ sưu tập khác nhau và mặc dù một số bài kinh cho thấy có thể có những chi tiết khác nhau, các bài kinh riêng rẽ thông thường rất tương tự, đôi khi hầu như giống hệt và các giáo thuyết và sự thực hành được vạch ra trên căn bản là rất giống nhau. Những khác biệt về giáo thuyết giữa các bộ phái không phải bắt nguồn từ các bài kinh, nhưng là từ sự diễn giải của các vị kinh sư. Sự khác biệt đó được hình thành sau khi các bộ phái đối nghịch bắt đầu chính thức hóa các nguyên tắc triết lý trong các luận giải và chú giải để trình bày những quan điểm đặc biệt về vấn đề trong giáo lý. Qua những gì chúng ta có thể nhận định được, các hệ thống triết lý tinh tế chỉ có tác động tối thiểu trên các bài kinh nguyên thủy, vì dường như các bộ phái không có ý định sửa đổi các bài kinh cho phù hợp với giáo thuyết riêng của họ. Thay vào đó, qua những chú giải, họ đã cố gắng diễn giải các bài kinh qua một cách nào đó nhằm rút ra các ý tưởng để hỗ trợ quan điểm của mình. Không phải là bất thường khi thấy các diễn giải này có vẻ như là chống chế, dàn dựng, biện hộ đối với những lời lẽ của kinh văn gốc.  

KINH ĐIỂN PĀLI

Một điều buồn là những bộ sưu tập kinh điển của hầu hết các bộ phái chính của Phật giáo Ấn Độ đã mất đi khi Phật giáo Ấn Độ bị tàn phá bởi những người Hồi giáo xâm chiếm miền Bắc Ấn trong thế kỷ thứ mười một và mười hai. Những cuộc xâm lược này là hồi chuông báo tử cho Phật giáo tại xứ sở phát sinh đạo Phật. Chỉ có một bộ sưu tập kinh điển đầy đủ thuộc một trong các bộ phái sơ kỳ của Phật giáo Ấn Độ là còn tồn tại nguyên vẹn. Đây là bộ sưu tập được bảo tồn trong một ngữ văn mà chúng ta biết ngày hôm nay là Pāli. Bộ sưu tập này thuộc về bộ phái Theravāda (Thượng tọa bộ) cổ xưa, trước đó đã được đem vào Sri Lanka trong thế kỷ thứ ba trước Công nguyên và nhờ đó, đã tránh thoát khỏi sự tàn phá Phật giáo ở quê hương. Đồng thời, Theravāda cũng được truyền bá đến vùng Đông Nam Á và trong nhiều thế kỷ sau này, đã bao trùm cả khu vực.

Kinh điển Pāli là tập hợp các kinh văn mà bộ phái Theravāda xem như là Phật ngôn (buddhavacana). Sự kiện mà các kinh văn của bộ sưu tập này được bảo tồn như một bộ kinh điển duy nhất không có nghĩa là các bài kinh được sưu tập trong cùng một thời kỳ. Cũng không nhất thiết có nghĩa là các kinh văn tạo lập những cốt lõi cổ xưa nhất là xem như cổ xưa hơn các kinh văn tương ứng của các bộ phái Phật giáo khác, mà phần lớn được bảo tồn trong bản dịch tiếng Hán và tiếng Tây Tạng như là một phần của toàn bộ các kinh điển, hay trong một số ít trường hợp, trong các bài kinh riêng rẽ bằng một thứ tiếng Ấn Độ khác. Tuy nhiên, kinh điển Pāli có tầm quan trọng đặc biệt cho chúng ta, đó là vì có ít nhất là ba lý do.

Lý do đầu tiên, đây là một bộ sưu tập đầy đủ của riêng một bộ phái. Mặc dù chúng ta có thể tìm ra các dấu vết rõ ràng trong các phát triển theo lịch sử giữa các phần khác nhau của kinh điển, sự liên kết với riêng một bộ phái làm cho các kinh văn có được một cấp độ nhất quán. Trong các kinh văn bắt nguồn trong cùng một thời kỳ, chúng ta có thể nói về tính đồng nhất của nội dung, một hương vị duy nhất nằm bên dưới các biểu hiện đa dạng của nội dung. Tính đồng nhất này được nhận thấy rõ rệt trong bốn bộ Nikāya đầu tiên và phần cổ xưa của bộ Nikāya thứ năm. Từ đó, cho chúng ta lý do để tin rằng với các kinh văn này, chúng ta đã tiến đến tầng lớp cổ xưa nhất của văn học Phật giáo có thể tìm được – nhưng với sự dè dặt nêu trên, rằng cũng có các kinh văn tương đương trong các bộ phái Phật giáo khác nhưng không còn hiện diện. 

Lý do thứ hai, toàn bộ sưu tập kinh điển đã được bảo tồn bằng một loại ngôn ngữ Trung Ấn Arya, một loại ngôn ngữ có liên hệ chặt chẽ với ngôn ngữ (hay có thể những phương ngữ khác nhau) do chính Đức Phật đã sử dụng. Chúng ta gọi loại ngôn ngữ này là Pāli, nhưng tên gọi cho ngôn ngữ này thật ra bắt nguồn một sự nhầm lẫn. Từ “pāli” đúng ra có nghĩa là “văn bản”, nghĩa là văn bản của kinh điển, để phân biệt với các chú giải. Các nhà chú giải gọi loại ngôn ngữ dùng để bảo tồn kinh điển là “pālibhāsā” – ngôn ngữ của văn bản. Tại một thời điểm nào đó, từ ngữ này bị ngộ nhận và mang ý nghĩa “ngôn ngữ Pāli”. Khi ngộ nhận này phát sinh, nó bắt đầu đâm rễ và ở lại với chúng ta cho đến bây giờ. Các nhà học giả xem ngôn ngữ này như là một dạng kết hợp nhiều phương ngữ Prakit dùng trong thế kỷ thứ ba trước Công nguyên, qua một tiến trình Sanskrit-hóa bán phần. Mặc dù ngôn ngữ này không giống với bất cứ loại ngôn ngữ nào mà Đức Phật sử dụng, nó nằm trong một gia đình trong đó có các ngôn ngữ của Đức Phật và bắt nguồn từ cùng một khuôn nền các khái niệm. Như thế, ngôn ngữ này phản ánh thế giới các ý tưởng của nền văn hóa Ấn Độ mà Đức Phật đã thừa hưởng. Do đó, các từ ngữ sử dụng đã diễn tả được sắc thái tinh tế của thế giới ý tưởng đó, mà không có những xâm nhập của các ảnh hưởng xa lạ không thể tránh được ngay trong các bản dịch tốt và thận trọng nhất. Điều này trái ngược với các bản dịch kinh văn sang tiếng Hán, tiếng Tây Tạng, tiếng Anh, thường bị tác động bởi cách chọn lựa từ ngữ để chuyển tải ý nghĩa. 

Lý do thứ ba làm cho kinh điển Pāli có tầm quan trọng đặc biệt là bộ sưu tập này là thẩm quyền của một bộ phái Phật giáo đương đại. Không giống như các bộ sưu tập kinh điển của các bộ phái khác của Phật giáo Sơ kỳ nay đã biến mất – mà ngày nay chỉ còn ở trong phạm vi học thuật, bộ sưu tập kinh điển Pāli vẫn còn đầy sức sống. Bộ kinh điển là nguồn tâm linh tín thành của hàng triệu Phật tử, từ các làng mạc và tu viện ở Sri Lanka, Myanmar và Đông Nam Á, cho đến các thành phố và thiền viện ở châu Âu và châu Mỹ. Bộ sưu tập này đã uốn nắn sự hiểu biết, hướng dẫn họ đối diện với các chọn lựa khó khăn về đạo đức, cung cấp thông tin về công phu hành thiền và cung cấp cho họ những chìa khóa đưa đến tuệ quán giải thoát. 

TAM TẠNG (TIPIṬAKA)

Kinh điển Pāli thường được gọi là bộ Tipiṭaka (Tam Tạng), Ba Giỏ Chứa hay Ba Bộ Sưu Tập. Phân hạng bộ ba này không phải chỉ duy nhất của bộ phái Theravāda, nhưng là căn bản chung cho các bộ phái Phật giáo Ấn Độ, như là một phương cách để phân loại các kinh văn Phật giáo. Ngay cả ngày nay, kinh điển bảo tồn trong bản dịch tiếng Hán cũng được biết như là Tam Tạng Trung Quốc. Ba bộ sưu tập của kinh điển Pāli là:

1) Luật tạng (Vinaya Piṭaka), bao gồm các điều luật đặt ra để hướng dẫn các vị tỳ-khưu và tỳ-khưu-ni và các quy định để giúp sinh hoạt trong Tăng đoàn được hài hòa. 

2) Kinh tạng (Sutta Piṭaka), bao gồm các bài kinh (sutta), là những bài giảng của Đức Phật và các vị đại đệ tử của Ngài cũng như các bài cảm hứng bằng thể kệ, câu chuyện bằng thể kệ và những bài có tính cách bình luận.

3) A-tỳ-đàm tạng (Abhidhamma Piṭaka, tạng Vi Diệu Pháp), một bộ sưu tập của bảy bộ luận thuyết để đưa các lời dạy của Đức Phật vào một hệ thống triết học chặt chẽ.

Tạng A-tỳ-đàm rõ ràng là sản phẩm của giai đoạn sau này trong quá trình tiến hóa của tư tưởng Phật giáo, sau hai tạng kia. Phiên bản Pāli đại diện cho nỗ lực của bộ phái Theravāda nhằm hệ thống hóa các bài giảng trong thời kỳ đầu. Dường như các bộ phái sơ kỳ khác cũng có hệ thống A-tỳ-đàm riêng. Chỉ có tạng A-tỳ-đàm của Hữu bộ (Sarvāstivāda) là còn giữ được nguyên vẹn. Giống như phiên bản Pāli, tạng A-tỳ-đàm của Hữu bộ cũng gồm có bảy bộ. Các bộ này nguyên khởi được biên soạn bằng tiếng Sanskrit, nhưng chỉ được bảo tồn trọn vẹn trong bản dịch tiếng Hán. Hệ thống dùng trong các bộ này có nhiều khác biệt đáng kể so với tạng A-tỳ-đàm của Theravāda về cả hai phương diện công thức và triết học.

Kinh tạng, chứa trong đó các bài giảng của Đức Phật, gồm năm bộ gọi là Nikāya. Trong thời đại của các nhà chú giải, các bộ này cũng được gọi là Āgama (A-hàm), tên gọi tương tự như trong Phật giáo Bắc truyền. Bốn bộ Nikāya chính là:

1) Trường bộ (Dīgha Nikāya): Bộ sưu tập các bài kinh dài, gồm ba mươi bốn bài kinh, sắp xếp trong ba tập.

2) Trung bộ (Majjhima Nikāya): Bộ sưu tập các bài kinh trung bình, gồm 152 bài kinh, sắp xếp trong ba tập.

3) Tương ưng bộ (Saṃyutta Nikāya): Bộ sưu tập các bài kinh tương ứng, gần ba ngàn bài kinh ngắn được nhóm lại thành năm mươi sáu chương, được gọi là các tương ưng (saṃyutta), sắp xếp trong năm tập, hay còn gọi là năm thiên.

4) Tăng chi bộ (Aṅguttara Nikāya): Bộ sưu tập của các bài kinh có số chi pháp tăng dần lên, gồm khoảng 2.400 bài kinh ngắn, sắp xếp thành mười một chương, gọi là nipāta.

Trường bộ và Trung bộ, nếu chỉ thoạt nhìn, dường như được thành lập chủ yếu trên cơ sở độ dài của bài kinh: Các bài kinh dài được xếp vào Trường bộ, các bài kinh trung bình được xếp vào Trung bộ. Nếu cẩn thận nhận xét nội dung của các bài kinh ấy, chúng ta thấy có thể còn có yếu tố khác làm cơ sở cho sự khác biệt giữa hai bộ sưu tập này. Các bài kinh của Trường bộ chủ yếu nhằm vào đối tượng thính chúng phổ thông và dường như nhằm thu hút những người ngoại đạo đến với đạo Phật, bằng cách bày tỏ tính ưu việt của Đức Phật và giáo lý của Ngài. Các bài kinh của Trung bộ là chủ yếu hướng vào bên trong cộng đồng Phật giáo và dường như được thiết kế để giúp các tu sĩ mới xuất gia làm quen với những học thuyết và thực hành của đạo Phật. Đây vẫn còn là một câu hỏi còn đang bỏ ngỏ, không biết các mục đích thực dụng này là tiêu chuẩn để sắp xếp hai bộ kinh, hay tiêu chuẩn chính là độ dài bài kinh và các mục đích thực dụng chỉ là kết quả tất yếu theo độ dài của bài kinh.

Tương ưng bộ được sắp xếp theo chủ đề. Mỗi chủ đề là một “ách” (saṃyoga) để kết nối các bài kinh thành một tương ưng (saṃyutta) hay chương. Do đó, bộ này có tên là Tương ưng bộ. Tập hay thiên đầu tiên, Thiên có Kệ, là tập độc nhất chứa các bài kinh dựa theo phân loại thể văn – thể kệ. Tập này gồm các bài kinh có văn xuôi và thi kệ hỗn hợp, sắp xếp trong mười một chương theo chủ đề. Còn bốn tập (thiên) kia, mỗi tập có các chương dài trình bày các giáo thuyết căn bản của Phật giáo Sơ kỳ. Tập II, III và IV, mỗi tập bắt đầu bằng một chương dài dành cho một chủ đề có tầm quan trọng lớn, lần lượt là: duyên sinh (Tương ưng Duyên, Nidānasaṃyutta, chương 12); năm uẩn (Tương ưng Uẩn, Khandhasaṃyutta, chương 22); sáu nội xứ và sáu ngoại xứ (Tương ưng Xứ, Saḷāyatanasaṃyutta, chương 35). Tập V nói về các nhóm chính của các yếu tố tu tập, mà trong giai đoạn hậu kỳ được đặt tên là ba mươi bảy phần trợ giúp để giác ngộ (bodhipakkhiyā dhammā). Các nhóm này gồm có Bát Chi Thánh Đạo (Tương ưng Đạo, Maggasaṃyutta, chương 45), bảy yếu tố giác ngộ (Tương ưng Giác chi, Bojjhaṅgasaṃyutta, chương 46) và bốn pháp lập niệm (Tương ưng Niệm, Satipaṭṭhānasaṃyutta, chương 47). Từ nội dung của Tương ưng bộ kinh, chúng ta có thể suy ra rằng có lẽ bộ kinh này nhắm đến phục vụ nhu cầu của hai nhóm tu sĩ. Một nhóm gồm các vị tu sĩ chuyên về giáo thuyết để đào sâu vào Giáo Pháp và để giúp họ giải thích rõ ràng các chủ đề đó cho các bạn đồng tu trong Tăng đoàn. Nhóm kia gồm những vị chuyên về hành thiền để phát triển tuệ quán. 

