Tuesday, 31 March 2020

Sách: Với từng mỗi hơi thở - Bhikkhu Thanissaro (Phương Thúy dịch)


Với từng mỗi hơi thở - HƯỚNG DẪN HÀNH THIỀN
Phương Thủy dịch (2020)

Nguyên tác: With Each & Every Breath – A Guide to Meditation
Bhikkhu Thanissaro (2013)

Một quyển sách quý cho những ai đang hành thiền quán niệm hơi thở. Đây là bản Việt dịch mới nhất với nhiều chỉnh sửa. Có thể tải bản PDF về đọc trong máy vi tính:

1) http://budsas.net/sach/vn54_vn.pdf (tiếng Việt)

2) http://budsas.net/sach/vn54_eng.pdf (tiếng Anh)

*

Nhạc quốc tế: KENNY ROGERS (1938-2020)

Ông vừa qua đời tuần trước, 20-03-2020. Xin gửi tặng album nầy để tưởng nhớ ông.

Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps.

nqt22.zip – Kenny Rogers, 25 Greatest Hits (1987) (213 MB)

1) https://tinyurl.com/rmrtubc
2) https://mega.nz/#!CwZS3A4S!Rz8yCnicDynfdl9bh77K-UNTFpSmf_Dc0ITkCwLGZPA

*
Kenny Rogers

TỈNH THỨC TRƯỚC CÁI CHẾT (1) - Hòa thượng Henepola Gunaratana

TỈNH THỨC TRƯỚC CÁI CHẾT
Hòa thượng Henepola Gunaratana
Trích: Lion’s Roar, 02/03/2018

Hòa thượng Henepola Gunaratana – thường được biết với tên thân mật là “Bhante G.” (Sư G.) – đã có giây phút mặt đối mặt với cái chết trong một chuyến bay. Sau đây là những gì ngài kể lại cho thính chúng tại Tu viện Cittaviveka, Anh quốc.

*

Tôi nhận được tin mẹ tôi bệnh nặng, sắp qua đời. Trên đường về Sri Lanka từ thủ đô Washington DC, tôi phải chuyển máy bay ở Hawaii. Sau một hoặc hai giờ bay khỏi Hawaii, nhìn qua cửa sổ, tôi thấy lửa bốc cháy từ động cơ của máy bay. Rồi viên phi công loan báo qua loa phóng thanh: “Động cơ máy bay bị cháy và chúng tôi phải bay trở lại.” Tôi thầm nhủ: “Cho dù tâm dính mắc vào đời sống có mạnh mẽ cho đến cỡ nào, tôi phải buông bỏ sự dính mắc ấy ngay bây giờ.”

Viên phi công bảo các tiếp viên hàng không đưa ra những lời hướng dẫn để chúng tôi biết cách thoát ra khỏi máy bay nếu ông ta có thể điều khiển máy bay trở lại Hawaii. Chúng tôi phải ngồi yên lặng, buộc dây an toàn. Khi máy bay đáp xuống thành công, các dàn đèn trên sàn sẽ chỉ lối đi đến tám cửa thoát hiểm. Khi các cửa này mở, thang trượt khẩn cấp sẽ tự động bung ra. Chúng tôi phải lập tức nhảy vào đó không chần chừ, trượt xuống và nhanh chóng chạy khỏi máy bay.

Tôi nghĩ có lẽ không có ai nghe và hoàn toàn hiểu được các lời hướng dẫn này. Bởi vì từ lúc viên phi công loan báo rằng động cơ bị cháy, dường như mọi người trong máy bay đều bị trấn áp bởi nỗi sợ chết. Có người làm dấu thánh giá, có cặp ôm lấy nhau và hôn nhau, có người bật khóc hoặc trông rất căng thẳng và lo lắng.

Tôi thầm nghĩ: “Nếu đây là lúc tôi phải chết, bằng cách gì tôi cũng sẽ chết, cho dù có lo sợ hay không. Hãy giữ tâm trí mình cho sáng suốt.”

Tôi tự động viên cho chính mình: “Tôi phải bình tĩnh, giữ tâm trí thanh tịnh và sáng suốt trước khi tôi bị bất tỉnh. Đây là lúc tôi dùng niệm để thấy rõ cái chết là không thể tránh được. Nếu tôi chết với trạng thái tâm thanh tịnh và sáng suốt, đời sống kế tiếp của tôi sẽ tốt đẹp. Tôi không nên để tâm trí bị ngăn che bởi sự sợ sệt hay hoảng loạn. Cho dù tôi có quyến luyến mạnh mẽ vào đời sống này, tôi phải buông bỏ sự quyến luyến đó ngay bây giờ.” Như thế, tôi nỗ lực ngăn chặn bất cứ một tư tưởng bất thiện nào sinh ra khi phải đối diện với với cái chết và khuyến khích, thúc đẩy các tư tưởng thiện lành khởi sinh trong tâm.

Sự kiện xảy ra quá bất ngờ làm tôi choáng váng, không cảm thấy sợ hãi, hoang mang. Trái lại, tôi cảm thấy thích thú quan sát các ánh lửa tỏa ra từ động cơ máy bay đang trên độ cao khoảng 39.000 feet (12.000 mét)! Các ngọn lửa có màu xanh dương, màu vàng và màu đỏ. Rất ít khi thấy được các ngọn lửa xanh dương như thế. Có khi chúng tỏa ra rất lớn, có khi chúng gom lại thành đốm nhỏ. Giống như thể các pháo hoa hay các cực quang ở phương bắc (aurora borealis).

Trong khi tôi thích thú quan sát màn kịch, hơn ba trăm hành khách khác có vẻ quằn quại trong nỗi lo sợ về cái chết. Trông như họ đã chết rồi, trước khi thật sự chết! Tuy nhiên, tôi nhận thấy các đứa bé hầu như không bị tác động. Chúng vẫn cười giỡn và vui chơi như trước khi có biến động. Tôi nghĩ: “Mình phải bắt chước chúng, tự đặt mình trong tâm trí trẻ thơ.”

Cuối cùng rồi máy bay quay trở về Hawaii và khẩn cấp đáp xuống sân bay. Chúng tôi ra khỏi cửa thoát hiểm như đã được hướng dẫn, trượt xuống thang thoát hiểm. Trượt xuống thang như thế này là một kinh nghiệm hoàn toàn mới lạ cho tôi. Có lẽ những người khác trong chuyến bay đều ít nhất đã có một lần kinh nghiệm trượt như thế tại các sân chơi cho trẻ em. Còn tôi thì chưa có kinh nghiệm đó vì tôi lớn lên trong một làng quê nghèo ở Sri Lanka.

Vì thế tôi thật sự rất thích thú cho đến phút cuối của tai nạn máy bay này.

– Hòa thượng Henepola Gunaratana
(Bình Anson dịch)

*--------------------------------*
Bhante G.

Nhạc Việt: Tiếng hát BÍCH LIÊN, Phạm Duy: Hát vào đời (2019)

Tôi mới nghe cô hát lần đầu. Giọng hát rất điêu luyện, lã lướt. Cô cũng là một bác sĩ y khoa ở Hoa Kỳ. Xin tặng cho những ai thich nhạc Phạm Duy. Đây là những bản nhạc không phổ thông vì tương đối khó hát, nhưng có ý nghĩa, nghe rất đậm đà, thấm thía.

* Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps:

nviet67.zip (135 MB) – Tiếng hát Bích Liên, Phạm Duy: Hát vào đời (2019)

https://tinyurl.com/unqm5g4
https://mega.nz/#!21ZElKqL!gxIFZws16oVzU0sy6HW0nwlogi7rU347yUEXsTtChHc

*
Bích Liên - Hát vào đời, Ca khúc Phạm Duy (2019)

01. Một bàn tay
02. Chiều về trên sông
03. Nước mắt rơi
04. Tạ ơn đời
05. Tôi còn yêu, tôi cứ yêu
06. Quán bên đường
07. Tiếng bước trên đường khuya
08. Tìm nhau
09. Đường chiều lá rụng
10. Xuân hành
------------------

Sunday, 29 March 2020

Cái chết trong ca khúc Phạm Duy - Phạm Xuân Đài

CÁI CHẾT TRONG CA KHÚC PHẠM DUY
PHẠM XUÂN ÐÀI
Diễn đàn Thế Kỷ, 29/01/2013

Trong buổi lễ tưởng niệm Ðỗ Ngọc Yến vào tối ngày 23 tháng Tám 2006 tại phòng sinh hoạt Lê Ðình Ðiểu của báo Người Việt, Bích Liên với giọng cao vút trong phong cách opéra, đã hát những lời này:

1.
Hồn xuân vừa tàn hơi
Hay nắng ấm lung linh qua đời
Hay gió tuyết mưa sa bay ngang trời
Người yêu dù xa xôi 
Xin nhớ tới quê hương u hoài
Trong giá rét đêm đông đang trông vời

Một lần người đưa tiễn nhau
Như vẫn cầu lời hứa năm nào
Ðằm thắm cho vui lòng nhau
Một lần người xa cách nhau
Trái tim sầu còn vẫn tươi mầu
Vì đó... không ai quên đâu...

2.
Người đi về mai sau
Nghe khóc lóc xe tang đưa sầu
Nghe bóng xế khăn sô bay ngang đầu
Người đi vào không gian
Nghe nhớ tiếc đau thương vô vàn
Nghe tiếng hát êm êm ru linh hồn

Người về dần trong cõi mồ
Như lúc nào vừa mới ra đời
Chào đón xuân tươi ngày mới
Cuộc đời từ trong chiếc nôi
Ðã quay về cùng với gió bụi
Về chốn không tên, xa xôi...
(
Khúc Ca Ly Biệt)

Bài hát nói về cái chết, Phạm Duy dựa vào điệu nhạc Chanson de Solvejg viết lời lâu rồi, đã trên nửa thế kỷ, ít người biết, nhưng chạm sâu xa đến một vùng mà không mấy  người có khả năng nói tới. Phạm Duy là một nhạc sĩ hiếm hoi nhiều lần nói về cái chết, và Khúc Ca Ly Biệt trên đây là bài hát hoàn toàn về sự biệt ly của chết chóc, một cách toàn diện, trong không gian, trong thời gian, trong thân phận kẻ lìa trần cũng như trong lòng người ở lại.

Phạm Duy là một nhạc sĩ sáng tác mãnh liệt về khắp các mặt của cuộc đời, nhưng lại luôn luôn nhắc đến cái chết, tuồng như ông thấy chết cũng là một hình thái biểu hiện sự sống. Ngay từ khi còn rất trẻ, trong khi say sưa viết lên cái khí thế bừng bừng đánh quân ngoại xâm giữa thời điểm 1945, ông cũng đã mường tượng đến sự chết rồi. Ông vừa viết xong bài Xuất Quân lẫm liệt Ngày bao hùng binh tiến lên thì đã nghĩ ngay đến hình ảnh ma quái của những Chiến Sĩ Vô Danh

Mờ trong bóng chiều 
Một đoàn quân thấp thoáng
(
Chiến Sĩ Vô Danh)

Quân này là quân ma, họ đã ra đi chiến đấu và đã ra người thiên cổ, ông dùng ngay hình ảnh ấy để lay động lòng người đang đứng trước cuộc chiến giữ nước

Ra biên khu trong một chiều sương âm u
Âm thầm chen khói mù
Bao oan khiên đang về đây hú với gió
Là hồn người Nam nhớ thù.

Một thanh niên đang ở độ tuổi ngoài hai mươi, mang bầu máu nóng phụng sự cho đất nước mà đã sớm nhìn ra những hình ảnh của “cõi bên kia” như thế thì cũng là chuyện lạ. Bài Nợ Máu Xương lại càng lạ hơn nữa, vừa hiện thực vừa siêu thực, tả toàn cảnh chết chóc vì chém giết

Ai nghe không sa trường lên tiếng hú?
Tiếng lầm than, những tiếng người đời quên.
Ði lang thang tiếng cười vang tiếng hú
Xác không đầu nào kia?
(
Nợ Máu Xương)

Nghe phảng phất như Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du! Phải chăng linh cảm mẫn nhuệ của một nghệ sĩ lớn đã khiến Phạm Duy nhìn thấy trước cảnh chiến tranh tàn phá kinh hoàng trên đất đước Việt Nam suốt ba mươi năm sắp tới, dù thời điểm viết Nợ Máu Xương là vào năm 1946, trước khi toàn quốc kháng chiến với Pháp. Ông đã dùng những hình ảnh cổ điển của thi ca thời đó để vẽ nên sự chết chóc, nhưng bản chất của tấn thảm kịch chiến tranh thì thời nào cũng thế

Lá rụng tơi bời
Ðoàn quân tiến qua làng.
Từng thanh kiếm đứt ngang, 
Từng lớp áo rách mướp,
Từng cánh tay rụng rời!
Qua làn mây trắng
Ðoàn quân tiến về trời
Ầm rung tiếng sa trường...

Tiếng ầm rung chết chóc đó còn vang mãi trong lòng người không biết bao nhiêu thế hệ nữa khi họ có dịp ôn lại những trang sử xưa, không phải những trang chính sử ghi lại một cách vô cảm các biến cố, mà là những trang sử như của Phạm Duy viết khi “đoàn quân tiến qua làng” với những chiếc áo rách mướp, những thanh kiếm gãy ngang, những cánh tay không còn nguyên vẹn... và nói rõ họ đang “tiến về trời.” Lịch sử một dân tộc không thể không ghi những trang như thế, cũng như mấy năm về sau khi sáng tác ông đã đóng vai một ký giả chiến tranh tả thực cái cảnh dã man rùng rợn “quân thù đã bắt được con đem ra giữa chợ cắt đầu” từ một thảm cảnh của làng Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Hoặc một cách gián tiếp, chỉ dùng một số hình ảnh ước lệ, nhưng hiệu quả gợi cảm thương về sự chết chóc vẫn lớn:

Người đi không về
Chắc rằng có người nhớ
Hương khói chiêu hồn
Hiu hắt những chiều trận vong.
(Ðường Ra Biên Ải)

Một số năm về sau ông rời khỏi các ám ảnh chiến tranh, đề tài sáng tác càng phong phú, nhưng cái chết vẫn không rời ông. Ông đã viết về việc sáng tác của ông vào khoảng đầu thập niên 1960: “Ðối với tôi chỉ có ba điều quan trọng: Tình Yêu, Sự Ðau Khổ và Cái Chết.” Nhưng cái chết vào thời điểm này đã được trừu tượng hóa thành một loại tư tưởng, không còn cụ thể có khi đầy ghê rợn như trong thời kháng chiến Pháp. Như về bài Ðường Chiều Lá Rụng, tác giả đã tâm sự như thế này: “Lúc này tôi đang yêu đời lắm, nhưng tôi vẫn nói tới cái chết, chẳng hạn, qua những kiếp lá trong đường chiều. Lá đang như những chiếc thuyền rung rinh trong ngọn gió, bỗng nghe đất gọi về, lá rơi xuống đất để trở thành những ngôi mộ úa trên con đường chiều, nơi đó có tôi và người yêu đang đi trong cuộc tình.”

