Tuesday, 19 July 2022

Sau khi tôi chết

 SAU KHI TÔI CHẾT

Tôi đã từng nói với bà xã và các con rằng trong đời tôi, từ khi trưởng thành, tự lập cho đến bây giờ, tôi đã làm tròn nhiệm vụ của một người con, người chồng, người cha trong gia đình. Trong khả năng nhỏ bé, tôi đã tận lực đóng góp vào xã hội mà tôi đã và đang sống (Việt Nam, Thái Lan, Úc). Sau hơn mười năm nghỉ hưu như là một cư sĩ Phật tử tầm thường, tôi không còn tha thiết gì đến công danh, sự nghiệp, tiền bạc, tài sản hay bất cứ điều gì khác trong kiếp sống này. Tôi hầu như dành trọn thì giờ và công sức để tìm hiểu và tu tập theo lời Phật dạy, và thường xuyên quán niệm về cái chết. Vì thế tôi không sợ sệt, không trốn tránh cái chết. Tôi tin rằng mình đã chọn đúng đường. Với lòng tín thành sâu đậm nơi Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng), tôi tin rằng khi chết đi, mình sẽ nhanh chóng tái sinh vào một cảnh giới nào đó với những điều kiện thích hợp để tiếp tục con đường này cho đến đích cuối cùng.

Cho nên sau khi tôi chết, những gì còn lại chỉ là một túi da bọc thịt xương, không có gì là quan trọng, đáng quan tâm. Gia đình tôi có thể liên lạc và làm việc với dịch vụ tống táng, chọn lựa loại quan tài rẻ tiền nhất để đem đi hỏa thiêu trong thời hạn ngắn nhất, tùy theo điều kiện của địa phương. Nếu phải nhập gia tùy tục thì có thể tổ chức theo nghi thức tang lễ tối giản của người Úc, không cần phải quan tâm đến các nghi thức rườm rà của người Việt hay người Thái. Cũng không cần thiết phải thỉnh mời chư Tăng hay ai đó đến tụng kinh cầu siêu. Tổ chức tang lễ theo nguyên tắc chính là "Nhanh, Gọn, Rẻ" (Quick, Simple, Cheap).

Sau khi hỏa thiêu, có thể đem tro cốt đến chôn ở tường rào quanh Tu viện Bodhinyana, Tây Úc – theo phong tục của người Thái, hoặc rải tro cốt vào khu rừng của Tu viện hay khu rừng bên cạnh Tu viện. Nếu thấy bất tiện, có thể rải tro cốt xuống biển hay rải vào khu rừng nào đó cũng được, tùy duyên. Sau đó, gia đình không cần phải cúng thất hay cúng giỗ mỗi năm. Thỉnh thoảng nếu có tưởng nhớ đến tôi thì đem chút ít tịnh tài đóng góp vào các hoạt động từ thiện xã hội hay các cơ sở Phật giáo. Như thế là quá đủ. Không cần phải làm thêm gì khác.

Bình Anson
Perth, Tây Úc
19/07/2022

*


Tuesday, 12 July 2022

Kỷ niệm với Sư Thiện Minh (1969-2018)

Tập sách đầu tay của tôi

Năm 2004, tôi đề nghị huynh Thiện Nhựt ở Montreal, Canada, dịch sang tiếng Việt tập sách "A Basic Method of Meditation" của ngài Ajahn Brahm và tôi giúp hiệu đính lại để đưa vào trang web BuddhaSasana với tựa đề "Căn bản pháp hành thiền". Sư Thiện Minh rất thích bản Việt dịch nầy và đề nghị cho ấn tống để phổ biến tại Việt Nam. Sư bố trí mọi công việc, từ dàn trang, làm bìa, cho đến xin giấy phép xuất bản, đặt nhà in, v.v. với sự trợ giúp của Sư Minh Tấn, em trai của Sư. Tôi chỉ gửi tiền hùn phước để trang trả các chi phí in ấn.

Tập sách mỏng đó được nhiều người đón nhận và đã phân phối đi mọi nơi, kể cả bên Úc. Tiếc rằng hiện nay ngay cả chính tôi cũng không có được bản in nào.

