Saturday, 26 August 2017

Cúng dường, cung dưỡng

CUNG DƯỠNG (CÚNG DƯỜNG) 供養

Trích: Phật Quang Đại Từ Điển, Hòa thượng Thích Quảng Độ dịch (2000)

Phạm: Pāli: Pūjanā. Còn gọi là Cung, Cung thí, Cung cấp, Đả cung. Nghĩa là dâng các thức ăn uống, quần áo v.v... cúng dường Tam bảo, sư trưởng, cha mẹ và vong linh v.v... Lúc đầu, sự cúng dường lấy hành vi thân thể làm chính, sau cũng bao hàm sự cúng dường thuần túy tinh thần, cho nên mới chia làm Thân phần cúng dường và Tâm phần cúng dường. Cứ theo Di giáo kinh luận chép, thì thức ăn, quần áo, thuốc thang, thuộc thân phần cúng dường; tâm cúng dường hơn hết, tâm cúng dường không nhàm chán, tâm cúng dường bình đẳng, thuộc Tâm phần cúng dường. Ở thời kì đầu, giáo đoàn lấy việc cúng dường thức ăn, quần áo, đồ nằm, thuốc thang làm chính yếu, gọi là Tứ sự cúng dường. Các vật cúng dường Phật, chùa tháp, tượng Phật, giáo pháp, tỉ khưu, tỉ khưu ni, và phòng xá, đất đai của Tăng đoàn là nguồn kinh tế trọng yếu của tăng đoàn.

Ngoài sự cúng dường tài vật ra, còn có sự cúng dường Pháp, như đem tinh thần sùng kính mà cúng dường cung kính, cúng dường tán thán, cúng dường lễ bái, cũng gọi là Cung dưỡng. Đến đời sau, đối với những người chết cũng làm Tháp cúng dường.

Nói tổng quát về các vật cúng dường, phương pháp và đối tượng cúng dường, có thể chia ra các loại như sau:

I. Nhị chủng cung dưỡng (hai loại cúng dường).
* Cứ theo Thập trụ tì bà sa quyển 1:
1. Pháp cung dưỡng, khéo nghe chính pháp Đại thừa, hoặc nhiều hoặc ít.
2. Tài cung dưỡng, bốn thứ cúng dường như cơm ăn, ào mặc v.v...

* Cứ theo Đại nhật kinh cúng dường pháp sớ nói:
1. Lí cúng dường, nghĩa là lấy sự chứng vào lí chân thực làm vật cúng dường.
2. Sự cúng dường, tức là cúng dường hương hoa.

II. Tam chủng cung dưỡng (ba loại cúng dường).
* Theo Phổ hiền hành nguyện phẩm sớ:
1. Tài cúng dường, cúng dường của báu, hương hoa của thế gian.
2. Pháp cúng dường, phát tâm Bồ đề làm lợi mình, lợi người.
3. Quán hạnh cúng dường, tu các phép quán Chu biến hàm dung, Sự sự vô ngại của kinh Hoa nghiêm.

* Theo Thập địa kinh luận quyển 3:
1. Lợi dưỡng cúng dường, chỉ cho quần áo, đồ nằm v.v...
2. Cung kính cúng dường, chỉ cho hương hoa, cờ lọng.
3. Hạnh cúng dường, cúng dường tín hạnh, giới hạnh.

III. Tam nghiệp cung dưỡng.
* Theo Pháp hoa văn cú quyển 3 đoạn 1, ba nghiệp cúng dường là thân, khẩu, ý.
1. Thân nghiệp cúng dường, thân rất mực thành kính lễ bái chư Phật và Bồ tát.
2. Khẩu nghiệp cúng dường, miệng nói lời khen ngợi công đức của chư Phật và Bồ tát.
3. Ý nghiệp cúng dường, tâm ý ngay thẳng, quán tưởng tướng tốt trang nghiêm của chư Phật và Bồ tát.

IV. Tứ chủng cung dưỡng (bốn loại cúng dường).
* Cứ theo Đại nhật kinh nghĩa thích quyển 11 thì có bốn loại cúng dường là: hương hoa, chắp tay, từ bi và vận tâm.
* Cứ theo Lí thú thích quyển hạ nói, có bốn loại cúng dường của Du già giáo là: tâm Bồ đề cúng dường, tư lương cúng dường, pháp cúng dường, và yết ma cúng dường.

V. Tứ sự cung dưỡng (bốn loại cúng dường).
* Theo kinh Tăng nhất a-hàm quyển 13 nói, có bốn loại cúng dường là: áo quần, ăn uống, giường mền và thuốc thang.
* Cứ theo kinh Vô lượng thọ quyển hạ nói, thì có bốn thứ cúng dường là: treo phan cờ, thắp đèn nến, rải hoa và thắp hương.
* Cứ theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển 13 nói, thì bốn thứ cúng dường là: thức ăn, quần áo, thuốc thang và phòng xá.

VI. Ngũ chủng cung dưỡng (năm loại cúng dường).
* Cứ theo kinh Tô tất địa yết la quyển Tượng Tăng Cúng Dường hạ nói, thì có năm loại cúng dường là: hương thoa (giữ giới), hoa cài tóc (bố thí), hương thắp (tinh tiến), ăn uống (thiền định), đèn
nến (trí tuệ), thêm át già (nước trong: nhẫn nhục) nữa mà thành sáu loại cúng dường.

VII. Thập chủng cung dưỡng (mười loại cúng dường).
* Theo kinh Pháp hoa phẩm Pháp sư nói, thì có mười loại cúng dường là: hoa, hương, anh lạc, hương bột, hương thoa, hương đốt, phan lọng, cờ phướn, quần áo và âm nhạc.
* Theo Đại tạng pháp số thì đem cờ phướn gộp chung vào phan lọng, rồi thêm chắp tay nữa thành là mười cúng dường.
* Kinh Bồ tát địa trì quyển 7 liệt kê mười thứ là: thân cúng dường, cúng dường chi đề, cúng dường hiện tiền, cúng dường không hiện tiền, mình cúng dường, người cúng dường, cúng dường tài vật, cúng dường thù thắng, cúng dường không nhiễm ô, cúng dường chí xứ đạo v.v...

Ngoài ra, vật cúng trước bàn Phật, gọi là Phật cúng, vật cúng trước Thần gọi là Thần cúng. Cúng dường Phạm thiên, Đế thích thiên, Công đức hoan hỉ thiên v.v... thì gọi là Cúng thiên hoặc Thiên cúng. Cúng vong linh người chết, gọi là Truy thiện cúng dường. Chuyên cúng quỉ đói, gọi là Ngạ quỉ   cúng dường. Làm lễ khánh thành khai quang tượng Phật, gọi là Khai nhãn cúng dường. Cúng dường kinh, gọi là Khai đề cúng dường, cũng gọi là Kinh cúng dường, Nhất thiết kinh cúng dường, Thư tả cúng dường, như viết chép kinh Duy ma để cúng dường gọi là Duy ma kinh cúng dường. Đúc chuông xong, làm lễ khánh thành để đánh chuông gọi là Chung cúng dường. Còn nói về Tam bảo thì cúng dường Phật, gọi là Phật cúng dường; cúng dường pháp, gọi là Pháp cúng dường, Hạnh cúng dường; cúng dường tăng, gọi là Tăng cúng dường, Tăng cúng. Trong đó, thỉnh trăm vị tăng, thiết trai cúng dường, gọi là Bách tăng cúng dường; thỉnh nghìn vị tăng thiết trai cúng dường, gọi là Thiên tăng cúng dường, hoặc gọi là Thiên tăng trai, Thiên tăng cúng, Thiên tăng hội. Truyền thuyết nói, công đức của loại cúng dường này là vô lượng. Còn người thí chủ cúng dường, gọi là Cúng dường chủ. Cúng dường chúng tăng, cũng gọi là Cúng chúng, Cúng chiêm. Bài văn đọc tụng nói lên ý nghĩa cúng dường, gọi là Cúng dường văn. Tạo tượng Phật cúng dường để cầu phúc, gọi Cúng dường Phật. Thắp đèn sáng cúng dường tượng Phật và tháp, thì gọi là Cúng đăng. Tại Nhật bản, sau khi viết chép kinh điển, đem cúng dường, tuyên giảng, gọi là Cúng giảng.

[X. kinh Phật tạng quyển hạ; kinh Vô lượng thọ Q.hạ; kinh Đại phương quảng như lai bất tư nghị cảnh giới; kinh Phật bản hạnh tập Q.1 phẩm Cúng dường; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.45; kinh Đại nhật Q.5 phẩm Bí mật mạn đồ la; Cúng dường nghi thức; luận Đại trí độ Q.93; Kim cương bát nhã ba la mật kinh phá thủ trước bất hoại giả danh luận Q.thượng; Pháp hoa kinh huyền tán Q.2 phần đầu; Phạm võng Bồ tát giới bản sớ Q.2; Đại nhật kinh sớ Q.8; Hoa nghiêm Hành nguyện phẩm sớ sao Q.3; Thích thị yếu lãm Q.trung; Thiền uyển thanh qui Q.1 Phó chúc phạn pháp, Q.3 Tạng chủ; Đại minh tam tạng pháp số Q.7]. (xt. Tứ Chủng Cung Dưỡng).

* * *


Friday, 14 July 2017

Tiếc thương một ngọn gió: Thiền sư S.N. Goenka (1924- 2013)

Tiếc Thương Một Ngọn Gió
Toại Khanh

Thiền sư S.N Goenka vừa tắt hơi ngày Chủ nhật vừa qua.

Thật khập khiễng khi đem so sánh ông với học giả D.T Suzuki người Nhật của thế kỷ trước. Một người giới thiệu Phật giáo cho Tây phương bằng những tác phẩm vìết lách, những nghiên cứu thâm hậu và những suy tư minh triết trăm năm có một. Một người giới thiệu đạo Phật cho thế giới Âu Mỹ chỉ bằng một lời kêu gọi mọi người ngồi lại trong im lặng để thở trong tỉnh thức. Kết quả của hai công việc dĩ nhiên có điểm khác, nhưng chỗ giống nhau ở họ có lẽ là cùng đánh thức những tâm hồn chán ngũ nhưng không biết làm sao để thức và thức để làm gì.

Một trong những lời nhận xét hay nhất về ông D.T Suzuki là “ông đã đưa nhiều người đến cửa”. Đối với thiền sư cư sĩ S.N Goenka, tôi muốn dành một câu khác: Ông đã sống theo cách mà ông hướng dẫn người khác.

Giữa lúc trí thức Âu Mỹ những thập niên 60-70 buồn chán lữa đạn chiến tranh rồi tìm đến với những thao thức của J.Krishnamurti hay Jean Paul Sartre, Henry Miller, Aldous Huxley… Cư sĩ Goenka đã kiên nhẫn và nhỏ nhẹ mời gọi họ cùng ngồi xuống bên ông với bài tập về phép hít thở đơn giản hơn bất kỳ thứ Yoga dưỡng sinh nào, không cần kỹ thuật rắc rối, lý thuyết rườm rà khó nhớ khó hiểu. Anh chị chỉ việc ngồi xuống cạnh tôi và biết rõ mình đang thở ra vào trong những buồn vui ra sao. Anh chị sống tỉnh táo thì sẽ không còn manh động, không còn những ưu tư không cần thiết và sẽ sớm thấy ra ý nghĩa thật sự của đời sống là gì.

