Tuesday, 2 October 2018

Quán thân bất tịnh

QUÁN THÂN BẤT TỊNH
Mindfully Facing Disease and Death: Compassionate Advice from Early Buddhist Texts, Bhikkhu Anālayo (2017), pp 217-220

Và này, Ānanda thế nào là tưởng bất tịnh? Ở đây, này Ānanda, tỳ-khưu quán sát thân này từ bàn chân trở lên, từ đỉnh tóc trở xuống, được da bao bọc, đầy những vật bất tịnh sai biệt như: “Trong thân này có tóc, lông, móng, răng, da, thịt, dây gân, xương, tủy, thận, quả tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm (niêm dịch), mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mũi, nước ở khớp xương, nước tiểu.” Như vậy, vị ấy trú quán bất tịnh trong thân này. Này Ānanda, đây gọi là tưởng bất tịnh.
– Kinh Girimānanda (AN 10.60)

Thiền quán về bất tịnh tương ứng với các hướng dẫn về quán niệm các bộ phận của cơ thể như ghi trong bài kinh Lập Niệm (Satipaṭṭhāna-sutta, kinh Niệm Xứ, MN 10 và DN 22). Thông tin bổ sung được cung cấp bởi bài kinh này và bài kinh tương đương trong Trung A-hàm (MĀ 98) xuất phát từ minh họa thái độ thích hợp khi thực hiện bài tập này với ví dụ nhìn vào một thùng chứa các hạt ngũ cốc. Ngụ ý dường như là khi nhìn thấy những hạt ngũ cốc khác nhau, hành giả sẽ không cảm thấy bị thu hút về mặt tình dục, cũng giống như vậy, người ấy cần tu dưỡng một thái độ đối với cơ thể không có dính mắc tình dục. Để thoát khỏi nỗi ám ảnh với sự hấp dẫn tình dục của cơ thể, và tương quan của nó trong sự hấp dẫn tình dục của cơ thể của người khác, đôi khi nó có thể là một phương tiện khéo léo để nhấn mạnh những khía cạnh ít hấp dẫn và thậm chí ghê tởm của cơ thể. Tuy nhiên, điều này nên được thực hiện cẩn thận và với một mục đích tổng thể rõ ràng để đạt tới sự cân bằng của tự do không dính mắc, thay vì dẫn đến mất cân bằng vì ghê tởm quá mức.

Hướng dẫn cơ bản trong bản kinh Tây Tạng giới thiệu các bộ phận khác nhau của cơ thể rằng hành giả cần phải “suy nghiệm rõ ràng trên cơ thể này từ trên đầu đến lòng bàn chân, bao phủ bởi da, đầy các chất bất tịnh”. Bản kinh Pāli tương tự như vậy, khuyên rằng ta nên “kiểm tra cơ thể này từ lòng bàn chân đi lên và từ đầu tóc đi xuống, bao bọc bởi da và đầy các chất bất tịnh”.

Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc trau dồi nhận thức hiện tại, tôi đề nghị một phương pháp đơn giản. Đây là này dựa trên một đoạn trong kinh Tự Hoan Hỷ (Sampasādanīya-sutta, DN 28) và các bài kinh tương đương, mô tả một tiến trình thực hành, từ quán chiếu các bộ phận khác nhau của cơ thể đến quán chiếu xương, da và thịt (DN 28 và DĀ 18). Điều này ngụ ý rằng các bộ phận cơ thể được liệt kê trong kinh Sampasādanīya-sutta, tương ứng với danh sách liệt kê trong kinh Satipaṭṭhāna-sutta, có thể được gộp dưới ba tiêu đề:

- da,
- thịt,
- xương.

Sau khi đã quen thuộc với ba phần này, nếu muốn, hành giả có thể mở rộng phương thức quán chiếu đến từng bộ phận trong cơ thể như liệt kê trong bài kinh.

Để thực hành phương pháp đơn giản và tạo thành một kinh nghiệm trực tiếp, tôi đề nghị ta sử dụng phương cách quét và ghi nhận thân thể. Nhận thức thân thể trong tư thế ngồi như là điểm khởi đầu, tiếp theo là quét toàn thân, đặc biệt đối với da. Bắt đầu bằng da trên đầu, rồi chú tâm cảm nhận da ở vùng cổ, hai vai, v.v., dần dần xuống đến chân. Lúc đầu, có thể quét từng cánh tay và từng cánh chân riêng lẻ, nhưng cuối cùng có thể được thực hiện đồng thời cả hai tay rồi hai chân.

Sau khi hoàn tất quét phần da bọc cơ thể từ đầu đến chân, để duy trì tính liên tục, tiếp theo là chú tâm đến các phần thịt của cơ thể, kể cả các bộ phận bên trong, bắt đầu từ bàn chân và dần dần di chuyển lên đầu. Tiếp theo là quét lần thứ ba, chú tâm đến các phần xương từ đầu đến chân.

Trên thực tế, hành giả chỉ cần lưu ý đến vị trí của da, thịt, hoặc xương. Đôi khi hành giả tự nhiên một cảm giác trực tiếp hoặc cảm nhận về những bộ phận trong cơ thể. Tuy nhiên, cảm giác rõ ràng này không thật sự cần thiết, vì mục đích của bài tập không phải là để nuôi dưỡng sự nhạy cảm của cơ thể cho tới mức hành giả có thể cảm nhận là da hoặc xương, thịt của mình rõ ràng trên toàn bộ cơ thể. Nhận thức chung về các bộ phận tương ứng của cơ thể là đủ để thực hiện mục đích của nó. Mục đích này là để kết hợp một nền tảng của chánh niệm về thân với một nhận thức rõ ràng rằng cơ thể được tạo thành từ da, thịt, và xương. Nhận thức như vậy phải được kèm theo với sự hiểu biết rằng, tuy da, thịt, và xương là để duy trì sự sống cho cơ thể, tự bản thể của chúng không có gì là hấp dẫn trên phương diện tình dục.

Sau khi thực hiện ba lần quét thân thể như thế, tiếp tục hành thiền bằng cách nhận thức toàn thân nầy trong tư thế ngồi chỉ là do da, thịt và xương cấu tạo thành, là những gì tự nó không có tính hấp dẫn tình dục. Một dấu hiệu cho thấy việc hành thiền được thực hành đúng là hành giả có cảm giác ngày càng gia tăng của tự do khỏi sự dính mắc vào dục tính, cùng với việc nhận ra rằng toàn bộ mối quan tâm về hấp dẫn tình dục là sản phẩm của các suy tưởng trong tâm về những gì thật ra trên cơ bản có cùng tính chất như các loại ngũ cốc trong thùng chứa.

*
Trích Kinh Thân Hành Niệm (Kāyagatāsati Sutta, MN 119)

Lại nữa, này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đỉnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt: “Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu”. Này các tỳ-khưu, cũng như một bao đồ, hai đầu trống đựng đầy các loại hột như gạo, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo đã xay rồi. Một người có mắt, đổ các hột ấy ra và quán sát: “Ðây là hột gạo, đây là hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây là mè, đây là hột lúa đã xay rồi”. Cũng vậy, vị tỳ-khưu quán sát thân này dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt: “Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu”.

Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm và tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, là cách vị tỳ-khưu tu tập thân hành niệm.

*



Sunday, 23 September 2018

Nhạc Việt: Tiếng hát Julie, Mùa thu chết (1999)

Nhạc Việt: Tiếng hát Julie
Mùa thu chết, Tình ca Phạm Duy (1999)

Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps:

nviet51.zip – Julie – Mùa thu chết, Tình ca Phạm Duy (1999) (143 MB)
https://mega.nz/#!alBBXK7Y!aY-lP6D4sFHQFScF29lTPQsACKhp9o9xrqXEUY_IckE

*

Friday, 7 September 2018

Ajahn Khemavaro: The accidental monk

THE ACCIDENTAL MONK
Anne McLeod
Enlightened Times, Autumn 2011, Western Australia

For Paul Ngo, a Vietnamese-born American, the spiritual path leading to his ordination as a monk was “kind of accidental”. Having grown up in Los Angeles, the son of Vietnamese refugees, Paul left college with a degree in economics and a debt of $20,000. Needing a job that would pay, after having done a stint in Africa with the Peace Corp, he went into banking.

His work took him to Hong Kong and then onto Bangkok in the early 1990s just as the Asian economy was taking off. With English being the international language of finance and banking, Paul found it easy to get a job as a financial analyst with ING Barings, one of the top international brokerages in Thailand. But he found the pressure intense.

“As a stockbroker, my life revolved around information, a constant flow, sometimes a whirlwind, of information. A large part of the job is to be able to sift through the stream of information and determine which piece of news will have an impact on the stock market. There is a relentless search for the most updated news. By nine o’clock in the morning I would have read four newspapers, scanned the computers for news updates from Reuters and Bloomberg, and checked with the research department regarding recent company developments as well as broad economic and political trends.”

The momentum continued throughout the day in this adrenaline-fuelled environment. After work, he rushed to the gym for a quick workout, met up with friends and colleagues for drinks and then dinner. He would be out until about 10:30–11:00 p.m. two or three times during the week. Weekends were filled with brunches and lunches, dinners and clubs, he literally ran from one appointment to the next. Rarely would he be home before midnight. Often on weekends he took trips to Phuket, Chiang Mai, Hong Kong or Singapore. It was not uncommon to go to the airport from work on Friday night and come back to the office on Monday morning straight from the airport. “I was brought up with the motto: Work hard, play hard. Unfortunately, nobody told me about contentment.”

In spite of all the activities and options available to him, Paul began feeling bored and disenchanted with life. “Things started to slow down at work due to the economic recession. But regarding my personal life, I began to notice that no matter where I was or what I was doing, there was this undercurrent of boredom and existential anxiety. I would be at some ‘fabulous party’ or the ‘in’ club and then this feeling would come over me and I would look around and realise that everybody looked as lost as I was. They seemed to be trying to fill up their lives with the same type of material possessions: clothes and cars, and sensory diversions like going to restaurants and clubs and travelling to strange and exotic places, or self-annihilation through drugs and alcohol.”

The irony in such a ‘glamorous’ high-octane, life geared to success, was that everything resulted in boredom or, worse, oblivion. Most of the time Paul couldn’t remember what he did yesterday. He remembers thinking: “I got cheated somehow! I have done everything I am supposed to do. They all told me that if I worked hard, followed all the rules, and paid my dues, success would come, and with that, everlasting happiness. By all accounts, I am the poster-child of success. I am barely in my thirties, bringing home six-figure paychecks, dining at the best restaurants, taking holidays anywhere in the world and buying whatever I want. Yet I feel so bored and discontented. This is utterly, utterly unfair!!”

As a nine year-old, Paul’s family escaped Saigon just before the Communists took over in 1975. Because his mother had been working for the Americans the family was evacuated to the Philippines, then resettled in Los Angeles. The Catholic Church supported them with housing and schooling, but growing up as a refugee was still a struggle. Surrounded by conspicuous consumption, Paul idolised wealthy people assuming they must be happy. He thought he wasn’t happy because he was poor. Working in the finance industry made him realise that rich people still had their issues, they got stressed, paranoid, and no matter how much money they had, it was never enough.