Tăng chi bộ gồm những bài kinh sắp xếp theo cấu trúc đánh số thứ tự, bắt nguồn từ một tính năng đặc biệt về phương pháp sư phạm của Đức Phật. Để giúp thông hiểu và ghi nhớ dễ dàng, Đức Phật thường tạo lập các bài giảng qua các nhóm số chi pháp, một dạng thức để giúp thính chúng dễ dàng lưu giữ trong tâm trí về các ý tưởng của Ngài. Tăng chi bộ tập hợp các bài kinh có số chi pháp vào bộ sưu tập đồ sộ, gồm có mười một nipāta (chương). Như thế, bắt đầu là chương Một Pháp (ekanipāta), chương Hai Pháp (dukanipāta), chương Ba Pháp (tikanipāta) và tăng dần lên, kết thúc với chương Mười Một Pháp (ekādasanipāta). Vì nhiều nhóm khác của các yếu tố trong con đường giải thoát đã được bao gồm trong Tương ưng bộ, Tăng chi bộ chú tâm đến những phương diện tu tập không được đề cập đến trong các nhóm đó. Tăng chi bộ bao gồm một số lượng đáng kể các bài kinh giảng cho hàng cư sĩ quan tâm đến đạo đức và tâm linh của cuộc sống trong thế gian, kể cả các mối quan hệ gia đình (vợ chồng, cha mẹ và con cái) và cách thức thích hợp để tạo lập, để dành và sử dụng tài sản. Cũng có những bài kinh giảng về sự tu tập của hàng tu sĩ. Sự sắp xếp theo pháp số của bộ kinh này đặc biệt thuận lợi cho các vị trưởng lão dùng để dạy học trò và các vị truyền đạo dùng để thuyết giảng cho hàng cư sĩ.

Bên cạnh bốn bộ Nikāya chính, Kinh tạng Pāli còn có bộ Nikāya thứ năm, gọi là Tiểu bộ (Khuddaka Nikāya). Gọi là Tiểu bộ có lẽ là vì ban đầu chỉ là tập hợp các bài kinh nhỏ không thích hợp để đưa vào bốn bộ Nikāya chính. Nhưng qua nhiều thế kỷ, nhiều kinh văn được biên soạn và đưa thêm vào đó, bộ sưu tập dần dần lớn rộng thêm và trở thành bộ kinh đồ sộ nhất trong năm bộ Nikāya. Tuy nhiên, phần tinh túy của Tiểu bộ là tập hợp các bài kinh ngắn chỉ gồm các câu kệ (Pháp cú - Dhammapada, Trưởng lão kệ - Theragāthā và Trưởng lão ni kệ - Therı̄gāthā) và các bài kinh hỗn hợp văn xuôi và thể kệ (Kinh tập - Suttanipāta, Phật tự thuyết - Udāna và Phật thuyết như vậy - Itivuttaka) mà nội dung và văn phong có thể xem như rất cổ xưa. Các tập kinh khác của Tiểu bộ – như tập Phân tích đạo (Paṭisambhidāmagga) và Diễn giải (Niddesa) – đại diện cho quan điểm của bộ phái Theravāda và do đó, có lẽ được biên soạn trong thời kỳ phân chia bộ phái, khi các bộ phái sơ kỳ đã bắt đầu có những hướng đi riêng biệt trong sự phát triển giáo lý.

TAM TẠNG TRUNG QUỐC

Bốn bộ Nikāya của kinh tạng Pāli có các bộ A-hàm tương ứng của Tam tạng Trung Quốc, mặc dù các bộ A-hàm này có nguồn gốc từ nhiều bộ phái khác nhau. Tương ứng với Trường bộ là Trường A-hàm, có lẽ là của bộ phái Pháp Tạng (Dharmaguptaka), dịch từ bản gốc tiếng Prakit. Tương ứng với Trung bộ và Tương ưng bộ là Trung A-hàm và Tạp A-hàm của Hữu bộ (Sarvāstivāda), dịch từ bản gốc tiếng Sanskrit. Tương ứng với Tăng chi bộ là Tăng nhất A-hàm, thường được xem là của một nhánh từ Đại chúng bộ (Mahāsāṅghika), dịch từ bản gốc của một loại phương ngữ Trung Ấn hay một loại phương ngữ có pha trộn tiếng Prakit và Sanskrit. Tam tạng Trung Quốc cũng bao gồm bản dịch của một số bài kinh riêng rẽ từ bốn bộ sưu tập chính, có lẽ từ những bộ phái khác chưa xác định và bản dịch các tập riêng rẽ của Tiểu A-hàm, như hai bản dịch tập Pháp cú – trong đó có một tập rất gần với bản Pháp cú tiếng Pāli – và nhiều phần của Kinh tập. Tuy nhiên, bộ Tiểu A-hàm này không còn tồn tại toàn vẹn như một bộ sưu tập. 

* Nguồn: "Những Lời Phật Dạy", Bình Anson dịch (2016). Nguyên tác: "In the Buddha's Words", Bhikkhu Bodhi (2005).

*-----*



Tuesday, 11 November 2025

Bộ Bản Duyên (Hán tạng, T152-T219)

 BỘ BẢN DUYÊN
(Hán tạng, T152-T219)
Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam xuất bản, 6 tập (2025)

- Tập 26: Bộ Bản Duyên, Tập 1 (Trung Tâm DT Huệ Quang dịch), [vn222-26.zip], 201 MB 
https://tinyurl.com/4s3mnumh  
- Tập 27: Bộ Bản Duyên, Tập 2 (Trung Tâm DT Huệ Quang dịch), [vn222-27.zip], 163 MB 
https://tinyurl.com/4kakuraz  
- Tập 28: Bộ Bản Duyên, Tập 3 (Trung Tâm DT Huệ Quang dịch), [vn222-28.zip], 266 MB 
https://tinyurl.com/mrdza4cu  
- Tập 29: Bộ Bản Duyên, Tập 4 (Trung Tâm DT Huệ Quang dịch), [vn222-29.zip], 247 MB 
 https://tinyurl.com/y5y2vr8m 
- Tập 30: Bộ Bản Duyên, Tập 5 (Trung Tâm DT Huệ Quang dịch), [vn222-30.zip], 125 MB 
https://tinyurl.com/4b2ssc3v  
- Tập 31: Bộ Bản Duyên, Tập 6 (nhiều dịch giả), [vn222-31.zip], 175 MB  
https://tinyurl.com/mmjvew8j   

* DẪN LUẬN BỘ BẢN DUYÊN, Hán tạng (T0152-0219)
Thích Nhật Từ (2025).
https://tinyurl.com/mrxkze4t [vn345.pdf], 6.2 MB

* GIỚI THIỆU BỘ BẢN DUYÊN, HÁN TẠNG
Thích Nhật Từ

 Phân loại theo mã số và chủ đề trong Đại chánh Tân tu Đại tạng kinh, viết tắt là T, Bộ Bản duyên là bộ hay nhóm chủ đề lớn thứ hai trong 28 bộ (chủ đề), có mã số T03n152-T03n191 và T04n0192-T04n219 gồm 68 kinh với nhiều chủ đề khác nhau, bắt đầu từ kinh số 0152 đến kinh số 0219 trong ấn bản CBETA.

 Bộ Bản duyên chia thành 4 nhóm chủ đề chính:

 (i) KINH PHẬT BẢN SANH từ số 0152-0183, gồm 459 trang trong ấn bản Đại Chánh, tương đương với Chuyện tiền thân đức Phật (Jātaka) trong Tiểu bộ. Đây cũng là chủ đề có số lượng câu chuyện tiền thân của đức Phật Thích-ca Mâu-ni nhiều nhất so với các chủ đề còn lại trong Hán tạng. Các bản kinh này được viết bàng văn xuôi, trong khi đó Jātaka được viết bằng văn vần và được chú giải bằng văn xuôi. Bản Chuyện tiền thân của đức Phật đã xuất bản trong Tiểu bộ là phần kết hợp giữa văn vần trong Chánh tạng và văn xuôi trong Chú giải.

 (ii) PHẬT TRUYỆN, từ số 0184-0196, gồm 629 trang trong ấn bản Đại Chánh, tương đương với Phật sử (Buddhavamsa) trong Tiểu bộ. Nổi bật trong nhóm này là Phật sở hành tán (Buddhacarita) và Kinh Tăng-già-la-sát sở tập.

 (iii) NHÂN DUYÊN PHẬT VÀ CÁC ĐỆ TỬ, từ số 0197-0209, gồm 384 trang trong ấn bản Đại Chánh, tương đương với Thánh nhân ký sự (Apadāna) trong Tiểu bộ. Thể loại này cũng tương đương với Thí dụ truyện (Avadāna).

 (iv) KINH PHÁP CÚ VÀ NHÓM KINH VỀ THÍ DỤ, từ số 0210-0219, gồm 228 trang trong ấn bản Đại Chánh, tương đương Kinh Pháp cú (Dhammapada) trong Tiểu bộ và Chú giải Kinh Pháp cú (Dhammapada-atthakathā) trong hệ thống Phật giáo Thượng Tọa bộ.

 Cấu trúc bản tiếng Việt chia thành 6 quyển. Năm quyển đầu do Trung tâm Dịch thuật Hán Nôm Huệ Quang thực hiện. Quyển 1 tương ứng với chủ đề một. Quyển 2 và 3 tương ứng với chủ đề hai. Quyển 4 tương ứng với chủ đề ba. Quyển 5 tương ứng với chủ đề bốn. Mỗi quyển tiếng Việt đều trên 1.000 trang. Quyển 6 không theo nhóm chủ đề, mà là tổng hợp các bản dịch đơn lẻ của nhiều tác giả khoảng từ thập niên 50 của thế kỷ trước đến hiện nay.

DỊCH GIẢ BỘ BẢN DUYÊN TIẾNG VIỆT
Bộ Bản duyên được phân bố in thành 6 quyển. Năm quyển đầu là thành quả dịch thuật của Trung tâm Dịch thuật Hán Nôm Huệ Quang do Hòa thượng Thích Minh Cảnh - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học, Giám đốc Trung tâm Dịch thuật Hán Nôm Huệ Quang chỉ đạo phiên dịch trong khoảng hơn 10 năm. Năm 2017, khi bắt đầu dự án biên tập và ấn hành Tam tạng Thánh điển Phật giáo Việt Nam, công trình dịch thuật được Hòa thượng chỉ đạo tái biên tập và dịch bổ sung. Năm 2018, Hòa thượng Thích Minh Cảnh viên tịch, Hòa thượng Thích Phước Cẩn - Phó Viện trưởng, tiếp nối sứ mạng làm Giám đốc Trung tâm, cùng với nhị vị Phó Giám đốc Thượng tọa Thích Thiện Thuận, Thượng tọa Thích Nguyên Trang và tập thể dịch giả Trung tâm đã nỗ lực hoàn thành bộ kinh này vào cuối năm 2023. Ngoài ra, vì để đáp ứng kịp tiến độ ấn hành, ấn bản Bộ Bản duyên còn có sự đóng góp một vài dịch phẩm của Thượng tọa Thích Nguyên Hùng và Thượng tọa Thích Đồng Ngộ như Luận về những câu chuyện tiền thân của Bồ-tát, số 0160; Kinh Thái tử Mộ-phách, số 0167; Kinh Thiểm Tử, số 0175a và Phật thuyết kinh Thiểm Tử, số 0175b, 0175c; Kinh Pháp cú, số 0210.

 Một số kinh Bản duyên chữ Hán có cùng một nội dung bởi do một dịch giả thực hiện ở hai thời điểm khác nhau, hoặc trên một để bản nhưng có hai vị dịch. Tất cả đều được bảo lưu đầy đủ trong hệ thống Tam tạng Trung Quốc. Ví dụ: Kinh Bồ-tát Thiểm Tử, số 0174, mất tên người dịch; số 0175a, 0175b, 0175c do Pháp sư Thích Thánh Kiên dịch, nội dung và văn phong các bản dịch gần giống nhau. Thay vì các nhà biên tập Đại Chánh tạng chọn một bản dịch của dịch giả, nhưng các vị đã lưu đầy đủ cả 3 bản. Điều này cho thấy người đời xưa rất cẩn trọng, đã giữ lại các dịch phâm đã hiệu đính hoặc bản đầu tiên chưa kịp hiệu đính của các vị tiền bối. Trong những trường hợp này, chúng tôi chỉ chọn một bản hoàn thiện nhất để dịch sang Việt ngữ.

 Nhiều tích truyện trong kinh không có tựa đề, khiến việc theo dõi và ghi nhớ trở nên khó khăn. Để giúp người đọc dễ dàng hơn trong việc này, Ban Biên tập đã khéo léo chọn lọc và đặt các tựa đề tiếng Việt dựa trên gợi ý từ Đại Chánh tạng hoặc từ chính nội dung kinh văn. Các kinh được đặt tựa đề gồm: (1) Phật thuyết kinh Bồ-tát bản hạnh (số 0155), 12 tích truyện; (2) Kinh đại trang nghiêm luận (sồ 0201), 90 chương; (3) Kinh tạp thí dụ (số 0204), 12 tích truyện; (4) Kinh tạp thí dụ (số 0205), 32 tích truyện; (5) Kinh cựu tạp thí dụ (số 0206), 61 tích truyện; (6) Kinh tạp thí dụ (0207), 39 tích truyện; (7) Chúng kinh soạn tạp thí dụ (số 0208), 44 tích truyện.

 Riêng quyển 6 là tuyển tập đặc biệt các bản dịch lẻ kinh Bản duyên do các dịch giả tiền bối thực hiện từ thập niên 50 của thế kỷ trước đến nay. Các bản dịch tiêu biểu của chư vị Hòa thượng, đại dịch giả như Đại lão HT. Thích Phổ Tuệ, HT. Thích Trung Quán, HT. Thích Nhất Hạnh, HT. Thích Quảng Độ, GS. Lê Mạnh Thát,... được tuyển chọn kết tập, nhằm tôn vinh những đóng góp của quý ngài. Riêng một số bản dịch của HT. Thích Trí Quang và cư sĩ Đào Nguyên, vì lý do tác quyền, nên các dịch phẩm chưa được đưa vào bộ Tam tạng Thánh điển này.