Lá vàng bay! Lá vàng bay!
Như dĩ vãng gầy, tóc buông dài, bước ra khỏi tình phai
Lá vàng rơi! Lá vàng rơi!
Như chút hơi người giã ơn đời trên nẻo đường hấp hối!
(
Ðường Chiều Lá Rụng)

Khi một người lên tiếng Tạ Ơn Ðời thì tâm hồn hẳn đầy sung sướng vì những gì đời đã cho mình. Quả thế, tác giả ca ngợi “bao nhiêu là thương mến, bao nhiêu là quyến luyến,” rồi “tay hái biết bao niềm yêu,”“đời vẫn cho ta ngọt bùi”... nhưng cuối cùng vẫn không quên cái chết đang chờ ở cuối đường

Mang ơn đời nâng đỡ
Dâng nấm mồ thô sơ
Với dâng hương hồn thương nhớ
Còn vấn vương trong chiều tà.
(
Tạ Ơn Ðời)

Bài Một Bàn Tay là một bài hát triết lý, qua hình ảnh bàn tay mà thấy ra toàn diện cuộc đời, từ bàn tay bà mụ “đưa anh ra khỏi lòng người” đến bàn tay làm lụng, bàn tay  yêu đương..., nhưng cuối cùng, cũng sẽ bàn tay ấy làm động tác giúp kết thúc một đời người

Một mai đưa anh thăm thẳm lìa đời
Mùa đông khăn tang mây bỏ đường dài
Bàn tay thương nhớ, ôi gặp anh băng giá
Lạ lùng, tay khép làn mi.
(
Một Bàn Tay)

Suốt cuộc đời sáng tác của mình, kể cả khi còn rất trẻ, Phạm Duy không bao giờ quên cái chết, và ông diễn tả nó một cách tài tình, khiến ta khi hát lên cảm thấy như vừa chạm vào cái cõi bi thương đáng sợ ấy. Thật ra ông không đi sâu vào chính cái chết như Tolstoi tả phút hấp hối của André trong Chiến Tranh và Hòa Bình, ông chỉ nói về tình huống bề ngoài, nhưng cách nói nghệ thuật của ông khơi dậy gần như đầy đủ “kinh nghiệm chết” hình như vẫn luôn luôn có sẵn trong mỗi chúng ta. Ðó có thể là kinh nghiệm tử biệt sinh ly về cái chết của bao người khác ta hằng chứng kiến, nhưng cũng rất có thể là của chính ta, lưu trữ bằng một cách nào đó sâu trong tâm thức sau hàng vô số kiếp luẩn quẩn trong vòng tử sinh. Ðôi khi ta vẫn có cảm tưởng “nhớ” lại một cái gì đó không hề được kinh nghiệm trong đời này.

Tương truyền bản nhạc Sombre Dimanche (Chủ nhật buồn) là một bản nhạc gây chết chóc, vì không hiểu sao nhiều người nghe nó đã tự tử. Quả là thỉnh thoảng vẫn có những tác phẩm mang cái ma lực kỳ dị như vậy. Bản nhạc ấy vào tay Phạm Duy đã mang lời Việt Nam như sau:

Chủ nhật nào tôi im hơi
Vì đợi chờ không nguôi ngoai
Bước chân người nhớ thương tôi
Ðến với tôi thì muộn rồi
Trước quan tài khói hương mờ bốc lên như vạn nghìn lời
Dẫu qua đời mắt tôi cười vẫn đăm đăm nhìn về người
Hồn lìa rồi nhưng em ơi tình còn nồng đôi con ngươi
Nhắc cho ai biết cuối đời có một người yêu không thôi
Ơi hỡi... ơi... người!...
(Chủ Nhật Buồn)

Ðó là luyến tiếc, vướng víu, là không siêu thoát, phải không?

Khi chúng ta còn nhỏ, sự chết đối với chúng ta là chuyện... của người lớn. Khi vào đời ở tuổi thanh niên thì đó là chuyện của... người già. Chính mình thì chối hết. Nhưng khi bắt đầu vào tuổi già thì như một khả năng tự nhiên, càng ngày ta càng cảm nhận được trong thân tâm mình cái “khả năng chết” một rõ hơn, mãi đến một lúc, hết chối nữa, đành nhận nó là của mình. Nó dần dà, tự nhiên biến thành một phần của sự sống. Phạm Duy là một người hiếm hoi “biết” cái chết, “sống” với cái chết ngay từ tuổi thanh niên. Tại sao? Ðể làm gì? Trong nhân loại, thỉnh thoảng nẩy ra một người có khả năng trình bày hộ cho mọi người khác ý nghĩa toàn bộ cuộc nhân sinh mà thông thường người phàm mắt thịt chỉ thấy rất ngắn, toàn là chuyện eo sèo trước mắt. Chứ sao, phải nói về cái chết chứ, làm sao có sự sống nếu không có sự chết? Cái chết chờ bên đầu kia cuộc đời mỗi người, nào có xa xôi gì, trong chớp mắt của thời gian đã tới nơi, để bắt đầu một chuyển hóa mới, một cuộc du hành mới

Người là ai? Từ đâu tới?
và người ơi, người sẽ bước chân về nơi nao?
Người vì sao mà chớm nở?
rồi sớm tối cánh hoa tươi tơi bời theo với những lá úa?
Người là chi? là cơn gió? là giọt mưa?
là cát trắng hay bụi xanh lơ? 
Người từ xưa, thuyền theo lái về bến cũ?
Người lên xe đi từ hư vô qua hư vô?
(Xuân Hành)

Một loạt câu hỏi từ muôn đời của loài người nhưng không bao giờ cũ, vì ngày nào con người không còn biết đặt ra những câu hỏi như thế về thân phận mình thì cũng có nghĩa là đã dừng lại trên con đường hoàn thiện chính mình.

*

Chết là cái mà không ai có kinh nghiệm, nhưng không phải vì thế mà người ta hoàn toàn không thể viết gì về cái chết. Ðang sống mà “chuyển sang từ trần” là một sự bí nhiệm, từ ngàn xưa con người vẫn suy nghiệm, vẫn cảm xúc đau đớn và vẫn... thờ phượng cái chết. Ðặc biệt các tôn giáo và các tín ngưỡng lo săn sóc đến cái chết một cách kỹ lưỡng nhất, vì biết rõ đó không phải là một cái gì  có thể đối xử một cách bình thường theo cung cách cuộc sống trần thế. Trước sự chết, con người bàng hoàng và sợ hãi, phải tìm mọi cách trấn an nỗi sợ. Ðông hay Tây đều đặt ra sự tự kỷ cho mình về một cõi sau khi chết: sinh ký tử quy, sống gửi thác về, về với ông bà, về ngôi nhà Cha, về miền Cực lạc... cố dẫn dụ mình rằng cuộc sống trần thế này tuy ai cũng tưởng là quan trọng cần hết sức bám víu lấy, nhưng thực chất chỉ là cái rất phụ, chỉ là một sân khấu tạm bợ để múa may trong một thời gian thoáng qua, rồi sau đó thì “về” với cái đích thực. Lời hứa hẹn và giải thích thì rất nhiều, người ta nghe theo lời này hay lời kia, hoặc chẳng nghe lời nào cả, là tùy khuynh hướng và căn cơ của mỗi người, nhưng nhìn chung mọi tín ngưỡng đều nhằm khuyên làm tốt khi sống để được an ổn khi chết, làm như cả cuộc đời chỉ là một chuỗi dài chuẩn bị cho cái giây phút không còn cuộc đời nữa. Thế mới biết cái chết nó ám ảnh con người đến thế nào. Ám ảnh đến gần như biến thành một mục tiêu của sự sống.

Riêng Phạm Duy chấp nhận hết trong sáng tác của mình: Tình Yêu, Khổ Ðau và Cái Chết. Ðó là thái độ của một nghệ sĩ lớn, sống tận cùng từng phút giây của cuộc nhân sinh. Và, nghe như có vẻ mâu thuẫn, cũng “sống” tận cùng với phút giây không còn sự sống nữa, là lúc Cõi Chết bắt đầu.

(Phạm Xuân Đài, 2006)
Phạm Duy, 30-12-2012


Friday, 28 February 2020

KHUYẾN CÁO DU HÀNH – DỊCH CÚM CORONA COVID-19

Trong suốt chuyến du hành về VN lần này, từ ngày 6 đến 27/02/2020, tôi luôn luôn theo dõi các khuyến cáo của chính phủ Mỹ và chính phủ Úc, cho các công dân Mỹ và Úc đang du hành khắp nơi trên thế giới, đăng ở 3 trang web sau đây:

1) Úc: Smart Traveller - www.smartraveller.gov.au
https://www.smartraveller.gov.au/destinations/asia/vietnam

2) Mỹ: Travel Advisory - travel.state.gov
https://travel.state.gov/content/travel/en/traveladvisories/traveladvisories/vietnam-travel-advisory.html

3) Mỹ: Centers for Disease Control and Prevention
https://wwwnc.cdc.gov/travel/destinations/traveler/none/vietnam

*

Tổng quát và tóm lược, các khuyến cáo này chia thành 4 cấp độ (level), cập nhật thường xuyên:

- Cấp độ 1: Exercise Normal Precautions hay Exercise normal safety precautions - Du hành với mức độ thận trọng thông thường.