In 1998 Asian economies suffered a dramatic crash. While continuing to make a good living, Paul found that he had more time on his hands than before. Curiosity led him to visit an American friend who was staying at a nearby Buddhist monastery. Arriving with a fairly cynical attitude, his first impression was not positive. There were Western kids sitting around, “a bunch of high school drop-outs and hippies that were kind of bumming around”. Paul reflected, “It’s a path about letting go but you have to have something first to let go of. It’s easy for you guys because you don’t have a job to let go of.”

One of the monks at the monastery, Phra Peter, was English, had written a couple of books on Buddhism, and could answer Paul’s questions. When he first heard some of the Buddha’s teachings, something resonated in Paul even though the concepts were all new to him, “It was as if he was expressing something deep inside my consciousness. The teachings on kamma and sila [morality] — if you do good then good things will happen to you and that your goodness will protect you from harm — these were teachings that I believed and have always tried to live by.”

Born into a Catholic family, Paul had become disillusioned with morality and its association with Christian Puritanism and self-righteousness. Buddhist morality seemed to have a different tone. He actually found the teachings on keeping precepts quite attractive, as something that you offer the world, not something demanded from above.

“Another appealing aspect of Buddhism I found is that we are responsible for our own enlightenment. The Buddha discovered the path to Nibbana [Nirvana] but it is up to each one of us to make the effort and walk down that path.”

The first time Phra Peter discussed the goal of Buddhism, which is to do good, refrain from doing evil and to purify oneself, “it felt so natural and familiar that I thought to myself, ‘If I were to verbalize the criteria or goal of my life, this would be it’.”

Phra Peter was teaching meditation and offered the training to Paul, but his natural skepticism surfaced again. “Growing up in Los Angeles, a place of never-ending new-age spiritual fads and fashion, I was prejudiced against meditation. I lumped it in with all that trendy stuff. My initial impression of meditation and yoga was that it was something for bored, rich corporate types to do before they visited their spiritual guru to have their aura examined,” he says sarcastically.

But Phra Peter engaged his interest by describing how, if you become good at meditation, you are able to see the future. “As a stockbroker, I was really interested now.” Motivated by monetary gain, he hoped to apply what he learned to stock analysis. “That weekend, I didn’t want to talk to my friend, I just wanted to focus on my breath.” During this meditation intensive Paul was trying to attain the kind of psychic powers that would help further his career but felt something at a deeper level.

Back at work, with not a lot happening, he decided that he would take a year off, do more meditation then go back to New York and ‘clean up’. “That was my motivation to join a monastery”, he recalls with some mirth.

With too many distractions in the city, Paul wanted a more conducive atmosphere for meditation. He transferred to a quieter monastery in the country. Although he was only one hour’s flight from Bangkok, his lifestyle as a stockbroker seemed worlds away. Coming from such a fast-paced and sensory-driven world to Wat Pah Nanachat, where the only sounds were from the swaying bamboo bushes and falling leaves, was a bit of a shock. Immediately he felt strong conflicting emotions.

“I remember feeling at times quite lost and ill at ease with the calm and stillness of monastery life. I can recall experiencing many mood swings during my first week.” He had his share of frustrations and disappointments dealing with the conditioned thoughts that sabotaged his progress, but overall, was attracted to the simple and peaceful life of the monastery. “And the structured environment of having scheduled activities throughout the day really appealed to me.”

At the end of most meditation sessions, he felt a refreshing sense of being calm and centered. Perceptions of his surroundings seemed to be enveloped in a mist of goodwill and gentility. “The irony was that in contrast to my blind pursuit of happiness and excitement in my lay life, which ended up in boredom and desperation, I was finding enthusiasm and contentment just sitting in my kuti [cottage] counting my breaths.”

At the end of the year, 1999, he was quite happy to return to the US and apply what he had learned to his stockbroker life and stock analysis. But after his first rains retreat, a time during the rainy season when monks and nuns stay inside the monastery for extended meditation, Paul was asked if he would like to come along to visit some revered, perhaps even enlightened, masters in their forest monasteries.

It was during this visit that Paul, somewhat cynically, thought he would test out a monk who had a reputation for psychic powers. Not understanding any of the Thai being spoken, he tried to communicate telepathically with the monk, “OK, if you know what I’m thinking, why don’t you show me?” So I closed my eyes. Suddenly I saw this dragon flying at me. In Hong Kong as a bored young stockbroker wanting to make a statement beneath his suited office uniform, Paul had had a dragon tattooed on his arm. “So I thought, OK, maybe he does have something”, he laughs. But more impressive was the vibration of loving kindness that emanated from these monks. The effect on Paul was deep and profound. “They were just so peaceful. Not super soft and fuzzy, but something solid, something otherworldly. I was very curious. They impressed me as having something I wanted to have, some quality I could aspire to.”

This was the inspiration for him to ordain for another five years and see what happened. “The thing is, it was never a long-term thing. I never thought, ‘Oh, I’ll never have another relationship, never have sex again’. I just thought ‘OK, I can do all this, one year at a time, till five years time.”

Worried that there might be some adverse physiological effects from staying celibate for so long, he asked some monks. They said, no, that they’d been celibate for sixty, seventy years and it wasn’t a problem. Paul couldn’t conceive of lasting that long without sex “In retrospect, my decision to commit to the five years of celibacy was quite fortuitous because a lot of people obsess about it, ‘Oh, I’m never going to do this again’, and they get very nervous about it. But if you say to your mind, ‘Well, you can do what you want in five years time’, then it’s no problem.”

He never thought he was giving up the world. Even now, he keeps the option open of returning to his old life but because things are going well, he’s happy where he is. “When I talk to my friends they’re doing the same thing, so the world is still sitting there, out there. If I really want to, I can pick it up anytime.”

At the Thai monastery, Paul heard some tapes by an English monk, Ajahn Brahm, the Abbott of Bodinyana monastery in Western Australia. This eventually led to Paul going to live there. In recalling his reasons for the move, he explains “Ajahn Brahm is special because his teaching is focused on deep absorption states. He set his monastery up in a way that encourages lots of meditation and not too many external duties. He does all the teaching and admin work. He encourages you to go back to your hut and meditate. That’s the main thing that impressed me.”

The other side was his teaching style that includes a lot of humour. “I’m not so thrilled about his jokes but he has a gift for communication. He says that’s how people learn, so, fair enough. They’re nice the first time you hear them but you hear them hundreds of times. “Oh here we go again!” he moans.  “When we complain that we’re bored, ‘Can you tell us new stories?’ he says, ‘No. I’ve only lived one life. How many stories can you get out of one life’?”

Despite the stale jokes, his meditation practice at Bodinyana gave Paul, now known as Ajahn Khemavaro, a way to achieve deep peace. From there, he says, it is possible to contemplate reality. “That’s when you’ll see clearly. And it depends upon your kammic inclination. Everybody has their own path and things to work on. It depends on whatever arises for you and you just work through that.”

Ajahn Khemavaro is speaking in the office of Wat Buddha Dhamma, an isolated forest monastery set in Dharug National Park north of the Hawkesbury River. The dragon tattoo features on an arm bare under his monk’s brown robes. His outgoing, assertive manner and American accent belie his shaven-haired Asian appearance.

The Wat was established in the 1970s. A photo album recounts its origins as an alternative Buddhist community founded by Sister Ayya Khema, a German nun and Bikkhu Khantipalo an Englishman. They were both highly respected, world-renowned authorities on Buddhism who attracted many people to live here. Khantipalo eventually disrobed and married, setting up as a lay teacher of meditation. Ayya Khema died in 1997.

Stressed professionals coming from Sydney and surrounding areas like Newcastle, appreciate the unique experience of being in the middle of a national park with no one else around. Access to the monastery is via Wiseman’s Ferry and a scenic drive along the Hawkesbury River. A turn-off onto a dirt road leads into a dramatic landscape and the opportunity to appreciate the natural world. The swooping flight across the road of a pair of rare red-tailed black cockatoos are reminders that civilisation and its environmental destruction have been left behind.

Just before the Wat, at Ten Mile Hollow, the road intersects with the historic Old Great North Road that features beautifully preserved examples of stonework bridges, the oldest in mainland Australia. It might be some consolation to the convicts who hauled the massive sandstone blocks and laboured in chains to construct this road, discarded before it was completed, to know that it now leads to a place of peace and renewal.

Taking a break from her job as a coordinator at Sydney West Area Health Service, Kerry Rogers* came to Wat Buddha Dhamma over New Years to participate in a six-day retreat. Enjoying the isolation and complete withdrawal from city life and the pressure of work, Kelly finds that practising mindfulness meditation brings her into the present moment. She’s not as distracted and more able to cope with whatever arises in her job. Asked if she really notices a difference, she is emphatic, “Oh, absolutely!”

Rachel Edwards is taking time off from working as weekend manager of a bookshop in Tasmania to get clarity about her life, career path and future direction. The incredible peace she finds here makes it hard to leave.

For Marie Delaney, her job as a social researcher and consultant to government means she is always thinking and planning, evaluating government programs. At this point in her life, she is taking the opportunity to rest and reflect. She’s happy not to access emails in the three months she is spending here.

In the early morning, they are drawn from their warm beds to meditate in the beautiful meditation hall, or ‘sala’, to give it its Thai name. This exotic structure stands in stark contrast to its environment of gnarled eucalypts, pink-skinned angophoras and xanthorrhoea grasstrees. Designed and constructed by a boat-builder, the interior ceiling beams evoke the upside-down frame of a longboat. As sunlight streams through the slatted windows the spacious modern building gleams with polished wood. At one end is a golden Buddha statue surrounded by flowers.

Locals Joan Opbroek and Ian Elton have come to an open day at the Wat to hear a talk by Ajahn Khemavaro and experience an introductory meditation session. They say that nearby residents in the McDonald Valley are mostly unaware of this Buddhist settlement, but the community is very accepting of alternative groups, with many in the area. Mia Letzbor, the ten-year-old daughter of St. Alban locals, Rebecca and Peter, thought the meditation was relaxing, and ‘pretty cool’. She says she’d even like to come back for a couple of months.

One long-term resident is Scott Ermer, a builder-carpenter renovating some of the original huts huddled amongst the sandstone cliffs designated for monks and nuns on retreat. Through mindfulness meditation, Scott found relief from the pain of arthritis that was driving him crazy. Born with a curvature of the spine, he developed an inflammatory arthritis (ankylosing spondylitis) that targets the joints of the spine. Causing himself greater problems through self-medicating with alcohol and drugs, Scott discovered that meditation gave him quite a bit of relief. To him, everyone is in some kind of physical or mental pain and meditation can help to relieve it. The practice has worked for him for 24 years.

With Ajahn Khemavaro in residence, Scott believes the future of the monastery is assured. “He has a talent for teaching and is very disciplined in his practice. He has all the qualities to guide people who want to experience the Buddha’s teachings.” Scott likes the lifestyle at the forest monastery. The schedule allows for plenty of meditation time as well as the opportunity to give service. People offer their skills in a variety of ways. Help in the kitchen is always required, as the resident monks need to be fed, as well as the guests.