Xin đừng tưởng con đường của Goenka đơn giản rồi cho nó dễ đi. Với một tấm lòng lớn rộng và đời sống minh bạch như vậy, mà ông vẫn cứ phải đánh vật với vô vàn những trở lực để có thể đi trọn hành trình sống chia sẽ của mình. Ông vốn người Miến Điện gốc Ấn, học đạo với sư phụ U Bakhin người Miến, nhưng vì cái tội không chịu khoát áo tu sĩ, không chịu khó làm một học giả tinh thâm Phật học kiểu trường lớp bài bản như giáo sư Mehm Tin Mon, thế là từ buổi đầu ông đã vấp phải sự bất phục của những người cứ quen cho việc dạy thiền phải là đặc quyền của các thiền sư tu sĩ. Ông là cư sĩ một vợ sáu con thì khả năng thoát tục được bao nhiêu mà dạy người ta thoát tục!

Khó khăn là thế, vậy mà ông cứ cần mẫn bước đi trên con đường của mình. Bí quyết duy nhất của ông là không bao giờ dạy thiền chỉ vì muốn làm thầy. Ông chỉ đơn giản xác định sống thiền là điều quan trọng số một, còn việc chia sẽ lý tưởng đó thì hoàn toàn là chuyện tùy duyên. Phật xưa còn phải vậy, nói gì là ông bây giờ. Làm việc không có hy cầu thì làm gì có thất vọng. Không thất vọng thì lúc nào lòng cũng tin yêu nhân gian như mối tình đầu. Chính công thức đơn giản đó đã từng bước nâng ông lên vị trí một bậc thầy tâm linh của thế giới xô bồ tạp loạn hôm nay.

Chuyện về đời ông là chuyện một thiền sư, nhưng cách nghĩ và kiểu sống của ông hoàn toàn có thể là chỗ nhìn ngắm cho bất cứ ai muốn tìm thấy một lý tưởng sống đẹp ở đời. Hôm nay ông đã không còn nữa, tôi nhắc về ông để tôn kính và tiếc thương một nhân cách lớn. Lớn không phải vì con số trên trăm cơ sở thiền định của ông trên khắp thế giới, mà là vì những gì ông đã tác động và để lại trong lòng những người đã tìm đến con đường quán niệm tự thân qua lời dạy đơn giản đến bất thường của ông. Ông đơn giản đến mức hạn chế cả việc thờ lạy tranh tượng đức Phật, tránh nhắc nhiều đến những thuật ngữ Phật học, và nói ra khó tin, ông là thiền sư Phật giáo ít nhắc đến chữ Phật nhất. Ông muốn người ta thấy lời Phật là đạo trời đất không phải của riêng một ai hay một hệ thống tư tưởng, tôn giáo nào hết. Ông không muốn ai đó đến với thiền viện bằng cái mặc cảm ngoại đạo hay vô thần.

Tôi từng có cơ hội đến viếng một trung tâm Vipassanà của ông ở Mont Soleil, Thụy Sĩ. Không khí ở đó đúng là của một chốn thanh tu tuyệt vời cho người sống chánh niệm, nhưng tìm mãi không thấy bất cứ một pho tượng hay bức tranh Phật nào, tôi chợt rùng mình với một cảm giác thật lạ. Phật giáo nguyên thủy vốn không có tranh tượng của đức Phật, hình ảnh về Ngài chỉ được nhìn thấy qua cách sinh hoạt của từng người đệ tử. Phật nói, Phật im lặng, Phật bước đi, Phật tĩnh toạ,… đều trong tỉnh thức và từ mẫn. Ai làm được chừng đó việc là đang phác hoạ chân dung Ngài đấy. Tôi từng đến viếng hơn chục thiền viện tiếng tăm ở Miến Điện và Thái Lan, nhưng chưa bao giờ có được cái cảm giác kỳ lạ đó. Xin làm ơn đừng nghĩ tôi đang so sánh để khen chê, tôi chỉ đang nói đến một cảm nghiệm cá nhân.

Điều đặc biệt nữa phải nhắc đến khi nói về thiền sư S.N Goenka, đó là về chuyện vật chất trong đời ông. Trước khi thật sự chuyên tâm vào việc tu thiền và dạy thiền, ông là một thương gia có hạng. Nói rốt ráo, ông có nhiều thứ để buông bỏ theo nghĩa đen. Ông đi dạy thiền và sự thành công được ghi dấu bằng việc ra đời các thiền viện ở những nơi ông từng đi qua. Nhưng điều thú vị là ông tuyệt không biết gì về món tài chánh được dùng cho việc mua bán hay xây dựng cơ sở. Ông đến với cái ông có trong tay, và ra đi không lấy theo chút gì của người thiên hạ. Mai mốt có duyên thì ông lại ghé về, bất tiện thì xem như chưa từng thấy nhau trong đời. Kẻ lui tới những nơi đó cứ việc đọc sách ông viết hay nghe băng ông giảng rồi tu, chẵng cần phải hao tốn cúng bái gì hết. Bởi có khi ông còn nhiều tiền hơn đệ tử nữa là khác. Tuyệt. Một ông thầy ngon lành thì không bao giờ để đệ tử thấy mình cần gì ở họ, và tệ nhất là dòm ngó cái mà họ đang cầm mỏi tay.

Xin nói rõ, tôi không hề có ý nói rằng muốn làm thầy dạy đạo thi phải nhiều tiền, tôi chỉ muốn nói rằng phải có tâm trạng của người nhiều tiền thì mới nên làm thầy dạy đạo. Nghĩa là chẵng mong đợi gì ở kẻ khác. Người ta không nhờ cậy mình chuyện gì đó thì thôi, mình chẵng có lòng trông đợi chi ở người đang học đạo dưới chân mình. Đó mới đúng là thầy ở nhiều nghĩa.

Ông có vợ và luôn có bà bên cạnh trong nhiều năm dạy thiền khắp thế giới. Có người chỉ trích ông chuyện đó, nhưng người viết bài này lại rất tâm đắc với kiểu sắp đặt này của ông. Bởi một lẽ đơn giản thôi. Ông có đủ mọi thứ để trở thành một thần tượng trong lòng các đệ tử nam nữ, lời ong tiếng ve là điều khó tránh. Nghiêm túc đến lạnh lùng như Krishnamurti mà trong tiểu sử cũng có chỗ bị bôi đen, không phải vì chuyện chi ghê gớm mà chỉ là điều nhạy cảm. Thiền sư Goenka hình như có thấy ra điểm này, ông đã mạo hiểm để được an toàn. Các người có nghi ngờ thì cứ, tệ lắm thì tôi với vợ tôi. Và người bảo vệ thanh danh một người đàn ông trong chuyện ấy không ai tuyệt hơn bà nhà!

Nhớ lại một bài thơ xưa có nội dung đại khái là gió qua bụi trúc không để lại tiếng động và chim nhạn bay qua hồ không để lại bóng mình trên nước, tôi muốn gọi thiền sư S.N Goenka là một ngọn gió. Một cuộc đời chỉ biết trao ra, không nắm giữ thứ gì cho mình, rồi đến ngày đi cũng đơn giản như chưa từng đến. Ông di chúc người nhà không quàn xác quá 3 hôm, kẻ cần nhìn ông lần cuối thì liệu mà về. Có duyên thì kịp, thiếu duyên thì muộn. Vậy thôi.

Tôi đọc bài cáo phó được gửi đi từ Mumbai, Ấn Độ, rồi bất giác nhớ lại Phật giáo Việt Nam ta. Cứ tu lâu thì thành hoà thượng, thành phương trượng rồi thì vị nào cũng an nhiên thu thần thị tịch, chết kiểu nào cũng được thêu dệt bằng những sáo ngữ kinh người như thế. Phần tiểu sử thì bao giờ cũng phải có điệp khúc “thông minh từ bé, sớm có duyên lành với Phật, gia đình nhiều đời thâm tín Tam Bảo…”. Và cuối cùng, hễ là cao tăng thì dứt khoát phải có Xá- lợi. Người lạ thì nói sao cũng được, nhưng nội bộ biết rõ nhau như bàn tay thì bảo sao tin nhau được nữa.

Thiêu xác bằng củi là một phương thức an táng phổ biến ở Ấn Độ xưa giờ. Nghèo thì cho cháy sơ sài rồi thả xuống sông, giàu thì đủ củi cho cháy trọn vẹn, nhưng còn tí xương. Chỉ có thiêu bằng điện thì sạch và gọn nhất, có thể điều chỉnh cho cháy tan mọi thứ. Tôi thấy trong bản tin cáo phó nói ông Goenka sẽ được hoả táng bằng điện, có lẽ ông không muốn để lại Xá-lợi hoặc biết mình không có Xá-lợi nên chọn cách dứt điểm mà hay.

Theo cách nghĩ và cách nói của những Phật tử nửa vời thì một con người tu hành cỡ vậy hẳn là đã được về cõi Phật hay vào chốn Niết Bàn vô tung bất diệt nào đó. Nhưng theo chỗ tôi hiểu trong giáo lý truyền thống thì mỗi người đều có vô số tiền nghiệp bất thiện từ quá khứ, luôn nhiều hơn phần thiện nghiệp, nghĩa là tiền trong nhà băng ít hơn tiền nợ ngoài đời, nên kiếp này có tu bao nhiêu cũng chưa chắc sẽ cầm lấy công đức đó mà đi lên. Ta không thể loại trừ trường hợp một bậc chân tu tắt thở rồi phải đi trả nợ cũ đã vay từ nhiều kiếp trước.

Với riêng thiền sư Goenka, dù có chuyện gì xảy ra, đời này ông đã sống đẹp quá, nếu có phải trả nợ gì đó thì chắc chắn cũng sẽ có một ngày ông là một ông chủ lớn chẵng còn chút nợ nào trong tay nữa. Mong lắm vậy thay. Kính bái !

Schwarzwald, Oct/2/2013
Toại Khanh

Thursday, 22 June 2017

Thiền đường mới của tôi

THIỀN ĐƯỜNG MỚI CỦA TÔI

Ngày vui qua mau. Sau một ngày đưa bà xã đi lang thang dạo chơi thành phố, tôi đi gặp bà bác sĩ gia đình để xem và trao đổi về các kết quả thử máu, nước tiểu. Đây là một thiền đường mới của riêng tôi. Nếu bạn nào còn nhớ những gì tôi chia sẻ lúc trước, tôi có viết là mỗi khi tôi đến gặp nha sĩ để khám và chữa răng, tôi cho rằng đó là dịp tôi đi tập thiền, thiền quán về các cảm thọ đau răng.

Bây giờ tôi biết thêm một thiền đường mới, không cần phải lặn lội đến tìm một nơi xa xôi nào đó ở Đông Nam Á mà nó ở chính ngay tại địa phương của mình. Mặc dù có lấy giờ hẹn, nhưng khi đến đó lúc nào cũng phải đợi từ 15 đến 30 phút, vì lúc nào cũng đông bệnh nhân. Thay vì ngồi xem báo, xem ti vi hay lướt mạng với điện thoại, tôi tìm một góc khuất tại phòng tiếp tân, ngồi thong thả, hai tay để trên đùi, khép mắt, nhẹ nhàng theo dõi hơi thở. Mặc kệ các tiếng động, âm thanh chung quanh. Chỉ ghi nhận, không phản ứng, phán xét. Như thế là thời gian chờ đợi trôi qua rất nhanh, không cảm thấy bực bội, bồn chồn, lo lắng.