- Cấp độ 2: Exercise a High Degree of Caution hay Exercise Increased Caution – Du hành với mức độ thận trọng gia tăng.

- Cấp độ 3: Reconsider your Need to Travel hay Reconsider Travel – Hãy xét lại có nên du hành đến đó hay không?

- Cấp độ 4: Do Not Travel – Không nên du hành đến đó.

*

Trong suốt tháng 2-2020, tôi theo dõi các lời khuyến cáo này, hầu như mỗi ngày. Cho đến nay, 28/02/2020, khuyến cáo về du hành Việt Nam vẫn ở Cấp độ 1, không thay đổi.

Vì vậy, tôi quyết định tiếp tục cuộc du hành như đã hoạch định từ trước. Trước và trong chuyến du hành, tôi có bàn với vợ tôi rằng nếu ngày nào đó mà sự thẩm định của cả 3 trang web trên thay đổi, nâng mức độ thận trọng lên Cấp 2 hay cao hơn là chúng tôi hủy bỏ cuộc hành trình và lập tức quay về Úc. Tuy nhiên, trong suốt 3 tuần lễ qua, mức độ khuyến cáo về du hành Việt Nam vẫn ở mức Cấp độ 1.

Dĩ nhiên mình cần phải thận trọng về mức độ vệ sinh và an toàn cá nhân, nhưng mình vẫn tiếp tục sinh hoạt di chuyển giao du bình thường. Phần còn lại là để Pháp vận hành, tùy theo duyên nghiệp của mỗi cá nhân.

*

Friday, 24 January 2020

Sách: Nhập giòng. Bhikkhu Thanissaro, Nguyễn Văn Ngân dịch.

Sách mới:
Nhập giòng. Tỳ-khưu Thanissaro, Nguyễn Văn Ngân dịch (2019).
Nguyên tác: Into the stream, Bhikkhu Thanissaro (2018).

Trích dẫn kinh điển Nikaya về quả vị Dự Lưu: các lời dạy của Đức Phật để nhập dòng Thánh giải thoát và phẩm hạnh của bậc Dự Lưu.

Tải về bản Việt-Anh, dạng PDF:
=> https://budsas.net/sach/vn87.pdf

*

Wednesday, 22 January 2020

Sách: Mười pháp quán tưởng


MƯỜI PHÁP QUÁN TƯỞNG - Hướng dẫn hành thiền.
Tỳ-khưu Analayo (2016).
Bình Anson trích dịch (2019)

GIỚI THIỆU

Tập sách này được biên soạn dựa theo phần kết luận và hướng dẫn hành thiền trong cuốn Mindfully Facing Disease and Death: Compassionate Advice from Early Buddhist Texts (Tỉnh thức trước bệnh tật và cái chết: Lời khuyên từ bi trong kinh văn Phật giáo sơ kỳ), tác giả là Bhikkhu Anālayo, xuất bản năm 2016 và dựa theo các bài đàm luận chia sẻ Phật pháp của chúng tôi trong Room Phật giáo Nam truyền của mạng PalTalk do Tỳ-khưu Trí Đức chủ trì trong năm 2017 và 2019.

Mười pháp quán tưởng trình bày trong tập sách này dựa theo lời dạy của Đức Phật cho Trưởng lão Girimānanda đang lâm trọng bệnh, được ghi lại trong bài kinh số 60, chương Mười Pháp của Tăng chi bộ, tạng Pāli (AN 10.60). Bài kinh tương đương cũng được tìm thấy trong tạng Kanjur của Phật giáo Tây Tạng, là một trong số mười ba bản kinh được một vị tỳ-khưu Sri Lanka đem đến truyền bá ở Tây Tạng trong thế kỷ 14.

Thành kính xin tri ân Sư Trí Đức và Sư Anālayo. Xin hồi hướng những phước báu tạo được đến quý Sư, quý thầy tổ ân nhân, ông bà cha mẹ, thân nhân trong gia đình, bạn bè bốn phương, các thiện hữu trong nhóm ấn tống và quảng bá kinh sách, cùng chư thiên và mọi loài chúng sinh trong cõi ta-bà.

Bình Anson
Perth, Tây Úc, tháng 10-2019

Tải bản PDF về máy để đọc:
=> https://budsas.net/sach/vn89.pdf

*
MỤC LỤC
GIỚI THIỆU
DẪN NHẬP

CÁC HƯỚNG DẪN HÀNH THIỀN CHO NGÀI GIRIMĀNANDA
1. Quán tưởng vô thường (năm uẩn)
2. Quán sáu căn và sáu trần là vô ngã
3. Quán bất tịnh
4. Tưởng nguy hại
5. Quán tưởng về sự từ bỏ
6. Tưởng ly tham
7. Tưởng đoạn diệt
8. Tưởng về không ưa thích đối với tất cả thế giới
9. Tưởng vô thường trong tất cả hành
10. Niệm hơi thở

TOÀN BỘ TIẾN TRÌNH THIỀN QUÁN

PHỤ ĐÍNH
KINH GIRIMĀNANDA, bản Pāli
KINH GIRIMĀNANDA, bản Tây Tạng

*


Monday, 20 January 2020

Giới thiệu kinh điển nguyên thủy

GIỚI THIỆU KINH ĐIỂN NGUYÊN THỦY
Bhikkhu Bodhi (2005) - Bình Anson trích dịch (2017)

=> https://budsas.net/sach/vn86.pdf

Gần đây, trong trang Facebook của tôi, tôi thấy có một số bạn thắc mắc về nguồn gốc của kinh điển Pali. Đây là một đề tài rộng lớn và phức tạp. Tuy nhiên, tôi chợt nhớ đến một bài giới thiệu tóm lược của Tỳ-khưu Bodhi trong cuốn Những Lời Phật Dạy [*] mà tôi có dịch và ấn tống trong năm 2016 và 2017. Bài viết rất súc tích, bao gồm các điểm chính yếu và quan trọng về nguồn gốc và giá trị của kinh điển Pali, và giới thiệu tóm tắt về năm bộ kinh Nikaya.

Xin giới thiệu đến bạn nào chưa đọc. Bạn nào đã đọc rồi thì cũng nên dành thì giờ đọc lại để ghi nhớ thêm. Có thể tải tập tin PDF về máy rồi in xuống giấy A4 (7 trang) để đọc.

---------------
[*] Những lời Phật dạy, Bhikkhu Bodhi (2005), Bình Anson dịch (2017)

Tuesday, 3 December 2019

KINH PHÁP CÚ Bắc truyền

KINH PHÁP CÚ Bắc truyền
T-0210
Soạn tập: TÔN GIẢ PHÁP CỨU
Hán dịch: ĐỜI NGÔ, THIÊN TRÚC SA-MÔN DUY-KỲ-NAN
Việt dịch: THÍCH ĐỒNG NGỘ và THÍCH NGUYÊN HÙNG (2019)