Xem như đây là tập sách đầu tiên của tôi được phổ biến trong dạng sách in tại Việt Nam. Lúc nào tôi cũng nhớ và biết ơn sự nhiệt tình hỗ trợ của Sư trong các công tác Phật sự.

* Ghi thêm: Tập sách đã được hiệu đính và bổ sung các bài viết khác về hành thiền. Tái bản ấn tống vào tháng 11, năm 2018. Phiên bản online (pdf):

=> https://tinyurl.com/2dj4x66w

*



Friday, 8 July 2022

Chỉ là một hạt cát

Nhận được một hình từ một trang Facebook nào đó, chụp tấm bảng: “NO MATTER HOW GOOD YOU ARE, YOU CAN ALWAYS BE REPLACED” – Cho dù bạn tài giỏi đến đâu đi nữa, bạn vẫn có thể được thay thế. Rồi tôi nhớ đến một câu châm ngôn tôi nghe một bạn đồng nghiệp nói ra khi còn làm việc, mà tôi luôn ghi nhớ trong lòng: “NO ONE IS INDISPENSABLE” – Không ai là người không thể thay thế. Có nghĩa là đừng cho mình là một nhân vật quan trọng không thể thay thế trong bất cứ hoàn cảnh nào, từ đời sống trong gia đình cho đến sinh hoạt trong nhóm bạn bè, trong công ăn việc làm, trong một tổ chức, trong một giáo hội, v.v. – nói chung là trong bất kỳ một tập thể xã hội nào.

Một câu tương đương trong dân gian là: “Có mợ thì chợ cũng đông, không mợ thì chợ cũng không vắng người”.

Ngay cả trong Internet và các mạng xã hội cũng thế. Viết ra để chia sẻ cho vui thôi. Đừng cho rằng các đóng góp, các ý tưởng của mình là quan trọng. Một ngày nào đó, hết hứng thú thì đóng cửa, dẹp tiệm. Rồi cũng còn cả triệu trang web, trang blog, trang Facebook khác với nhiều ý tưởng bổ ích, thú vị, rất đáng học hỏi. Đúng sai, phải trái, khen chê rồi cũng thế thôi. Chỉ vài động tác nhấn nút bàn phím là xóa tất cả, không còn để lại gì nữa.

Chẳng có gì là quan trọng, và phải luôn luôn ghi nhớ mình chỉ là một hạt cát nhỏ bé trong bãi sa mạc rộng mênh mông của vũ trụ nầy.

*



Wednesday, 6 July 2022

Kỷ niệm của tôi với ngài Hòa thượng THÍCH MINH CHÂU (1918-2012)

 Kỷ niệm của tôi với ngài Hòa thượng THÍCH MINH CHÂU (1918-2012)

Khi còn học trung học, tôi thường đi bộ cùng với má tôi và em gái đến chùa Xá Lợi (Q.3, Sài Gòn) vì nhà chúng tôi ở gần đó. Chùa có hai tầng: tầng trên là chánh điện, tầng dưới là giảng đường. Một đêm rằm nọ, chúng tôi đến chùa, đứng ngoài nhìn vào, tôi thấy có một buổi giảng cho người lớn, diễn giả là một vị tu sĩ quấn y vàng. Không biết là ai, nhưng trong lòng tôi có một niềm kính trọng và hoan hỷ. Đó là hình ảnh đầu tiên của tôi về ngài Hòa thượng Thích Minh Châu.

Về sau, khi vào học đại học, dù khác trường, thỉnh thoảng tôi đến Đại học Vạn Hạnh -- gần cầu Trương Minh Giảng (nay đổi tên là Lê Văn Sĩ) -- để gặp các bạn học cũ, tôi lại thấy vị tu sĩ áo vàng đó, và bạn tôi cho biết đó là ngài Hòa thượng Thích Minh Châu, Viện trưởng Đại học Vạn Hạnh.

Mãi đến khi sang Úc, tôi có cơ duyên gần gủi các bạn Phật tử và Tăng Ni trong truyền thống Theravada, tôi bắt đầu tu học và tìm hiểu kinh điển trong truyền thống nầy. Từ đó, tôi mới biết Hòa thượng là dịch giả các bộ kinh Nikāya sang tiếng Việt.