Support comes from the Asian community in Sydney, particularly Cabramatta, where Ajahn Khemavaro visits once a month to do alms round. This traditional practice allows Buddhists to gain merit by giving to the monks. The Vietnamese appreciate his presence even though he can’t speak much of the language. When his family escaped Vietnam, they knew they would never be returning to live under a communist regime and focused on assimilating into an English-speaking society.

While Ajahn does not discourage the busloads of Asian Buddhists from visiting the monastery to give donations of food and seek his blessings, he would prefer to attract people interested in learning meditation.

Thu La is a Vietnamese woman from Sydney who loves to cook. The spring rolls she made are delicious and she readily shares the recipe. Along with the food and her family, she brings with her an atmosphere of joy. Thu La works for Australia Post sorting mail in a big facility employing more than a thousand people. She used to feel the job was too hard. Since starting to meditate, she is able to be more accepting and do the work without stress. She says, “When leader puts pressure on us for deadline, I don’t react, just do my best. Only have two hands!” For Thu La, knowing how to meditate makes life easier.

Ajahn Khemavaro offers a welcome to anyone wanting to learn meditation and gain the benefits of a calm mind. People who practise a different kind of meditation to the one taught here are able to continue practising it during their stay.

Born into the turmoil of war in Vietnam, then, as a refugee, growing up amongst the material excesses of California and becoming a world-traveller with his work in the high-pressure finance industry, Ajahn Khemavaro has now found sanctuary in the peace and serenity of this unique setting. When asked what he likes about it here, he reflects, “It’s just this spot. Everything is beautiful and perfect. I like the trees, the flowers, and the isolation is great.”

----------------------
For information regarding Wat Buddha Dhamma and the schedule of meditation retreats or to pay a casual visit, call (02) 43233193 or look on the website: www.wbd.org.au.

*Not her real name

*


Saturday, 18 August 2018

Đừng chấp thủ để tâm hồn thanh thản.

Đừng chấp thủ để tâm hồn thanh thản.

Đừng đau khổ khi gặp điều nghiệt ngã,
Đừng lạnh lùng khi sương gió chiều đông,
Đừng thở than khi họ đã thay lòng,
Đừng luyến tiếc những gì không còn nữa.

Đừng thù hận những người làm mình khổ,
Đừng phân bua với những chuyện thị phi,
Đừng bức xúc những chuyện chẳng ra chi,
Đừng bất mãn khi gặp nhiều chướng ngại.

Đừng lầm tưởng mọi điều không nhân quả,
Đừng quên rằng tất cả cũng duyên sinh,
Đừng để tâm nổi sóng gió bất bình,
Đừng chấp thủ để tâm hồn thanh thản.

Sư Thiện Minh (1969-2018)
(“Tu giữa đời thường”, trong “Theo dấu chân xưa”, tập 2, 2017)

---------------
Ghi thêm (19/08/2018):
Bây giờ đọc thêm 1 bài viết khác của Sư Thiện Minh, "Đừng hoang tưởng", mới biết Sư trích bài thơ của Tường Vân, Calìornia, phổ biến năm 2014:

Xin Đừng
Tường Vân 


Đừng phản cảm những lời vô ý thức
Đừng để lòng những bực tức vu vơ
Đừng bận tâm những thái độ hững hờ
Đừng sân giận những người hay gây sự

Đừng chua chát khi gặp điều thất bại
Đừng đắng cay khi duyên đã không còn
Đừng ngậm ngùi vì lời hứa sắt son
Đừng oán trách tình đời sao bạc trắng

Đừng đau khổ khi gặp điều nghiệt ngã
Đừng lạnh lùng như sương gió mùa đông
Đừng thở than khi họ đã thay lòng
Đừng luyến tiếc những gì không còn nữa

Đừng thù hận những người làm mình khổ
Đừng phân bua với những chuyện thị phi
Đừng bức xúc những việc chẳng ra chi
Đừng bất mãn khi gặp nhiều chướng ngại

Đừng lầm tưởng mọi điều không nhân quả
Đừng quên rằng tất cả cũng duyên sinh
Đừng để tâm nổi sóng gió bất bình
Đừng chấp thủ để tâm hồn thanh thản.

-- Bắc California ngày 26/12/2014
Nguồn: http://www.daophatngaynay.com/vn/van-hoc/tho/16558-xin-dung.html 

*




Friday, 17 August 2018

Nhìn trời đầy sao để thấy con người nhỏ bé.

Thấy hình chụp dải ngân hà (milky way) của một nhiếp ảnh gia ở Mỹ, tôi có vài suy tư, xin chia sẻ ở đây. Nhớ lại nhiều năm trước, có lần tôi đến tịnh tu vài ngày tại Tu viện Bodhinyana, Tây Úc. Ban đêm, bước ra ngoài nhìn lên trời, thấy cả một bầu trời đầy sao sáng như thế này, không một bóng mây. Tiếc rằng lúc đó không có máy ảnh để ghi lại, nhưng cũng tương tự như ảnh kèm theo đây.

Rồi bâng khuâng suy nghĩ. Như chúng ta đều biết, mỗi ngôi sao như thế là một mặt trời, đang cháy sáng. Chung quanh mỗi mặt trời (sun) là những hành tinh (planet), tạo thành một thái dương hệ (hệ mặt trời, solar system). Chúng ta đang ở trên trái đất nầy, là một hành tinh của một hệ mặt trời. Có vô số hệ mặt trời tương tự như thế.

Trong các hệ mặt trời của vũ trụ nầy, có thể có những hành tinh có đủ điều kiện sống – oxygen, nước, nhiệt độ, ánh sáng, v.v. – như trái đất của chúng ta, và như thế, ắt là có những chúng sinh tương tự như loài người chúng ta đang sinh sống ở đó. Có vô số ngôi sao nghĩa là vô số mặt trời, nghĩa là vô số hành tinh trái đất, nghĩa là vô số chúng sinh tương tự như loài người.

Như thế, vấn đề một ngày nào đó, trái đất nầy sẽ bị tiêu hoại là chuyện có thể xảy ra, nhưng không có gì là quan trọng, không đáng để quan tâm. Bởi vì nếu trái đất nầy có nổ tung, loài người ở đây có thể bị tiêu diệt, nhưng rồi các chúng sinh nầy sẽ tái sinh vào trái đất của các thái dương hệ khác, vẫn lẩn quẩn trong thế giới Ta-bà vô thủy vô chung, nếu chưa giác ngộ giải thoát.

Do đó, câu hỏi người ta thường đặt ra để thảo luận “Con người từ đâu đến, chết rồi sẽ đi về đâu?” cũng không đáng để bàn luận – nếu ta chấp nhận thuyết tái sinh và thông hiểu bản chất của vũ trụ với vô số hệ mặt trời.

Hơn nữa, khái niệm về vô số thái dương hệ trong vũ trụ giúp ta hiểu được do đâu dân số trên trái đất này càng ngày càng gia tăng, vì có thể chúng sinh ở các thái dương hệ khác được tái sinh về đây.

Ngay cả trên trái đất nầy, mình chỉ là một đơn vị nhỏ bé trong số 7 tỷ người đang sinh sống. Huống hồ gì khi nhìn vào vũ trụ bao la với vô số hành tinh trái đất! Mình không là gì cả, không có nghĩa lý gì cả. Sống hay chết, dù có làm được cái gì, cũng không quan trọng, cũng chẳng có tác động gì cả. Kiếp sống con người quá ngắn ngủi so với thời gian, không gian, và lịch sử biến động của vũ trụ.

Chẳng có gì là quan trọng. Tất cả đều là do cái tâm si mê, vô minh nầy khuấy động lên. Có lẽ điều quan trọng duy nhất là làm sao sống an vui, tĩnh lặng ngay bây giờ, trong giây phút nầy, tại nơi đây.

*

*
Dưới đây là ảnh của ông Taylor Yates‎, Perth Photography Group, chụp trong tháng 8-2018 tại Jarrahdale không cách xa Tu viện Bodhinyana. Rất giống cảnh tôi đã từng thấy 3 lần tại Tu viện trong đêm tối. 
*

Thursday, 2 August 2018

Nhạc Việt: Elvis Phương – Tình ca Phượng Hoàng I & II (1990)

Thân tặng những người bạn già của tôi, để nhớ lại thời nhạc trẻ Sài Gòn trong đầu thập niên 1970. Cũng xin mến tặng các bạn trẻ có cùng gu thưởng thức âm nhạc.

Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps:

nviet50.zip – Elvis Phương – Tình ca Phượng Hoàng I & II (1990) (245 MB)
https://mega.nz/#!TsQ1BYzT!6LiXwuSj1kCSUX4DCzgsjYhPaYuRz6krZem9w1ltbb8

*
Elvis Phương – Tình ca Phượng Hoàng I (1990)
01. Hãy Ngước Mặt Nhìn Đời (Lê Hựu Hà).
02. Yêu Em (Lê Hựu Hà)
03. Hợp Khúc 1 - Sống cho qua hôm nay, Phiên khúc mùa đông, Kho tàng của chúng ta
04. Nguyện Cầu (Nguyễn Trung Cang)
05. Giấc Mơ Qua (Nguyễn Trung Cang)
06. Hợp Khúc 2 - Tôi muốn, Yêu đời và yêu người, Thương nhau ngày mưa
07. Hãy Vui Lên Bạn Ơi (Lê Hựu Hà)
08. Huyền Thoại Người Con Gái (Lê Hựu Hà)
09. Hãy Nhìn Xuống Chân (Lê Hựu Hà)
10. Hợp Khúc 3 - Mặt trời đen, Đêm dài
*
Elvis Phương – Tình ca Phượng Hoàng II (1990)
01. Hãy Yêu Như Chưa Yêu Lần Nào - Lê Hựu Hà.
02. Vào Hạ - Lê Hựu Hà
03. Đêm Dài - Nguyễn Trung Cang
04. Đôi Khi Ta Muốn Khóc - Lê Hựu Hà
05. Tình Như Sương Khói - Nguyễn Trung Cang
06. Tình Nhân Loại Thú Thiên Nhiên - Nguyễn Trung Cang
07. Lời Người Điên - Lê Hựu Hà
08. Hát Về Cuộc Sống Hôm Nay Và Ngày Mail - Lê Hựu Hà
09. Hương Thừa - Nguyễn Trung Cang
10. Bài Hát Và Người Tuổi Trẻ - Lê Hựu Hà
11. Còn Nhìn Nhau Hôm Nay - Nguyễn Trung Cang
12. Xin Một Bóng Mát Bên Đường - Nguyễn Trung Cang

------------

Nhạc Việt: Tiếng hát Thụy Vân, Nụ Tầm Xuân – Ca khúc Phạm Duy (2018)

Tuy thuộc thế hệ ca sĩ trẻ, nhưng cô đã diễn tả xuất sắc các bản nhạc khó hát nhất của Phạm Duy.

Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps:

nviet49.zip – Tiếng hát Thụy Vân, Nụ Tầm Xuân – Ca khúc Phạm Duy (2018) (84 MB)
https://mega.nz/#!r0xwFSbL!kVa6lp4pMEZt3gL5TH4WRaA-BwF1W4RZ9ceQBAz58Kg

*
Thụy Vân (2018), Nụ tầm xuân - Tuyệt phẩm Phạm Duy

01 Viễn du
02 Quê nghèo
03 Nụ tầm xuân
04 Chiều về trên sông
05 Nương chiều
06 Gánh lúa
07 Đưa em tìm động hoa vàng
08 Tình hoài hương
----------------

Tuesday, 31 July 2018

Nhạc Việt: Tiếng hát Ánh Tuyết, Đi tìm (2005)

Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps:

nviet48.zip – Tiếng hát Ánh Tuyết, Đi tìm (2005) (113 MB)
=> https://mega.nz/#!jp5X1BRK!Ly6phUJl3garBxMCZPfEexlW1W45bMc7XgGC555rGPE

*
Ánh Tuyết - Đi Tìm (2005)

1 Vết Lăn Trầm (Trịnh Công Sơn) - Ánh Tuyết
2 Xóm Đêm (Phạm Đình Chương) - Ánh Tuyết
3 Những Phút Giây Qua (Quốc Trường) - Ánh Tuyết
4 Trở Về Bến Mơ (Ngọc Bích) - Ánh Tuyết
5 Mùa Thu Cánh Nâu (Nguyễn Ánh 9) - Ánh Tuyết
6 Đi Tìm (Trần Dũng) - Ánh Tuyết
7 Hãy Khóc Đi Em (Trịnh Công Sơn) - Ánh Tuyết
8 Lời Chim (Trần Dũng) - Ánh Tuyết
9 Buồn Ơi Chào Mi (Nguyễn Ánh 9) - Ánh Tuyết
---------------

Friday, 20 July 2018

Nhạc Việt: Tiếng hát Quỳnh Lan, Hoài Cảm (2008)

Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps:

nviet47.zip – Tiếng hát Quỳnh Lan, Hoài Cảm (2008) (120 MB)
=> https://mega.nz/#!G9ZC0aIC!ftJ2ZfeSzlwWAmjeFkbdsXzMxw7iTCoKbX8v7gzO3QM

*
Quỳnh Lan - Hoài Cảm (Sài Gòn Audio, 2008)

01. Ảo ảnh (Y Vân)
02. Hoài Cảm (Cung Tiến)
03. Xin một ngày mai có nhau (Đức Huy)
04. Mưa đêm (Thanh Liêm)
05. Đừng xa em đêm nay (Đức Huy)
06. Yêu (Văn Phụng & Y Vân)
07. Đường xa ướt mưa (ĐứC Huy)
08. Cỏ úa (Lam Phương)
09. Mưa (Văn Phụng)
10. Gió mùa xuân tới (Hoàng Trọng)
11. Và con tim đã vui trở lại (Đức Huy)
----------------------------------------

Sunday, 15 July 2018

Nhạc Việt: Tiếng hát Thái Hiền - Màu thời gian, Tình khúc Phạm Duy

Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps:

nviet46.zip – Thái Hiền, Màu thời gian – Tk Phạm Duy (103 MB)
https://mega.nz/#!f44TnDRI!w1-Cw-mUN7OkNe5SL0LTvaPI1X-a2EArJmMoRUUwuBE
*
Thái Hiền - Màu thời gian, Tình khúc Phạm Duy

01 Nghìn trùng xa cách
02 Kỉ niệm
03 Huyền thoại một vùng biển - thơ Thái Phương Thu
04 Bê ni bên nớ - thơ Cung Trầm Tưởng
05 Yêu là chết ở trong lòng
06 Đừng bỏ em một mình - thơ Minh Đức Hoài Trinh
07 Yêu tinh tình nữ
08 Phượng yêu
09 Khối tình Trương Chi
10 Cành hoa trắng
11 Hẹn hò
12 Màu thời gian - thơ Đoàn Phú Tứ
13 Đưa em tìm động hoa vàng - thơ Phạm Thiên Thư
14 Pháp thân - thơ Phạm Thiên Thư
15 Làm sao mà quên được
----------------------------

Saturday, 14 July 2018

Nhạc Việt: Tiếng hát Thái Hiền - Hoa thương nhớ ai, Tình khúc Phạm Duy (1982)

Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps:

nviet45.zip – Thái Hiền, Hoa thương nhớ ai – Tk Phạm Duy (1982) (132 MB)
https://mega.nz/#!ewRlkCiD!FX8gx1qvwW70tJXjYjd04SSKdo7DBogyIxfl5ZV6hr0

*
Tiếng hát Thái Hiền - Hoa thương nhớ ai, Tk Phạm Duy (1982)

01 Hoa Thương Nhớ Ai, 1959
02 Ngày Đó Chúng Mình, 1959
03 Ngày xưa Hoàng Thị, 1971 (Thơ: Phạm Thiên Thư)
04 Hẹn Hò, 1954
05 Tìm Nhau, 1957
06 Tóc Mai Sợi Vắn Sợi Dài, 1969
07 Tôi Đang Mơ Giấc Mộng Dài, 1967
08 Đường Em Đi, 1959
09 Mùa Xuân Yêu Em, 1965 (Thơ: Đỗ Quý Toàn)
10 Còn Gì Nữa Đâu, 1960
11 Cỏ Hồng, 1970
12 Em Lễ Chùa Này, 1972 (Thơ: Phạm Thiên Thư)
-----------------------------------------------


Friday, 13 July 2018

Nhạc Việt: Tiếng hát Thái Hiền, Từ đó khôn nguôi (2013)

Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps.

nviet44.zip – Thái Hiền, Từ đó khôn nguôi, 2013 (115 MB)
https://mega.nz/#!Lk5RlQJK!SitpmREnQ2bDH9SBNY95SrIhamRl-PA1-Vn9UuKkgzM

*
Thái Hiền - Từ đó khôn nguôi (PNF, 2013)

01. Tháng 6 trời mưa - Nhạc: Hoàng Thanh Tâm - Thơ: Nguyên Sa
02. Tuổi 13 - Nhạc: Ngô Thụy Miên - Thơ: Nguyên Sa
03. Tôi ru em ngủ - Nhạc: Trịnh Công Sơn
04. Ru ta ngậm ngùi - Nhạc: Trịnh Công Sơn
05. Tình khúc tháng 6 - Nhạc: Ngô Thụy Miên - Thơ: Nguyên Sa
06. Từ đó khôn nguôi - Nhạc: Tuấn Khanh
07. Nhìn những mùa thu đi - Nhạc: Trịnh Công Sơn
08. Ru em từng ngón xuân nồng - Nhạc: Trịnh Công Sơn
09. Tóc mây - Nhạc: Văn Phụng
10. Tưởng rằng đã quên - Nhạc: Trịnh Công Sơn
-----------------


Nhạc Pháp: DW's French Collection, 5 volumes

Nhạc Pháp: DW's French Collection, 5 volumes
(Diễn đàn hdvietnam.com)

Mời nghe các bản nhạc Pháp của thời học trò xa xưa ...
Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps.

nqt02.zip – DW’s French collection, vol 1 (104 MB)
https://mega.nz/#!Cpx3DKpb!aXN0V8leTotDI-nJ67HCCVgB8uiN9pgo7Evd-R4bu8M

nqt03.zip – DW’s French collection, vol 2 (106 MB)
https://mega.nz/#!z05XUJbC!WW3gxqwjF5-nXoz3yqU3dkL8VxZgW_VYioj-rV5Adj8

nqt18.zip – DW’s French collection, vol 3 (107 MB)
https://mega.nz/#!60ZjSAoQ!3POCN1xLnf-VKQET6G3heaUzczyRAxO597-dYLpIoSM

nqt19.zip – DW’s French collection, vol 4 (99 MB)
https://mega.nz/#!KpA3HQqC!IPWEy536v107drPViwDVNDy2LaTb0lyNNmrSRg2oJkg

nqt20.zip – DW’s French collection, vol 5 (107 MB)
https://mega.nz/#!ukZ1gKhJ!6F35x_zV4mt_-xGIMzWfGTqi8H3_9PAQBm98ZxOASGI

*

Devil_Woman's French Collection (2016)
www.hdvietnam.com

DW's French, Vol.01
02. Main Dans La Main (Christophe) - 1972
03. Tous Les Garcons Et Les Filles (Francoise Hardy) - 1962
04. Sous Le Vent (Garou & Celine Dion) - 2000
05. Ce Train Qui S'en Va (Helene) - 1989
06. Capri C'est Fini (Herve Vilard) - 1965
07. La Derniere Valse (Mireille Mathieu) - 1967
08. Un Ocean De Caresses (Art Sullivan) - 1974
09. Paraplues De Cherbourg (Michel Legrand) - 1974
10. Rappelle-Toi Candy (Jean-Francois Michael) - 1984
11. Poupee De Cire, Poupee De Son (France Gall) - 1965
12. Nue Comme La Mer (Christophe) - 1972
13. Pendant Les Vacances (Sheila) - 1963
14. Ensemble (Art Sullivan) - 1971
15. Compagnon Disparu (Enrico Macias) - 1962
16. Quelque Chose La Danse Mon Coeur (Elsa) - 1987
17. Siffler Sur La Colline (Joe Dassin) - 1968

DW's French, Vol.02
02. Sans Toi (Art Sullivan) - 1974
03. Porque Te Vas (Jeanette) - 1976
04. Si L'amour Existe Encore (Jean-Francois Michael) - 1974
05. Jamais Assez Loin (Isabelle Boulay) - 2000
06. Oh! Mon Amour (Christophe) - 1972
07. Ton Meilleur Ami (Francoise Hardy) - 1962
08. L'amour C'est Pour Rien (Enrico Macias) - 1964
09. Pendant Que Les Champs Brulent (Niagara) - 1990
10. Holidays (Paul Mauriat) - 1972
11. Sonia (Patrick Juvet) - 1973
12. Bang Bang (Sheila) - 1966
13. Noir C'est Noir (Johnny Hallyday) - 1966
14. Avant De Nous Dire Adieu (Jeane Manson) - 1976
15. Le Geant De Papier (Jean-Jacquer Lafont) - 1985
16. Le Temps Des Fleurs (Dalida) - 1968
17. Et Si Tu N'existais Pas (Joe Dassin) - 1975

DW's French, Vol.03
02. Revoir (Art Sullivan) - 1974
03. Peut Etre Qu'en Septembre (Helene Rolles) - 1992
04. Sans Toi Mamie (Salvatore Adamo) - 1963
05. Adios Amor (Sheila) - 1967
06. Mal (Christophe) - 1971
07. Si T'as Pas Compris (Veronique Jannot) - 1988
08. Tu T'en Vas (Alain Barriere & Noelle Cordier) - 1974
09. Apres Toi (Paul Mauriat) - 1972
10. Rien Qu'une Larme (Mike Brant) - 1972
11. La Plus Belle Pour Aller Danser (Sylvie Vartan) - 1964
12. Holidays (Michel Polnareff) - 1972
13. Le Temps De L'amour (Francoise Hardy) - 1962
14. La Plage Aux Romantiques (Pascal Danel) - 1966
15. Je N'ai Rien Appris (Marie Laforet) - 1969
16. La Femme De Mon Ami (Enrico Macias) - 1963
17. Tu Te Reconnaitras (Anne Marie David) - 1973