 Vê âm vận của mỗi bản dịch, Ban Biên tập tôn trọng tính khách quan, tính vùng miền của mỗi dịch giả, nên giữ nguyên, không đồng bộ hóa. Ví dụ những từ ngữ “cúng dàng” hay “cúng dường”, “Chính pháp” hay “Chánh pháp”, “sanh” và “sinh”, ... trong các bản dịch được giữ theo cách dụng ngữ của dịch giả.

   – Thích Nhật Từ

*-----*






Sunday, 2 November 2025

KINH TẠNG & LUẬT TẠNG online

 KINH TẠNG & LUẬT TẠNG online 

Có thể tìm đọc trực tuyến (online) các bộ kinh do Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành từ năm 2020 tại:

1) Kinh tạng Pāli:
https://vncphvn.com/tam-tang/tang-pali/kinh-pali

2) Luật tạng Pāli:
https://vncphvn.com/tam-tang/tang-pali/luat-pali

3) Kinh tạng A-hàm:
https://vncphvn.com/tam-tang/bo-phai/kinh-bo-phai

*-----*



Thursday, 9 October 2025

Ý nghĩa Kinh Hộ trì (Paritta)

Ý nghĩa Kinh Hộ trì (Paritta) trong Kinh tụng Phật giáo Nam tông 
Tỳ-khưu Định Phúc Samādhipuñño 
Tạp chí Văn hóa Phật giáo (16/04/2021)

*

Phật giáo Nam tông Theravāda tuy không chú trọng về lễ nghi, cúng bái hoặc sám tụng nhưng trong các nghi lễ Phật giáo thì dĩ nhiên không thể thiếu phần nghi thức lễ bái. Nhất là đối với đời sống xuất gia, công phu hai buổi sáng – chiều chính là thời gian để các vị tu sĩ đọc tụng lại những bài kinh, những lời dạy của Đức Thế Tôn được lưu giữ trong Tam tạng Tipitaka. Kinh tụng của Phật giáo Nam tông đa phần được trích lại từ Tam tạng Tipitaka với mục đích trùng tụng lại Phật ngôn và còn giúp cho người tụng đọc phản tỉnh tự thân, được thêm phước báu hộ trì. Vì nhiều cơ duyên khác nhau, Thế Tôn đã thuyết những bài kinh này đến chư Tỳ kheo đệ tử và về sau, các vị trùng tụng lại những bài kinh này. Chính vì vậy, các vị trưởng lão đời sau chọn ra những bài kinh tiêu biểu như kinh Châu báu (Ratanasutta), kinh Lòng từ (Mettasutta), kinh Điềm lành (Mangalasutta)… để chư Tăng và các cư sĩ tụng đọc hằng ngày. Ở các nước theo Phật giáo Nam tông Theravāda như: Thái Lan, Campuchia, Myanmar,… những bài kinh hộ trì (paritta) được chư Tăng tụng đọc bằng tiếng Pāli và tiếng bản xứ trong những buổi công phu, nghi thức cầu phúc lành…

Phật giáo Nam tông Theravāda du nhập vào Việt Nam từ năm 1938 do chư vị Hòa thượng Hộ Tông, Hòa thượng Thiện Luật… là những vị sơ Tổ có công đầu trong việc truyền bá và hoằng pháp buổi sơ khai. Trong những ngày đầu, Hòa thượng Hộ Tông đã biên soạn quyển Kinh Nhật Hành [1] dành cho các vị cư sĩ và Kinh Tụng [2] dành cho chư Tăng. Đây chính là hai quyển kinh tụng đầu tiên của Phật giáo Nam tông Kinh tại Việt Nam. Về sau, Hòa thượng Tăng Định đã kế thừa, biên soạn, hiệu đính và xuất bản Kinh Nhật Tụng Cư Sĩ [3] dựa vào tác phẩm của Hòa thượng Hộ Tông. Cho đến ngày nay, kinh tụng Phật giáo Nam tông đều y cứ vào hai tác phẩm này để sinh hoạt trong các nghi lễ Phật giáo.

NGUỒN GỐC VÀ NHÂN DUYÊN NHỮNG BÀI KINH PARITTA

Paritta được hiểu là che chở, hộ trì, nên kinh Paritta được biết đến là những bài kinh hộ trì cho những người tụng đọc. Theo ngài Sayadaw U Sīlanandābhivamsa (Hiệu trưởng Đại học Quốc tế Hoằng pháp Phật giáo Theravāda – Myanmar), những ai tụng đọc hoặc lắng nghe kinh Hộ trì (Paritta) thì sẽ tránh xa những điều nguy hại, không bị đói khát… [4] Truyền thống tụng đọc kinh không phải mới bắt đầu sau này, mà từ thời Đức Thế Tôn đã được các vị tôn giả, chư vị trưởng lão hành trì. Xưa kia, Trưởng lão Sonakotikanna đã tụng lại những bài kinh trong phẩm Tám (Atthakavagga) thuộc bộ Kinh Tập (Suttanipāta) cho Đức Thế Tôn nghe [5], hoặc Đức Thế Tôn đã bảo vị thị giả là Trưởng lão Mahācunda đọc lại kinh Bojjhanga cho Ngài nghe, trong khi Ngài đang thọ bệnh [6]… Và từ những nhân duyên của các bài kinh được Đức Thế Tôn thuyết giảng, chư vị trưởng lão về sau đã phân loại và sắp xếp một số bài kinh tiêu biểu thành những bài kinh hộ trì (paritta) để chư Tăng và các cư sĩ trì tụng như là phương cách để hộ trì cho chính mình và người lắng nghe.

Chúng ta có thể tìm thấy trong Milinda vấn đạo (Milindapañha) và những bản Chú giải (Atthakathā) của ngài Luận sư Buddhaghosa có nhắc đến những bài kinh hộ trì gồm kinh Châu báu (Ratanasutta), kinh Các uẩn (Khandhasutta), kinh Khổng tước (Morasutta), kinh Đầu ngọn cờ (Dhajaggasutta), kinh Ātānātiya (Ātānātiyasutta), kinh Angulimāla (Angulimālasutta) [7]. Về sau, chư vị trưởng lão đã bổ sung thêm những bài kinh khác như là kinh Điềm lành (Mangalasutta), kinh Lòng từ (Mettasutta), kinh Chim cút (Vattasutta), kinh Giác chi (Bojjhangasutta), kinh Ban mai (Pubbanhasutta) [8]. Như vậy có tất cả mười một bài kinh Paritta được phổ biến trong các nghi lễ tụng đọc theo truyền thống Theravāda. Bài viết sẽ giới thiệu về nguồn gốc và ý nghĩa của những kinh Paritta này.

Kinh tụng Phật giáo không phải là những bài kệ chú để tụng suông mà là cả quá trình nhận thức và tu tập, vì lẽ đó, tụng đọc hay lắng nghe kinh Paritta là tự phản tỉnh chính mình, nỗ lực tu tập và thực hành những lời dạy trong bài kinh đó. Kinh tụng Phật giáo Theravāda không nặng tính cầu xin hay nương nhờ các vị thánh thần mà là những lời chân thật, những lời tán dương Tam bảo và rải tâm từ đến tất cả chúng sanh. Ở mỗi bài kinh, đều có những hoàn cảnh ra đời và nhân duyên đặc biệt khiến cho bài kinh có ý nghĩa sâu sắc và tạo nên oai lực riêng.

1. Kinh Điềm lành (Mangalasutta) [9]

Được Thế Tôn thuyết tại Tự viện Jetavana gần thành Sāvatthī đến vị Thiên tử, là sứ giả của Thiên chủ Sakka. Trước thời gian này mười hai năm, trong dân gian có sự tranh luận rộng rãi về vấn đề: Cái gì là điềm lành của nhân loại? Việc tranh cãi xôn xao từ cõi người cho đến cõi Phạm thiên, và không ai có thể đưa ra lời giải thích thỏa đáng. Và rồi, Thiên chủ Sakka sai một vị Thiên tử xuống đảnh lễ Thế Tôn và bạch hỏi Ngài về vấn đề này. Do nhân duyên đó, Thế Tôn đã thuyết giảng về ba mươi tám điều thiết thực được gọi là điềm lành ở thế gian này [10]. Ba mươi tám điềm lành này chính là những nguyên tắc thực hành trong đời sống như là không gần kẻ ngu (asevanā ca bālānam), thân cận người hiền trí (panditānam ca sevanā), cúng dường bậc đáng cúng dường (pūjā ca pūjanīyānam)… Những điềm lành này được Thế Tôn thuyết giảng cho nhân loại trong xã hội để phát triển tâm từ sơ cơ đến khi nào chứng đắc Thánh quả cao quý, tâm không còn sầu não (asoka), vô nhiễm (viraja) và an tịnh (khema), chính là điềm lành tối thượng nhất.

2. Kinh Châu báu (Ratanasutta) [11]

Được thuyết tại thành Vesāli trong chuyến du hành của Ngài theo lời thỉnh cầu của các Licchavī để giải trừ tai ương đang giáng xuống kinh thành này. Theo Chú giải, lúc bấy giờ thành Vesāli bị thất mùa, nạn đói phát sanh khiến dân chúng chết đói, bệnh dịch tràn lan và phi nhân quấy phá. Do lời thỉnh mời của các Licchavī, khi Thế Tôn ngự đến Vesāli, một cơn mưa lớn đổ xuống, nước dâng cao và cuốn trôi đi các tử thi, khiến cho toàn kinh thành không còn ô uế nữa. Sau đó, Đức Thế Tôn đã thuyết kinh Châu báu cho Đại đức Ānanda nghe và bảo Đại đức đi quanh ba vòng thành Vesāli, đọc tụng là bài kinh này. Đại đức Ānanda lấy bình bát bằng đá của Thế Tôn, đổ nước và suy niệm những công hạnh của Đức Thế Tôn từ khi Ngài bắt đầu thực hành mười pháp Ba-la-mật bờ kia (pāramī), mười pháp Ba-la-mật bờ trên (upapāramī), mười pháp Ba-la-mật bờ cao thượng (paramatthapāramī) [12], năm pháp đại thí [13], ba pháp hành [14], Bồ-tát giáng sanh vào lòng mẹ trong kiếp chót, Bồ-tát đản sanh, Bồ-tát xuất gia, Bồ-tát tu khổ hạnh, Bồ-tát cảm thắng Ma vương, chứng quả Chánh Biến Tri, chín pháp Thánh [15]. Suy tưởng như thế, Đại đức Ānanda đi vòng quanh ba vòng thành Vesāli và đọc tụng lại kinh Châu báu. Vừa đi vừa rải nước, những giọt nước vừa chạm vào các loài phi nhân, chúng đều biến mất; những người bệnh đều được thoát khỏi bệnh tật. Rồi, các vương tử dòng Licchavī cùng vô số chư thiên đã vân tập xung quanh Thế Tôn, Ngài đã thuyết lại kinh Châu báu một lần nữa. Bảy ngày tiếp theo, Thế Tôn cũng thuyết lại bài kinh này. Sau khi nhận thấy những tai ương tại thành Vesāli đã được giải trừ, Thế Tôn đã rời kinh thành Vesāli [16]. Kinh Châu báu gồm có mười bảy bài kệ: hai kệ đầu là lời thỉnh chư Thiên thọ hưởng vật thực cúng dường và hộ trì chúng sanh thoát khỏi mọi tai ương; mười hai kệ tiếp theo là lời tán thán ân đức Tam bảo; ba kệ cuối là lời của Thiên chủ Sakka thay mặt chư Thiên tán dương Tam bảo [17].

3. Kinh Lòng từ (Mettasutta hoặc Karanīyamettasutta) [18]

Đức Thế Tôn thuyết tại Sāvatthī, đến năm trăm vị Tỳ kheo. Khi ấy, có năm trăm vị Tỳ kheo nhận được đề mục thiền quán và đi vào một khu rừng nọ để tu tập. Chư thiên ngự ở trong rừng ấy không dám ở trên cao hơn các vị Tỳ kheo nên xuống dưới đất cư ngụ hết. Chư thiên nghĩ: các vị Tỳ kheo chắc chỉ ở qua đêm rồi sẽ đi nơi khác. Nhưng rồi, ngày này qua ngày nọ, chư Tỳ kheo vẫn ngụ tại đấy hành thiền khiến chư thiên cảm thấy không được an vui. Do đó, chư thiên hiện ra những hình ảnh ma quái để hù nhát các vị Tỳ kheo, khiến cho các vị mất ăn mất ngủ, tinh thần sa sút và không thể an trú trong đề mục của mình. Chư Tỳ kheo quay về đảnh lễ Đức Thế Tôn và trình bày sự kiện trên. Rồi Thế Tôn giảng kinh Lòng từ đến chư Tỳ kheo ấy và bảo chư vị Tỳ kheo hãy niệm tụng thường xuyên, từ lúc đến khu rừng đến lúc về tự viện sẽ được an lạc. Chư Tỳ kheo vâng lời, đi đến bìa rừng, đồng loạt tụng lại bài kinh và đi vào chỗ cư ngụ. Chư thiên tại khu rừng đều có cảm tình thân thiện với chư Tỳ kheo ấy nên họ đến nhận y bát, dâng nước rửa tay chân, bố trí canh gác bảo vệ khắp nơi. Do đó, năm trăm vị Tỳ kheo tiến tu trên đề mục của mình và chẳng bao lâu chứng đắc được Thánh quả A-la-hán cao thượng [19].

Nội dung kinh Lòng từ gồm mười bài kệ, và nhắc lại những đức tính cao quý của người sống với lòng từ (metta) như là: tinh cần, trực tánh, nhu hòa, không cao mạn, không tham ái, không nhỏ nhen vụn vặt, mong mọi chúng sanh an lạc, mong không ai lừa dối ai, mong không có ai giận hờn nhau, làm khổ cho nhau, mong làm như mẹ trọn đời lo che chở… Đức Thế Tôn đã giảng dạy cho chúng ta những lời khuyên rõ ràng để thanh tịnh hóa thân tâm, chỉ cho ta cách xếp đặt cuộc đời mình trong ngoài vẹn toàn. Nội dung bài kinh là những điều chúng ta cần làm để mang đến bình an cho chính bản thân mình. Và khi có được lòng từ, sự an lạc nơi tự thân thì mọi người xung quanh sẽ được hưởng phúc lợi từ lòng từ của chúng ta.

4. Kinh Uẩn (Khandhasutta) [20]

Đức Thế Tôn thuyết tại Tự viện Jetavana do nhân duyên có một vị Tỳ kheo bị rắn cắn. Do đó, Đức Thế Tôn cho phép chư Tỳ kheo hướng tâm từ đến bốn dòng tộc rắn chúa là Virūpakkha, Erāpatha, Chabyāputta và Kanhāgotamaka để hộ trì và bảo vệ bản thân. Nội dung kinh ngoài việc hướng tâm từ đến bốn dòng rắn chúa thì còn hướng tâm từ đến các loài chúng sanh từ không chân, hai chân, bốn chân và nhiều chân.