Rồi cũng tới phiên mình. Bà bác sĩ rất chu đáo. Cứ mỗi sáu tháng là cho thư ký điện thoại gọi đến nhắc nhở. Mỗi năm là gửi giấy đến để mình đi thử máu, nước tiểu, khám tổng quát. Kết quả cũng tạm ổn cho điều kiện cơ thể của tuổi già. Tuy nhiên, các bộ phận chính đều có vấn đề – tim, gan, bao tử, tụy tạng. Cần phải cẩn thận hơn trong ăn uống, đi đứng, cần phải năng động tập thể dục, v.v., và phải đi gặp các bác sĩ chuyên khoa khác để khám tim, khám bàn chân và khám mắt.

Đây là một dịp để nhắc nhở mình quán soi về các nguy hại của thân thể, là một trong 10 pháp quán tưởng Đức Phật dạy trong kinh Girimānanda: cơ thể mình lúc nào cũng có những mầm mống bệnh tật, đau khổ. Phải luôn ghi nhớ như thế. Phải biết ghi nhận về các cảm thọ đau đớn và nhất là ghi nhận về sự vô thường, mong manh của cuộc sống.

Từ đó, mình nhìn lại và định hướng cuộc sống của mình. Quỹ thời gian không còn nhiều nữa. Cần phải đặt thứ tự ưu tiên những gì cần phải làm cho cuộc đời mình. Điều gì quan trọng cần phải thực hiện ngay bây giờ, đừng đợi đến ngày mai sẽ quá trễ. Đừng để các cám dỗ vui chơi, ăn nhậu, trang điểm, tiền bạc, tự ái vặt, địa vị, chức vụ, chuyện thời sự bốn phương, v.v. lôi cuốn rồi quên đi các thực tại hiện tiền đó.

*

Friday, 16 June 2017

It’s NOW or NEVER (Bây giờ hoặc không bao giờ)

Sáng nay chợt nhớ bài hát bất hủ nầy của danh ca Mỹ Elvis Presley, hát từ năm 1960, mà đến bây giờ nghe vẫn thấy hay. Bài hát nói về mối tình trai gái, nhưng tên tựa đề của bài hát lại là một trong những châm ngôn cho cuộc sống của tôi – It’s NOW or NEVER (Bây giờ hoặc không bao giờ).

Thấy việc gì tốt, có ích lợi cho việc tu học của mình là bắt tay làm ngay, đừng chần chừ, khất hẹn, dùng lý do nầy, lý do kia để trì hoãn. Tôi thường nói là mặc dù trong Phật giáo, người ta hay nói phân chia tông phái – Đại thừa, Tiểu thừa, Kim cương thừa, v.v. – nhưng thật ra, chúng ta đều cùng chung tông phái “Đổ Thừa”. Lúc nào cũng đổ thừa chuyện này chuyện kia, viện cớ nầy nọ, đủ mọi lý lẽ để rồi không thực hiện những việc đáng làm – mặc dù việc đó rất đơn giản, không có gì khó khăn.

Mỗi khi thấy ai đó bấm nút “Share” các chia sẻ của tôi trong Facebook rồi xin phép lưu lại để dành đọc sau, hoặc gửi thư xin sách để dành trưng bày trong tủ sách của mình hay chỉ để tặng người khác còn mình thì viện cớ là bây giờ rất bận rộn, không có thì giờ, để dành đọc sau, là tôi nghĩ đến tựa đề của bài hát nầy – It’s Now or Never. Hoặc có những bạn thích tu thiền, nhưng chỉ tìm hiểu, bàn luận trên Net, viện đủ lý do để trì hoãn, không quyết tâm thu xếp để tham dự một khóa thiền nào. Hoặc thích tìm hiểu lịch sử Phật giáo mà chưa đủ quyết tâm thu xếp đi hành hương để nhìn tận mắt các di tích lịch sử. Hoặc muốn học tụng một câu Pali đơn giản, tải tập tin âm thanh và kinh tụng về máy nhưng rồi để đó, để dành nghe và học sau. Hoặc muốn học kinh điển nhưng lại chần chừ, không sẵn sàng tham gia các khóa học giáo lý tổ chức tại chùa. Hay nhiều vấn đề khác nữa trong tu tập mà xét cho cùng, “đổ thừa” là điểm căn bản chung để trì hoãn.

Hôm nay là ngày Thứ Sáu, ngày cuối trong tuần cho những ai còn đi cày kiếm cơm, mời nghe bài hát dễ thương đó của Elvis Presley:
=> https://www.youtube.com/watch?v=qmjdxxAnsB4 

* Ghi thêm: Đây là bản tiếng Anh, bản gốc tiếng Ý có tựa đề là "O Sole Mio", sau nầy có dịch sang lời Việt là "Mặt Trời Của Tôi".

*

Monday, 12 June 2017

Ba con thú cưng (Pets)

Hôm nay trên đường đi đến hồ bơi, nhìn vài người Úc dắt chó đi dạo, tôi thấy vui vui. Trong khi thả lỏng thân thể bồng bềnh trên mặt hồ bơi, tôi lại nghĩ đến cảnh đó.

Người Úc thích nuôi chó hoặc mèo để làm bạn trong nhà. Ở Việt Nam, tôi còn thấy người ta thích nuôi chim, nuôi cá, nuôi chuột bạch, v.v. Ngày trước, tôi có nuôi một con mèo đen, nhưng nó đã chết lâu rồi, và từ đó, tôi không còn nuôi thú vật nào khác. Tôi có kể chuyện con mèo nầy trong trang FB hồi năm ngoái.

Tôi ngẫm nghĩ mình đâu cần phải nuôi thêm con thú cưng nào khác. Phàm phu tục tử như mình lúc nào cũng có sẵn 3 con thú cưng lẫn quẫn trong tâm mà mình hầu như không để ý đến. Miệng mình nói là không thích chúng, muốn xua đuổi chúng, nhưng thật ra, lúc nào mình cũng cho chúng ăn, nuôi dưỡng chúng. Đó là con Rắn, con Gà trống hay con chim Công, và con Heo.

Chắc quý vị đã từng nhìn thấy hình vẽ Bánh Xe Luân Hồi (Wheel of Life) của Phật giáo Tây Tạng (khi nào có dịp, tôi sẽ trình bày chi tiết hơn). Ở ngay tại trục của bánh xe là hình 3 con thú: con Rắn tượng trưng cho Sân, con Gà trống hay con chim Công tượng trưng cho Tham, và con Heo tượng trưng cho Si. Đó là quan niệm của người Tây Tạng, theo lời giải thích của ngài Ringu Tulku Rinpoche [*]. Mình nuôi dưỡng 3 con thú cưng nầy, nên mình cứ phải lẫn quẫn trong vòng sinh tử luân hồi.

Dân gian có câu: “Bỏ thì thương, vương thì tội”. Người Phật tử nào cũng biết mối nguy hại khi nuôi dưỡng ba con thú cưng đó, nhưng có thật sự bỏ được chúng hay không là cả một vấn đề khó khăn và phức tạp, không phải chuyện dễ dàng, bàn luận lý thuyết suông.

[*] xem thêm: http://www.rigpawiki.org/index.php?title=Wheel_of_Life#Centre_of_the_Wheel:_The_Three_Poisons 

*

Sunday, 28 May 2017

Bài hát Thí Dụ của Trịnh Công Sơn và thí dụ tu tập

Hôm qua tình cờ nghe bài hát Thí Dụ (sau nầy đổi tên là “Rơi Lệ Ru Người”) của Trịnh Công Sơn do Khánh Lý hát. Lâu lắm rồi mới nghe lại, sao mà thấy thấm quá! Bèn nổi hứng lấy cây đàn guitar đã đóng bụi ở góc phòng ra đệm hát nghêu ngao cho vui. 

Tìm được bài hát có nốt nhạc và hợp âm có sẵn trên mạng, nhưng không hát được vì tông cao quá. Nghe thử các ca sĩ hát. Cô Khánh Ly và Diệu Phương hát giọng thấp (tông D), các cô ca sĩ trẻ hát với giọng cao, cao nhất là Nguyên Thảo (tông F#). Mình già rồi, không còn hơi sức để hát theo các cô trẻ. Nghe Khánh Ly hát vài lần, đối chiếu với nốt nhạc, in lời trên một tờ giấy rồi ghi chú bằng bút chì, sửa đi sửa lại theo cách nghe của mình và cách bấm hợp âm, cách khảy đàn của riêng mình. Tập tới, tập lui thêm vài lần nữa là tạm nghe được, hát theo được và uyển chuyển theo cách hát, cảm xúc của mình. Bắt đầu với giọng trầm của Khánh Ly, gắn Capo vào cây đàn, tăng lên 2 nấc nữa, từ hợp âm D trưởng (Ré major) nâng lên E trưởng (Mi major) là vừa với giọng của mình. Thế là vui!

Từ đó suy ngẫm về chuyện tu tập. Mình phải biết tùy duyên, phải biết khéo léo uyển chuyển linh động. Dựa vào một số nguyên tắc và hiểu biết căn bản, quan sát, ghi nhận, học tập phương cách tu tập của người khác, rồi thử áp dụng cho mình, thay đổi, chỉnh sửa cho hợp với hoàn cảnh, căn duyên của mình. Không ai giống ai. Phải tự mình tìm tòi, tu tập, thắp đuốc mà đi.





Thí Dụ - Trịnh Công Sơn (1975)
1) Thí dụ bây giờ tôi phải đi
Tôi phải đi
Tay chia ly cùng đời sống này
Có chiều hôm đưa chân tôi
Về biên giới mới
Nghe ra
Quanh tôi đêm dài
Có còn ai trong yên vui về yêu dấu
Ngồi rơi lệ ru người từ đây
2) Thí dụ bây giờ em phải đi
Em phải đi
Đôi tay em dù ưu ái đời
Em phải đi
Đôi môi ngon dù chưa chín tới
Quanh em trăm năm khép lại
Có còn ai mang hoa tươi
Về yêu dấu
Ngồi quên đời xoá hết cuộc vui
.. Có còn, Có còn em
.. Im lìm trong chiều hôm
.. Nước mắt rơi cho tình nhân
.. Nếu còn, Nếu còn em
.. Xin được, xin nằm yên
.. Đất đá hân hoan một miền
3) Nếu thật
Hôm nào em bỏ đi
Em bỏ đi
Sau lưng em còn con phố dài
Những hàng cây loan tin nhau
Rồi im tiếng nói
Quanh đây hoang vu tiếng cười
Có ngày xưa em theo tôi
Cùng ra quán ngồi
Bên đời xe ngựa ngược xuôi
4) Nếu thật
Hôm nào tôi phải đi
Tôi phải đi
Ôi bao nhiêu điều chưa nói cùng
Với bình minh
Hay đêm khuya
Và từng trưa nắng
Bao nhiêu sen xanh, sen hồng
Với dòng sông hay anh em
Và những phố phường
Chắc lòng rất khó bình an
.. Có còn, Có còn em
.. Im lìm trong chiều hôm
.. Nước mắt rơi cho tình nhân
.. Nếu còn, Nếu còn em
.. Xin được, xin nằm yên
.. Đất đá hân hoan một miền
Nghe nhạc:
1) Khánh Ly hát:
2) Diệu Phương hát:


* * *

Thursday, 25 May 2017

Chỉ cần giúp MỘT người thôi

Nhiều năm trước, có lần ngài Ajahn Brahm nói, đại ý là khi biết được Đạo Phật và quyết định xuất gia, ngài nguyện trong lòng là cố gắng làm sao giúp MỘT người nào đó thấy được lợi lạc của giáo pháp và tu tập là ngài mãn nguyện rồi. Cho đến nay, ngài nói có lẽ ngài đã giúp được hơn một người, và như thế xem như ngài rất mãn nguyện.