Link tải về: https://budsas.net/sach/vn85.pdf

---------------------------
MỤC LỤC

Lời Thưa
Bài Tựa

01 - Phẩm 1: Vô Thường
02 - Phẩm 2: Khuyến Học
03 - Phẩm 3: Nghe Nhiều
04 - Phẩm 4: Dốc Lòng Tin
05 - Phẩm 5: Giữ Giới Cẩn Thận
06 - Phẩm 6: Quán Niệm
07 - Phẩm 7: Nhân Từ
08 - Phẩm 8: Nói Năng
09 - Phẩm 9: Song Yếu
10 - Phẩm 10: Phóng Dật
11 - Phẩm 11: Tâm Ý
12 - Phẩm 12: Hương Hoa
13 - Phẩm 13: Ngu Tối
14 - Phẩm 14: Minh Triết
15 - Phẩm 15: A La Hán
16 - Phẩm 16: Một và Nhiều
17 - Phẩm 17: Làm Ác
18 - Phẩm 18: Dao Gậy
19 - Phẩm 19: Già Suy
20 - Phẩm 20: Yêu Bản Thân
21 - Phẩm 21: Thế Tục
22 - Phẩm 22: Đức Phật
23 - Phẩm 23: An Ninh
24 - Phẩm 24: An Vui
25 - Phẩm 25: Tức Giận
26 - Phẩm 26: Trần Cấu
27 - Phẩm 27: Phụng Trì
28 - Phẩm 28: Con Đường Giải Thoát
29 - Phẩm 29: Quảng Diễn
30 - Phẩm 30: Địa Ngục
31 - Phẩm 31: Ví Dụ Con Voi
32 - Phẩm 32: Ái Dục
33 - Phẩm 33: Lợi Dưỡng
34 - Phẩm 34: Sa Môn
35 - Phẩm 35: Phạm Chí
36 - Phẩm 36: Niết Bàn
37 - Phẩm 37: Sinh Tử
38 - Phẩm 38: Nếp Sống Đạo
39 - Phẩm 39: Điều Lành

40 - Nguyên văn kinh chữ Hán
---------------------------

Sunday, 10 November 2019

Mười điều tâm niệm (Mười hạnh không cầu)

MƯỜI ĐIỀU TÂM NIỆM (MƯỜI HẠNH KHÔNG CẦU)
Luận sư Diệu Hiệp,
Hòa thượng Thích Trí Quang dịch.

Ngày nay chúng ta thường thấy nhiều bài viết trích đăng và giảng giải về mười điều tâm niệm này. Có nơi ghi sai lạc là lời Phật dạy. Thật ra, mười điều này đầu tiên là do Hòa thượng Trí Quang dịch từ cuốn BẢO VƯƠNG TAM MUỘI NIỆM PHẬT TRỰC CHỈ - 寶王三昧念佛直指 của ngài Luận sư Diệu Hiệp.

Đầu tiên, ngài Hòa thượng dịch là MƯỜI HẠNH KHÔNG CẦU, về sau đổi lại là MƯỜI ĐIỀU TÂM NIỆM. Từ đó, cụm từ này trở nên phổ thông trong kinh sách Phật giáo Việt Nam.

Tham khảo:

1) http://www.buddhismtoday.com/viet/kinh/dt/014-sadi.htm

2) https://www.rongmotamhon.net/xem-kinh_Bao-Vuong-Tam-Muoi-Niem-Phat-Truc-Chi_kdqtcgtl_viet2.html

--------------------

Trích: Sa Di Giới Và Sa Di Ni Giới, Hòa thượng Thích Trí Quang dịch giải.
http://www.buddhismtoday.com/viet/kinh/dt/014-sadi.htm

MƯỜI ĐIỀU TÂM NIỆM

Thứ nhất, nghĩ đến thân thể thì đừng cầu không bịnh khổ, vì không bịnh khổ thì dục vọng dễ sinh. Thứ hai, ở đời đừng cầu không hoạn nạn, vì không hoạn nạn thì kiêu xa nổi dậy. Thứ ba, cứu xét tâm tánh thì đừng cầu không khúc mắc, vì không khúc mắc thì sở học không thấu đáo. Thứ tư, xây dựng đạo hạnh thì đừng cầu không bị ma chướng, vì không bị ma chướng thì chí nguyện không kiên cường. Thứ năm, việc làm đừng mong dễ thành, vì việc dễ thành thì lòng khinh thường, kiêu ngạo. Thứ sáu, giao tiếp đừng cầu lợi mình, vì lợi mình thì mất đạo nghĩa. Thứ bảy, với người thì đừng mong tất cả đều thuận theo ý mình, vì được thuận theo ý mình thì lòng tất kiêu căng. Thứ tám, thi ân thì đừng cầu đền đáp, vì cầu đền đáp là thi ân mà ý có mưu đồ. Thứ chín, thấy lợi thì đừng nhúng vào, vì nhúng vào thì si mê phải động. Thứ mười, oan ức không cần biện bạch, vì biện bạch là nhân ngã chưa xả.

Bởi vậy, Phật dạy lấy bịnh khổ làm thuốc thần, lấy hoạn nạn làm giải thoát, lấy khúc mắc làm thú vị, lấy ma quân làm bạnđạo, lấy khó khăn làm thích thú, lấy kẻ tệ bạc làm người giúp đỡ, lấy người chống đối làm nơi giao du, coi thi ân như đôi dép bỏ, lấy sự xả lợi làm vinh hoa, lấy oan ức làm cửa ngõ đạo hạnh. Nên chấp nhận trở ngại thì lại thông suốt, mà cầu mong thông suốt thì sẽ bị trở ngại. Thế tôn thực hiện tuệ giác bồ đề ngay trong mọi sự trở ngại. Ương quật hành hung, Đề bà quấy phá, mà Ngài giáo hóa cho thành đạo cả. Như vậy há không phải chính sự chống đối lại làm sự thuận lợi, và sự phá hoại lại làm sự tác thành, hay sao? Ngày nay, những người học đạo, trước hết không dấn mình vào trong mọi sự trở ngại, nên khi trở ngại ập đến thì không thể ứng phó. Chánh pháp chí thượng vì vậy mất hết, đáng tiếc đáng hận biết ngần nào?

GHI CHÚ

Trước đây 10 điều tâm niệm tôi dịch từ sự trích lục của 1 bộ sách. Nay thì tìm ra và dịch theo nguyên văn, nằm trong Chính 47/373, tên sách là Bảo vương tam muội niệm Phật trực chỉ, của ngài Diệu hiệp, 1 tác phẩm mà ngài Vân thê muốn nhưng chưa thấy được (Chính 47/354). Mười điều tâm niệm được mở đầu bằng những lời sau đây.

Tâm tánh bình đẳng, bản thể nguyên vẹn. Do đó mà chúng sinh tuy bị ràng buộc trong nghiệp thức, nhưng không ai lại không có cái chí xuất trần. Thế nhưng muốn tham cứu đạo lý thì ma chướng đã hiện ra, một việc phiền lòng là vạn điều thiện mất cả, thành công thì nhỏ mà thất bại quá lớn, nên người đắc đạo quả thật quá ít. Huống chi vật dục đua nhau khuynh loát tâm trí, sống chết giành nhau đánh đổ sinh mạng, khiến ai cũng như ai. Làm cho cái Pháp mà Phật đã trải qua 3 vô số kiếp, hy sinh vô số đầu mắt tủy não, quốc thành thê tử, thân thịt tay chân, giữ giới, nhẫn nhục, tinh tiến, phụng sự thiện hữu, không tiếc tính mạng trong việc tu tập các nhân tố của tuệ giác bồ đề mới thực hiện được, cái Pháp ấy nhất đán đến ta, gặp trở ngại mà thoái chí là mất tất cả, thật đáng thống hận. Nay ta đã làm con Phật, vậy mà không nổ lực phấn đấu, ngồi mà nhìn con mắt tuệ giác của pháp giới chúng sinh mù mất, thì thật đau lòng còn hơn cắt da xả thịt. Do đó mà tôi y cứ kinh điển, lập ra "10 hạnh trở ngại lớn lao", mệnh danh là "10 hạnh không cầu". Tình đời dẫu chẳng ai muốn trở ngại, nhưng cố gắng chấp nhận thì những trở ngại ấy hiện ra, thân tâm ta nhờ đã nung luyện trước trong đó, nên các thứ ma, mọi thứ ác, hết thảy trở ngại không thể khuynh đảo hay cản trở được nữa. Như vàng ở trong lò lửa, lửa nung vàng, nhưng vàng lại nhờ đó mà thành vật dụng ...

Và "10 hạnh không cầu" ấy tôi đổi tên là "10 điều tâm niệm".