Đến năm 1992, lần đầu tiên trở về VN sau nhiều năm xa cách, tôi nhờ em gái tôi đưa đến Thiền viện Vạn Hạnh, đường Nguyễn Kiệm, Phú Nhuận. Hôm đó, Hòa thượng đi vắng, nhưng tôi thỉnh được Trường Bộ và Trung Bộ vừa in ra, bìa cứng, đóng hộp, tôi vẫn còn giữ cho đến bây giờ. Trong những năm tiếp theo, bằng cách nầy hay cách khác, tôi tiếp tục thỉnh Tương Ưng Bộ, Tăng Chi Bộ và Tiểu Bộ. Xem như đầy đủ các bộ Nikāya do Hòa thượng dịch. Từ đó đến nay, tôi thường xuyên tham khảo các bản dịch đó.

Từ năm 2001, tôi về VN mỗi năm, viếng thăm các chùa Nam tông, và nhờ đó, thỉnh được bản Trường Bộ và Trung Bộ in trước năm 1975, song ngữ Pali-Việt với nhiều chú thích rất giá trị. Trong các chuyến đi nầy, tôi đều đến quầy sách ở Thiền viện Vạn Hạnh, và các tiệm sách PG khác ở Sài Gòn, tìm mua các sách của Hòa thượng: Phật pháp, Đường về xứ Phật, Những ngày và những lời dạy cuối cùng của Đức Phật, Đại thừa và sự liên hệ với Tiểu thừa (dịch), Sách dạy Pali, Chữ Hiếu trong đạo Phật, Hành thiền, Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, Chánh pháp và hạnh phúc, Đức Phật của chúng ta ... và những cuốn song ngữ Anh Việt: Thắng pháp tập yếu luận (Abhidhammattha-sangaha, dịch từ bản tiếng Anh của Hòa thượng Narada), Hsuan T'sang - The Pilgrim and Scholar (Huyền Trang, nhà chiêm bái và học giả), Fa-Hsien - The Unassuming Pilgrim (Pháp Hiển, nhà chiêm bái khiêm tốn), Milinda-panha and Nagasena-bhikhu sutra - A comparative study (Nghiên cứu đối chiếu Kinh Milinda vấn đạo chữ Pali và Kinh Na-tiên Tỷ kheo chữ Hán), The Chinese Madhyam-agama and The Pali Majjhima Nikaya (So sánh kinh Trung A-hàm chữ Hán & kinh Trung bộ chữ Pali - Luận án tiến sĩ).

Năm 2004 tôi đến thăm Hòa thượng, lúc đó đã yếu, ngồi xe lăn, ở tầng trên cùng của Thiền viện Vạn Hạnh. Tôi cúng dường đĩa CD Phật Học, và báo đến ngài rằng toàn bộ bản dịch Nikāya của ngài đã được đưa vào Internet và đĩa CD để phổ biến khắp nơi. Có lẽ ngài nghe hiểu, nên tôi thấy ngài mỉm cười. Đó là lần cuối cùng tôi gặp ngài.

Ngài Hòa thượng cũng được nhiều người trong cộng đồng Phật giáo thế giới biết đến. Một lần nọ, tôi nhận được một email từ ngài Bhikkhu Bodhi -- tăng sĩ người Mỹ, học giả Phật học nổi tiếng và là dịch giả Trung bộ, Tăng chi bộ và Tương ưng bộ sang tiếng Anh. Bhikkhu Bodhi cho biết được tin Hòa thượng Minh Châu lâm bệnh nặng, ngài nhờ tôi chuyển thư của ngài đến vấn an sức khỏe Hòa thượng. Bhikkhu Bodhi còn cho biết khi ngài còn là một sa-di Bắc tông tại Mỹ, ngài có gặp Hòa thượng Minh Châu, và Hòa thượng khuyên ngài nên sang Sri Lanka, học và nghiên cứu kinh điển Pāli. Theo lời khuyên ấy, Bhikkhu Bodhi sang Sri Lanka, thọ giới trong truyền thống Theravada, và tu học, làm việc tại đó trong 30 năm. Vì thế, ngài lúc nào cũng nhớ và ghi ân về lời khuyên của Hòa thượng.