DW's French, Vol.04
02. Une Larme Aux Nuages (Salvatore Adamo) - 1967
03. Le Premier Bonheur Du Jour (Francoise Hardy) - 1963
04. Aline (Christophe) - 1965
05. Je Suis Venue A Paris (Helene Rolles) - 1992
06. Au Meme Endroit A La Meme Heure (Patrick Juvet) - 1972
07. Je T'aime... Moi Non Plus (Jane Birkin & Serge Gainsbourg) - 1969
08. A Toi (Joe Dassin) - 1976
09. Laisse-Moi Vivre Ma Vie (Paul Mauriat) - 1973
10. Adieu Jolie Candy (Jean-Francois Michael) - 1969
11. Jour De Neige (Elsa) - 1988
12. Comme J'ai Toujours Envie D'aimer (Marc Hamilton) - 1970
13. En Ecoutant La Pluie (Sylvie Vartan) - 1963
14. Et Si Tu Pars (Art Sullivan) - 1976
15. Viens, Viens (Marie Laforet) - 1973
16. Tout Donne, Tout Repris (Mike Brant) - 1973
17. Le Matin Sur La Riviere (Eve Brenner) - 1976

DW's French, Vol.05
02. Maman (Christophe) - 1967
03. La Declaration D'amour (France Gall) - 1974
04. Toi Mon Amour (Marc Lavoine) - 2005
05. La Maritza (Sylvie Vartan) - 1968
06. La Nuit (Salvatore Adamo) - 1964
07. Poupee De Porcelaine (Sheila) - 1972
08. Solenzara (Enrico Macia) - 1966
09. La Chanson Pour Anna (Paul Mauriat) - 1988
10. Au Jardin D'alice (Patrick Juvet) - 1973
11. Apres Toi (Vicky Leandros) - 1972
12. Salut (Joe Dassin) - 1975
13. Ouragan (Stephanie) - 1986
14. Laisse-Moi Vivre Ma Vie (Frederic Francois) - 1972
15. Pour L'Amour D'Un Garcon (Helene Rolles) - 1992
16. Elle Etait Si Jolie (Alain Barriere) - 1963
17. Suspens (Jeanne Mas) - 1985
-----------------------------------


Tuesday, 10 July 2018

Kinh Kālāma và tiến trình lọc nước - Chuyện bây giờ mới kể.

Kinh Kālāma và tiến trình lọc nước
Chuyện bây giờ mới kể

Hôm nay trong trang Facebook của tôi có một bạn nhắc đến bài giảng kinh Kālāma của ngài Tỳ-khưu Bodhi mà tôi đã dịch và phổ biến nhiều năm trước. Bỗng nhiên tôi nhớ đến câu chuyện lần đầu tiên tôi biết đến bài kinh nầy không phải qua các tài liệu Phật học mà là qua một bài tham luận khoa học hơn 45 năm trước.

Lúc ấy, tôi làm một luận án thạc sĩ tại Thái Lan về đề tài lọc nước sông qua tiến trình than anthracite và cát để cung cấp nước sinh hoạt cho thành phố. Lý thuyết về tiến trình nầy đa phần dựa trên các bài tham luận của Giáo sư Kenneth James Ives (1926-2009), Đại học University College London, Anh quốc. Giáo sư là một trong những người tiền phong thiết lập các công thức tính toán để khảo sát, điều tra và thiết kế các đơn vị lọc nước dùng than và cát. Trong một bài tham luận, Giáo sư Ives trích lời Phật dạy trong kinh Kālāma với ngụ ý khuyên chúng tôi, những nghiên cứu sinh, không nên vội tin theo những gì mà người đi trước đã làm và viết ra, mà phải biết suy xét, thẩm nghiệm, kiểm chứng qua những công thức tính toán và qua các dàn máy thử nghiệm với các nguồn nước tại địa phương, rồi mới bắt tay vào việc thiết kế và xây dựng các đơn vị điều hành với quy mô lớn.

Tôi rất ấn tượng với lời khuyên đó, và đây cũng là lần đầu tiên tôi được đọc lời dạy của Đức Phật trích từ kinh điển nguyên thủy. Ngạc nhiên hơn nữa, lời dạy đó được trích dẫn bởi một vị giáo sư phương Tây trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật.

Nhưng rồi, do nhiều chướng duyên, tôi lại quên đi, chỉ lo đeo đuổi chuyện thời cuộc đổi thay, cho mãi đến 5 năm sau, khi đến định cư tại Úc và có dịp gần gũi chư Tăng Ni cùng bạn đạo tại Perth, Tây Úc, tôi mới có dịp thật sự tu tập và tìm hiểu các nguồn kinh điển nguyên thủy của đạo Phật.

*

Có lẽ đa số chúng ta đã quen thuộc hay được nghe, đọc người khác trích dẫn vài đoạn của bài kinh nầy. Theo tôi, chúng ta cũng nên tìm đọc bài giảng luận của Tỳ-khưu Bodhi để hiểu rõ thêm về ý nghĩa của bài kinh, tại các links sau đây:

VỀ BÀI KINH KĀLĀMA.
Tỳ khưu Bodhi (Bình Anson lược dịch)


1) https://budsas.blogspot.com/2015/07/ve-bai-kinh-kalama.html
hay:
2) http://budsas.net/uni/u-vbud/vbkin224.htm

*

Monday, 2 July 2018

Đọc kinh sách: Bánh ngọt và kem đường

Bánh ngọt và kem đường

Chúng ta thường có khuynh hướng đọc, nghe theo các giảng luận của các tác giả đương thời mà ít khi chịu khó tìm đọc kinh điển nguyên thủy (tạng Nikāya và tạng A-hàm). Cũng như thể ăn bánh mà chỉ biết thưởng thức phần kem đường trên mặt, không biết hay không quan tâm thưởng thức phần bánh bên dưới. Phần kem đường đó chỉ là để trang trí cho đẹp hoặc phụ vào để ăn cho đỡ ngán. Ngon, ngọt, béo nhưng nếu ăn nhiều quá thì e không tốt cho sức khỏe.

Thỉnh thoảng, người ta có thể cho thêm vào vài lớp kem bên trong nhưng mình nên cẩn thận, đừng để nó che lấp hương vị thật sự của cái bánh. Mà cũng phải ăn cái bánh để biết nó thật sự ngon hay dở, chứ không phải trang trí cái bánh với bông hoa màu mè rườm rà rồi chụp hình để khoe với bạn bè.

Xin chia sẻ vài ý tưởng vụn vặt cho vui vào buổi tối Thứ Bảy.

*
Bàn thêm cho vui:

Bây giờ mình già rồi, cứ mỗi sáu tháng là đến gặp bác sĩ gia đình để kiểm tra sức khỏe. Bà bác sĩ rất chu đáo. Trước ngày đến khám là nhân viên phòng mạch gửi giấy đến nhà để nhắc mình đi thử nước tiếu và thử máu. Kết quả cũng khả quan, nhưng lúc nào bác sĩ cũng nhắc nhở phải cẩn thận trong ăn uống, đừng để lượng đường và lượng mỡ gia tăng trong máu. Vì thế, bây giờ mỗi khi ăn bánh, tôi thường gạt bỏ lớp kem đường, hoặc chỉ chừa lại chút ít cho có hương vị.

Việc đọc kinh sách cũng thế. Bây giờ, tôi có khuynh hướng đọc kinh nhiều hơn, các bản dịch tiếng Việt và tiếng Anh. Nếu có đọc thêm sách, tôi không đọc các sách biên tập từ các bài thuyết giảng ngẫu hứng. Tôi thường đọc những sách biên soạn nghiêm túc, có trích dẫn kinh điển rõ ràng và chính xác, để tôi có thể tìm đọc đối chiếu, tìm hiểu thêm về các đoạn kinh đó.

Còn người khác như thế nào thì tôi không dám lạm bàn. Mỗi người có hoàn cảnh, nghiệp duyên khác nhau. Sự tu học và đọc kinh sách của mỗi cá nhân cũng linh động uyển chuyển thay đổi theo thời gian. Không ai giống ai.


Bình Anson
Perth, 30/06/2018


*---*

Friday, 29 June 2018

Quê xưa chốn cũ

Quê xưa chốn cũ
Wat Yai Chai Mongkhol (วัดใหญ่ชัยมงคล)
Ayutthaya, Thailand.

Lần đầu tiên tôi đến viếng cố đô Ayutthaya là vào cuối năm 1973 khi còn là một sinh viên. Ban đại diện sinh viên tổ chức một chuyến đi tham quan du khảo đến khu di tích lịch sử nầy. Tôi đã đứng tại đây, quan sát và rất ấn tượng.

Sau nhiều năm sống ở xứ Úc, tôi hầu như quên hết các hình ảnh về Ayutthaya, ngoại trừ cảnh tượng nầy vẫn ăn sâu trong tâm thức. Trong 15 năm qua, tôi có dịp trở lại viếng Ayutthaya thêm ba lần nữa, lần nào cũng tới đây, ngay tại chỗ nầy, lặng lẽ đứng ngắm qua góc nhìn nầy. Lòng hân hoan vui mừng rất khó diễn tả. Như thể một người đi xa nay trở lại nơi quen thuộc gần gũi, quê xưa chốn cũ của mình.

Có lẽ mình đã từng sống ở đây trong một kiếp xa xưa nào đó. Nào ai biết được!

Wat Yai Chai Mongkhol (Binh Anson, March 2017)

Sunday, 24 June 2018

Một cuộc hội ngộ bất ngờ

MỘT CUỘC HỘI NGỘ BẤT NGỜ
Hòa thượng Henepola Gunaratana
(Bình Anson lược dịch)

Trong những xã hội mà đa số mọi người tin vào tái sinh, người lớn đặc biệt chú ý đến những đứa trẻ có khả năng nói nhiều điều về đời sống trong các kiếp trước. Trí nhớ của những đứa trẻ có kỹ năng và khả năng đặc biệt — những loại trí nhớ vượt quá mức độ thông thường của đứa trẻ, chẳng hạn như cuốn băng tụng kinh mà tôi đã nghe cách đây hơn bốn mươi năm – chỉ vào thực tế tâm linh của sự tái sinh.

Tôi biết đến cuốn băng đó khi tôi ở chùa Phật giáo Washington (Washington Buddhist Vihāra) từ năm 1968 đến 1988, ngôi chùa Phật giáo Theravāda đầu tiên ở Hoa Kỳ. Một ngày vào đầu thập niên 1970, một người nào đó đưa cho tôi một băng cassette và nói: “Xin Sư thử nghe băng này.” Tôi lắng nghe âm thanh ngọt ngào của một đứa trẻ tụng kinh Pāli. Tiếng phát âm Pāli của bé rất rõ ràng. Phong cách tụng kinh rất độc đáo – tôi chưa bao giờ nghe kiểu tụng kinh như thế. Tôi sao chép cuốn băng nầy và chia sẻ với nhiều người khác. Mọi người đều xúc động sâu sắc khi lắng nghe lời tụng kinh của đứa trẻ. Cuối cùng, tôi quyết định tìm gặp đứa trẻ này.