Tôi tâm đắc với ý tưởng đó. Tôi hoàn toàn không bao giờ có ý nguyện làm thầy, làm bồ-tát hay anh hùng để cứu nhân độ thế, giáo hóa chúng sinh. Tôi chỉ cần giúp MỘT người bạn nào đó thấy được giáo pháp của Đức Phật là tôi hoan hỷ, mãn nguyện lắm rồi.

Dĩ nhiên đây chỉ là ý kiến của một cá nhân. Có thể người khác có ý nguyện khác. Không sao cả. Không đúng mà cũng chẳng sai. Mỗi người có phương cách sống và tu tập theo duyên nghiệp, hoàn cảnh và tâm tư riêng của mình.

*

Monday, 22 May 2017

Trăm nghe không bằng một thấy - Thân hành niệm

TRĂM NGHE KHÔNG BẰNG MỘT THẤY - THÂN HÀNH NIỆM

Sáng nay trong Paltalk, tôi chia sẻ vài hiểu biết, kinh nghiệm cá nhân về pháp “quán thân bất tịnh” (asubha bhavana), mà theo tôi, có lẽ nên hiểu là “quán thân bất mỹ” (không đẹp đẻ, không hấp dẫn - unattractive). Trong đó, tôi đề nghị một phương pháp đơn giản nhưng rất hiệu nghiệm – đã từng được tôi và một số bạn đạo áp dụng: Dành ra một ngày nào đó đi chợ, đến gian hàng bán thịt heo (lợn), mua một miếng thịt sườn, một miếng thịt ba-rọi (da, mỡ, thịt), một trái tim, một trái cật, một miếng gan, một miếng phổi, bao tử (dạ dày), ruột.

Đem về nhà, rửa tay cho sạch, cầm từng miếng lên, ngắm nghía hình dạng, sờ mó để biết độ cứng mềm, có thể đưa lên lên mũi để ngửi … Đừng vội vàng nghĩ đến việc chế biến, nấu nướng. Hãy tập trung vào việc nhìn, sờ, ngửi, quan sát từng miếng. Làm chậm rãi thong thả, ghi nhận, suy ngẫm về bản chất của chúng. Cơ thể của mình hay của người khác cũng chỉ có thế thôi. Không dơ mà cũng chẳng sạch. Không có gì thơ mộng, thơm tho, hấp dẫn. Thực tế nó là như thế.

Chỉ nghe kể lại, đọc mô tả, bàn luận, xem hình ảnh và video, suy tư, … thì cũng tốt, nhưng theo tôi vẫn chưa đủ. Nhìn tận mắt, sờ tận tay, ngửi tận mũi thì sẽ hiểu rõ hơn, có ấn tượng sâu đậm hơn trong tâm thức mình. Trăm nghe không bằng một thấy.

Sau đó đem đi luộc chấm mắm tôm, mắm nêm, hay nấu cháo lòng, hoặc đem khìa làm phá lấu để ăn. Cảm tưởng lúc ăn sẽ khác đi, không còn nhiều dính mắc vào đó như lúc trước. Quan trọng hơn nữa, cái nhìn về cơ thể của mình và của người khác cũng sẽ có phần thay đổi, thực tế và khách quan hơn.

-----------------
GHI THÊM:

Sau khi đăng bài nầy, tôi nhận được vài phản hồi. Tôi cảm thấy một số bạn có lẽ đã hiểu lầm về mục đích của việc thực tập nầy. Ở đây, mục đích không phải để chúng ta gờm nhớm, ghê tởm thức ăn hay thân thể – đó là pháp quán tử thi – mà là để chúng ta có một cái nhìn khách quan, trung thực về cấu tạo của thân thể của mình và của người khác, giúp chúng ta vượt qua nỗi ám ảnh, bận tâm về ái dục.

Theo đoạn kinh sau đây, trong bài kinh Thân Hành Niệm (Kāyagatāsati, MN 119), Đức Phật dạy chúng ta phải quán sát cơ thể như là một bao vải chứa các loại ngũ cốc khác nhau – gồm các loại đậu và các loại gạo. Đổ các loại ngũ cốc đó ra khỏi bao vải, rồi khách quan quán sát từng loại hạt. Từ đó, không còn bị ám ảnh bởi các lôi cuốn của ái dục nữa. Nhờ thế, tâm được định tĩnh, dễ an định, tập trung.

Trích Kinh Thân Hành Niệm – Mindfulness of the Body 
(Kāyagatāsati Sutta, MN 119)

– Lại nữa, này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên trên cho đến đỉnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt: “Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu”. Cũng như một bao đồ, hai đầu trống đựng đầy các loại hột như gạo, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo đã xay rồi. Một người có mắt, đổ các hột ấy ra và quán sát: “Ðây là hột gạo, đây là hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây là mè, đây là hột lúa đã xay rồi”. Cũng vậy, vị tỳ-khưu quán sát thân này dưới từ bàn chân trở lên trên cho đến đỉnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt: “Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu”.

Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm và tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, là cách vị tỳ-khưu tu tập thân hành niệm.

*


Wednesday, 17 May 2017

Cao lương mỹ vị

Vài ý tưởng cho những ai có tâm hồn ăn uống (như tôi)

Đang hiệu đính lại đoạn viết về "THÂN HÀNH NIỆM" trong cuốn Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi-magga, Path of Purification), bản dịch Việt của Ni sư Trí Hải. Đọc đến đoạn nầy thì giật mình, rồi bâng khuâng, suy tư. Một ngàn năm trăm năm trước, ngài Luận sư Buddhaghosa đã thấy rõ và mô tả tỉ mỉ những gì chúng ta thường cho là các món cao lương mỹ vị sau khi nuốt vào bụng rồi thì cũng như nhau.

--------------------

Trích đoạn:

(...)
120. (Những thứ nuốt nào bụng) Ðây là những gì đã được ăn, uống, nhai, nếm và đang có mặt ở trong dạ dày. Về màu sắc, nó có màu của thức ăn đã được nuốt vào. Về hình dáng, nó có dáng một túi vải buộc lơi lỏng chứa cơm bên trong. Về phương hướng nó nằm hướng trên. Về trú xứ, nó ở trong dạ dày.

121. Cái được gọi dạ dày là một phần của màng ruột, nó giống như một tấm vải ướt dài được vặn hết nước ở hai đầu, ở giữa căng phồng lên với không khí bên trong. Bên ngoài dạ dày láng lẩy, nhưng bên trong, nó giống cái bong bóng vải bị dơ vì gói cặn bả thịt, hoặc là giống bên trong của một cái vỏ trái mít thối. Ðó là nơi những dòi trùng sống lúc nhúc như rừng: ba mươi hai gia đình những sán lãi như lãi kim, lãi đũa v.v. Khi nào không có ăn uống gì vào, chúng nhảy lên kêu gào và vồ lấy thịt ở quả tim, còn khi có thức ăn uống được nuốt vào, thì chúng chờ đợi với những cái mồm ngóc lên, tranh nhau giật lấy hai ba miếng nuốt xuống đầu tiên.

Dạ dày vừa là nhà bảo sinh, vừa là nhà xí; vừa là bệnh viện, vừa là nghĩa trang của những con trùng này. Hệt như vào thời hạn hán, bỗng có một trận mưa, thì những gì được nước cuốn vào cống rãnh ở cổng của một khu làng hạ tiện, nghĩa là đủ thứ dơ dáy như nước tiểu, phân, những mảnh da, xương gân, cũng như đờm, dãi máu v.v. Những thứ ấy trộn lẫn với nhau cùng với bùn và nước đã được tụ ở đây, rồi hai ba ngày sau những quyến thuộc sâu bọ xuất hiện, những thứ ấy lên men, được hâm nóng bởi sức nóng mặt trời, nên sủi bọt lên trên, đen ngòm hôi hám và ghê tởm đến nổi người ta không thể nào tới gần, hay nhìn vào đó, huống chi là ngửi và nếm.

Cũng vậy, dạ dày là nơi mà đủ thứ thức ăn uống lọt vào sau khi được nghiền bởi cái chày răng, được đảo qua đảo lại bằng cái bàn tay của lưỡi, được làm dính vào nhau bằng đờm và nước miếng, lúc đó nó đã mất hết màu sắc hương vị, để khoát lấy bộ mặt của đống hồ thợ dệt, và của đồ chó mữa, để rồi được nhúng trong mật, đàm, phong đã tụ ở đấy, và nó lên men do năng lực của sức nóng trong dạ dày, sôi sục theo bầy sán dòi, sủi bọt ở trên mặt cho đến khi nó biến thành một thứ phân uế, hoàn toàn thối tha nôn mửa, chỉ cần nghe nói tới cũng đủ làm người ta hết muốn ăn uống, chứ đừng nói gì đến nhìn nó bằng con mắt tuệ.

Và khi đồ ăn uống rơi vào dạ dày, chúng được chia thành năm phần: sán lãi, vi trùng một phần, lửa bao tử đốt cháy hết một phần, một phần biến thành nước tiểu, một phần nữa thành phân, phần cuối cùng mới biến thành dưỡng chất, bồi bổ máu thịt, v.v.

122. Về ranh giới, nó (những thứ nuốt nào bụng) được giới hạn bằng cái bọc chứa và bởi những gì thuộc dạ dày.
(...)

Sunday, 16 April 2017

Tóm tắt kinh Hạnh Phúc (Mangala Sutta, Sb 2.4, Khp 5)


1) Không gần kẻ ngu si, 
Thân cận người hiền trí, 
Cúng dường bậc xứng đáng, 
Là điềm lành tối thượng

Đầu tiên là 3 điềm lành: tránh xa kẻ ngu (bāla, fool, ignorant), thân cận người hiền trí, thiện tri thức (pandita), cúng dường (pūjā) những bậc xứng đáng để được cúng dường. Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Người ngu ở đây là người không biết phân biệt thiện ác và có khuynh hướng theo các điều xấu ác. Bậc trí hiền là những người có đạo đức, tinh cần học và hành trong giáo pháp. Tôn kính và dâng tặng phẩm vật đến các bậc tôn túc, phẩm hạnh thanh cao là một điều quý nên làm.

2) Ở trú xứ thích hợp,
Quá khứ tạo nhân lành,
Hướng tâm theo lẽ chánh,
Là điềm lành tối thượng

Có 3 điềm lành:

- Trú xứ (desa) thích hợp (patirūpa) là những nơi có môi trường văn hóa xã hội tốt cho sự tu tập. Ở bầu thì dài, ở ống thì tròn. Chúng ta thường bị tác động bởi hoàn cảnh xã hội. Ở những nơi chỉ chuộng hình thức hào nhoáng bên ngoài, hưởng thụ vật chất, chạy theo nhu cầu dục lạc, lễ nghi rườm rà, chuộng các lời hoa mỹ rỗng tuếch thì cũng khó tu tập.

- Nếu trong quá khứ của đời này, hay trong các đời trước, đã tạo các công đức (katapuññatā), nay, quả phước lành sẽ được gặt hái trong hiện tại. Đây là một điềm lành. Bằng không, hãy nỗ lực làm việc thiện, để tạo nhân lành cho tương lai.