– Trí Quang

*

* * *

Wednesday, 6 November 2019

Bộ đồ nghề sửa xe

BỘ ĐỒ NGHỀ

Sáng nay tôi đọc được một bài viết đâu đó về các pháp thiền. Người ta thường thảo luận, đề cao một pháp thiền nào đó của một vị thiền sư nào đó, rồi cho rằng chỉ có pháp đó là “con đường duy nhất” hay chỉ cần hành theo duy nhất một pháp đó là đủ rồi.

Tôi chợt nghĩ đến hình ảnh ông thợ máy sửa xe. Một người thợ giỏi phải có một bộ đồ nghề đầy đủ và phải biết sử dụng rành rẽ các dụng cụ đó. Tùy trường hợp mà phải biết dùng những thứ nào cho thích hợp. Mình đem xe đến sửa, gặp ông thợ máy chỉ có một cái búa trong tay và nói sẽ sửa được tất cả mọi thứ thì mình phải tránh xa, phải gấp rút đem xe đi sửa ở nơi khác.

Tương tự như thế, hành thiền là để sửa tâm. Cần phải biết những phương pháp, kỹ thuật khác nhau để đối trị, huân tập cái tâm hoang vu của mình. Cần phải thận trọng với những nơi nào chỉ biết thực hành, chỉ dạy, đề cao một phương pháp duy nhất.

*
.

Friday, 25 October 2019

Cúng dường

Mỗi người một ý, ai cũng có lý, không ai giống ai. Riêng tôi, mỗi khi đến chùa với tác ý cúng dường, tôi thường cúng dường tịnh tài vào quỹ điều hành tu viện, thay vì mua quà hay tứ vật dụng. Đã từng tham gia vào các sinh hoạt của chùa, tôi biết chùa rất cần có ngân khoản để trang trải các chi phí điều hành, bảo quản cơ sở của tự viện.

Những món quà như hoa tươi, nhang đèn, bánh trái, tranh ảnh, v.v. gói ghém với đủ loại giấy màu trông có vẻ trang trọng, mỹ thuật, nhưng thật ra không thực dụng, không cần thiết. Đa phần là dư thừa, không dùng đến. Nhất là các món thức ăn nấu sẵn đem đến cúng dường, có khi phải đem đổ bỏ sau buổi lễ. Rất hoang phí!

Đây chỉ là một ý kiến cá nhân. Không đúng mà cũng chẳng sai. Chỉ xin chia sẻ ở đây. Hoàn toàn không có ý phê bình chỉ trích ai cả.

*

Tuesday, 22 October 2019

Từ từ rồi cháo cũng nhừ.

Sau 40 năm, học trò chậm lụt vẫn còn phải học - Từ từ rồi cháo cũng nhừ.

Gần đây tôi thỉnh mua được cuốn sách mới của Bhikkhu Analayo về pháp quán niệm hơi thở, vừa đọc vừa suy ngẫm. Tối qua, không hiểu vì lý do gì tôi lại nhớ đến cuốn sách được một bạn đạo Úc tặng trong những năm bắt đầu tìm hiểu và học thiền trong truyền thống Theravada. Nhìn lại cũng đã 40 năm. Ngẫm nghĩ thấy mình cũng chẳng có tiến bộ đáng kể nào.

Nhận được những thông tin người ta kể những chuyện đi học thiền vài khóa, đọc vài cuốn sách rồi tự thực tập hành thiền, hay đến tịnh tu tại một trường thiền nào đó vài ba tháng là đắc được nầy nọ, nghe mà ham!

Thôi thì chắc là mình thuộc thành phần "phước mỏng, nghiệp dày" với đầu óc chậm lụt (tiếng Anh gọi là "slow learner" - người học chậm), thì mình cứ kiên trì, thủng thẳng, thong thả bước đi. Được bước nào hay bước đó, vì nếu không đi thì sẽ không bao giờ đến.

"Từ từ rồi cháo cũng nhừ", người ta thường nói như thế.

*

1) Mindfulness of Breathing: Buddhist Texts from the Pali Canon and Commentaries, by Bhikkhu Nyanamoli (1952, 2010).
Tải bản PDF: https://budsas.net/sach/en150.pdf

2) Mindfulness of Breathing: A Practice Guide and Translations, by Bhikkhu Analayo (2019).
Đặt mua (sách in và ebook) tại: https://www.windhorsepublications.com/

*

Saturday, 19 October 2019

AFL của Sư, Ba Tê của tôi

AFL của Sư, Ba Tê của tôi.

Người Úc rất mê theo dõi các trận đấu bóng bầu dục, theo quy luật riêng của Úc. Họ thường gọi tắt là AFL (Australian Football League), đấu bóng theo các hội bóng Úc.

Dựa vào đó, ngài Ajahn Brahm thường khuyên các Phật tử Úc là ngoài việc mê xem AFL, họ cũng nên áp dụng nguyên tắc AFL trong đời sống hằng ngày. Đó là:

Acknowledge - Forgive - Learn (Ghi nhận - Tha thứ - Học tập).

Là phàm nhân, ai cũng phạm lỗi lầm. Đầu tiên là phải biết thành thật ghi nhận, không lẫn tránh, ngụy biện che lấp. Kế tiếp là phải biết tự tha thứ cho những lỗi lầm đó. Không nên để cắn rứt, trách móc, dày vò. Cuối cùng là phải biết rút tỉa kinh nghiệm, học tập để tránh phạm vào lỗi lầm đó trong tương lai.

Thú thật là tôi sống ở xứ Úc hơn 40 năm, đã là công dân Úc, đã từng làm việc cho chính phủ Úc, mà tôi vẫn không biết gì về các trận đấu bóng AFL. Chỉ đi xem một trận bóng với cô Ba nhà tôi và các bạn của cổ một lần trong đời vì tò mò muốn biết. Rồi thôi, không quan tâm đến nữa.

Nhưng tôi lại có tâm hồn ăn uống, rất thích ăn bánh Ba-tê-sô (Paté Chaud), nhâm nhi với một tách cafe sữa, hay chấm vào nước súp hủ tíu. Tuyệt vời!

Cho nên, thay vì nghĩ nhớ đến nguyên tắc AFL của ngài Ajahn Brahm, tôi tạo ra nguyên tắc Ba Tê (3T) cho riêng tôi:

Thành thật - Tha thứ - Tu tập.

Thành thật nhìn nhận lỗi lầm của mình. Tha thứ cho chính mình. Tu tập để tránh vi phạm trong tương lai.

*

Friday, 18 October 2019

Sách: ỐC ĐẢO TỰ THÂN - Tu tập đưa đến an bình. Ni sư Ayya Khema.

Sách: ỐC ĐẢO TỰ THÂN - Tu tập đưa đến an bình.
Ni sư Ayya Khema.
Diệu Liên Lý Thu Linh dịch Việt.
Nguyên tác: Be an island - A Buddhist practice of inner peace.

Tải về bản Việt dịch và bản gốc tiếng Anh, dạng ebook PDF tại:
=> https://budsas.net/sach/vn84.pdf

*

MỤC LỤC

I. KHAI THỊ TÂM TRÍ
Chương 1 - Nương Trú Tam Bảo, Một Tình Cảm Yêu Thương
Chương 2 - Pháp Của Đấng Giác Ngộ

II. XÂY DỰNG NỀN TẢNG
Chương 3 - Quan Điểm Và Ý Kiến
Chương 4 - Điều Phục Tâm
Chương 5 - Vô Minh
Chương 6 - Lý Duyên Khởi
Chương 7 - Tâm Dễ Uốn Nắn

III. HÒA NHẬP VÀO CUỘC SỐNG
Chương 8 - Sống Hòa Hợp
Chương 9 - Giao Tiếp Với Người
Chương 10 - Biết Chấp Nhận Mình
Chương 11 - Lý Tưởng Cô Độc
Chương 12 - Tâm Bình An
Chương 13 - Chiến Tranh Và Hòa Bình

IV. NHỮNG ĐIỀU CỐT LÕI
Chương 14 - Nhiều Giọt Nước Sẽ Làm Đầy Hồ
Chương 15 - Bất Nhị Nguyên
Chương 16 - Tiềm Thức
Chương 17 - Vô Khổ, Vô Nhiễm và Tự Tại

V. HOÀN THIỆN CON ĐƯỜNG TU
Chương 18 - Đối Với Bản Thân
Chương 19 - Tình Thương Yêu
Chương 20 - Hãy Làm Điều Khó Thể Làm Được
Chương 21 - Buông Xả
Chương 22 - Dọn Nhà Tâm

VI. KHÁI NIỆM GIẢI THOÁT
Chương 23 - Giải Thoát Ngay Trong Giờ Phút Hiện Tại
Chương 24 - Đạo và Quả

PHỤ LỤC
Ở Một Ni Viện (Sandy Boucher)

*

Wednesday, 16 October 2019

Sách: TÔI LÀ AI? Một phương pháp hành thiền. Ni sư Ayya Khema.