Năm 1985, tôi ghé lại ở Sri Lanka trên đường đến nước Úc. Khi ở Sri Lanka, tôi liên lạc với một người bạn, nói với anh ấy rằng tôi có nghe băng tụng kinh của đứa trẻ, và hỏi anh ấy tôi có thể tìm thấy đứa trẻ nầy ở đâu. Bản thân anh ấy cũng không biết, nhưng anh đưa tôi đến gặp Tỳ-khưu Panadure Ariyadhamma, rất nổi tiếng vào lúc đó về tụng kinh lễ Bodhipūja. Sau khi gặp gỡ trò chuyện, tôi hỏi ngài có biết nơi ở của đứa trẻ này không. Ngài đưa cho tôi một địa chỉ ở đâu đó trong thành phố Kandy. Được một người bạn khác lái xe đưa đi, tôi đã đi đến địa chỉ đó nhưng không ai biết gì về đứa trẻ. Tôi đã thực hiện ba chuyến đi như thế, từ Colombo đến Kandy, tìm kiếm đứa trẻ này. Lần nào những người ở đó cũng bảo rằng không ai biết đứa trẻ ở đâu.

Từ bỏ việc tìm kiếm, tôi lên đường đến nước Úc, điểm dừng chân tiếp theo của tôi, để có các buổi thuyết giảng và hướng dẫn hành thiền. Một ngày nọ, cô Elizabeth Gorski [1] lái xe cùng với hai người bạn Phật tử – một nam, một nữ – đến đón tôi ở Sydney để đưa đến thiền lâm Wat Buddhadhamma ở Wiseman Ferry, cách đó khoảng hai giờ lái xe. Trên đường đi, tôi hỏi cô Gorski đã từng nghe băng kinh tụng Pāli của một đứa trẻ ở Sri Lanka hay không. Khi cô ấy trả lời đã từng nghe, tôi hỏi cô ấy đã gặp đứa trẻ đó chưa.

“Vâng, bạch Sư, con đã gặp rồi,” cô ấy trả lời.

“Khi tôi đến Sri Lanka, tôi đã ba lần đi đến một địa chỉ mà người ta đã cho tôi để tìm gặp đứa trẻ ấy, mà không thành công gì cả. Cô có biết anh ấy hiện đang ở đâu không?”

“Bạch Sư, Sư đang ngồi cạnh anh ta ngay bây giờ trong xe nầy!” Đó là câu trả lời của cô ấy.

Người thanh niên trẻ ngồi chung với tôi trên ghế sau trong xe là Dhammaruwan, người đã tụng những bài kinh Pāli trong cuốn băng cassette khi còn là một đứa trẻ nhỏ. Tôi quay sang anh ta và hỏi tại sao anh không nói chuyện với tôi suốt thời gian đó. Anh ấy trả lời: “Vì con không có gì để nói, nên con không nói.”

Người thanh niên này đã kể cho tôi biết những hồi ức của chính anh về tái sinh [2]. Mặc dù tôi đã gặp một số người có ký ức về tiền kiếp, đây là lần đầu tiên tôi gặp một người có thể cho tôi những thông tin rất sống động và chi tiết về tiền kiếp của chính mình. Đây là cuộc gặp gỡ đầu tiên của tôi với anh ấy. Kể từ đó, anh ấy đều đến Úc mỗi lần tôi đến nước đó để hoằng pháp. Anh ấy cũng đã nhiều lần đến viếng Trung tâm Thiền và Tu viện Bhāvanā ở bang West Virginia, Hoa Kỳ. Trong chuyến viếng thăm gần đây, anh ấy ngỏ ý xin xuất gia. Tôi tổ chức xuất gia cho anh ấy vào ngày 10 tháng Tư năm 2016, và đặt cho pháp danh là Samādhikusala (Định Thiện).

GHI CHÚ:
[1] Về sau, bà Elizabeth Gorski là một trong bốn vị nữ Phật tử xuất gia tỳ-khưu-ni đầu tiên tại Úc vào năm 2009, với pháp danh Nirodha. Hiện nay, Tỳ-khưu-ni Nirodha là vị trụ trì Tu viện Santi ở bang New South Wales, Úc.

[2] Như ghi trong cuốn “Rebirth in early Buddhism and current research” (Tái sinh trong Phật giáo Sơ kỳ và Nghiên cứu Hiện nay) của Bhikkhu Anālayo (2018), Dhammaruwan sinh năm 1968 tai Kandy, Sri Lanka, khi còn là một cậu bé đã biết tự tụng kinh Pali và ngồi thiền không ai hướng dẫn, nhớ lại tiền kiếp là một đệ tử của ngài Luận sư Buddhaghosa, pháp danh là Mudithagosa, theo ngài từ Ấn Độ sang hoằng pháp ở Sri Lanka. Về sau, khi lớn lên, ông là cư sĩ thiền sư. Xuất gia sa-di với ngài Hoà thượng Henepola Gunaratana tại Hoa Kỳ năm 2016 và thọ đại giới tại Sri Lanka năm 2017, pháp danh Samadhikusalo (Định Thiện).

* Có thể nghe Dhammaruwan tụng bài kinh Girimananda lúc 6 tuổi:
https://www.youtube.com/watch?v=3hP18KsTctI

*---*---*

Thêm vài thông tin cho những ai quan tâm.

Về các bản kinh tụng của Dhammaruwan
Hòa thượng Henepola Gunaratana

Dhammaruwan sinh ra trong một ngôi làng nhỏ gần thành phố Kandy, Sri Lanka vào tháng 11 năm 1968. Từ khoảng năm hai tuổi, trước khi biết đọc hoặc biết viết, cậu bé bắt đầu tụng những bài kinh bằng tiếng Pāli nguyên thủy, chỉ có một số ít các vị tu sĩ học giả biết đến. Mỗi ngày, vào khoảng hai giờ sáng, sau khi ngồi hành thiền với cha nuôi – là một Phật tử thuần thành – trong khoảng từ hai mươi đến bốn mươi phút, cậu bé tự động cất tiếng tụng kinh không ai nhắc bảo. Thỉnh thoảng vào những ngày bố-tát hoặc ngày lễ theo âm lịch, cậu bé có thể tụng kinh suốt hai giờ đồng hồ.

Cha nuôi của Dhammaruwan thu âm các bài tụng đó bằng một máy casette xách tay và mời một vị sư học giả có uy tín lắng nghe. Nhà sư xác nhận đó thực sự là tiếng Pāli cổ xưa và cậu bé tụng kinh theo một phong cách xa xưa mà ngày nay không còn tồn tại nữa. Năm lên ba tuổi, cậu bé bắt đầu tụng một câu nào đó của bài kinh Chuyển Pháp Luân. Kể từ ngày hôm đó, cậu tụng các bài kinh trong kinh tạng Pāli với rất ít sai lầm. Phong cách tụng kinh là đặc biệt của riêng cậu bé, không tìm thấy ở nơi nào khác.

Khi cậu bé lớn lên và có thể nói được nhiều hơn, cậu cho biết đã được học cách tụng kinh đặc biệt đó ở đâu và làm cách nào cậu có thể tụng những bài kinh phức tạp mà ngay cả những người lớn cũng thấy khó khăn để tụng một cách chính xác. Cậu bé cho biết vào thế kỷ thứ 5 Tây lịch, cậu là một nhà sư cùng với vài vị tu sĩ khác đi theo ngài Luận sư Buddhagosa từ Ấn Độ sang Sri Lanka. Nhà sư có pháp danh là Mudithagosa, cùng với các vị tu sĩ khác đã thuộc làu một phần hay toàn bộ Tam Tạng. Do trí nhớ thuộc làu ấy, cậu có thể tụng lại các bài kinh khi hồi tưởng lại kiếp sống đó. Khả năng nhớ và tụng các bài kinh được duy trì cho đến năm 10 tuổi rồi bắt đầu suy giảm. Bản kinh tụng được thu âm sớm nhất là vào lúc cậu bé được ba tuổi.

*---*---*


Friday, 22 June 2018

Thường nghiệp (āciṇṇa-kamma)

THƯỜNG NGHIỆP (āciṇṇa-kamma)

Trưa nay đi bơi, bồng bềnh trên mặt nước, tôi bỗng nghĩ đến bài viết của Bhikkhu Anālayo về tâm hoài nghi (vicikicchā) mà tôi vừa dịch xong, trong đó ngài đề cập đến một cách đối trị hoài nghi là phải có trạch pháp (dhammavijaya), biết lắng nghe và suy tư về Pháp. Ngài cũng đề cập đến một lợi ích khác của việc tìm đến, chăm chú lắng nghe Pháp là: “… Người nào quen nghe Pháp trong kiếp nầy sẽ tiếp tục hưởng được lợi ích cho cuộc sống trong các kiếp sau, bởi vì người ấy sẽ dễ dàng tiếp nhận nếu có dịp được nghe Pháp mà không do dự, cũng giống như những ai đã từng nghe âm thanh tiếng trống hoặc tù và sẽ không nghi ngờ hoặc phân vân về bản chất của âm thanh vừa nghe (AN 4.191, kinh Nghe với tai).”

Rồi tôi nghĩ đến cuộc đời mình lăn trôi trong mấy chục năm qua. Khoảng bốn mươi năm trước, tình cờ được một người bạn Thái Lan tại Perth mời vợ chồng tôi đến gặp một vị sư người phương Tây tu theo truyền thống Theravāda. Nghe Sư giảng những điều căn bản trong đạo Phật, Tứ Thánh đế, Bát chi Thánh đạo áp dụng vào đời sống hằng ngày, tôi cảm thấy rất gần gũi, dễ hiểu. Rồi những ngày sau đó trong suốt một tuần lễ, tôi tiếp tục đến gặp Sư để được hướng dẫn hành thiền, tôi cảm thấy rất quen thuộc, không thấy lạ lùng hay bỡ ngỡ. Từ đó, tôi tới lui sinh hoạt với Hội Phật giáo Tây Úc cho đến bây giờ.

Và rồi nghĩ thêm về cuộc đời của mình khi còn bé, đã từng theo mẹ đi chùa, rồi khi vào học trung học, đã có duyên được học cách ngồi xếp chân, theo dõi hơi thở với ngài Hòa thượng Thích Tâm Giác ở Viện Nhu Đạo Quang Trung, Đa Kao, và tiếp tục thực hành như thế khi vào đại học, mặc dù không quan tâm tìm hiểu sâu xa về pháp hành đó. Chỉ thấy nó giúp mình thư giãn, xả stress, tăng thêm sự chú tâm trong học tập.

Những sự kiện xảy ra như thế và cách tiếp nhận dễ dàng và sẵn sàng của mình có lẽ là do thói quen từ những đời trước. Có lẽ mình đã từng là Phật tử, đã từng quen đi chùa, đã từng quen nghe Pháp, đã từng có vài kinh nghiệm hành thiền quán niệm hơi thở. Đạo Phật gọi đó là “thường nghiệp” (āciṇṇa-kamma) – những hành động, lời nói, ý nghĩ mình thực hiện thường xuyên thành thói quen, và thói quen đó sẽ tiếp tục vào các kiếp sau nếu mình vẫn còn tái sinh trôi lăn trong luân hồi.