- Một điềm lành khác là tâm ta có định hướng chân chánh, đúng đắn (sammāpanidhi), hiệp theo lẽ đạo. Đây là điều quan trọng, phải có tác ý đúng.

3) Học nhiều, nghề nghiệp giỏi,
Giới luật biết tu tập,
Có những lời khéo nói,
Là điềm lành tối thượng

Có 4 điềm lành ở đây: được học và có nhiều hiểu biết (bāhu-saccam) , có nghề nghiệp tốt (sippam), biết hành trì các nguyên tắc giới luật đạo đức (vinayo), và biết dùng ngôn từ hòa ái, chân thật.

4) Hiếu dưỡng mẹ và cha,
Biết nuôi nấng vợ con.
Việc làm không xung khắc,
Là điềm lành tối thượng

Có 3 điềm lành: phụng dưỡng cha mẹ (mātāpitu), nuôi nấng gia đình (puttadārassa), có công việc làm không gây xung đột (anākulā) với người khác.

5) Bố thí, hành đúng pháp,
Giúp quyến thuộc họ hàng,
Hành xử không tỳ vết,
Là điềm lành tối thượng

Có 4 điềm lành: có lòng bố thí rộng rãi (dānā), có phẩm hạnh trong sạch theo giáo pháp (dhammacariyā), biết giúp đỡ bà con họ hàng (ñātakā), có những hành động giao tiếp trong sạch, không bị chê trách (anavajjā).

6) Ghê sợ, tránh điều ác
Không nghiện ngập rượu chè,
Tinh tấn hành thiện pháp,
Là điềm lành tối thượng

Có 4 điềm lành: biết ghê sợ (āratī) tội lỗi, biết tránh xa (viratī) tội lỗi (viratī pāpā), không rượu chè say sưa làm u mê (majjapānā), tinh tấn (appamādo) làm các điều lành, thiện pháp (dhammesu).

7) Sống lễ độ, khiêm cung,
Tri túc và tri ân,
Đúng thời, nghe giảng Pháp,
Là điềm lành tối thượng.

Có 5 điềm lành: thái độ lễ phép có văn hóa (gāravo), tính khiêm hạ (nivāto), biết sống đủ, tri túc (santutthī), biết nhớ ơn, tri ân (kataññutā), và biết đến nghe Pháp (dhammassavanam) đúng thời, đúng lúc (kālena).

8) Kham nhẫn, biết phục thiện,
Thường đến gặp Sa-môn,
Ðúng thời, đàm luận Pháp,
Là điềm lành tối thượng

Có 4 điềm lành: biết kiên nhẫn (khantī) và chịu đựng, biết phục thiện dễ dạy (sovacassatā), thường thân cận các bậc tu hành (samana), và đàm luận, trao đổi học Pháp (dhammasākacchā).

9) Tự chế, sống phạm hạnh,
Thấy chân lý nhiệm mầu.
Thực chứng quả Niết Bàn
Là điềm lành tối thượng

Có 4 điềm lành: sống tinh cần tự chế (tapo), sống đời sống phạm hạnh (brahmacariya), thẩm thấu chân lý nhiệm mầu (ariyasaccā) – tức là tứ thánh đế, thực chứng Niết bàn (nibbāna sacchikiriyā).

10) Khi xúc chạm việc đời,
Tâm không động, không sầu,
An nhiên, không uế não,
Là điềm lành tối thượng

Có 4 điềm lành: Tâm bất động, không lay chuyển khi bị gió đời hay pháp thế gian (lokadhamma) – khen chê, được mất, vinh nhục, buồn vui – thổi đến. Ba điềm lành khác: không còn sầu não (asoka), sống an nhiên (khema), không còn uế nhiễm (virajam).

*
11) Kết luận:
Ai sống được như thế,
Đến đâu không thối thất,
Đến đâu cũng an toàn,
Những điềm lành tối thượng.

Được như thế là đã nhập dòng thánh giải thoát. Khi ấy, cho dù sống trong dòng đời, đi đến đâu cũng không bao giờ bị tham sân si đánh bại (sabbattha aparājitā), đi đến đâu cũng bình an tự tại, an toàn (sabbattha sotthim gacchanti). Đó là điềm lành cao quý nhất.

– Bình Anson,
Perth, Tây Úc, 16/04/2017

* * *

Friday, 31 March 2017

Nhạc Việt - KHÁNH LY hát nhạc Trịnh Công Sơn (4 CDs, 2015)

Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps:

nviet34.zip – Khánh Ly hát nhạc Trịnh Công Sơn, 2015 (4 CDs, 448 MB)
https://mega.nz/#!rgIVyDiZ!x5Dc-4P6gkMGfwRS58iZDiH_g7BfoxmYXmcv4WJOMpw

*
Khánh Ly hát nhạc Trịnh Công Sơn, Phương Nam Film 2015

CD Bên Đời Hiu Quạnh
1. Chiếc lá thu phai - Khánh Ly
2. Lặng lẽ nơi này - Khánh Ly
3. Trong nỗi đau tình cờ - Khánh Ly
4. Quỳnh hương - Khánh Ly
5. Bốn mùa thay lá - Khánh Ly
6. Ru đời đi nhé - Khánh Ly
7. Có một dòng sông đã qua đời - Khánh Ly
8. Yêu dấu tan theo - Khánh Ly
9. Bên đời hiu quạnh - Khánh Ly
10. Đó hoa vô thường - Khánh Ly

CD Biển Nhớ 
1. Ướt mi - Khánh Ly
2. Biển nhớ - Khánh Ly
3. Gọi tên bốn mùa - Khánh Ly
4. Ru ta ngậm ngùi - Khánh Ly
5. Tình sầu - Khánh Ly
6. Rồi như đá ngây ngô - Khánh Ly
7. Tình xót xa vừa - Khánh Ly
8. Một buổi sáng mùa xuân - Khánh Ly
9. Hãy cứ vui như mọi ngày - Khánh Ly
10. Một ngày như mọi ngày - Khánh Ly

CD Hạ Trắng
1. Hạ trắng - Khánh Ly
2. Tuổi đá buồn - Khánh Ly
3. Ngẫu nhiên - Khánh Ly
4. Ru em từng ngón xuân nồng - Khánh Ly
5. Cuối cùng cho một tình yêu - Khánh Ly
6. Chiều một mình qua phố - Khánh Ly
7. Tôi ru em ngủ - Khánh Ly
8. Nhìn những mùa thu đi - Khánh Ly
9. Nghe những tàn phai - Khánh Ly
10. Biết đâu nguồn cội - Khánh Ly 

CD Tình Nhớ
1. Diễm xưa - Khánh Ly
2. Dấu chân địa đàng - Khánh Ly
3. Tình nhớ - Khánh Ly
4. Vẫn nhớ cuộc đời - Khánh Ly
5. Nắng thủy tinh - Khánh Ly
6. Cát bụi - Khánh Ly
7. Tình xa - Khánh Ly
8. Hãy khóc đi em - Khánh Ly
9. Em đã cho tôi bầu trời - Khánh Ly
10. Tạ ơn - Khánh Ly

*

Monday, 27 March 2017

Nhịp tay 7 lần trước khi gõ

Xin giới thiệu một bài viết hay, đọc để suy ngẫm. Sau khi đọc bài nầy, tôi nhớ đến một câu tôi thường nói với bạn bè, nửa đùa nửa thật:

- Người xưa có câu "Người quân tử uốn lưỡi 7 lần trước khi nói" nhưng ngày nay, khi sử dụng bàn phím để chat, mình cũng nên nhớ thêm: "Người quân tử nhịp tay 7 lần trước khi gõ".

* * *

Khẩu nghiệp ở Việt Nam đang rất nặng!
TS Nguyễn Mạnh Hùng
(27/03/2017)

Mặt trái của mạng xã hội ở Việt Nam đang phá hỏng tâm tính lành thiện của con người, đặc biệt là giới trẻ. Việc ai cũng có thể chửi rủa, phán xét một cách tàn nhẫn, hùa theo, không suy nghĩ và thiếu bao dung, đã làm khẩu nghiệp của chúng ta nặng thêm.

Khẩu nghiệp từ đâu ra?

Chúng ta có thân này là do nghiệp. Nghiệp được hiểu đơn giản nhất, đời thường nhất là thói quen.
Nếu ta thường xuyên sống bình an, nhẹ nhàng, thanh tịnh, vô ngã vị tha thì chúng ta tạo nghiệp thiện, được sinh về các cảnh giới thiện lành, được làm chư thiên và làm người hạnh phúc.

Nếu chúng ta thường xuyên tức giận, quát nạt kẻ khác, ức hiếp người khác sẽ tạo nghiệp không lành và có thể sinh về cõi atula (hiểu nôm na, cõi này chỉ biết sân hờn giận, đánh nhau chứ chẳng làm gì ngoài những trạng thái đó).

Nếu chúng ta tham lam, bỏn sẻn, keo kiệt thì tạo nghiệp ác và sinh về cõi dữ là ngạ quỷ. Nếu chúng ta cướp bóc, giết người, ngày đêm làm những việc xấu thì tạo nghiệp rất ác và sẽ sinh về địa ngục.
Trừ những người vô minh quá, còn lại đa phần tin vào luật nhân quả, tin rằng sống tốt được may mắn, sống ác bị gặp nhiều chuyện xấu.

Gieo nhân nào gặt quả đó. Quả chẳng trổ ngày nay thì ngày mai, không kiếp này thì kiếp tới. Nhân quả thật rõ. Nghiệp là luôn đúng.

Tuy nhiên vẫn có những người nghĩ rằng nghiệp chỉ do các hành động của mình gây ra mà không biết rằng nghiệp là do cả 3: thân, khẩu, ý tức do các hành động việc làm cũng như do lời nói và các suy nghĩ.

Ở đây tôi chỉ bàn về khẩu nghiệp, tức các nghiệp do lời nói sinh ra.

Cẩn thận, nói đúng, nói trúng thời điểm

Khẩu nghiệp là nghiệp do lời nói gây ra. Bất cứ những gì ta nói ra đều có tác động lợi hoặc hại, tốt hoặc xấu, xảy ra ngay tức thì hoặc để lại hậu quả sau này.

Khẩu nghiệp lành từ các lời nói tạo ra những kết quả tốt lành, làm lợi cho chính người đó và những người liên quan.

Khẩu nghiệp ác từ các lời nói tạo ra những hậu quả xấu, làm hại cho chính người nói ra và những người liên quan. Khẩu nghiệp còn ảnh hưởng đến cả cộng đồng, cả xã hội.

Nếu chúng ta biết ái ngữ, tức nói lời hay, ý đẹp thì chính mình và những người xung quanh được hưởng.

Người có trí tuệ, có hiểu biết đúng đắn về khẩu nghiệp thường rất cẩn thận khi nói. Họ biết cách nói đúng, nói trúng, cả về nội dung lẫn thời điểm.

Người có trí tuệ biết cách nói để không làm phiền lòng người nghe. Khi thấy một người trong cơ quan hay trong gia đình, nhóm bạn đang làm một việc sai trái họ cũng tìm cách nói khéo léo và nói vào thời điểm hợp lý.

Người có trí tuệ hiểu rõ khẩu nghiệp nên chỉ sử dụng lời nói khi cần thiết, nói để đạt được kết quả mà mình mong muốn mà không làm tổn thương đến người nghe.