5. Kinh Khổng tước (Morasutta)

Trích từ chuyện tiền thân Con công vàng (Morajātaka) [21]. Thuở xưa, khi Bồ-tát sanh làm con công sắc vàng sống trên đồi vàng ở Dandaka. Con công thường đọc bài kệ tán thán mặt trời và chư Phật để hộ trì mình. Khi ấy, Hoàng hậu Khemā của vua trị vì Bārānasī nằm mộng thấy con công vàng thuyết pháp, nên muốn có được con công vàng ấy. Nhà vua ra lệnh cho người đi săn và bắt con công vàng nhưng không được. Hoàng hậu héo mòn và qua đời. Nhà vua cho khắc bảng vàng: ai ăn thịt công vàng sẽ bất tử. Sáu vị vua kế nghiệp về sau cũng ra lệnh săn con công vàng nhưng cũng đều thất bại. Vị vua thứ bảy thuê một người thợ săn biết được chỗ công vàng đang sống. Người thợ săn nghĩ: con công vàng này chắc phải có bùa chú chi đó nên đi qua bẫy mà bẫy không sập. Ông bắt một con công mái làm mồi nhử. Sáng ngày nọ, nghe tiếng con công mái kêu, con công vàng khởi lên dục vọng, không đọc bài kệ tán dương thường ngày, và cuối cùng bị sập bẫy. Công vàng bị bắt và đem trình đến đức vua. Con công ấy đã nói: ăn thịt công vàng không thể bất tử vì chính công vàng cũng không thể trường sanh; còn sắc vàng của công là do công đức giữ giới đã tạo trong tiền kiếp làm một Chuyển luân vương. Đức vua nghe vậy, khởi tâm tịnh tín và hoan hỷ đưa công vàng trở về Dandaka. Con công vàng chính là tiền thân của Đức Thế Tôn.

6. Kinh Chim cút (Vattasutta)

Trích từ bài kệ trong chuyện tiền thân Con chim cút (Vattakajātaka) [22]. Thuở xưa, khi Bồ-tát sanh làm con chim cút con. Một hôm, khu rừng nơi bị cháy, chim cút con không thể tự thoát thân nên đã phát nguyện lời chân thật và niệm tưởng các công đức đã được chư Phật quá khứ chứng đắc. Do đó, ngọn lửa lụi dần và tắt hẳn.

7. Kinh Đầu ngọn cờ (Dhajaggasutta) [23]

Đức Thế Tôn thuyết tại Jetavana. Nội dung bài kinh được Thế Tôn nhắc lại trận chiến giữa Thiên chủ Sakka và chúng Asūra. Thiên chủ Sakka đã bảo các thân hữu rằng: khi lâm chiến, nếu sợ hãi, hoảng hốt, hãy nhìn nơi đầu ngọn cờ của Thiên chủ thì sợ hãi, hoảng hốt sẽ tiêu tan. Hay là hãy nhìn nơi đầu ngọn cờ của các Thiên vương Pajāpati hay Varuna hay Īsāna cũng được. Sau đó, Thế Tôn dạy các Tỳ kheo rằng: khi các Tỳ kheo đi vào rừng, đi đến gốc cây hay đi đến nhà trống, nếu run sợ, hoảng hốt, hãy niệm nhớ đến ân đức Tam bảo thì sợ hãi hoảng hốt không bao giờ khởi lên.

8. Kinh A-sá-năng-chi (Ātānātiyasutta) [24]

Thuyết tại núi Gijjhakūta. Khi ấy, sau khi sắp đặt trấn giữ bốn phương, bốn vị Thiên vương đã đến đảnh lễ Thế Tôn. Thiên vương Vessavana bạch Thế Tôn cho rằng có nhiều dạ-xoa không tin tưởng lời Phật dạy phải giữ ngũ giới, và thỉnh Thế Tôn cho phép chư Tỳ kheo, Tỳ kheo ni và hàng cư sĩ tại gia học thuộc bài Hộ kinh Ātānātiya để tạo tín tâm cho các dạ-xoa chưa có tín tâm mong họ trở thành những người hộ trì, không làm hại các đệ tử Phật và che chở cho những ai hành trì Phật Pháp. Đức Thế Tôn cho phép: “Này các Tỳ kheo, hãy học Ātānātiya hộ kinh này, hãy thuộc lòng Ātānātiya hộ kinh này. Này các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ được che chở, được hộ trì, được ngăn khỏi ai làm hại, được sống thoải mái hạnh phúc” [25]. Phần đầu bài hộ kinh Ātānātiya tán thán và kính lễ bảy vị Phật quá khứ và hiện tại, bắt đầu bằng Đức Phật Vipassī, Đức Phật Sikhī, Đức Phật Vessabhū, Đức Phật Kakusandha, Đức Phật Konāgamana, Đức Phật Kassapa, Đức Phật Angirasa (tên tộc của Đức Phật Gotama). Phần kế đề cập đến các Thiên tử với bốn vị Đại Thiên vương đứng hàng đầu; phần sau cùng mô tả các vị Thiên tử khác bằng những vần kệ ngôn.

9. Kinh Angulimāla (Angulimālasutta) [26]

Trích từ lời chân ngôn của Tôn giả Angulimāla trong kinh Angulimāla. Một buổi sáng nọ, Tôn giả Angulimāla đi vào Sāvatthi để khất thực. Trong khi đi khất thực, Tôn giả nhìn thấy một thai phụ đang đau đớn quằn quại vì không sanh con ra được khởi tâm thương xót. Tôn giả trình bạch với Đức Thế Tôn và được Ngài dạy rằng: hãy đi đến người thai phụ đó và nói như sau: “Thưa bà chị, vì rằng tôi từ khi được Thánh sanh đến nay chưa bao giờ cố ý giết hại mạng sống của chúng sanh, mong rằng với sự thật ấy, bà được an toàn, và sanh đẻ được an toàn”. Do lời chân ngôn của Tôn giả, người thai phụ ấy được sanh nở an toàn. Vì nhân duyên này, lời nói của Tôn giả Angulimāla cũng được xem là một bài kinh Paritta hộ trì cho người đọc tụng và người lắng nghe.

10. Kinh Giác chi (Bojjhangasutta) [27]

Gồm ba bài kinh thuyết cho người bệnh nghe, trường hợp này là Tôn giả Mahākassapa, Tôn giả Mahāmoggallāna và Đức Thế Tôn. Sau khi hai vị trưởng lão nghe đọc bảy pháp giác chi thì các Ngài liền sanh tâm hoan hỷ, căn bệnh cũng được dứt trừ, không còn tái phát nữa.

11. Kinh Ban mai (Pubbanhasutta) [28]

Đức Thế Tôn dạy chúng sanh nào vào buổi sáng, buổi trưa hay buổi chiều, sống với tâm niệm lành, làm lành, nói lành thì được an lạc, tốt đẹp.

Đây là mười một bài hộ kinh Paritta thường được chư Tăng và cư sĩ tụng đọc thường xuyên tại các nước theo truyền thống Theravāda. Tuy chỉ là những đoạn kinh ngắn, những bài kinh trích ra từ những bộ kinh nhưng những bài kinh hộ trì này có oai lực hộ trì nếu như người tụng đọc hoặc lắng nghe một cách đúng đắn.

Ý NGHĨA VÀ LỢI ÍCH CỦA VIỆC TỤNG ĐỌC VÀ LẮNG NGHE KINH PARITTA

Kinh tụng không chỉ là đọc tụng suôn mà còn có giá trị thực tế là phải thực hành thì mới đem đến lợi ích thiết thực. Phật giáo không chủ trương việc cầu nguyện hay van xin tha lực nào đó ban phước hay cứu rỗi mà “tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một điều gì khác” [29]. Ngoài những bài kinh như kinh Châu báu, kinh Khổng tước, kinh Chim cút, kinh A-sá-năng-chi, kinh Angulimāla, kinh Ban mai chỉ để trì tụng thì những kinh còn lại như kinh Điềm lành, kinh Lòng từ, kinh Uẩn, kinh Đầu ngọn cờ đều có giá trị trì tụng và còn thực hành.

Ở các nước Thái Lan, Campuchia, Myanmar việc trì tụng những bài Kinh hộ trì đều có ý nghĩa với người trì tụng và người lắng nghe. Từ duyên sự của bài kinh mà chư vị trưởng lão đã phân loại ý nghĩa và lợi ích của việc tụng đọc những bài kinh như sau [30]:

1. Kinh Điềm lành: cầu mong sự an lạc, hạnh phúc.

2. Kinh Châu báu: tránh khỏi sự bệnh tật, đói khát và phi nhân quấy phá.

3. Kinh Lòng từ: rải tâm từ đến mọi chúng sanh, phi nhân.

4. Kinh Uẩn: rải tâm từ đến các loài côn trùng, bò sát,… không bị xâm hại.

5. Kinh Khổng tước: tránh xa những cạm bẫy, được sự an toàn.

6. Kinh Chim cút: tránh khỏi hỏa hoạn.

7. Kinh Đầu ngọn cờ: tránh khỏi sự kinh sợ, khiếp đảm.

8. Kinh A-sa-năng-chi: tránh sự quấy phá của phi nhân, được an lành.

9. Kinh Angulimāla: mong sản phụ được mẹ tròn con vuông.

10. Kinh Giác chi: tránh khỏi bệnh tật, ốm đau.

11. Kinh Ban mai: tránh khỏi những điều xấu, mong sự an lành cả ngày đêm.

Mặc dù kinh Paritta có vai trò hộ trì, che chở, bảo vệ những người tụng đọc và lắng nghe kinh, nhưng việc tụng đọc và lắng nghe phải được thực hiện đúng đắn thì kinh Paritta mới có giá trị và lợi ích thiết thực. Do đó, người tụng đọc phải hội đủ ba điều kiện sau thì khi đọc tụng kinh Paritta mới có thể nhận lãnh được giá trị, ý nghĩa và lợi ích: Vị ấy phải đọc tụng kinh Paritta một cách chính xác, đầy đủ; Vị ấy phải hiểu rõ ý nghĩa của kinh Paritta một cách trọn vẹn; Vị ấy phải đọc tụng với tâm thiện hợp trí tuệ.

Về phía người lắng nghe tụng đọc kinh Paritta, ngoài việc đủ ba điều kiện giống người đọc tụng ở trên, người lắng nghe còn phải có những điều kiện như là: Vị ấy không phải là người phạm vào năm trọng tội như giết mẹ cha, giết bậc A-la-hán, làm chảy máu Phật và chia rẽ Tăng; Vị ấy không phải là người tà kiến (micchāditthi), là người tin vào nghiệp và quả của nghiệp; Vị ấy lắng nghe với tâm hoan hỷ, tâm thiện hợp với trí tuệ. Khi hội đủ những điều kiện trên, người đọc tụng hay người lắng nghe đọc tụng kinh Paritta sẽ nhận được oai lực và lợi ích của kinh Paritta. Như vậy, cả người tụng đọc và người lắng nghe kinh Paritta đều có phước và những lợi ích, oai lực của kinh Paritta hộ trì. Hơn hết, việc người tụng đọc và người lắng nghe thực hành những lời dạy chứa đựng trong những bài kinh Paritta cũng chính là tự bảo vệ mình ngay trong hiện tại và sẽ ở những kiếp tương lai.

Có thể nói, Phật pháp là phương tiện để đưa đến bến bờ giải thoát cao thượng. Việc tụng đọc kinh Paritta cũng là một trong nhiều phương tiện hay cách thức hành trì. Hơn hết, người tụng đọc và người lắng nghe tụng đọc Paritta phải hiểu rõ từng câu chữ, ý nghĩa một cách trọn vẹn, đầy đủ rồi áp dụng vào trong đời sống thì chính là con đường tu tập đem đến lợi ích thiết thực hơn là cầu nguyện, van xin viển vông. Việc trì tụng kinh hộ trì là muốn để tâm được an lạc, nhưng dù có tụng bao nhiêu mà thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác thì không sao đạt được sự an lạc như ý muốn. Việc tụng đọc là phải thực hành, sống với những lời dạy đó thì tụng đọc mới có ý nghĩa. Như vậy, đó mới là “tự mình nương tựa chính mình”.

*

Chú thích:

[] Hộ Tông (1959), Lễ Bái Tam Bảo – Cư Sĩ Luật Tóm Tắt, Giáo hội Tăng-già Nguyên thủy Việt Nam.

[2] Tịnh Tâm (HT. Hộ Tông) (2000), Kinh Tụng Chư Tăng, Nxb TP HCM.

[3] Tăng Định (2004), Kinh Nhật Tụng Cư Sĩ, Nxb Tổng hợp TP HCM.

[4] Sayadaw U Sīlanandābhivamsa (2000), Paritta Pāli & Protective Verses, Ministry of Religious Affairs, p.1.

[5] Sayadaw Mingun (2019), Đại Phật Sử – Mahābuddhavamsa, Tỳ-khưu Minh Huệ (dịch), Nxb Hồng Đức, tr.192.

[6] S.v.81. Thích Minh Châu (dịch) (2014), Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền – Kinh Tương Ưng Bộ, Tập 2, Nxb Tôn giáo, tr.504.

[7] Mil.150. Indacanda (dịch) (2011), Milinda Vấn Đạo, Buddhist Cultural Centre, tr.277.

[8] Sayadaw U Sīlanandābhivamsa (2000), Paritta Pāli & Protective Verses, Ministry of Religious Affairs, Yangon, p.3.

[9] Kp.3. Thích Minh Châu (dịch) (2015), Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền – Kinh Tiểu Bộ, Tập 1, Nxb Tôn giáo, tr.22-24.

[10] SnA.i.118ff

[11] Kp.3ff. Thích Minh Châu (dịch) (2015), Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền – Kinh Tiểu Bộ, Tập 1, Nxb Tôn giáo, tr.24-30.

[12] Mười pháp Ba-la-mật (pāramī) gồm bố thí, trì giới, xuất gia, trí tuệ, tinh tấn, nhẫn nại, chân thật, chí nguyện, tâm từ và hành xả. Mỗi pháp Ba-la-mật được phân thành ba-la-mật bậc hạ (pāramī), ba-la-mật bậc trung (upapāramī), ba-la-mật bậc thượng (paramatthapāramī) nên có tất cả là ba mươi pháp ba-la-mật.

[13] Năm pháp đại thí là: bố thí của cải, ngôi vua, vợ con, bộ phận cơ thể và sinh mạng.

[14] Ba pháp hành: hành vì cá nhân, người khác, quả vị Chánh Đẳng Chánh Giác.