Cho nên tôi vững lòng tin trên con đường của mình. Vẫn tiếp tục nỗ lực tìm hiểu, học hỏi giáo pháp, gần gũi các bạn đồng tu, đến chùa nghe pháp, làm phước bố thí chia sẻ, đều đặn hành thiền tịnh tâm. Đường còn dài, còn nhiều gian nan thử thách, còn trải qua nhiều kiếp sống nữa. Nhưng nếu không đi thì không bao giờ đến.

*---*---*

Wednesday, 20 June 2018

Tu là phải biết lên dây đàn

Phật tử chúng ta ai cũng biết bài kinh đầu tiên Đức Phật giảng sau khi thành đạo, kinh Chuyển Pháp Luân. Trong đó, Đức Phật nói con đường Ngài dạy là Trung đạo, tránh hai cực đoan: một bên là hành hạ thân xác, một bên là sống phóng túng đam mê dục lạc. Ý tưởng trung đạo, tránh các cực đoan thường thấy trong nhiều bài kinh khác cho những trường hợp khác nhau.

Riêng tôi, khi quan sát các các trường hợp cực đoan trong lối tu tập hay sinh hoạt của những người chung quanh, tôi lại nhớ đến bài kinh Sona (Tăng chi, AN 6:55). Trưởng lão Sona là một nhạc sĩ trước khi xuất gia. Vì thế, khi Đức Phật dạy ngài phải tu tập cân bằng, không quá căng thẳng mà cũng không nên dễ duôi, phóng dật, Đức Phật đưa ra một ảnh dụ về nhạc sĩ lên dây đàn, nếu dây quá căng hay quá chùng thì tiếng đàn sẽ nghe không hay.

Là một người yêu thích âm nhạc và biết đánh đàn, tôi rất ấn tượng và luôn ghi nhớ lời dạy trên. Tuy nhiên, vấn đề khó khăn ở đây là làm thế nào để biết được tiếng đàn đúng nốt khi lên dây? Dựa theo tiêu chuẩn nào?

GHI THÊM: Thêm một ý tưởng nữa mà có lẽ ai đánh đàn mới biết: Không phải chỉ lên dây một lần là xong. Mỗi lần đánh đàn là phải điều chỉnh lên dây, vì sau khi sử dụng (hay không sử dụng) một thời gian, dây đàn không còn cho âm thanh đúng nữa. Tu tập cũng thế, phải luôn luôn biết khéo léo điều chỉnh lối tu, cách sống cũng như tư duy, nhận thức của mình.

--------------------------------------


Kinh Sona (AN 6:55)
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt


1. Như vầy tôi nghe:

Một thời, Thế Tôn trú tại Ràjagaha (Vương Xá) núi Gijjhakùta (Linh Thứu). Lúc bấy giờ Tôn giả Sona trú ở Ràjagaha, tại rừng Sìta. Rồi Tôn giả Sona, trong khi độc cư Thiền tịnh, tư tưởng sau đây được khởi lên: "Những ai là đệ tử Thế Tôn, sống tinh cần tinh tấn, ta là một trong những vị ấy. Nhưng ta còn chấp thủ, tâm chưa giải thoát khỏi các lậu hoặc. Gia đình ta có tài sản, và ta có thể hưởng thọ tài sản và làm điều công đức. Vậy ta hãy từ bỏ học pháp, hoàn tục, thọ hưởng tài sản và làm các công đức". Rồi Thế Tôn với tâm của mình biết được tâm của Tôn giả Sona, như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại hay co lại cánh tay đang duỗi ra, biến mất từ núi Gijjhakùta, hiện ra trước mặt Tôn giả Sona, ở rừng Sìta. Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Tôn giả Sona đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Sona đang ngồi một bên:

- Này Sona, có phải trong khi thầy độc cư Thiền tịnh, tư tưởng sau đây được khởi lên: "Những ai là đệ tử Thế Tôn, sống tinh cần tinh tấn, ta là một trong những vị ấy. Nhưng ta còn chấp thủ, tâm chưa giải thoát các lậu hoặc. Gia đình ta có tài sản, ta có thể hưởng thọ tài sản ấy và làm các công đức. Vậy ta hãy từ bỏ học pháp, hoàn tục, thọ hưởng tài sản và làm các công đức"?

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

- Thầy nghĩ thế nào, này Sona? Có phải thuở trước, khi còn là gia chủ, Thầy giỏi đánh đàn tỳ-bà có dây?

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

- Thầy nghĩ thế nào, này Sona? Khi những sợi dây đàn tỳ-bà của Thầy quá căng thẳng, trong khi ấy, đàn tỳ-bà của Thầy có phát âm hay sử dụng được không?

- Thưa không, bạch Thế Tôn.

- Thầy nghĩ thế nào, này Sona? Khi những sợi dây đàn tỳ-bà của Thầy quá trùng, trong khi ấy, đàn tỳ-bà của Thầy có phát âm hay sử dụng được không?

- Thưa không, bạch Thế Tôn.

- Nhưng này Sona? Khi những sợi dây đàn tỳ-bà của Thầy không quá căng thẳng, không quá trùng xuống, nhưng vặn đúng mức trung bình, trong khi ấy, đàn tỳ-bà của Thầy có phát âm hay sử dụng được không?

- Thưa được, bạch Thế Tôn.

- Cũng vậy, này Sona, khi tinh cần tinh tấn quá căng thẳng, thời đưa đến dao động; khi tinh cần tinh tấn quá thụ động, thời đưa đến biếng nhác. Do vậy, này Sona, Thầy phải an trú tinh tấn một cách bình đẳng, thể nhập các căn một cách bình đẳng, rồi tại đấy nắm giữ tướng.

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Sona vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn sau khi giáo giới Tôn giả Sona với lời giáo giới, như một nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy, Thế Tôn biến mất tại rừng Sìta và hiện ra ở núi Gijjhakùta.

2. Rồi Tôn giả Sona, sau một thời gian an trú tinh tấn một cách bình đẳng, thể nhập các căn một cách bình đẳng và tại đấy nắm giữ tướng. Rồi Tôn giả Sona sống độc cư, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu, do mục đích gì các thiện nam tử chơn chánh xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình, vị ấy ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ và chứng đạt vô thượng cứu cánh Phạm hạnh. Vị ấy rõ biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc gì nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa". Tôn giả Sona trở thành một vị A-la-hán. Sau khi chứng được A-la-hán, Tôn giả Sona suy nghĩ như sau: "Ta hãy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, ta sẽ nói lên ý nghĩa này với Thế Tôn". Rồi Tôn giả Sona đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sona bạch Thế Tôn:

3. - Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, Phạm hạnh đã thành, đã làm những việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã trừ diệt, đã được giải thoát nhờ chánh trí; vị ấy có sáu chỗ để xu hướng, xu hướng xuất ly, xu hướng viễn ly, xu hướng vô sân, xu hướng ái diệt, xu hướng thủ diệt, xu hướng vô si.

4. Bạch Thế Tôn, có thể ở đây, một số Tôn giả suy nghĩ như sau: "Có Tôn giả này hoàn toàn chỉ y cứ trên tín, có xu hướng xuất ly". Vị Tôn giả ấy chớ có quan điểm như vậy! Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, bạch Thế Tôn, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn thấy trong mình còn cái gì cần làm, hay còn cái gì cần phải làm thêm; do đoạn diệt tham ái, do viễn ly tham ái, vị ấy hướng tâm đến xu hướng xuất ly; do đoạn diệt sân, do viễn ly sân, vị ấy hướng tâm đến xu hướng xuất ly; do đoạn diệt si, do viễn ly si, vị ấy hướng tâm đến xu hướng xuất ly.

5. Bạch Thế Tôn, có thể ở đây một số Tôn giả suy nghĩ như sau: "Tôn giả này do tham muốn lợi dưỡng, cung kính, danh tiếng nên hướng tâm về xu hướng viễn ly". Tôn giả ấy chớ có quan niệm như vậy! Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, đã thành tựu Phạm hạnh, đã làm những việc phải làm, không còn thấy trong mình còn cái gì cần làm hay còn cái gì cần phải làm thêm; do đoạn diệt tham ái, do viễn ly tham ái, vị ấy hướng tâm đến xu hướng viễn ly; do đoạn diệt sân, do viễn ly sân, vị ấy hướng tâm đến xu hướng viễn ly; do đoạn diệt si, do viễn ly si, vị ấy hướng tâm đến xu hướng viễn ly.

6-9. Bạch Thế Tôn, có thể đây một số Tôn giả suy nghĩ như sau: "Do đi ngược trở lại tối thắng giới cấm thủ, Tôn giả này hướng tâm đến xu hướng vô sân". Tôn giả ấy chớ có quan điểm như vậy! Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, đã thành tựu Phạm hạnh, đã làm những việc phải làm, không còn thấy trong mình còn cái gì cần phải làm hay còn cái gì cần phải làm thêm; do đoạn diệt tham ái, do viễn ly tham ái, vị ấy hướng tâm đến xu hướng vô sân; do đoạn diệt sân, do viễn ly sân, vị ấy hướng tâm đến xu hướng vô sân; do đoạn diệt si, do viễn ly si, vị ấy hướng tâm đến xu hướng vô sân... Do đoạn diệt tham ái, do viễn ly tham ái, vị ấy hướng tâm đến xu hướng ái diệt; do đoạn diệt sân, do viễn ly sân, vị ấy hướng tâm đến xu hướng ái diệt; do đoạn diệt si, do viễn ly si, vị ấy hướng tâm đến xu hướng ái diệt... Do đoạn diệt tham ái, do viễn ly tham ái, vị ấy hướng tâm đến xu hướng thủ diệt; do đoạn diệt sân, do viễn ly sân, vị ấy hướng tâm đến xu hướng thủ diệt; do đoạn diệt si, do viễn ly si, vị ấy hướng tâm đến xu hướng thủ diệt. Do đoạn diệt tham ái, do viễn ly tham ái, vị ấy hướng tâm đến xu hướng vô si; do đoạn diệt sân, do viễn ly sân, vị ấy hướng tâm đến xu hướng vô si; do đoạn diệt si, do viễn ly si, vị ấy hướng tâm đến xu hướng vô si.

10. Như vậy, với Tỷ-kheo có tâm chơn chánh giải thoát, bạch Thế Tôn, nếu nhiều sắc do mắt nhận thức đi vào trong giới vức của mắt, chúng không chinh phục tâm vị ấy, và tâm vị ấy không lộn xộn, an trú, đạt được không dao động, quán thấy tánh diệt của chúng. Nếu nhiều tiếng do tai nhận thức... nếu nhiều hương do mũi nhận thức... nếu nhiều vị do lưỡi nhận thức... nếu nhiều xúc do thân nhận thức... nếu nhiều pháp do ý nhận thức đi vào trong giới vực của ý, chúng không chinh phục tâm của vị ấy, và tâm vị ấy không lộn xộn, an trú, đạt được không dao động, quán thấy tánh diệt của chúng.