Người có trí tuệ thường nói với tâm Phật, tức dùng từ bi hỷ xả để nói. Trước khi nói, thậm chí họ ngồi cho lắng lòng, cho tâm thanh tịnh rồi mới nói.

Bí quyết để không tạo khẩu nghiệp

Chúng ta có thể thực tập 1 cách làm rất đơn giản là hít thở 3 hơi thật nhẹ, thật êm để tĩnh tâm và thư giãn trước khi nói. Lúc đó sẽ bớt đi những lời nói vô ích và không hợp lý, thậm chí là xấu.
Người có trí biết rõ nếu lời mà mình chuẩn bị nói ra có thể mang lại hậu quả xấu thì thường không nói hoặc chưa nói.

Bởi nếu ta nói ra mà ta không kiểm soát được lời nói thì ta tạo khẩu nghiệp xấu. Mà khẩu nghiệp xấu chắc chắn để lại hậu quả xấu, hoặc ngay tức thì, hoặc dài lâu.

Ai cũng muốn nghe những lời hay tiếng đẹp. Ta cũng vậy. Cớ gì ta nói những lời không dễ thương.
Tôi hay tự nghĩ: liệu người nghe có muốn nghe những lời mình nói không. Nếu câu trả lời rằng không thì thường là tôi cố gắng không nói.

Nói ra mà gây hận thù, oán ghét thì chính ta tạo nghiệp xấu. Nghiệp xấu lôi ta trôi lăn trong sanh tử luân hồi với khổ đau triền miên.

Đức Phật có dạy, trong mười nghiệp của con người thì khẩu nghiệp là bốn, tức gần một nửa. Đó là: Chuyện không nói có, chuyện có nói không; Nói lời hung ác; Nói lưỡi hai chiều; Nói lời thêu dệt.
Khẩu nghiệp ác là một trong những nghiệp nặng nề nhất mà chúng ta tạo ra. Ai cũng biết rằng vết thương trên thân thể dễ lành hơn vết thương gây ra do lời nói.

Người có trí tuệ thường nhớ đến 4 khẩu nghiệp xấu nêu trên để tránh.

Vì vậy, người có trí tuệ thực tập chỉ nói sự thật, không bịa chuyện. Họ cũng tập nói những lời nhẹ nhàng êm dịu, dễ nghe.

Họ không nói lưỡi hai chiều, ngồi đây nói trắng đến chỗ khác lại nói đen. Họ thực tập không bịa chuyện, không thêu dệt câu chuyện, không nói sai sự thật. Họ thường không nói những gì mà mình không biết chắc chắn là có thật.

Bệnh từ miệng, họa từ miệng

Tôi vẫn nhớ những câu nói ông nội dạy từ xưa. Đại loại rằng, người trên đời này búa để trong miệng, con người giết nhau là do lời nói ác.

Ông tôi cũng dạy rằng bệnh từ cái miệng do ăn uống mà đem vào, họa cũng từ cái miệng do nói bậy bạ mà ra. [*]

Ông dạy tiếp rằng mở miệng nhiều lời sẽ hao tổn thần khí, lưỡi nói chuyện phải trái, hơn thua, đẹp xấu, khen chê, sẽ dẫn đến tranh đấu, tranh cãi sinh ra lắm chuyện, thậm chí hậu quả nghiêm trọng.

Ông nói chữ nôm, chữ hán nhưng tôi chỉ nhớ nội dung. Nhờ ông nội dạy từ nhỏ nên tôi luôn lưu ý mỗi lời nói của mình. Tránh tối đa khẩu nghiệp ác.

Lớn lên tôi học Phật, học chánh pháp. Và tôi phát hiện ra rằng ngoài 4 khẩu nghiệp nêu trên, chúng ta còn cần lưu ý thêm các nghiệp khác từ miệng như ăn uống lãng phí, ăn uống cầu kỳ, quá đòi hỏi trong ăn uống.

Tôi cũng lưu ý mình khi phê bình người khác, khi chê bai người khác, khi khen người khác. Tôi học được và luôn nhắc mình thực tập không rêu rao lỗi của mọi người, nếu thấy lỗi thì khuyên bảo và nhắc nhở.

4 hạng người nên tránh

Trong kinh, Đưc Phật dạy, có 4 hạng người chúng ta nên tránh trở thành. Đó là những kẻ hay nói lỗi người khác, những kẻ hay nói chuyện mê tín, tà kiến, những kẻ miệng nói ra những lời tốt nhưng tâm lại xấu, những kẻ làm ít kể nhiều. Tôi luôn nhắc mình mỗi ngày.

Người có trí thường ăn uống tiết kiệm. Vậy nên để giữ khẩu nghiệp, tôi thường nhắc mình cùng các bạn bè và người thân ăn bao nhiêu gọi bấy nhiêu thức ăn, ăn bao nhiêu lấy bấy nhiêu, không để thừa.

Dù có giàu đến cỡ nào nhưng nếu không tiết kiệm, tiền của cũng hết. Hơn thế nữa chúng ta cần hiểu rằng tài sản và của cải của kiếp này là do nghiệp lành, do phước đức từ kiếp trước để lại.

Nếu ta chỉ biết tiêu mà không biết kiếm tức tạo các nghiệp lành thì kho của kia chẳng mấy sẽ hết.
Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy rằng, dù nói hàng ngàn lời nhưng không gì lợi ích, tốt hơn hãy nói một câu có nghĩa, nghe xong được tịnh lạc (Pháp cú số 100).

Hoặc không phải vì nói nhiều mới xứng danh bậc trí, an ổn không oán sợ thật đáng gọi bậc trí (Pháp cú 258).

Hoặc không phải vì nói nhiều là thọ trì chánh pháp, người nghe ít diệu pháp nhưng trực nhận viên dung, chánh pháp không buông lung là thọ trì Phật Pháp (Pháp cú số 259).

Tốt nhất là lưỡi, xấu nhất cũng là lưỡi

Nếu chúng có học Phật, biết nghiên cứu và thực hành những lời Phật dạy thì thật là tuyệt vời. Từ hiểu biết đúng đắn, ta áp dụng và cuộc sống và có kết quả ngay tức khắc, ta nhận được lợi lạc đầu tiên.

Viết đến đây tôi nhớ lại câu chuyện bố tôi kể nhiều lần. Chuyện rằng ông phú hộ kia yêu cầu cho giết lợn và chọn phần quí nhất của con lợn để nấu món ăn cho ông ta.

Đầu bếp mang lên cho ông một món ăn với phần quý nhất của con lợn là cái lưỡi. Khi được hỏi tại sao thì người đầu bếp trả lời rằng cái lưỡi là bộ phận quí nhất.

Nhờ cái lưỡi mà con người được nghe những lời êm dịu, nhẹ nhàng, yêu thương và hạnh phúc. Cái lưỡi cũng nói ra nhiều ý tưởng hay, nhiều dự án lớn, nhiều kế hoạch ích nước lợi dân. Nhờ cái lưỡi mà có khi cả xã hội được hưởng lợi.

Một lần khác ông phú hộ lại yêu cầu giết lợn và chọn một bộ phận xấu xa nhất làm cho ông một món ăn.

Đầu bếp mang lên cho ông ta món ăn mà bộ phận xấu xa nhất lại cũng là cái lưỡi lợn. Người đầu bếp giải thích rằng có nhiều lời nói giết chết mạng sống, có những lời nói xấu xa, tàn nhẫn làm tan nát gia đình, làm hủy hoại cả chế độ.

Chuyện bố kể làm tôi ngẫm sâu lắm. Khẩu nghiệp quả thật là rất lớn. Tôi luôn nhắc mình quan tâm khẩu nghiệp để có hành xử đúng, để có cuộc sống thiện lành trong kiếp này và các kiếp mai sau.
Sự thay đổi của người học trò đau khổ

Tôi nhớ rằng, tại các khóa thiền, chúng tôi hay thực tập thiền ca, tức thiền hát. Chúng tôi hát những bài hát rất có ý nghĩa để nhắc mình thực hành mỗi ngày.

Tôi rất thích bài hát sau:

"Lời qua (mà) tiếng lại
Giải quyết chi đâu
Sao không dừng lại?
Kẻo hố thêm sâu
Lời qua (mà) tiếng lại
Đưa ta tới đâu
Sao không dừng lại?
Thở nhẹ và sâu
Lời qua (mà) tiếng lại
Đưa ta tới đâu
Sao không thở nhẹ?
Mỉm cười nhìn nhau."

Khi giận nhau chỉ cần hát bài này. Khi khó chịu, mâu thuẫn bức xúc, chỉ cần hát vào câu. Là tất cả êm xuôi.

Mong muốn của tôi rằng chúng ta nhắc nhau sống bình an thư giãn. Tôi hay nhắn tin cũng như viết trên facebook những câu dễ thương để mọi người đọc là có thể mỉm cười.

Tôi cũng nhắc bạn bè, người thân, đồng nghiệp và học trò "mỉm cười 10 giây" mỗi ngày. Lời khen ngợi, cám ơn, xin lỗi là những thứ tôi muốn mọi người cùng mình thực tập.

Tôi có một người học trò luôn đau khổ, chán chường, thất vọng, đầy tư duy tiêu cực. Tôi hướng dẫn em sống chánh niệm và ái ngữ. Tôi nhắc em mỗi ngày mỉm cười và nói lời hay, ý đẹp.

Chỉ vài tháng sau Tuấn có khuôn mặt tươi tắn, hạnh phúc. Mặt em trở nên sáng sủa và dễ thương. Sự cau có, cằn nhằn biến mất.

Tuấn tự nhiên được rất nhiều người yêu quý. Em thấy đời sống bây giờ khác xa trước. Tuấn như được đổi đời. Tu khẩu đổi hình là câu chuyện có thật của Tuấn.

Mong bạn cùng tôi thực hành ái ngữ và tu khẩu nghiệp thật tốt mỗi ngày nhé!

- Nguyễn Mạnh Hùng

[*] Đó là từ câu chữ Hán "Bệnh tùng khẩu nhập, họa tùng khẩu xuất" (Bình Anson).

*

Friday, 24 March 2017

A Slow Learner, Đầu óc chậm lụt


Nhân theo dõi và chia sẻ về hành thiền trong một room Phật giáo trên Paltalk, tôi mới chợt nhận ra rằng mình chỉ là một “slow learner” – một người học trò với đầu óc chậm lụt, học hoài mà vẫn chưa thuộc.

Nhìn lại, mình đã từng được dạy ngồi thiền, ngay từ thuở trung học – đầu tiên với ngài Hòa thượng Thích Tâm Giác, võ đường Quang Trung (Đa Kao, Sài Gòn). Cho đến bây giờ đã hai thứ tóc trên đầu mà vẫn loanh quanh với 4 bước đầu tiên trong 16 bước như Đức Phật dạy trong bài kinh Quán niệm Hơi thở (Anapanasati Sutta, Trung bộ 118):

– Thở vô dài, vị ấy biết: "Tôi thở vô dài". Hay thở ra dài, vị ấy biết: "Tôi thở ra dài". Hay thở vô ngắn, vị ấy biết: "Tôi thở vô ngắn". Hay thở ra ngắn, vị ấy biết: "Tôi thở ra ngắn". "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.

Và cũng xin lưu ý chữ BIẾTTẬP dùng ở đây.