[15] Chín pháp Thánh là: bốn Đạo, bốn Quả và Niết-bàn.

[16] Pháp Minh (dịch) (2018), Chú Giải Kinh Pháp Cú, Tập 4, Nxb Hồng Đức, tr.75-79.

[17] KpA.195ff.

[18] Kp.8f. Thích Minh Châu (dịch) (2015), Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền – Kinh Tiểu Bộ, Tập 1, Nxb Tôn giáo, tr.35-37.

[19] KpA.232ff; DhA.i.313ff. Pháp Minh (dịch) (2018), Chú Giải Kinh Pháp Cú, Tập 4, Nxb Hồng Đức, tr.513-519.

[20] Vin.ii.110f; A.ii.72f; J.203; JA.ii.145ff. Indacanda (dịch) (2010), Tiểu Phẩm, Tập 2, Buddhist Cultural Centre, Sri Lanka, tr.15-17. Thích Minh Châu (dịch) (2015), Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền – Kinh Tăng Chi Bộ, Tập 1, Nxb Tôn giáo, tr.416-417. Thích Minh Châu và Nguyên Tâm Trần Phương Lan (dịch) (2015), Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền – Kinh Tiểu Bộ, Tập 3, Nxb Tôn giáo, tr.674-678.

[21] J.159; JA.ii.33ff. Thích Minh Châu và Nguyên Tâm Trần Phương Lan (dịch) (2015), Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền – Kinh Tiểu Bộ (2015), Tập 3, Nxb Tôn giáo, tr.548-553.

[22] J.35; JA.i.212ff. Thích Minh Châu và Nguyên Tâm Trần Phương Lan (dịch) (2015), Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền – Kinh Tiểu Bộ (2015), Tập 3, Nxb Tôn giáo, tr.150-154.

[23] S.i.218f. Thích Minh Châu (dịch) (2014), Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền – Kinh Tương Ưng Bộ, Tập 1, Nxb Tôn giáo, tr.336-339.

[24] D.iii.194ff. Thích Minh Châu (dịch) (2013), Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền – Kinh Trường Bộ, Nxb Tôn giáo, tr.634-640.

[25] Thích Minh Châu (dịch) (2013), Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền – Kinh Trường Bộ, Nxb Tôn giáo, tr.643.

[26] M.ii.103. Thích Minh Châu (dịch) (2012), Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền – Kinh Trung Bộ, Nxb Tôn giáo, tr.130.

[27] S.v.79ff. Thích Minh Châu (dịch) (2014), Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền – Kinh Tương Ưng Bộ, Tập 2, Nxb Tôn giáo, tr.503-504.

[28] A.i.294. Thích Minh Châu (dịch) (2015), Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền – Kinh Tăng Chi Bộ, Tập 1, Nxb Tôn giáo, tr.327.

[29] Thích Minh Châu (dịch) (2013), Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền – Kinh Trường Bộ, Nxb Tôn giáo, tr.298.

[30] Sayadaw U Sīlanandābhivamsa (2000), Paritta Pāli & Protective Verses, Ministry of Religious Affairs, Yangon, p.4.

* Nguồn: Tạp chí Văn hóa Phật giáo (16/04/2021), https://tapchivanhoaphatgiao.com/luu-tru/8965   

*-----*



Sunday, 9 February 2025

Bốn người vợ của vị trưởng giả.

 BỐN NGƯỜI VỢ CỦA VỊ TRƯỞNG GIẢ

Giới thiệu: Câu chuyện về bốn người vợ của vị trưởng giả được đề cập đầu tiên trong một bài giảng của Hòa thượng Thích Thanh Từ (tập sách “Tu là phải hiền”) và bài giảng của Ni sư Thích nữ Như Thủy (tập sách “Hư hư lục”), xuất bản trong thập niên 1990. Sau đó, câu chuyện này được biên tập lại và phổ biến trên nhiều trang web Phật giáo. Tôi thấy có những bài viết tiếng Anh cũng trích dẫn câu chuyện này. Tuy nhiên, hầu như các bài giảng, bài viết đó – tiếng Việt lẫn tiếng Anh – đều không ghi rõ ràng nguồn gốc xuất xứ của câu chuyện.

Tình cờ tôi vào đọc các trao đổi thảo luận trong một diễn đàn Phật giáo tiếng Anh thì mới biết được câu chuyện trên được ghi trong bài kinh số 10 của bộ Tạp A-hàm Biệt dịch, T-101, thuộc Hán tạng. Từ thông tin đó, tôi tìm được bản dịch tiếng Việt trong bộ Linh Sơn Pháp bảo Đại tạng kinh. Xin trích ra ở đây.

– Bình Anson
Perth, 09/02/2025

*-----*

Tạp A-hàm biệt dịch, T-101.10
(Linh Sơn Pháp bảo Đại tạng kinh)

Nghe như vầy:

Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp Cô Độc, thuộc nước Xá-vệ. Phật gọi các tỳ-khưu, các tỳ-khưu xin thọ giáo. Phật dạy:

– Này các tỳ-khưu, con người có bốn nhân duyên gây nên tham ái nặng nhẹ, từ đó xa rời đạo. Này tỳ-khưu, như một kẻ có bốn người vợ.

Người vợ thứ nhất được chồng xem trọng, đi đứng nằm ngồi, làm việc ngủ nghỉ luôn luôn gần nhau, được ưu tiên về tắm rửa, trang sức, ăn uống, hưởng năm dục, chăm sóc khi nóng lạnh, đói khát; nghịch thuận thường chiều theo ý muốn, không làm phiền lòng.

Người vợ thứ hai thường trực hai bên khi đứng ngồi nói chuyện, được vậy thì vui, không được thì buồn, cả khi đau bệnh hoặc tranh tụng.

Người vợ thứ ba thường hiện diện bên nhau, thường xuyên thăm hỏi sự khổ vui, khó khăn đau bệnh cùng chịu với nhau, xa nhau thì mong nhớ.

Người vợ thứ tư, bị chồng sai khiến, chạy đi làm việc rất là khổ cực, gặp nhau không thèm hỏi không thèm nói, chỉ mong chồng để ý đến nhưng không toại nguyện.

Người chồng có bốn vợ này, một hôm có việc tang chế, cần phải đi xa, nên bảo người vợ thứ nhất cùng đi theo.

Người vợ thứ nhất trả lời:

– Thiếp không theo chàng được. 

Người chồng nói:

– Ta yêu trọng nàng vô cùng, việc lớn nhỏ nhiều ít đều làm theo ý, nuôi nấng luôn luôn vừa ý, tại sao nàng không đi với ta?

Vợ đáp:

– Chàng tuy yêu thương thiếp vô cùng, nhưng thiếp không bao giờ theo chàng.

Người chồng tức giận đi gọi người vợ thứ hai:

– Nàng hãy đi với ta. 

Người này đáp:

– Người vợ cả được chàng yêu mến nhất, nhưng bà ta đã không đi theo; thiếp cũng không bao giờ theo chàng.

Chồng nói:

– Khi ta mới tìm nàng khó khăn không thể nói, chịu nóng lạnh, đói khát, nước lửa, quan lại, giặc cướp, lại tranh giành với người, thật khó khăn mới được, tại sao nàng không đi với ta?

Vợ nói:

– Chàng vì tham lợi nên cố cầu được thiếp, còn thiếp không cần chàng, vậy đem những việc khó nhọc ra nói làm gì!

Người chồng tức giận đến nói với người vợ thứ ba:

– Nàng hãy đi với ta. 

Người vợ này nói:

– Thiếp thọ ân chàng giúp đỡ, sẽ đưa chàng ra khỏi thành nhưng không theo chàng đi xa đến tận nơi kia.

Người chồng tức giận, trở lại bàn luận với người vợ thứ tư:

– Ta sẽ đi khỏi nước này, nàng hãy đi theo ta.

Người vợ này nói:

– Thiếp đã xa rời cha mẹ đến đây tùy thuộc chàng sai khiến, dù sống chết, vui buồn cũng sẽ theo chàng đến nơi.

Người chồng không được ba người vợ vừa ý đi theo, chỉ có người vợ xấu, khổ, không vừa ý thì đi theo.

Phật dạy:

– Người chồng ở trên, chỉ cho thần thức của con người. Người vợ thứ nhất chỉ cho thân thể. Con người yêu mến thân thể mình còn hơn người vợ thứ nhất, đến khi chết thần thức tùy theo tội phước ra đi một mình, thân thể cứng đơ trên đất, không chịu đi theo.

Tỳ-khưu không dốc tu tập bốn hành thì không thể giải thoát. Những gì là bốn? Một là ưu khổ, hai là khổ tập, ba là khổ diệt, bốn là con đường làm tiêu diệt các nẻo ác có tám chi; phải thực hành bốn Thánh đế đó.

Người vợ thứ hai là tài sản của người, được thì mừng, không được thì buồn; đến khi qua đời tài sản vẫn còn lại trên thế gian, không đi theo người, uổng công sầu khổ.

Người vợ thứ ba là cha mẹ, vợ con, anh em thân thuộc, bạn bè, nô tỳ. Khi còn sống ân ái, yêu mến nhau, đến khi qua đời thì khóc lóc đưa tiễn nhau ra ngoài thành, tới nghĩa địa, sau khi vứt bỏ thây chết rồi cùng nhau ai về nhà nấy, ưu tư bất quá chừng mười ngày, tiếp đó thì xúm nhau ăn uống, quên hẳn người chết.

Người vợ thứ tư là tâm ý của con người, trong thế gian không có ai yêu mến và giữ gìn tâm ý, đều phóng tâm buông ý, tham dục sân giận, không tin chánh đạo, sau khi chết bị đọa đường ác, hoặc địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, đều do vì buông lung tâm ý.

“Này tỳ-khưu, hành đạo cần phải giữ niệm tỉnh giác, loại trừ tâm ngu si, không hành động ngu si, chấm dứt hành động xấu ác. Không hành động xấu ác thì không bị quả báo khổ, không thọ quả khổ thì không sinh, không sinh thì không già, không già thì không bệnh, không bệnh thì không chết, không chết là đắc đạo Niết-bàn giải thoát.”

Đức Phật giảng dạy như vậy, các tỳ-khưu hoan hỷ phụng hành.

– Tạp A-hàm biệt dịch, T 101.10 
(Linh Sơn Pháp bảo Đại tạng kinh).

-----------
Ghi chú: Về Tạp A Hàm Kinh, trong Hán tạng có 3 bộ:

T-99: Tạp A Hàm Kinh, 50 quyển, 1362 bài kinh, do Cầu Na Bạt Đà La dịch, đời Lưu Tống. Đây là bản Hán dịch đầy đủ nhất, đã được dịch sang tiếng Việt và quảng bá rộng rãi.

T-100: Biệt dịch Tạp A Hàm Kinh, 16 quyển, 364 bài kinh, không biết tên dịch giả

T-101: Tạp A Hàm Kinh, 1 quyển, 27 bài kinh, không biết tên dịch giả. Câu chuyện về bốn bà vợ của trưởng giả là bài kinh số 10 trong bộ này.

*-----*




Friday, 24 January 2025

Liệt kê Tiểu bộ (KN - Khuddaka Nikāya)

 TIỂU BỘ
(KN - Khuddaka Nikāya) 

Liệt kê:

1. Kp - Khuddakapāṭha - Tiểu Tụng 
2. Dhp - Dhammapada - Pháp Cú 
3. Ud - Udāna - Phật Tự Thuyết 
4. Iti - Itivuttaka - Phật Thuyết Như Vậy 
5. Snp - Suttanipāta - Kinh Tập 
6. Vv - Vimānavatthu - Chuyện Thiên Cung 
7. Pv - Petavatthu - Chuyện Ngạ Quỷ 
8. Thag - Theragathā - Trưởng Lão Kệ 
9. Thig - Therīgāthā - Trưởng Lão Ni Kệ
10. Ja - Jātaka - Bổn Sanh
11. Niddesa - Diễn Giải 
.    11a. Mnd - Mahāniddesa - Đại diễn giải
.    11b. Cnd - Cullaniddesa - Tiểu diễn giải 

12. Ps - Paṭisambhidāmagga - Phân Tích Đạo 
13. Apadāna - Thánh Nhân Ký Sự
.    13a. Tha Ap - Therāpadāna - Trưởng lão ký sự
.    13b. Thi Ap - Therī-apadāna - Trưởng lão ni ký sự

14. Bv - Buddhavaṃsa - Phật Sử 
15. Cp - Cariyāpiṭaka - Hạnh Tạng 
16. Ne - Nettipakaraṇa - Cẩm Nang Học Phật 
17. Pe - Peṭakopadesa - Tam Tạng Chỉ Nam 
18. Mil - Milindapañha - Milinda Vấn Đạo 

15 tập đầu của Tiểu Bộ là sưu tập chung cho các ấn bản Pali của Tam tạng Phật giáo Thái Lan, Phật giáo Myanmar, Phật giáo Sri Lanka và Hội Kinh văn Pali (Pali Text Society, PTS). Tiểu Bộ của Sri Lanka và Myanmar có thêm tập 16 và 17. Ngoài ra, Tiểu Bộ Myanmar có thêm tập 18 – Milinda Vấn Đạo. 

Tiểu Bộ trong Tam tạng Thánh điển Phật giáo Việt Nam do Viện Nghiên cứu Phật học ấn hành năm 2021 có 16 tập, gồm 15 tập đầu và tập 18 – Milinda Vấn Đạo:

a) Tập 1-5, 8, 9 do Hòa thượng Thích Minh Châu dịch.
b) Tập 6, 7, 10 do Giáo sư Trần Phương Lan dịch.
c) Tập 11-15 và tập 18 do Tỳ-khưu Indacanda dịch.

* Ghi thêm: Tỳ-khưu Indacanda dịch đã dịch toàn bộ 18 tập của Tiểu Bộ liệt kê như trên. Có thể đến đọc hoặc tải bản PDF về máy tính tại trang web TAM TẠNG PĀLI - VIỆT:
https://tamtangpaliviet.net/VHoc/VHoc_CBDM.htm

* Đọc thêm:
Tổng quan kinh Tiểu bộ. Thích Nhật Từ (2021). 
https://tinyurl.com/2reab64j

*-----*



Giới thiệu Tăng chi bộ (Aṅguttara Nikāya)

 GIỚI THIỆU TĂNG CHI BỘ 
(AṄGUTTARA NIKĀYA)

Tăng chi bộ là bộ kinh thứ tư của tạng Kinh Pāli, sau Trường bộ, Trung bộ và Tương ưng bộ. Bhikkhu Bodhi trong bản Anh dịch cho biết có tổng cộng 8.122 kinh. Trong số đó có 4.250 kinh bị trùng lặp, chỉ khác nhau một thuật ngữ hay một khóa từ, cho nên trên thực tế chỉ có 3.872 kinh.