Sách: TÔI LÀ AI? Một phương pháp hành thiền
Ni sư Ayya Khema.
Diệu Liên Lý Thu Linh dịch Việt.
Nguyên tác: Who is my self? A guide to Buddhist meditation

Tải về bản Việt dịch và bản gốc tiếng Anh, dạng ebook PDF tại:
=> https://budsas.net/sach/vn83.pdf

Ni sư Ayya Khema hướng dẫn hành thiền dựa theo Kinh Potthapada (Bố-sá-bà-lâu, Trường bộ 9).

*

Monday, 14 October 2019

Sách: NGHỆ THUẬT SỐNG. Thích Nhật Từ (2018)

Sách: NGHỆ THUẬT SỐNG. Thích Nhật Từ (2018)

Tải về bản PDF:
=> https://budsas.net/sach/vn82.pdf

----------------------
MỤC LỤC

Lời giới thiệu
CHƯƠNG 1: NGHỆ THUẬT LÀM CHỦ SỞ THÍCH
1- Xác định sở đoản và sở trường
2- Học ít hiểu nhiều
3- Thích làm việc phước báo
4- Từ bỏ yêu và ghét
5- Từ bỏ tham ái
6- Nhập vào dòng thánh

CHƯƠNG 2: NGHỆ THUẬT TIÊU TIỀN
1- Biết tránh nợ nần bằng mọi giá
2- Biết nói không với những gì không đáng chi tiêu
3- Biết hài lòng với những gì ta đang có
4- Biết tự làm, thay vì nhờ đến các dịch vụ
5- Biết sự vật được sử dụng cho nhiều mục đích
6- Biết thời trang không nhất thiết là đẹp và sang
7- Biết cơm ở nhà là ngon và an toàn hơn cơm ở ngoài tiệm .42
8- Biết mặc cả để không bị hớ trong mua bán

CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT HÒA GIẢI
1- Học Phật trên tinh thần không tranh cãi
2- Không đào sâu sự bất đồng
3- Nghệ thuật vượt qua sự bất thiện
4- Tìm người nhu hòa để thiết lập cảm thông
5- Đối đầu và loại trừ sinh tâm sân hận
6- Không khen mình chê người

CHƯƠNG 4: NHỮNG NGHỊCH LÝ NÊN TRÁNH
1. Bỏ quên làng xóm
2. Bất lực bản thân
3. Tự làm bất tịnh
4. Nhìn nhau bằng thái độ hẹp hòi
5. Thiếu thời gian cho nhau
6. Học cách sống bình an
7. Cuộc sống ngắn ngủi

CHƯƠNG 5: BẢY PHƯƠNG PHÁP CHẾ TÁC HẠNH PHÚC
1- Học nhận lỗi và xin lỗi
2- Học độ lượng và tha thứ
3- Học thấu hiểu và thông cảm
4- Học hài hòa và đoàn kết
5- Học kiên trì và nhẫn nại
6- Học buông bỏ và thong dong
7- Học Phật pháp để vượt khổ đau

CHƯƠNG 6: KHI NƯỚC KHÔNG HÒA VỚI SỮA
1- Rũ bỏ những dị biệt
2- Đổ vỡ về quan hệ vợ chồng
3- Mâu thuẫn nhóm
4- Mâu thuẫn trong cộng đồng
5- Mâu thuẫn tôn giáo

CHƯƠNG 7: NGHỆ THUẬT SỐNG
1. Làm chủ ngôn ngữ
2. Nói lời chân thật
3. Phản tỉnh tâm mình
4. Quý trọng sự sống
5. Trau dồi tài đức
6. Tùy duyên bất biến

CHƯƠNG 8: CHÍN BỎ LÀM MƯỜI - NGHỆ THUẬT SỐNG HẠNH PHÚC
1- Không cường điệu gút mắc
2- Không nên vi phạm sự tương nhượng
3- Chuyển hướng để đạt giá trị xây dựng và trị liệu tích cực
4- Không quan trọng hóa sở đoản của người khác
5- Không kể tội và vạch tội người khác
6- Độ lượng, bao dung và tha thứ
7- Rũ bỏ ám ảnh và thành kiến

CHƯƠNG 9: VẤN ĐÁP - CHỦ ĐỀ NGHỆ THUẬT SỐNG

*

Sách: PHẬT GIÁO - Một Bậc Đạo Sư, Nhiều Truyền Thống

Sách:
PHẬT GIÁO - Một Bậc Đạo Sư, Nhiều Truyền Thống. Thích Giới Hương & Thích Đạo Tỉnh dịch (2019).

Nguyên tác:
BUDDHISM - One Teacher, Many Traditions. Bhiksu Tenzin Gyatso (The 14th Dalai Lama) & Bhiksuni Thubten Chodren (2014).

Tải về máy để đọc, dạng PDF (Việt-Anh):
=> http://budsas.net/sach/vn58.pdf

*
MỤC LỤC

Lời giới thiệu của Tỳ kheo Thích Đạo Tỉnh
Lời cảm tạ của ban biên tập
Lời giới thiệu của Bhante Gunaratana
Lời tựa của Đức Đạt Lai Lạt Ma
Lời đầu của Ni sư Thubten Chodron

1. NGUỒN GỐC VÀ TRUYỀN BÁ GIÁO LÝ ĐỨC PHẬT
Cuộc đời của Đức Phật
Kinh Điển Phật Giáo và Sự Truyền Bá Giáo Pháp
Truyền thống Pāli
Phật giáo Trung Quốc
Phật Giáo Tây Tạng
Tương đồng và Khác biệt

2. QUY Y TAM BẢO
Tam Bảo
Đức Tánh của Như Lai
Tam Bảo: Truyền thống Pāli
Tam Bảo: Truyền thống Sanskrit
Giác ngộ, Niết bàn và Toàn tri
Quy y và Trì giữ Pháp Quy Y đúng cách

3. MƯỜI SÁU THUỘC TÍNH CỬA TỨ ĐẾ
Truyền thống Phạn ngữ
Truyền thống Pāli

4. GIỚI
Tầm quan trọng của Giới
Biệt giải thoát
Tại sao lại là sống độc thân
Các trường phái Luật
Giá trị của tăng già
Tu viện Tây Tạng và Truyền thống khác
Thử thách cho các Tăng sĩ Phương Tây
Người nữ được thọ Cụ túc giới
Lời khuyên cho Bậc xuất gia
Niềm vui trong Giới luật
Bồ Tát và các Giới Mật tông (Tantric)

5. ĐỊNH
Tầm quan trọng của thiền định
Các cảnh giới hiện hữu và các phạm vi thuộc ý thức
Truyền thống Pāli
Năm triền cái và năm thiền chi
Tứ Thiền
Tứ Không
Tám giải thoát
Thần thông
Truyền thống Phạn
Tư thế và đối tượng thiền
Năm lỗi lầm và Tám Hạnh Đoạn
Chín giai đoạn duy trì sự tác ý
Thiền chỉ và thiền chứng
Phật giáo Trung Quốc

6. TRÍ TUỆ: BA MƯƠI BẢY PHẨM TRỢ ĐẠO
Ba mươi bảy phẩm trợ đạo
Tứ Niệm Xứ
Quán Niệm Thân
Thọ
Tâm
Pháp
Tứ Niệm Xứ cho các bậc Bồ tát
Tứ Chánh Cần
Tứ Như Ý Túc
Năm Căn và Năm Lực
Thất Giác Chi
Bát Chánh Đạo
Tục đế và Chân đế của Ba mươi bảy Phẩm trợ đạo

7. NGÃ VÀ LÝ KHÔNG
Truyền thống Pāli: Tự Ngã và Các Uẩn
Trung Quán Luận: Đối tượng phủ định
Bảy điểm phủ định
Sáu Đại không phải là Tự Ngã
Phủ định bốn Cực đoan về Duyên Khởi
Vô Ngã và Không Thật
Lý Tánh Không
Cái gì tạo ra Nghiệp?