Bây giờ người ta thích bàn luận, chia sẻ về các tiến bộ và kinh nghiệm trong hành thiền, như phát tuệ minh sát, tuệ sinh diệt, 16 loại tuệ, thiền tướng nimitta, bốn tầng thiền-na (jhana), các loại thần thông, v.v. Tranh luận sôi nổi về thiền chỉ và thiền quán, đề cao pháp thiền của mình là con đường duy nhất, chê bai pháp thiền của người kia là ngoại đạo, không đưa đến giác ngộ giải thoát, v.v. Có người chỉ tu ở nhà, nghiên cứu kinh sách, Youtube, Facebook, rồi tự thực hành; vài ba tháng là có kết quả tốt, rồi đi chỉ dạy người khác. Rồi lại nghe nói có người tham gia khóa thiền nào đó ở Myanmar và được vị thiền sư xác nhận thiền sinh nào đó đắc được quả Dự Lưu. Sao mà dễ dàng quá! Nghe mà ham!

Thôi thì mình nên trở về với thực tại, bằng lòng với căn cơ thấp kém của mình – “phước mỏng, nghiệp dày” như ngài Hòa thượng Thích Thanh Từ thường nhắc nhở. Cứ thong thả, đều đặn, từ từ bước đi. Thà chậm mà chắc, như ông bà mình đã từng nói.

*

Monday, 20 March 2017

Nhạc quốc tế, lời Việt - PHẠM DUY


Ngoài tài sáng tác nhạc, Phạm Duy còn có biệt tài chuyển dịch sang lời Việt các bản nhạc quốc tế nổi tiếng. Mời các bạn thưởng thức, nhất là trong đêm khuya thanh vắng, nhâm nhi một tách trà hay càfê...

Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps:

nviet33.zip – Phạm Duy: Nhạc cổ điển & dân ca quốc tế, lời Việt (2 CDs, 220 MB)
=> https://mega.nz/#!uhhSRBSC!HsMXwnuSpVFvo9mPau5LvZ-HfdXDJZEpNQ7CklNBJmA

*

CD1: Khúc ca ly biệt
1. Dòng sông xanh (Danube Blue) - Ngọc Tuyền
2. Mối tình xa xưa (Celebre Valse) - Tấn Minh, Uyên Di
3. Mơ mòng (Reverie) - Hồ Trung Dũng
4. Ave Maria - Ngọc Tuyền
5. Tình vui (Plaisir D'amour) - Tấn Minh
6. Chiều tà (Sererata) - Hà Phạm
7. Khúc ca ly biệt (Chanson de Solvieg) -Đức Tuấn
8. Khi màn nhung mở ra (Fur Elise) - Hà Phạm
9. Dạ khúc (Serenade) - Hồ Trung Dũng
10. Khúc hát thanh xuân (When we were young) - Hồng Vy

CD2: Ôi Giàn Thiên Lý Đã Xa
1. Cánh Buồm Xưa (La Paloma) - Quang Minh
2. Ôi Giàn Thiên Lý Đã Xa (Scarborough Fair) - Khánh Linh
3. Trở Về Mái Nhà Xưa (Back To Sorrento) - Nam Khánh
4. Chủ Nhật Buồn (Sombre Dimanche) - Đức Tuấn
5. Vai Áo Màu Xanh (Green Sleeves) - Phạm Thu Hà
6. Vũ Nữ Thân Gầy (La Cumparsita) - Phạm Thu Hà
7. Nàng Đi Xem Hội (She Moved Through The Fair) - Ngọc Tuyền
8. Clementine - Uyên Di
9. Ave Maria - Hồng Vy
10. Sầu Dương Thế (Chant Hindou) - Ngọc Tuyền

*


Saturday, 18 March 2017

Xin đừng lôi kéo


"Been there, done that". Trong mấy chục năm qua trên các diễn đàn Phật giáo của Internet – tiếng Anh lẫn tiếng Việt, tôi đã từng theo dõi và tham gia các cuộc tranh luận – đôi khi đưa đến khẩu chiến, bút chiến quyết liệt – về nhiều đề tài trong PG (lịch sử, tông phái, kinh điển, pháp hành, ăn chay ăn mặn, v.v.).

Bây giờ thì chán rồi, không còn năng lực, thì giờ, hay hứng thú gì về các chuyện đó nữa. Vì thế, xin đừng lôi kéo tôi vào đó. Để tôi yên thân đi theo con đường của riêng tôi cho đến nơi, đến chốn.

Xin đa tạ. _()_

* TB. Nếu bạn nào chưa biết con đường tôi đi, mời đến đọc ở đây. Đọc chơi cho vui, xin miễn bình luận thêm.
=> http://budsas.blogspot.com.au/2015/01/con-uong-toi-i.html

*

Thursday, 9 February 2017

Các vị Tăng Thống của Phật giáo Thái Lan (Supreme Patriarch of Thailand)

Supreme Patriarch (Sangharaja) of Thailand: 

1. Somdet Phra Ariyavongsanana I (Sri), Sri, from 1782/83 (2325 BE) to 1794/75 (2337 BE), Order: Maha Nikaya, Temple: Wat Rakhang Khositaram.

2. Somdet Phra Ariyavongsanana II (Suk), Suk, from 1794/75 (2337 BE) to 1816/87 (2359 BE), Order: Maha Nikaya, Temple: Wat Mahathat Yuwaratrangsarit.

3. Somdet Phra Ariyavongsanana III (Mee), Mee, from 1816/87 (2359 BE) to 1819/20 (2362 BE), Order: Maha Nikaya, Temple: Wat Mahathat Yuwaratrangsarit.

4. Somdet Phra Ariyavongsanana IV (Suk Nyanasamvara), Suk, from 1820/21 (2363 BE) to 1822/23 (2365 BE), Order: Maha Nikaya, Temple: Wat Mahathat Yuwaratrangsarit.

5. Somdet Phra Ariyavongsanana V (Don), Don, from 1822/23 (2365 BE) to 1842/43 (2385 BE), Order: Maha Nikaya, Temple: Wat Mahathat Yuwaratrangsarit.

6. Somdet Phra Ariyavongsanana VI (Nag), Nag, from 1843/44 (2386 BE) to 1849/50 (2392 BE), Order: Maha Nikaya, Temple: Wat Ratchaburana.

7. Somdet Phra Maha Samana Chao Kromma Phra Paramanuchitchinorot (HRH Prince Vasugri Suvaṇṇaraṃsi), HRH Prince Vasugri, from 1851/52 (2394 BE) to 1853/54 (2396 BE), Order: Maha Nikaya, Temple: Wat Phra Chetuphon Vimolmangklararm.

8. Somdet Phra Maha Samana Chao Kromma Phraya Pavares Variyalongkorn (HRH Prince Rurk Paññāaggo), HRH Prince Rurk, from 1853/54 (2396 BE) to 1892/93 (2435 BE), Order: Dhammayuttika Nikaya, Temple: Wat Bowonniwet Vihara.

9. Somdet Phra Ariyavongsagatanana I (Sa Pussadevo), Sa, from 1893/94 (2436 BE) to 1899/1900 (2442 BE), Order: Dhammayuttika Nikaya, Temple: Wat Ratchapradit Sathit Mahasimaram.

10. Somdet Phra Maha Samana Chao Kromma Phraya Vajirananavarorasa (HRH Prince Manusyanagamanob Manussanāgo), HRH Prince Manusyanagamanob, from 1910/11 (2453 BE) to 1921/22 (2464 BE), Order: Dhammayuttika Nikaya, Temple: Wat Bowonniwet Vihara.

11. Somdet Phra Sangharaja Chao Kromma Luang Jinavorn Sirivaddhana (HRH Prince Bhujong Jombunud Sirivaḍḍhano), HSH Prince Bhujong Jombunud, from 1921/22 (2464 BE) to 1937/38 (2480 BE), Order: Dhammayuttika Nikaya, Temple: Wat Ratchabophit Sathit Maha Simaram.

12. Somdet Phra Ariyavongsagatanana II (Phae Tissadevo), Phae Phongpala, from 1938/39 (2481 BE) to 1944 (2487 BE), Order: Maha Nikaya, Temple: Wat Suthat Thepphaararam.

13. Somdet Phra Sangharaja Chao Kromma Luang Vajirananavongs (HH Prince Chuen Navavongs Sucitto), Mom Rajavongse Chuen Navavongs, from 1945 (2488 BE) to 1958 (2501 BE), Order: Dhammayuttika Nikaya, Temple: Wat Bowonniwet Vihara.

14. Somdet Phra Ariyavongsagatanana III (Plod Kittisobhaṇo), Plod Ketuthat, from 1960 (2503 BE) to 1962 (2505 BE), Order: Maha Nikaya, Temple: Wat Benchamabophit Dusitvanaram.

15. Somdet Phra Ariyavongsagatanana IV (Yoo Ñāṇodayo), Yoo Changsopha (Sae-Chua), from 1963 (2506 BE) to 1965 (2508 BE), Order: Maha Nikaya, Temple: Wat Saket.

16. Somdet Phra Ariyavongsagatanana V (Chuan Uṭṭhāyī), Chuan Sirisom, from 1965 (2508 BE) to 1971 (2514 BE), Order: Dhammayuttika Nikaya, Temple: Wat Makut Kasattriyaram.

17. Somdet Phra Ariyavongsagatanana VI (Pun Puṇṇasiri), Pun Sukcharoen, from 1972 (2515 BE) to 1973 (2516 BE), Order: Maha Nikaya, Temple: Wat Phra Chetuphon Vimolmangklararm.

18. Somdet Phra Ariyavongsagatanana VII (Vasana Vāsano), Vasana Nilprapha, from 1973 (2516 BE) to 1988 (2531 BE), Order: Dhammayuttika Nikaya, Temple: Wat Ratchabophit Sathit Maha Simaram.

19. Somdet Phra Nyanasamvara (Charoen Suvaḍḍhano), Charoen Khachawat, from 1989 (2532 BE) to 2013 (2556 BE), Order: Dhammayuttika Nikaya, Temple: Wat Bowonniwet Vihara.

20. Somdet Phra Ariyavongsagatanana VIII (Amborn Ambaro), Amborn Prasatthaphong, from 2017 (2560 BE) to Present, Order: Dhammayuttika Nikaya, Temple: Wat Ratchabophit Sathit Maha Simaram.
*

20 vị Tăng Thống của Phật giáo Thái Lan (hình mới sưu tập, sẽ chỉnh sửa sau):


Nghiệp (SN 14.15)

Nhiều năm trước, trong một diễn đàn PG tiếng Anh, một vị sư đề cập đến bài kinh nầy, nhưng không nêu rõ xuất xứ, về một hiện tượng tâm lý rất phổ thông xảy ra trong tăng chúng cũng như trong xã hội từ thời xưa cho đến thời nay. Người ta thường tụ hội thành từng nhóm vì cùng chung một mục đích nào đó hay khuynh hướng nào đó, thiện hay bất thiện.

Tôi thích bài kinh đó nhưng rồi quên đi. Thỉnh thoảng nhớ lại, nhưng không tìm được nguồn gốc chính xác. Sáng nay có lẽ đã đủ duyên, đến nhờ bác Gờ giúp và tìm được. Xin ghi lại đây bản dịch Việt và Anh. Trong tương lai sẽ đóng góp thêm vài suy tư.

*

NGHIỆP 
(SN 14.15) (Tạp, Ðại 2, 115a) (S.ii,155)

Một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), tại núi Gijjakūta (Linh Thứu). Lúc bấy giờ, Tôn giả Sāriputta cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành, không xa Thế Tôn bao nhiêu.