Trong bản dịch tiếng Việt Tăng chi bộ của Hòa thượng Thích Minh Châu, Thượng tọa Thích Minh Thành đếm được 7.231 kinh. Trên thực tế chỉ có 2.202 kinh, còn lại là những kinh giống như kinh trước nhưng chỉ khác một thuật ngữ hoặc một khái niệm nhỏ.

Các kinh trong bộ này được sắp xếp theo pháp số, từ chương Một pháp gồm các bài kinh có một yếu tố, rồi tăng dần lên Hai pháp, Ba pháp, … cho đến Mười một pháp. Như thế toàn bộ có 11 Chương hay Phần (nipāta). Mỗi chương lại chia thành những nhóm nhỏ, gọi là Phẩm (vagga).

Để trích dẫn các bài kinh, SuttaCentral dùng ký hiệu “AN xx.yy”, trong đó, AN: Aṅguttara Nikāya, xx: số chương, yy: số bài kinh trong chương. Thí dụ:

AN 3.14 - Kinh Chuyển luân vương. Đây là bài kinh số 14 trong chương Ba pháp.

*

Trong bài Dẫn luận Tăng chi bộ, Thượng tọa Thích Minh Thành tóm tắt nội dung của Tăng chi bộ như sau: 

1. CHƯƠNG MỘT PHÁP (Ekakanipāta) gồm những chủ đề: Sức mạnh và tai hại của ngũ dục; Các trạng thái thiền định; Bản chất và sức mạnh của tâm khi được tu tập cũng như xác định đúng hướng và ngược lại; Những thành tựu đúng nghĩa và những mất mát vô nghĩa; Những lợi ích và bất lợi; Những bậc Thánh tiêu biểu trong giáo pháp, từ đức Phật đến Thánh chúng và các vị cư sĩ tại gia; Những sự kiện không xảy ra và có xảy ra; Sự đặc thù của chánh kiến và tà kiến; Sức mạnh của không phóng đật, tinh tấn và thiền định.

“Tâm này, này các Tỳ-khưu, là sáng chói, nhưng tâm này bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngoài vào” (AN 1.49).

2. CHƯƠNG HAI PHÁP (Dukanipāta) gồm những chủ đề: Nhân quả và tội báo; Nền tảng đạo đức; Hai loại sức mạnh; Hai cách thuyết pháp; Vai trò của văn cú và nội dung ý nghĩa; Tri ân và báo ân; Định danh Trưởng lão; Các loại hội chúng; Các loại hỷ lạc; Các loại hy vọng; Các loại bố thí; Bậc Thánh và sự giác ngộ; Thanh tịnh thì không sợ hãi; Hiền trí và kẻ ngu; Thiền định và các tâm hộ trì; Phẫn nộ và hiềm hận; Nguyên nhân chế giới.

“Hai pháp trắng này, này các Tỳ-khưu, che chở cho thế giới. Thế nào là hai? Tàm và quý” (AN 2.9).

3. CHƯƠNG BA PHÁP (Tikanipāta) gồm những chủ đề: Kẻ ngu và người trí; Ba thời điểm cần ghi nhớ; Bài học từ người đóng bánh xe; Bài học từ người buôn bán; Những loại người xuất hiện trên đời, những loại người nên và không nên gần gũi; Nghệ thuật giao tiếp; Con cái tôn kính cha mẹ như Phạm thiên; Thế nào gọi là an lạc; Gia đình hiền thiện; Điều kiện sống của đức Phật trước khi xuất gia; Ba minh của Bà-la-môn và Ba minh của bậc Thánh; Ba loại thần thông; Biện minh về tạo hóa; Sư tử và dã can; Tự biết rõ rồi hãy tin; Sơ khởi về Nhân minh luận; Các loại trai giới; Các loại hương; Tăng thượng tam học; Vải thô và lụa là; Nắm muối và chén nước; Lọc tâm như lọc vàng; Ba hạng Đạo sư; Tự ngã thối nát; Ba loại chữ viết; Chiến sĩ và Tỳ-khưu; Tam pháp ấn; Thuần hóa ngựa rừng; Các loại đạo lộ.

“Như vậy, này Ānanda, nghiệp là thửa ruộng, thức là hạt giống, ái là sự nhuận ướt" (AN 3.77).

4. CHƯƠNG BỐN PHÁP (Catukkanipāta) gồm những chủ đề: Giới, Định, Tuệ và Giải thoát, Bậc trí tuệ và đa văn như vàng ròng ở cõi Diêm-phù; Bốn vô sở úy; Bốn chánh cần; Tôn trọng và nương tựa pháp; Bốn pháp tác thành bậc Trưởng lão; Mục đích của Phạm hạnh; Bốn Thánh chủng; Bốn nhiếp pháp; Đức Phật là ai; Bốn cách trả lời; Nguồn cội của phước đức; Bốn cách sống chung; Bốn pháp bố thí; Bổn phận của cư sĩ; Pháp rải tâm từ; Sự vi diệu của Như Lai; Cách thức thuyết pháp; Đạo lộ tu hành; Cơ sở xác định giáo pháp; Lắng nghe, tụng đọc, suy gẫm cách thức để thể nhập pháp; Hiểu rồi hãy nên tin; Nguyên nhân đẹp và xấu; Bốn loại nghiệp; Bốn quả Sa-môn.

“Cũng vậy, này Bà-la-môn, sanh ra trong đời, lớn lên trong đời, Ta sống chinh phục đời, không bị đời thấm ướt. Này Bà-la-môn, Ta là Phật, hãy như vậy thọ trì” (AN 4.36).

5. CHƯƠNG NĂM PHÁP (Pañcakanipāta) gồm những chủ đề: Năm sức mạnh; Dạy bảo cứng rắn; Biết sống hòa hợp; Uế nhiễm của tâm; Năm xứ giải thoát; Lợi ích của kinh hành; Công đức bố thí; Pháp của nàng dâu; Ý nghĩa sinh con trai; Phương cách gầy đựng tài sản; Bố thí vật khả ý; Năm loại Thánh tài; Mũi tên sầu muộn; Năm chướng ngại bao phủ tâm; Xuất gia khi tuổi xế chiều; Sống theo pháp; Năm hạng chiến sĩ; Sống ở trong rừng; Trưởng lão kỳ cựu; Mất thần thông vì danh lợi; Phương thức của kẻ trộm; Sống theo Giới bổn; Chăm sóc bệnh; Phương pháp gia tăng tuổi thọ; Tội ngũ nghịch; Tổn thất và thành tựu; Bậc Chuyển Luân Vương; Con voi của nhà vua; Bố thí của bậc Chân nhân; Diệu pháp hỗn loạn; Cách thức thuyết pháp; Trừ khử hiềm hận; Kẻ bị vất bỏ; Năm việc không kinh doanh; Hạng người sống ở rừng; Cựu pháp của Bà-la-môn; Các hạng Bà-la-môn; Bà-la-môn và chú thuật; Giấc mộng của Bồ-tát; Năm tính chất của lời nói; Lợi ích của cháo; Lợi ích của tăm xỉa răng; Thuyết pháp với giọng ca; Tham luyến trú xứ.

“Nói đúng thời, nói đúng sự thật, nói lời nhu hòa, nói lời liên hệ đến lợi ích, nói với lời từ tâm” (AN 5.198).

6. CHƯƠNG SÁU PHÁP (Chakkanipāta) gồm những chủ đề: Cung kính bậc đáng cung kính; Các căn và các lực; Con ngựa của nhà vua; Sáu nguyên tắc sống chung; Giáo giới khi lâm chung cho hàng cư sĩ, Tỳ-khưu; Nghề nghiệp và ác nghiệp; Tu tập niệm chết; Thời gian thích hợp để tu hành; Sáu chỗ tùy niệm; Sáu pháp minh phần; Vô nhân luận của Bà-la-môn; Nguyên nhân để Diệu pháp tồn tại; Trú xứ mà Phật hoan hỷ; Xác tín về quả Dự lưu; Đau khổ của kẻ nghèo khổ; Bình đẳng tư duy; Phòng hộ các căn; Không phóng dật; Đồng Phạm hạnh phải kính trọng nhau; Tiếng đàn của Sona; Đoạn trừ lậu hoặc; Hoàn tục và xuất gia; Con đường đi đến bờ kia; Pháp môn quyết trạch; Sáu lực của Như Lai; Điều kiện để chứng quả Bất lai và A-la-hán; Điều kiện để an trú Sơ thiền; Thành tựu sự thanh lương; Quyết định tánh của sự nghe pháp; Hành động của người có chánh kiến; Chứng quả Dự lưu.

“Khi tinh cần tinh tấn quả căng thẳng, thời đưa đến dao động; khi tinh cần tinh tấn quá thụ động, thời đưa đến biếng nhác” (AN 6.55).

7. CHƯƠNG BẢY PHÁP (Sattakanipāta) gồm những chủ đề: Bảy tài sản của bậc Thánh; Phiền não tiềm phục; Điều kiện trở thành gia đình thuần lương; Ví dụ người và nước; Bảy pháp bất thối của một quốc gia và của vị Tỳ-khưu; Bảy  giác chi; Lời nói vắn tắt nhưng ý nghĩa rộng lớn; Những điều kiện để trở thành bạn tốt; Điều kiện đạt được bốn vô ngại giải; Thiện xảo trong thiền định; Bảy chỗ thức trú; Bảy loại lửa và lợi ích của chúng; Bảy loại tưởng; Thế nào là sống Phạm hạnh; Pháp môn hệ lụy và ly hệ lụy; Bố thí với ý nghĩa lớn; Nguồn gốc của sự hồi hướng công đức; Những sự kiện Như Lai không trả lời; Bảy sanh thú của loài người; Kết quả hiện tại của sự bố thí; Như Lai không che đậy và không phạm lỗi; Những phương pháp ngăn ngừa buồn ngủ; Bảy hạng vợ; Ước muốn của kẻ thù địch; Tàm quý và cơ sở để chế ngự các căn; Bảy mặt trời; Phòng hộ vững chãi như thành trì ngoài biên ải; Bảy pháp cần thắng tri; Cây Trú Độ của chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba; Tỳ-khưu phải kính trọng ai; Tùy thuận tu tập; Sự nguy hiểm của cung kính và lợi đưỡng; Ngoại đạo ly tham Araka dạy đệ tử; Để xứng đáng là bậc trì Luật; Bảy pháp diệt trừ sự tranh cãi; Người xứng đáng được cung kính.

“Như giọt sương là đời sống loài người, nhỏ bé, không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não” (AN 7.74).

8. CHƯƠNG TÁM PHÁP (Aṭṭhakanipāta) gồm những chủ đề: Lợi ích của lòng từ; Tám nhân duyên thành tựu Phạm hạnh; Tám pháp xoay chuyển thế gian; Khi tâm bị chinh phục; Những phẩm. hạnh của Tôn giả Nanda; Tỳ-khưu giả dạng; Các triết phái công kích đức Thế Tôn; Tướng quân Siha quy y với Thế Tôn; Con ngựa thuần phục, con ngựa chưa được điều phục và các hạng Tỳ-khưu; Vô minh và cấu uế; Điều kiện để trở thành sứ giả; Sự trói buộc giữa nam và nữ; Tám tính chất của biển và giáo pháp; Điều kiện để Bố-tát; Ugga và Hatthaka, những cư sĩ lý tưởng; Định nghĩa về cư sĩ; Tám sự kiện phi thời cho đời sống Phạm hạnh; Tư niệm về pháp của Tôn giả Anuruddha; Những lý do phải bố thí và làm phước; Thửa ruộng và vị Tỳ-khưu; Tám nguồn nước công đức; Quả dị thục của hành động ác; Tám chi trai giới và công đức thực hành; Tám pháp để nữ nhân sanh thiên; Các pháp giúp người phụ nữ sống tự chủ; Sự thành lập Ni đoàn và tám pháp trọng yếu; Những điều kiện để người cư sĩ sống hạnh phúc, an lạc ngay trong hiện tại và tương lai; Đạo và Quả của bậc Thánh; Điều kiện cần của vị giảng sư; Giao thiệp với chư thiên; Tám thắng xứ; Tám giải thoát; Tám Thánh ngôn; Hội chúng của đức Phật; Lời hứa của đức Phật; Lòng tin; Tu tập niệm chết; Chỗ dựa của biếng nhác và tinh tấn; Cội rễ của sự vật; Pháp của kẻ trộm; Các tên gọi khác của Như Lai; Trú xứ được đức Phật khen ngợi; Pháp trách phạt cư sĩ; Pháp yết-ma cử tội; Các nữ cư sĩ tiêu biểu.

“Trong Pháp và Luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình” (AN 8.19).

9. CHƯƠNG CHÍN PHÁP (Navakanipāta) gồm những chủ đề: Chín pháp y cứ đề thành tựu Chánh giác phần; Các pháp đưa đến tâm giải thoát; Nghe pháp đúng thời và đàm luận pháp đúng thời; Thành tựu bốn sức mạnh; Pháp cần phải thân cận và không cần phải thân cận; Bậc A-la-hán không còn lỗi lầm; Chín hạng người; Phẩm hạnh của Tôn giả Sāriputta; Những lý do để sống Phạm hạnh; Hỏi đáp với Tôn giả Samiddhi; Thân thể như ung nhọt; Chín loại tưởng; Những gia đình vị Tỳ-khưu nên đến và không nên đến; Tám pháp trai giới và bốn tâm vô lượng; Sự hối hận của chư thiên; Phân biệt bố thí; Chín chỗ cư trú của loài hữu tình; Tâm vững chãi như trụ đá; Chín cách nghĩ gây xung đột và cách điều phục; Đoạn điệt và an trú tuần tự; Niết-bàn là an lạc; Trí tuệ thể nhập và khởi xuất thiền chứng; Đúng sai và hý luận; Trận chiến giữa chư thiên và a-tu-la; Hạnh sống độc cư thiền tịnh của vị Ty-kheo; Thế nào là an tịnh; Trói buộc và giải thoát; Thế nào gọi là thân chứng, tuệ giải thoát và giải thoát cả hai phần; Năm hạ phần kiết sử và năm thượng phần kiết sử; Năm tâm hoang vu và bốn niệm xứ.

“Pháp là chính thực mình thấy, pháp là thiết thực hiện tại" (AN 9.46).