11. Ví như, bạch Thế Tôn, một hòn núi đá, không có rạn nứt, không có trống bọng, một tảng đá lớn, nếu từ phương Ðông mưa to gió lớn đến, không có làm rung động, rung chuyển, chuyển động mạnh núi đá ấy. Nếu từ phương Tây mưa to gió lớn đến... nếu từ phương Bắc mưa to gió lớn đến.... nếu từ phương Nam mưa to gió lớn đến không có làm rung động, rung chuyển, chuyển động mạnh núi đá ấy.

Cũng vậy, bạch Thế Tôn, với Tỷ-kheo có tâm chơn chánh giải thoát, nếu nhiều sắc do mắt nhận thức đi vào trong giới vức của mắt, chúng không chinh phục tâm vị ấy, và tâm vị ấy không lộn xộn, an trú, đạt được không dao động, quán thấy tánh diệt của chúng. Nếu nhiều tiếng do tai nhận thức... nếu nhiều hương do mũi nhận thức... nếu nhiều vị do lưỡi nhận thức... nếu nhiều xúc do thân nhận thức, nếu nhiều pháp do ý nhận thức đi vào trong giới vực của ý, chúng không chinh phục tâm vị ấy, và tâm vị ấy không lộn xộn, an trú, đạt được không dao động, quán thấy tánh diệt của chúng.

Với ai hướng xuất ly,
Tâm xu hướng viễn ly,
Với ai hướng vô sân,
Tâm xu hướng thủ diệt,
Với ai hướng ái diệt,
Tâm xu hướng vô si,
Có thấy xứ sanh khởi,
Tâm được chánh giải thoát.
Với vị chánh giải thoát,
Vị Tỷ-kheo tâm tịnh,
Không cần làm thêm gì,
Không có gì phải làm.
Như hòn núi đá tảng,
Gió không thể dao động,
Cũng vậy, toàn thể sắc,
Vị, tiếng, và hương, xúc,
Cho đến tất cả pháp,
Khả ái, không khả ái,
Không có thể dao động,
Một vị được như vậy,
Tâm kiên trú, giải thoát,
Thấy tánh diệt của chúng.

-------------------

Sona Sutta: About Sona (AN 6.55)
translated from the Pali by Thanissaro Bhikkhu

I have heard that on one occasion the Blessed One was staying near Rajagaha, on Vulture Peak Mountain. And on that occasion Ven. Sona was staying near Rajagaha in the Cool Wood. Then, as Ven. Sona was meditating in seclusion [after doing walking meditation until the skin of his soles was split & bleeding], this train of thought arose in his awareness: "Of the Blessed One's disciples who have aroused their persistence, I am one, but my mind is not released from the fermentations through lack of clinging/sustenance. Now, my family has enough wealth that it would be possible to enjoy wealth & make merit. What if I were to disavow the training, return to the lower life, enjoy wealth, & make merit?"

Then the Blessed One, as soon as he perceived with his awareness the train of thought in Ven. Sona's awareness — as a strong man might stretch out his bent arm or bend his outstretched arm — disappeared from Vulture Peak Mountain, appeared in the Cool Wood right in front of Ven. Sona, and sat down on a prepared seat. Ven. Sona, after bowing down to the Blessed One, sat to one side. As he was sitting there, the Blessed One said to him, "Just now, as you were meditating in seclusion, didn't this train of thought appear to your awareness: 'Of the Blessed One's disciples who have aroused their persistence, I am one, but my mind is not released from the fermentations... What if I were to disavow the training, return to the lower life, enjoy wealth, & make merit?'"

"Yes, lord."

"Now what do you think, Sona. Before, when you were a house-dweller, were you skilled at playing the vina?"

"Yes, lord."

"And what do you think: when the strings of your vina were too taut, was your vina in tune & playable?"

"No, lord."

"And what do you think: when the strings of your vina were too loose, was your vina in tune & playable?"

"No, lord."

"And what do you think: when the strings of your vina were neither too taut nor too loose, but tuned [1] to be right on pitch, was your vina in tune & playable?"

"Yes, lord."

"In the same way, Sona, over-aroused persistence leads to restlessness, overly slack persistence leads to laziness. Thus you should determine the right pitch for your persistence, attune [2] the pitch of the [five] faculties [to that], and there pick up your theme."

"Yes, lord," Ven. Sona answered the Blessed One. Then, having given this exhortation to Ven. Sona, the Blessed One — as a strong man might stretch out his bent arm or bend his outstretched arm — disappeared from the Cool Wood and appeared on Vulture Peak Mountain.

So after that, Ven. Sona determined the right pitch for his persistence, attuned the pitch of the [five] faculties [to that], and there picked up his theme. Dwelling alone, secluded, heedful, ardent, & resolute, he in no long time reached & remained in the supreme goal of the holy life for which clansmen rightly go forth from home into homelessness, knowing & realizing it for himself in the here & now. He knew: "Birth is ended, the holy life fulfilled, the task done. There is nothing further for the sake of this world." And thus Ven. Sona became another one of the arahants.

Then, on the attainment of arahantship, this thought occurred to Ven. Sona: "What if I were to go to the Blessed One and, on arrival, to declare gnosis in his presence?" So he then went to the Blessed One and, on arrival, having bowed down to him, sat to one side. As he was sitting there he said to the Blessed One: "When a monk is an arahant, his fermentations ended, who has reached fulfillment, done the task, laid down the burden, attained the true goal, totally destroyed the fetter of becoming, and is released through right gnosis, he is dedicated to six things: renunciation, seclusion, non-afflictiveness, the ending of craving, the ending of clinging/sustenance, & non-deludedness.

"Now it may occur to a certain venerable one to think, 'Perhaps it is entirely dependent on conviction that this venerable one is dedicated to renunciation,' but it should not be seen in that way. The monk whose fermentations are ended, having fulfilled [the holy life], does not see in himself anything further to do, or anything further to add to what he has done. It is because of the ending of passion, because of his being free of passion, that he is dedicated to renunciation. It is because of the ending of aversion, because of his being free of aversion, that he is dedicated to renunciation. It is because of the ending of delusion, because of his being free of delusion, that he is dedicated to renunciation.

"Now it may occur to a certain venerable one to think, 'Perhaps it is because he desires gain, honor, & fame that this venerable one is dedicated to seclusion' ... 'Perhaps it is because he falls back on attachment to precepts & practices as being essential that he is dedicated to non-afflictiveness,' but it should not be seen in that way. The monk whose fermentations are ended, having fulfilled [the holy life], does not see in himself anything further to do, or anything further to add to what he has done. It is because of the ending of passion, because of his being free of passion, that he is dedicated to non-afflictiveness. It is because of the ending of aversion, because of his being free of aversion, that he is dedicated to non-afflictiveness. It is because of the ending of delusion, because of his being free of delusion, that he is dedicated to non-afflictiveness.

"It is because of the ending of passion, because of his being free of passion... because of the ending of aversion, because of his being free of aversion... because of the ending of delusion, because of his being free of delusion, that he is dedicated to the ending of craving... the ending of clinging/sustenance... non-deludedness.

"Even if powerful forms cognizable by the eye come into the visual range of a monk whose mind is thus rightly released, his mind is neither overpowered nor even engaged. Being still, having reached imperturbability, he focuses on their passing away. And even if powerful sounds... aromas... flavors... tactile sensations... Even if powerful ideas cognizable by the intellect come into the mental range of a monk whose mind is thus rightly released, his mind is neither overpowered nor even engaged. Being still, having reached imperturbability, he focuses on their passing away.

"Just as if there were a mountain of rock — without cracks, without fissures, one solid mass — and then from the east there were to come a powerful storm of wind & rain: the mountain would neither shiver nor quiver nor shake. And then from the west... the north... the south there were to come a powerful storm of wind & rain: the mountain would neither shiver nor quiver nor shake. In the same way, even if powerful forms cognizable by the eye come into the visual range of a monk whose mind is thus rightly released, his mind is neither overpowered nor even engaged. Being still, having reached imperturbability, he focuses on their passing away. And even if powerful sounds... aromas... flavors... tactile sensations... Even if powerful ideas cognizable by the intellect come into the mental range of a monk whose mind is thus rightly released, his mind is neither overpowered nor even engaged. Being still, having reached imperturbability, he focuses on their passing away."

When one's awareness is dedicated
to renunciation, seclusion,
non-afflictiveness, the ending of clinging,
the ending of craving, & non-deludedness,
seeing the arising of the sense media,
the mind is rightly released.
For that monk, rightly released,
his heart at peace,
there's nothing to be done,
nothing to add
to what's done.
As a single mass of rock isn't moved by the wind,
even so all forms, flavors, sounds,
aromas, contacts,
ideas desirable & not,
have no effect on one who is Such.
The mind
— still, totally released —
focuses on
their passing away.

---------
Notes:
[1] Lit. "established."
[2] "Penetrate," "ferret out."

* * *

Friday, 15 June 2018

Không giữ TÁC QUYỀN

Bỗng nhiên tôi nhớ một dòng chữ trong trang đầu một tập sách của Sư Abhinyana -- một vị sư người Úc, đã viên tịch nhiều năm trước:

"There is no copyright, please copy it right"

Tạm dịch: Không giữ tác quyền, xin vui lòng sao chép cho đúng. Sư chơi chữ rất khéo, "copyright" là tác quyền, "copy it right" là sao chép cho đúng.

Tôi rất ấn tượng với câu nói nầy, và áp dụng tinh thần đó trong các cuốn sách, bài viết, bài dịch, hình ảnh, bản vẽ về Phật giáo mà tôi đưa vào các nơi chốn khác nhau trên Internet. Vâng, tôi không muốn giữ tác quyền làm gì, vì thật ra, những gì mình viết hay dịch, hình ảnh, bản vẽ cũng chỉ là góp nhặt từ nhiều người, nhiều nơi. Chỉ là những đề tài, ý tưởng đơn giản tầm thường, không có gì đặc sắc, để chia sẻ với bà con, bạn bè bốn phương.

Nếu ai thích, xin cứ tự nhiên sao chép sử dụng tùy duyên. Tuy nhiên, nếu có thể, xin vui lòng ghi rõ xuất xứ. Và nếu thấy cần sửa đổi, xin vui lòng báo cho tôi biết.

Ngoài ra, trong một tập sách khác, Sư Abhinyana có ghi thêm:

“Since all the words we use come to us from other people, there is no copyright on any of my books. If anyone wishes to reprint anything from them, or even all, they may do so without permission; all I ask is that they do not copy wrong!”

Tạm dịch: Vì tất cả những từ ngữ tôi sử dụng đều đến với tôi từ những người khác, cho nên không có tác quyền cho bất cứ cuốn sách nào của tôi. Nếu ai muốn in lại bất cứ đoạn nào từ những cuốn sách đó, hay in tất cả, họ có thể làm điều đó mà không cần xin phép tôi. Tất cả những gì tôi yêu cầu là những người ấy đừng sao chép sai lạc.

--------------------
* Xin ghi thêm để tránh hiểu lầm: Đây chỉ là ý kiến của riêng tôi về những cuốn sách, bài viết, bài dịch, hình ảnh, hình vẽ của tôi. Tôi không có ý giữ tác quyền. Còn các tác phẩm, dịch phẩm của người khác thì tôi hoàn toàn không có ý kiến, hay bình luận. 

*