8. LÝ DUYÊN KHỞI
Mười hai nhân duyên
Dòng liên kết của các Khoen
Lợi ích của thiền quán về Mười hai Khoen Nhân duyên 292
Truyền thống Phạn: Lý Duyên Khởi
Lý Nhân Duyên
Mối Tương quan Tương duyên
Chỉ là Giả danh
Sự Tương Hợp của Tánh Không và Lý Duyên Khởi
Truyền thống Pāli: Thuật ngữ, Khái niệm và Quy ước

9. SỰ HÒA HỢP CỦA THIỀN CHỈ VÀ THIỀN QUÁN
Truyền Thống Pāli
Truyền Thống Phạn
Phật giáo Trung Quốc

10. TIẾN TU
Truyền thống Pāli: Thanh tịnh và Kiến tri
Truyền thống Phạn: Năm Đạo và Thập địa Bồ tát
Sự khác nhau giữa ba thừa
Truyền thống Phạn: Niết bàn
Truyền thống Pāli: Niết bàn

11. TỨ VÔ LƯỢNG TÂM
Truyền thống Pāli
Từ
Bi
Hỉ
Xả
Tứ vô lượng tâm và Trí quán
Những Chướng ngại gần và xa
Truyền thống Phạn

12. BỒ ĐỀ TÂM
Phật giáo Tây Tạng
Hạnh Buông xả
Bảy Nhân Quả
Bình đẳng giữa Ta và Người
Tự Lợi, Tự Tin, Tự Tôn và Tự Ngã
Phát Bồ đề tâm
Phật giáo Trung Quốc
Bốn Hoằng Thệ Nguyện
Phát Bồ đề tâm
Truyền thống Pāli: Bồ đề tâm và Bồ tát

13. BỒ TÁT TU TẬP CÁC BA-LA-MẬT
Truyền thống Phạn
Truyền thống Pali
Bố Thí Ba-La-Mật
Giới Ba-La-Mật
Nhẫn Nhục
Tinh Tấn
Thiền Định
Trí Tuệ
Nguyện Ba-La-Mật
Phương Tiện Thiện Xảo
Chân Thật, Từ Bi & Tâm
Tứ Nhiếp Pháp

14. KHẢ NĂNG GIÁC NGỘ VÀ PHẬT TÁNH
Có thể giải thoát được không?
Truyền thống Pāli: Tâm quang minh
Trường Phái Du Già: Phật Tánh
Trường phái Trung quán: Phật Tánh
Mật thừa: Phật tánh
Thiền: Phật tánh, Bồ đề tâm, và Như thị
Như Lai tạng

15. MẬT TÔNG
Các vị Thần Mật Tông
Nhập Kim Cang Thừa
Diệu Dụng của Mật giáo Du Già cao nhất

16. KẾT LUẬN

*


Sunday, 13 October 2019

Tôi học A-tỳ-đàm

TÔI HỌC A-TỲ-ĐÀM.

Khi tôi bắt đầu đến với truyền thống Theravada vào đầu thập niên 1980, tôi chỉ biết đọc vài cuốn sách căn bản về Đạo Phật và bản Anh dịch của Trung Bộ Kinh. Đến giữa thập niên 1990, qua sự giới thiệu của Ni sư Dipankara – đệ tử của ngài Thiền sư Pa-Auk (Myanmar), tôi bắt đầu đọc cuốn “Path of Purification“ (Visudhimagga) của Luận sư Buddhaghosa, do ngài Nanamoli dịch sang tiếng Anh. Sau đó, qua liên lạc với chư Tăng, tôi nhận được bộ sách “Thanh Tịnh Đạo” do Ni sư Trí Hải dịch sang tiếng Việt và được chùa Pháp Vân, California, ấn tống.

Khi đọc đến phần Tuệ của bộ sách ấy, tôi mới bắt đầu tìm hiểu thêm về các loại tâm như phân loại trong A-tỳ-đàm. Qua giới thiệu của các bạn đạo trên một diễn đàn Phật giáo quốc tế, tôi thỉnh mua quyển “A Comprehensive Manual of Abhidhamma” do ngài Bhikkhu Bodhi hiệu đính và bổ sung từ bản Anh dịch của ngài Hòa thượng Narada (“A Manual of Abhidhamma”), dịch từ bản gốc Pali “Abhidhamattha-sangaha” của Luận sư Anuruddha. Về sau, tôi thỉnh được cuốn “Thắng Pháp Tập Yếu Luận” của ngài Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ bản tiếng Anh của Hòa thượng Narada, do chùa Kỳ Viên, Washington D.C., USA, in lại. Sau khi hiệu đính lại bản dịch Việt, bác Phạm Kinh Khánh gửi cho tôi cuốn “Vi Diệu Pháp Toát Yếu” do bác dịch từ bản tiếng Anh của ngài Hòa thượng Narada. Đó là những tài liệu căn bản mà tôi đã đọc, tham khảo, tự mình tìm hiểu về Abhidhamma.

Về sau này, khi tiếp xúc và liên lạc được với các chùa Nam tông ở Sài Gòn, tôi thỉnh được toàn bộ tạng Vi Diệu Pháp do ngài Hòa thượng Tịnh Sự dịch từ bản Pali-Thái, xuất bản trong thập niên 1990.

Sau vài năm tự tìm tòi học hỏi, tôi cảm thấy mình không hợp duyên với bộ môn này. Tìm hiểu thêm về nguồn gốc và lịch sử Phật giáo tại Ấn Độ trong 5 thế kỷ sau khi Đức Phật bát-niết-bàn, tôi có cùng quan điểm với một số các vị học giả và các vị cao tăng (trong đó có Hòa thượng Minh Châu, Hòa thượng Thiện Siêu, Bhikkhu Bodhi, Bhikkhu Analayo, Bhikkhu Sujato, Gs. R. Gethin, Gs. P. Harvey, Gs. C. Cox,…) rằng Abhidhamma là hệ thống những tư tưởng phát triển về sau, trong thời kỳ phân chia bộ phái, không phải là những gì Đức Phật đã giảng dạy khi Ngài còn tại thế.

Vi thế, đối với riêng cá nhân tôi, những gì Đức Phật giảng dạy như được ghi trong tạng Kinh, và một số bài giảng ghi trong tạng Luật, là cần thiết, quan trọng, và đầy đủ để tôi học tập và áp dụng thực hành trong những năm tháng còn lại của cuộc đời. Còn những thứ khác chỉ là để biết sơ qua vì tò mò, rồi để đó, không quan tâm, không nhớ nghĩ đến nữa.

– Bình Anson, 11/10/2019.

------------------------
* Ghi thêm: Abhidhamma có nhiều tên dịch khác nhau – Thắng Pháp, Vô Tỷ Pháp, Vi Diệu Pháp, A-tỳ-đàm. Ngày xưa, tôi thích dùng từ “Thắng Pháp”, nhưng gần đây, có lẽ chịu ảnh hưởng của các sách tiếng Anh – họ để nguyên, không dịch từ Abhidhamma – tôi chọn dùng từ phiên âm Hán Việt là “A-tỳ-đàm”. Từ này đã được dùng rất nhiều trong kinh điển cổ xưa của Hán tạng. Người Thái cũng không dịch, họ phiên âm ra là “A-bí-tham”.

*