10. CHƯƠNG MƯỜI PHÁP (Dasakanipāta) gồm những chủ đề: Sự phát triển tuần tự của thiện pháp; Hữu diệt là Niết-bàn; Trú xứ lý tưởng; Năm tâm hoang vu và năm tâm triền phược; Không phóng đật là chỗ quy tụ của thiện pháp; Mười bậc xứng đáng được cúng dường; Mười chỗ cư trú của bậc Thánh; Mười lực và mười trí như thật của Như Lai; Mười đề mục (biến xứ) để tu thiền; Tối thượng và hạ liệt; Vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) tán thán đức Thế Tôn; Mười lý do chế giới; Người hòa giải; Tư cách làm Thầy; Phá hòa hợp Tăng; Cội gốc của tranh luận; Quán sát kỹ rồi hãy buộc tội; Nguy hiểm khi thân cận vương quyền; Tự soi sáng tâm mình; Các pháp lấy Niết-bàn làm cứu cánh; Mười tưởng và việc trị bệnh; Thức ăn của vô minh và minh; Giải thích thêm về bốn bậc Thánh; Ước nguyện đúng pháp; Tiếng ồn là cây gai của thiền định; Hạnh nghiệp và nơi tái sinh; Con quạ và vị Tỳ-khưu; Mười hạng người hưởng dục; Chấp thủ của ngoại đạo; Rừng núi làm loạn tâm vị Tỳ-khưu chưa chứng thiền định; Định nghĩa về tẩy trần; Thuốc xổ của bậc Thánh; Ngày xuất ly của Bà-la-môn và của bậc Thánh; Tịnh hạnh và bất tịnh hạnh; Cúng cho người chết; Pháp môn quanh co và pháp môn Chánh pháp.

“Với người sống Phạm hạnh, thân cận với phụ nữ là cây gai. Với người chứng thiền thứ nhất, tiếng ồn là cây gai. Với người chứng thiền thứ hai, tầm tứ là cây gai. Với người chứng thiền thứ ba, hỷ là cây gai. Với người chứng thiền thứ tư, hơi thở là cây gai. Với người đã đạt được diệt thọ tưởng định, tưởng và thọ là cây gai. Tham là cây gai. Sân là cây gai. Si là cây gai” (AN 10.72).

11. CHƯƠNG MƯỜI MỘT PHÁP (Ekādasakanipāta) gồm những chủ đề: Sự sinh khởi tuần tự các thiện pháp; Những tai họa khi xúc phạm bậc Thánh; Tác ý và không tác ý; Thiền tư thuần thục; Bậc Minh Hạnh Tròn Đầy; Các pháp tùy niệm; An trú với lòng tin và những pháp liên hệ; Những lợi ích khi tu tập lòng từ; Cánh cửa bất tử; Pháp của người chăn bò; Các trạng thái thiền định; Thắng tri tham ái.

“Sát-lỵ, chúng tối thắng,
Với người tin chủng tánh,
Bậc Minh Hạnh Đầy Đủ,
Tối thắng giữa nhân, thiên”
(AN 11.10).

* Đọc thêm:
Dẫn luận kinh Tăng chi bộ. Thích Minh Thành (2020).
https://tinyurl.com/mty3zbe5

*-----*




Mục lục tổng quát Tương ưng bộ (Saṃyutta Nikāya)

 MỤC LỤC TỔNG QUÁT TƯƠNG ƯNG BỘ 
(SAṂYUTTA NIKĀYA)

Tương ưng bộ là bộ tập hợp các bài kinh ngắn, sắp xếp theo chủ đề, gọi là Tương ưng (Saṃyutta), có thể xem như tương đương với Chương. Có tất cả 56 Tương ưng hay 56 Chương. Mỗi chương được phân chia thành nhiều nhóm, gọi là Phẩm (Vagga). Theo Bhikkhu Bodhi, dịch giả bản Anh dịch, Tương ưng bộ trong tạng Pāli ngày nay có tổng cộng 2.904 bài kinh.

Qyu ước trích dẫn kinh dùng trong bản Anh dịch và trong trang web SuttaCentral là: “SN xx.yy”, trong đó, SN: Saṃyutta Nikāya, xx: số Tương ưng (số Chương), yy: số bài kinh trong Tương ưng đó.

Thí dụ:
SN 56.11, Kinh Chuyển Pháp Luân. Đây là bài kinh số 11 trong Chương 56 (Tương ưng Sự Thật) của Tương ưng bộ.

*

SN 1 - Devatāsaṃyutta - Connected Discourses with Devatās - Tương ưng Chư Thiên
SN 2 - Devaputtasaṃyutta - Connected Discourses with Young Devas - Tương ưng Thiên Tử
SN 3 - Kosalasaṃyutta - Connected Discourses with the Kosalan - Tương ưng Kosala
SN 4 - Mārasaṃyutta - Connected Discourses with Māra - Tương ưng Ác Ma
SN 5 - Bhikkhunīsaṃyutta - Connected Discourses with Bhikkhunīs - Tương ưng Tỳ-Khưu-Ni
SN 6 - Brahmasaṃyutta - Connected Discourses with Brahmās - Tương ưng Phạm Thiên
SN 7 - Brāhmaṇasaṃyutta - Connected Discourses with Brahmins - Tương ưng Bà-La-Môn
SN 8 - Vaṅgīsasaṃyutta - Connected Discourses with Vaṅgīsa - Tương ưng Tôn Giá Vaṅgīsa
SN 9 - Vanasaṃyutta - Connected Discourses in the Woods - Tương ưng Rừng
SN 10 - Yakkhasaṃyutta - Connected Discourses with Yakkhas - Tương ưng Dạ - Xoa
SN 11 - Sakkasaṃyutta - Connected Discourses with Sakka - Tương ưng Sakka
SN 12 - Nidānasaṃyutta - Connected Discourses on Causation - Tương ưng Nhân Duyên
SN 13 - Abhisamayasaṃyutta - Connected Discourses on the Breakthrough - Tương ưng Minh Kiến
SN 14 - Dhātusaṃyutta - Connected Discourses on Elements - Tương ưng Giới
SN 15 - Anamataggasaṃyutta - Connected Discourses on Without Discoverable Beginning - Tương ưng Vô Thỉ
SN 16 - Kassapasaṃyutta - Connected Discourses with Kassapa - Tương ưng Kassapa
SN 17 - Lābhasakkārasaṃyutta - Connected Discourses on Gains and Honour - Tương ưng Lợi Đắc, Cung Kỉính
SN 18 - Rāhulasaṃyutta - Connected Discourses with Rāhula - Tương ưng Rāhula
SN 19 - Lakkhaṇasaṃyutta - Connected Discourses with Lakkhaṇa - Tương ưng Lakkhaṇa
SN 20 - Opammasaṃyutta - Connected Discourses with Similes - Tương ưng Thí Dụ
SN 21 - Bhikkhusaṃyutta - Connected Discourses with Bhikkhus - Tương ưng Tỳ-Khưu
SN 22 - Khandhasaṃyutta - Connected Discourses on the Aggregates - Tương ưng Uấn
SN 23 - Rādhasaṃyutta - Connected Discourses with Rādha - Tương ưng Rādha
SN 24 - Diṭṭhisaṃyutta - Connected Discourses on Views - Tương ưng Kiến
SN 25 - Okkantisaṃyutta - Connected Discourses on Entering - Tương ưng Nhập
SN 26 - Uppādasaṃyutta - Connected Discourses on Arising - Tương ưng Sanh
SN 27 - Kilesasaṃyutta - Connected Discourses on Defilements - Tương ưng Phiên Não
SN 28 - Sāriputtasaṃyutta - Connected Discourses with Sāriputta - Tương ưng Sāriputta
SN 29 - Nāgasaṃyutta - Connected Discourses on Nāgas - Tương ưng Loài Rồng
SN 30 - Supaṇṇasaṃyutta - Connected Discourses on Supaṇṇas - Tương ưng Kim Sí Điểu
SN 31 - Gandhabbasaṃyutta - Connected Discourses on Gandhabbas - Tương ưng Càn-Thát-Bà
SN 32 - Valāhakasaṃyutta - Connected Discourses on Cloud Devas - Tương ưng Thần Mây
SN 33 - Vacchagottasaṃyutta - Connected Discourses with Vacchagotta - Tương ưng Vacchagotta
SN 34 - Jhānasaṃyutta - Connected Discourses on Meditation - Tương ưng Thiên
SN 35 - Saḷāyatanasaṃyutta - Connected Discourses on the Six Sense Bases - Tương ưng Sáu Xứ
SN 36 - Vedanāsaṃyutta - Connected Discourses on Feeling - Tương ưng Thọ
SN 37 - Mātugāmasaṃyutta - Connected Discourses on Women - Tương ưng Nữ Nhân
SN 38 - Jambukhādakasaṃyutta - Connected Discourses with Jambukhādaka - Tương ưng Jambukhādaka
SN 39 - Sāmaṇḍakasaṃyutta - Connected Discourses with Sāmaṇḍaka - Tương ưng Sāmaṇḍaka
SN 40 - Moggallānasaṃyutta - Connected Discourses with Moggallāna - Tương ưng Moggallāna
SN 41 - Cittasaṃyutta - Connected Discourses with Citta - Tương ưng Citta
SN 42 - Gāmaṇisaṃyutta - Connected Discourses with Headmen - Tương ưng Thôn Trưởng
SN 43 - Asaṅkhatasaṃyutta - Connected Discourses on the Unconditioned - Tương ưng Vô Vi
SN 44 - Abyākatasaṃyutta - Connected Discourses on the Undeclared - Tương ưng Không Thuyét
SN 45 - Maggasaṃyutta - Connected Discourses on the Path - Tương ưng Đạo
SN 46 - Bojjhaṅgasaṃyutta - Connected Discourses on the Factors of Enlightenment - Tương ưng Giác Chi
SN 47 - Satipaṭṭhānasaṃyutta - Connected Discourses on the Establishments of Mindfulness - Tương ưng Niệm Xứ
SN 48 - Indriyasaṃyutta - Connected Discourses on the Faculties - Tương ưng Căn
SN 49 - Sammappadhānasaṃyutta - Connected Discourses on the Right Strivings - Tương ưng Chánh Cần
SN 50 - Balasaṃyutta - Connected Discourses on the Powers - Tương ưng Lực
SN 51 - Iddhipādasaṃyutta - Connected Discourses on the Bases for Spiritual Power - Tương ưng Như Ý Túc
SN 52 - Anuruddhasaṃyutta - Connected Discourses with Anuruddha - Tương ưng Anuruddha
SN 53 - Jhānasaṃyutta - Connected Discourses on the Jhānas - Tương ưng Thiên
SN 54 - Ānāpānasaṃyutta - Connected Discourses on Breathing - Tương ưng Hơi Thở Vô, Hơi Thở Ra
SN 55 - Sotāpattisaṃyutta - Connected Discourses on Stream - Entry - Tương ưng Dự Lưu
SN 56 - Saccasaṃyutta - Connected Discourses on the Truths - Tương ưng Sự Thật

* Đọc thêm:
Dẫn luận kinh Tương ưng bộ. Thích Minh Thành (2019).
 

*-----*



Thursday, 23 January 2025

Mục lục Trung Bộ (Majjhima Nikāya)

 MỤC LỤC TRUNG BỘ
(MAJJHIMA NIKĀYA)

SuttaCentral dùng ký hiệu "MN xx" để trích dẫn các bài kinh của Trung bộ (MN: Majjhima Nikāya). Tựa bài kinh tiếng Việt dựa theo bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu, tựa bài kinh tiếng Anh dựa theo bản dịch của Bhikkhu Bodhi.

PHẦN I
MN 1 - Mūlapariyāya Sutta - The Root of All Things - Kinh Pháp Môn Căn Bản
MN 2 - Sabbāsava Sutta - All the Taints - Kinh Tất Cả Lậu Hoặc
MN 3 - Dhammadāyāda Sutta - Heirs in Dhamma - Kinh Thừa Tự Pháp
MN 4 - Bhayabherava Sutta - Fear and Dread - Kinh Sợ Hãi Và Khiếp Đảm
MN 5 - Anangaṇa Sutta - Without Blemishes - Kinh Không Uế Nhiễm
MN 6 - Ākankheyya Sutta - Īf a Bhikkhu Should Wish - Kinh Ước Nguyện
MN 7 - Vatthūpama Sutta - The Simile of the Cloth - Kinh Ví Dụ Tầm Vải
MN 8 - Sallekha Sutta - Effacement - Kinh Đoạn Giảm
MN 9 - Sammādiṭṭhi Sutta - Right View - Kinh Chánh Tri Kiến
MN 10 - Satipaṭṭhāna Sutta - The Foundations of Mindfulness - Kinh Niệm Xứ
MN 11 - Cūḷasīhanāda Sutta - The Shorter Discourse on the Lion’s Roar - Tiểu Kinh Sư Tử Hống
MN 12 - Mahāsīhanāda Sutta - The Greater Discourse on the Lion’s Roar - Đại Kinh Sư Tử Hống
MN 13 - Mahādukkhakkhandha Sutta - The Greater Discourse on the Mass of Suffering - Đại Kinh Khổ Uẩn
MN 14 - Cūḷadukkhakkhandha Sutta - The Shorter Discourse on the Mass of Suffering - Tiểu Kinh Khổ Uẩn
MN 15 - Anumāna Sutta - Īnference - Kinh Tư Lượng
MN 16 - Cetokhila Sutta - The Wilderness in the Heart - Kinh Tâm Hoang Vu
MN 17 - Vanapattha Sutta - Jungle Thickets - Kinh Khu Rừng
MN 18 - Madhupiṇḍika Sutta - The Honeyball - Kinh Mật Hoàn
MN 19 - Dvedhāvitakka Sutta - Two Kinds of Thought - Kinh Song Tầm
MN 20 - Vitakkasaṇṭhāna Sutta - The Removal of Distracting Thoughts - Kinh An Trú Tầm
MN 21 - Kakacūpama Sutta - The Simile of the Saw - Kinh Ví Dụ Cái Cưa
MN 22 - Alagaddūpama Sutta - The Simile of the Snake - Kinh Ví Dụ Con Rắn
MN 23 - Vammika Sutta - The Ant-hill - Kinh Gò Mối
MN 24 - Rathavinīta Sutta - The Relay Chariots - Kinh Trạm Xe
MN 25 - Nivāpa Sutta - The Bait - Kinh Bẫy Mồi
MN 26 - Ariyapariyesanā Sutta - The Noble Search - Kinh Thánh Cầu
MN 27 - Cūḷahatthipadopama Sutta - The Shorter Discourse on the Simile of the Elephant’s Footprint - Tiểu Kinh Dụ Dấu Chân Voi
MN 28 - Mahāhatthipadopama Sutta - The Greater Discourse on the Simile of the Elephant’s Footprint - Đại Kinh Dụ Dấu Chân Voi
MN 29 - Mahāsāropama Sutta - The Greater Discourse on the Simile of the Heartwood - Đại Kinh Thí Dụ Lõi Cây
MN 30 - Cūḷasāropama Sutta - The Shorter Discourse on the Simile of the Heartwood - Tiểu Kinh Thí Dụ Lõi Cây
MN 31 - Cūḷagosinga Sutta - The Shorter Discourse in Gosinga - Tiểu Kinh Rừng Sừng Rò
MN 32 - Mahāgosinga Sutta - The Greater Discourse in Gosinga - Đại Kinh Rừng Sừng Bò
MN 33 - Mahāgopālaka Sutta - The Greater Discourse on the Cowherd - Đại Kinh Người Chăn Bò
MN 34 - Cūḷagopālaka Sutta - The Shorter Discourse on the Cowherd - Tiểu Kinh Người Chăn Bò
MN 35 - Cūḷasaccaka Sutta - The Shorter Discourse to Saccaka - Tiểu Kinh Saccaka
MN 36 - Mahāsaccaka Sutta - The Greater Discourse to Saccaka - Đại Kinh Saccaka
MN 37 - Cūḷataṇhāsankhaya Sutta - The Shorter Discourse on the Destruction of Craving - Tiểu Kinh Đoạn Tận Ái
MN 38 - Mahātaṇhāsankhaya Sutta - The Greater Discourse on the Destruction of Craving - Đại Kinh Đoạn Tận Ái
MN 39 - Mahā-Assapura Sutta - The Greater Discourse at Assapura - Đại Kinh Xóm Ngựa
MN 40 - Cūḷa-Assapura Sutta - The Shorter Discourse at Assapura - Tiểu Kinh Xóm Ngựa
MN 41 - Sāleyyaka Sutta - The Brahmins of Sālā - Kinh Sāleyyaka
MN 42 - Verañjaka Sutta - The Brahmins of Veraṇja - Kinh Verañjaka
MN 43 - Mahāvedalla Sutta - The Greater Series of Questions and Answers - Đại Kinh Phương Quảng
MN 44 - Cūḷavedalla Sutta - The Shorter Series of Questions and Answers - Tiểu Kinh Phương Quảng
MN 45 - Cūḷadhammasamādāna Sutta - The Shorter Discourse on Ways of Undertaking Things - Tiễu Kinh Pháp Hành
MN 46 - Mahādhammasamādāna Sutta - The Greater Discourse on Ways of Undertaking Things - Đại Kinh Pháp Hành
MN 47 - Vīmaṁsaka Sutta - The Īnquirer - Kinh Tư Sát
MN 48 - Kosambiya Sutta - The Kosambians - Kinh Kosambiya
MN 49 - Brahmanimantanika Sutta - The Īnvitation of a Brahmā - Kinh Phạm Thiên Cầu Thỉnh
MN 50 - Māratajjanīya Sutta - The Rebuke to Māra - Kinh Hàng Ma