Tôn giả Mahāmoggallāna cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành, không xa Thế Tôn bao nhiêu.
Tôn giả Mahākassapa cùng với ... không xa Thế Tôn bao nhiêu.
Tôn giả Anuruddha cùng với ... không xa Thế Tôn bao nhiêu.
Tôn giả Puṇṇa Mantāniputta cùng với ... bao nhiêu.
Tôn giả Upāli cùng với ... bao nhiêu.
Tôn giả Ānanda cùng với ... bao nhiêu.
Tôn giả Devadatta cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành, không xa Thế Tôn bao nhiêu.

Rồi Thế Tôn gọi các tỳ-khưu:
– Này các tỳ-khưu, các Ông có thấy Sāriputta cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành?
– Thưa có, bạch Thế Tôn.
– Này các tỳ-khưu, tất cả vị tỳ-khưu ấy là bậc đại trí tuệ.

Này các tỳ-khưu, các Ông có thấy Moggallāna cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành?
– Thưa có, bạch Thế Tôn
– Này các tỳ-khưu, tất cả vị tỳ-khưu ấy là bậc đại thần thông.

Này các tỳ-khưu, các Ông có thấy Kassapa cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành?
– Thưa có, bạch Thế Tôn.
– Này các tỳ-khưu, tất cả vị tỳ-khưu ấy chủ trương hạnh đầu đà.

Này các tỳ-khưu, các Ông có thấy Anuruddha cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành?
– Thưa có, bạch Thế Tôn.
– Này các tỳ-khưu, tất cả vị tỳ-khưu ấy là bậc có thiên nhãn.

Này các tỳ-khưu, các Ông có thấy Puṇṇa Mantāniputta cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành?
– Thưa có, bạch Thế Tôn.
– Này các tỳ-khưu, tất cả vị tỳ-khưu ấy là bậc thuyết pháp.

Này các tỳ-khưu, các Ông có thấy Upāli cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành?
– Thưa có, bạch Thế Tôn.
– Này các tỳ-khưu, tất cả vị tỳ-khưu ấy là bậc trì luật.

Này các tỳ-khưu, các Ông có thấy Ānanda cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành?
– Thưa có, bạch Thế Tôn.
– Này các tỳ-khưu, tất cả vị tỳ-khưu ấy là bậc đa văn.

Này các tỳ-khưu, các Ông có thấy Devadatta cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành?
– Thưa có, bạch Thế Tôn.
– Này các tỳ-khưu, tất cả vị tỳ-khưu ấy là ác dục.

Này các tỳ-khưu, tùy thuộc theo giới, các chúng sinh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau. Chúng sinh liệt ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sinh liệt ý chí. Chúng sinh thiện ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sinh thiện ý chí.

Này các tỳ-khưu, tùy thuộc theo giới thời quá khứ, các chúng sinh đã cùng hòa hợp, đã cùng đi với nhau. Chúng sinh liệt ý chí đã cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sinh liệt ý chí. Chúng sinh thiện ý chí đã cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sinh thiện ý chí.

Này các tỳ-khưu, tùy thuộc theo giới thời vị lai, các chúng sinh sẽ cùng hòa hợp, sẽ cùng đi với nhau. Chúng sinh liệt ý chí sẽ cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sinh liệt ý chí. Chúng sinh thiện ý chí sẽ cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sinh thiện ý chí.

Này các tỳ-khưu, tùy thuộc theo giới hiện tại, các chúng sinh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau. Chúng sinh liệt ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sinh liệt ý chí. Chúng sinh thiện ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sinh thiện ý chí.

– (Hòa thượng Minh Châu dịch Việt, Bình Anson hiệu đính)

*

Source: Sutta Central, http://awake.kiev.ua/dhamma/tipitaka/2Sutta-Pitaka/3Samyutta-Nikaya/Samyutta2/13-Dhatu-Samyutta/02-Sattadhatuvaggo-e.html 

KAMMAṂ (CAṄKAMA) - ACCORDING TO ACTIONS (THOUGHTFULLY WALKING)

At one time, the Blessed One lived among the Gijjha peaks in Rajagaha. At that time, venerable Sāriputta was walking thoughtfully in the vicinity of the Blessed One followed by many bhikkhus.

Venerable Mahāmoggallāna was walking thoughtfully in the vicinity of the Blessed One followed by many bhikkhus.
Venerable Mahākassapa was walking thoughtfully in the vicinity of the Blessed One followed by many bhikkhus.
Venerable Anuruddha was walking thoughtfully in the vicinity of the Blessed One followed by many bhikkhus.
Venerable Puṇṇa Mantāniputta was walking thoughtfully in the vicinity of the Blessed One followed by many bhikkhus.
Venerable Upāli was walking thoughtfully in the vicinity of the Blessed One followed by many bhikkhus.
Venerable Ānanda was walking thoughtfully in the vicinity of the Blessed One followed by many bhikkhus.
Devadatta too was walking thoughtfully in the vicinity of the Blessed One followed by many bhikkhus.

Then the Blessed One addressed the bhikkhus:
“Bhikkhus, do you see Sāriputta walking thoughtfully followed by many bhikkhus?”
“Yes, venerable sir.”
“Bhikkhus, all those bhikkhus are very wise.

“Bhikkhus, do you see Moggallāna walking thoughtfully, followed by many bhikkhus?”
“Yes, venerable sir.”
“Bhikkhus, all those bhikkhus have great psychic powers.

“Bhikkhus, do you see Kassapa walking thoughtfully, followed by many bhikkhus?”
“Yes, venerable sir.”
“Bhikkhus, all those bhikkhus observe austerities.”

“Bhikkhus, do you see Anuruddha walking thoughtfully, followed by many bhikkhus?”
“Yes, venerable sir.”
“Bhikkhus, all those bhikkhus have developed the divine eye.

“Bhikkhus, do you see Puṇṇa Mantāniputta walking thoughtfully, followed by many bhikkhus?”
“Yes, venerable sir.”
“Bhikkhus, all those bhikkhus converse about ethical problems.

“Bhikkhus, do you see Upāli walking thoughtfully, followed by many bhikkhus?”
“Yes, venerable sir.”
“Bhikkhus, all those bhikkhus know the discipline.

“Bhikkhus, do you see Ānanda walking thoughtfully, followed by many bhikkhus?”
“Yes, venerable sir.”
“Bhikkhus, all those bhikkhus are learned.

“Bhikkhus, do you see Devadatta walking thoughtfully, followed by many bhikkhus?”
“Yes, venerable sir.”
“Bhikkhus, all those bhikkhus are with evil desires.”

“Bhikkhus, beings get together and agree according to the elements. Those with inferior inclinations get together and agree with others of inferior inclinations and those with virtuous inclinations get together and agree with others of virtuous inclinations.

“Bhikkhus, even in the past beings got together and agreed according to the elements. Those with inferior inclinations got together and agreed with others of inferior inclinations and those with virtuous inclinations got together and agreed with others of virtuous inclinations.

“Bhikkhus, even in the future beings will get together and agree according to the elements. Those with inferior inclinations will get together and agree with others of inferior inclinations and those with virtuous inclinations will get together and agree with others of virtuous inclinations.

“Bhikkhus, even at present beings get together and agree according to the elements. Those with inferior inclinations get together and agree with others of inferior inclinations and those with virtuous inclinations get together and agree with others of virtuous inclinations.”

*

Tuesday, 7 February 2017

Thầy GỜ yêu mến của tôi

Thầy GỜ yêu mến của tôi
(Google Search)

Tôi rất tri ân ông thầy thầm lặng của tôi, tôi thường gọi là bác Gờ (Google). Hầu như ngày nào tôi cũng đến thăm bác ấy và tham vấn nhiều vấn đề, từ tôn giáo đến khoa học, chính trị, kinh tế, v.v. Đa số các hình ảnh và thông tin đưa vào trang FB, trang Blog cá nhân nầy đều do bác ấy cung cấp. Các thuật ngữ Phật học, Việt-Anh-Pali-Hán, cũng nhờ bác ấy giải thích. Ngay cả việc dịch thuật, từ những tự điển trực tuyến đến bản dịch sơ thảo qua Google Translate – dù đa phần rất ngô nghê, buồn cười – tôi cũng nhờ bác ấy, giúp mình nhiều ý tưởng khá hay.

Nhưng phải biết cách hỏi, cách đặt câu hỏi, cách truy tầm, mới có được thông tin tốt. Đó là qua kinh nghiệm và thói quen khi làm việc với bác ấy. Lúc nào cũng phải nhớ câu GIGO (Garbage In, Garbage Out – Rác vào, rác ra), hỏi vớ vẩn sẽ được trả lời vớ vẩn. Và quan trọng nhất, ĐỪNG VỘI TIN THEO BÁC ẤY! Phải biết cân nhắc, lọc lựa, kiểm chứng, so sánh đối chiếu nhiều nguồn thông tin khác nhau.

Cũng đừng chủ quan, đừng bao giờ cho rằng nhận định, kết luận của mình là chân lý, là đúng, là chính xác 100%, không bao giờ thay đổi. Nên nhớ mình vẫn còn là một phàm phu tục tử, vẫn còn vô minh, vì thế, sự hiểu biết của mình – và các tri thức, thông tin bác Gờ cung cấp – chỉ là những hạt cát nhỏ bé trong sa mạc bao la.

Điều nầy rất quan trọng. Bây giờ người ta sống vội vã hời hợt, trong thời đại “mì ăn liền”, muốn có câu trả lời tức khắc, không chịu khó nhẫn nại suy tư, xét đoán. Nhận được thông tin nào đó, giải thích nào đó từ bác Gờ là thấy thỏa mãn, tự hào, tự kiêu, rồi cho mình là “học giả”, sao chép cắt dán các thông tin đó vào chỗ này chỗ kia, như thể một hành giả đã đắc đạo. Đây là một trong những căn bệnh của thời đại hôm nay.

*

Friday, 3 February 2017

Nguồn gốc tấm hình Đức Phật nổi tiếng của bác Phạm Kim Khánh

Ngoài tài năng dịch thuật, bác Phạm Kim Khánh (1921-2011) còn có tài chụp ảnh. Vào năm 1961, trong dự án xây dựng Thích Ca Phật Đài ở Vũng Tàu, Giáo hội Tăng già Nguyên thủy VN có đặt thiết kế một tượng Phật màu trắng, lộ thiên, cao 6 mét đặt trên tòa sen có đường kính 4 m, bệ cao 7 m, mà chúng ta thấy được ngày nay. Trước đó, một tượng mẫu nhỏ hơn, cao 1.2 m, được nhà điêu khắc Phúc Điền tạo ra để thỉnh ý chư Tăng.

Bác Khánh đến cơ xưởng của nhà điêu khắc để xem xét, và chụp một tấm hình của tượng mẫu này. Tấm hình được dùng làm bìa cho cuốn “Đức Phật và Phật Pháp” do bác dịch từ cuốn "The Buddha and his Teachings" của ngài Hòa thượng Narada. Từ đó, tấm hình trở nên nổi tiếng và quen thuộc với cộng đồng PG chúng ta, được nhiều Phật tử VN khắp nơi trên thế giới ưa thích, phóng to thành ảnh để tôn thờ Đức Phật

Tấm hình nầy đã được nhiều người vẽ lại, tô màu, thêm hào quang, in ra phổ biến khắp nơi để tôn thờ. Nhưng ngày nay hầu như ít ai biết được nguồn gốc xuất xứ của tấm hình.

*


*