PHẦN II
MN 51 - Kandaraka Sutta - To Kandaraka - Kinh Kandaraka
MN 52 - Aṭṭhakanāgara Sutta - The Man from Aṭṭhakanāgara - Kinh Bát Thành
MN 53 - Sekha Sutta - The Disciple in Higher Training - Kinh Hữu Học
MN 54 - Potaliya Sutta - To Potaliya - Kinh Potaliya
MN 55 - Jīvaka Sutta - To Jīvaka - Kinh Jivaka
MN 56 - Upāli Sutta - To Upāli - Kinh Ưu-Ba-Ly
MN 57 - Kukkuravatika Sutta - The Dog-Duty Ascetic - Kinh Hạnh Con Chó
MN 58 - Abhayarājakumāra Sutta - To Prince Abhaya - Kinh Vương Tử Vô Úy
MN 59 - Bahuvedanīya Sutta - The Many Kinds of Feeling - Kinh Nhiều Cảm Thọ
MN 60 - Apaṇṇaka Sutta - The Īncontrovertible Teaching - Kinh Không Gì Chuyển Hướng
MN 61 - Ambalaṭṭhikārāhulovāda Sutta - Advice to Rāhula at Ambalaṭṭhikā - Kinh Giáo Giới La-Hầu-La Ở Rừng Am-Bà-La
MN 62 - Mahārāhulovāda Sutta - The Greater Discourse of Advice to Rāhula - Đại Kinh Giáo Giới La-Hầu-La
MN 63 - Cūḷamālunkya Sutta - The Shorter Discourse to Mālunkyāputta - Tiểu Kinh Mālunkyā
MN 64 - Mahāmālunkya Sutta - The Greater Discourse to Mālunkyāputta - Đại Kinh Mālunkyā
MN 65 - Bhaddāli Sutta - To Bhaddāli - Kinh Bhaddāli
MN 66 - Laṭukikopama Sutta - The Simile of the Quail - Kinh Ví Dụ Con Chim Cáy
MN 67 - Cātumā Sutta - At Cātumā - Kinhcātumā
MN 68 - Naḷakapāna Sutta - At Naḷakapāna - Kinh Naḷakapāna
MN 69 - Gulissāni Sutta - Gulissāni - Kinh Gulissāni
MN 70 - Kīṭāgiri Sutta - At Kīṭāgiri - Kinh Kīṭāgiri
MN 71 - Tevijjavacchagotta Sutta - To Vacchagotta on the Threefold True Knowledge - Kinh Ba Minh Vacchagotta
MN 72 - Aggivacchagotta Sutta - To Vacchagotta on Fire - Kinh Vacchagotta
MN 73 - Mahāvacchagotta Sutta - The Greater Discourse to Vacchagotta - Đại Kinh Vacchagotta
MN 74 - Dīghanakha Sutta - To Dīghanakha - Kinh Trường Trảo
MN 75 - Māgandiya Sutta - To Māgandiya - Kinh Māgandiya
MN 76 - Sandaka Sutta - To Sandaka - Kinh Sandaka
MN 77 - Mahāsakuludāyi Sutta - The Greater Discourse to Sakuludāyi - Đại Kinh Sakuludāyi
MN 78 - Samaṇamaṇḍikā Sutta - Samaṇamaṇḍikāputta - Kinh Samaṇamaṇḍikā
MN 79 - Cūḷasakuludāyi Sutta - The Shorter Discourse to Sakuludāyi - Tiểu Kinh Sakuludāyi
MN 80 - Vekhanassa Sutta - To Vekhanassa - Kinh Vekhanassa
MN 81 - Ghaṭīkāra Sutta - Ghaṭīkāra the Potter - Kinh Ghaṭīkāra
MN 82 - Raṭṭhapāla Sutta - On Raṭṭhapāla - Kinh Raṭṭhapāla
MN 83 - Makhādeva Sutta - King Makhādeva - Kinh Makhādeva
MN 84 - Madhurā Sutta - At Madhurā - Kinh Madhurā
MN 85 - Bodhirājakumāra Sutta - To Prince Bodhi - Kinh Vương Tử Bồ-Đề
MN 86 - Angulimāla Sutta - On Angulimāla - Kinh Angulimāla
MN 87 - Piyajātika Sutta - Born from Those Who Are Dear - Kinh Ái Sanh
MN 88 - Bāhitika Sutta - The Cloak - Kinh Bāhitika
MN 89 - Dhammacetiya Sutta - Monuments to the Dhamma - Kinh Pháp Trang Nghiêm
MN 90 - Kaṇṇakatthala Sutta - At Kaṇṇakatthala - Kinh Kaṇṇakatthala
MN 91 - Brahmāyu Sutta - Brahmāyu - Kinh Brahmāyu
MN 92 - Sela Sutta - To Sela - Kinh Sela
MN 93 - Assalāyana Sutta - To Assalāyana - Kinh Assalāyana
MN 94 - Ghoṭamukha Sutta - To Ghoṭamukha - Kinh Ghoṭamukha
MN 95 - Cankī Sutta - With Cankī - Kinh Cankī
MN 96 - Esukārī Sutta - To Esukārī - Kinh Esukārī
MN 97 - Dhānañjāni Sutta - To Dhānañjāni - Kinh Dhānañjāni
MN 98 - Vāseṭṭha Sutta - To Vāseṭṭha - Kinh Vāseṭṭha
MN 99 - Subha Sutta - To Subha - Kinh Subha
MN 100 - Sangārava Sutta - To Sangārava - Kinh Sangārava

PHẦN III
MN 101 - Devadaha Sutta - At Devadaha - Kinh Devadaha
MN 102 - Paṇcattaya Sutta - The Five and Three - Kinh Năm Và Ba
MN 103 - Kinti Sutta - What Do You Think About Me? - Kinh Như Thế Nào
MN 104 - Sāmagāma Sutta - At Sāmagāma - Kinh Làng Sāma
MN 105 - Sunakkhatta Sutta - To Sunakkhatta - Kinh Thiện Tinh
MN 106 - Āneṇjasappāya Sutta - The Way to the Imperturbable - Kinh Bất Động Lợi Ích
MN 107 - Gaṇakamoggallāna Sutta - To Gaṇaka Moggallāna - Kinh Gaṇaka Moggallāna
MN 108 - Gopakamoggallāna Sutta - With Gopaka Moggallāna - Kinh Gopaka Moggallāna
MN 109 - Mahāpuṇṇama Sutta - The Greater Discourse on the Full-moon Night - Đại Kinh Mãn Nguyệt
MN 110 - Cūḷapuṇṇama Sutta - The Shorter Discourse on the Full-Moon Night - Tiểu Kinh Mãn Nguyệt
MN 111 - Anupada Sutta - One by One As They Occurred - Kinh Bất Đoạn
MN 112 - Chabbisodhana Sutta - The Sixfold Purity - Kinh Sáu Thanh Tịnh
MN 113 - Sappurisa Sutta - The True Man - Kinh Chân Nhân
MN 114 - Sevitabbāsevitabba Sutta - To Be Cultivated and Not to Be Cultivated - Kinh Nên Hành Trì, Không Nên Hành Trì
MN 115 - Bahudhātuka Sutta - The Many Kinds of Elements - Kinh Đa Giới
MN 116 - Īsigili Sutta - Īsigili - The Gullet of the Seers - Kinh Thôn Tiên
MN 117 - Mahācattārīsaka Sutta - The Great Forty - Đại Kinh Bốn Mươi
MN 118 - Ānāpānasati Sutta - Mindfulness of Breathing - Kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm
MN 119 - Kāyagatāsati Sutta - Mindfulness of the Body - Kinh Thân Hành Niệm
MN 120 - Sankhārupapatti Sutta - Reappearance by Aspiration - Kinh Hành Sanh
MN 121 - Cūḷasuññata Sutta - The Shorter Discourse on Voidness - Tiểu Kinh Về Tánh Không
MN 122 - Mahāsuññata Sutta - The Greater Discourse on Voidness - Đại Kinh Về Tánh Không
MN 123 - Acchariya-abbhūta Sutta - Wonderful and Marvellous - Kinh Hy Hữu, Vị Tằng Hữu Pháp
MN 124 - Bakkula Sutta - Bakkula - Kinh Bạc-Câu-La
MN 125 - Dantabhūmi Sutta - The Grade of the Tamed - Kinh Điều Ngự Địa
MN 126 - Bhūmija Sutta - Bhūmija - Kinh Phù-Di
MN 127 - Anuruddha Sutta - Anuruddha - Kinh A-Na-Luật
MN 128 - Upakkilesa Sutta - Īmperfections - Kinh Tùy Phiền Não
MN 129 - Bālapaṇḍita Sutta - Fools and Wise Men - Kinh Hiền Ngu
MN 130 - Devadūta Sutta - The Divine Messengers - Kinh Thiên Sứ
MN 131 - Bhaddekaratta Sutta - A Single Excellent Night - Kinh Nhất Dạ Hiền Giả
MN 132 - Ānandabhaddekaratta Sutta - Ānanda and A Single Excellent Night - Kinh A-Nan Nhất Dạ Hiền Giả
MN 133 - Mahākaccānabhaddekaratta Sutta - Mahā Kaccāna and A Single Excellent Night - Kinh Đại Ca-Chiên-Diên Nhất Dạ Hiền Giả
MN 134 - Lomasakangiyabhaddekaratta Sutta - Lomasakangiya and A Single Excellent Night - Kinh Lomasakangiya Nhất Dạ Hiền Giả
MN 135 - Cūḷakammavibhanga Sutta - The Shorter Exposition of Action - Tiều Kinh Nghiệp Phân Biệt
MN 136 - Mahākammavibhanga Sutta - The Greater Exposition of Action - Đại Kinh Nghiệp Phân Biệt
MN 137 - Saḷāyatanavibhanga Sutta - The Exposition of the Sixfold Base - Kinh Phân Biệt Sáu Xứ
MN 138 - Uddesavibhanga Sutta - The Exposition of a Summary - Kinh Tổng Thuyết Và Biệt Thuyết
MN 139 - Araṇavibhanga Sutta - The Exposition of Non-conflict - Kinh Vô Tranh Phân Biệt
MN 140 - Dhātuvibhanga Sutta - The Exposition of the Elements - Kinh Giới Phân Biệt
MN 141 - Saccavibhanga Sutta - The Exposition of the Truths - Kinh Phân Biệt Về Sự Thật
MN 142 - Dakkhiṇāvibhanga Sutta - The Exposition of Offerings - Kinh Phân Biệt Cúng Dường
MN 143 - Anāthapiṇḍikovāda Sutta - Advice to Anāthapiṇḍika - Kinh Giáo Giới Cấp Cô Độc
MN 144 - Channovāda Sutta - Advice to Channa - Kinh Giáo Giới Channa
MN 145 - Puṇṇovāda Sutta - Advice to Puṇṇa - Kinh Giáo Giới Phú-Lâu-Na
MN 146 - Nandakovāda Sutta - Advice from Nandaka - Kinh Giáo Giới Nandaka
MN 147 - Cūḷarāhulovāda Sutta - The Shorter Discourse of Advice to Rāhula - Tiểu Kinh Giáo Giới La-Hầu-La
MN 148 - Chachakka Sutta - The Six Sets of Six - Kinh Sáu Sáu
MN 149 - Mahāsaḷāyatanika Sutta - The Great Sixfold Base - Đại Kinh Sáu Xứ
MN 150 - Nagaravindeyya Sutta - To the Nagaravindans - Kinh Nói Cho Dân Chúng Nagaravinda
MN 151 - Piṇḍapātapārisuddhi Sutta - The Purification of Almsfood - Kinh Khất Thực Thanh Tịnh
MN 152 - Īndriyabhāvanā Sutta - The Development of the Faculties - Kinh Căn Tu Tập 

* Đọc thêm:
Dẫn luận kinh Trung bộ. Thích Nhật Từ (2019).
https://tinyurl.com/5n8a2rap

*-----*