Quyển luận án tiến sĩ của ngài Hòa thượng được in thành sách, tái bản nhiều lần, được nhiều học giả dùng làm tài liệu tham khảo, và ngài Hòa thượng được xem như là người tiên phong, giới thiệu giá trị bộ A-hàm của Hán tạng đến giới học giả phương Tây. Gần đây, Bhikkhu Anālayo, tăng sĩ Đức, là một học giả có nhiều nghiên cứu so sánh các kinh điển nguyên thủy trong Pāli tạng và Hán tạng, đã viết một bài tham luận có tựa đề “The Chinese Madhyam-āgama and The Pāli Majjhima Nikāya - In the Footsteps of Thich Minh Chau” (Trung A-hàm chữ Hán & Trung Bộ chữ Pali - Đi theo bước chân của Thích Minh Châu).

-------------

Ghi thêm:

Ngài HT Minh Châu có liên hệ họ hàng với Thi hào Nguyễn Du, tóm tắt như sau:

1) Ông Đinh Văn Phác (1790 - 1833), đỗ Tiến sĩ đời vua Minh Mạng, có vợ là bà Nguyễn Thị Tiềm, là con gái Thi hào NGUYỄN DU.

2) Cháu nội của ông Đinh Văn Phác là ông Đinh Văn Chất (1847 -1887), đỗ Tiến sĩ đời vua Tự Đức.

4) Con của ông Đinh Văn Chất là ông Đinh Văn Chấp (1882 - 1953), đỗ Tiến sĩ (Hoàng Giáp) đời vua Duy Tân.

5) Con của ông Đinh Văn Chấp là ông ĐINH VĂN NAM tức Trưởng lão Hòa thượng THÍCH MINH CHÂU (1918 - 2012) đỗ Tiến sĩ Phật học tại Ấn Độ.

*


Tuesday, 5 July 2022

Ba sách Phật giáo căn bản

 Ba sách Phật giáo căn bản.

Hôm nay đi bơi. Khi thả nổi thân thể thư giãn trên mặt hồ, bỗng nhiên nghĩ đến các sách căn bản để tu học. Không phải có ý khoe khoang, nhưng thành thật mà nói, tôi nghĩ chỉ cần đọc đi đọc lại và suy ngẫm về ba cuốn sách này là tạm đủ hành trang lên đường. 

Những ai tò mò -- hoặc các nhà học giả, nghiên cứu sinh, thích tìm hiểu, nghiên cứu sâu rộng về những lĩnh vực khác trong đạo Phật thì có thể tìm đọc, tham khảo thêm các tài liệu sách vở kinh điển khác.

Có thể tải các bản PDF về máy để đọc:

1) Phật Pháp Vấn Đáp (2019):
https://tinyurl.com/4n9jz56j 
https://mega.nz/file/yo41karJ#IvnIfRzvhvq8vJqqzS7yqd9Pb9Vw8TcD46H0BdshHgA

2) Căn Bản Hành Thiền (2018):
https://tinyurl.com/2dj4x66w 
https://mega.nz/file/KxgHWYiA#8wVKEuTvZlw8CUc2o8aFjBX96g2nux7ISq6Uvo--c4c

3) Những Lời Phật Dạy (2016, 2023):
https://tinyurl.com/ju2p7k4p
https://mega.nz/file/fsoFELAD#7jZsv20MWDgiAEojglqfWFu7fRu3RJRiga43GAwFbtI

*



Thursday, 23 June 2022

Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 nhận xét về các ca sĩ ở Việt Nam (2013)

 Nguyễn Ánh 9 ‘mổ xẻ’ Thanh Lam, Đàm Vĩnh Hưng, Hà Hồ
VTC News 24/08/2013

*

(VTC News) – Với sự am hiểu sâu sắc, nhạc sỹ Nguyễn Ánh 9 không ngần ngại ‘mổ xẻ’ các gương mặt đình đám nhất làng nhạc Việt như  Thanh Lam, Đàm Vĩnh Hưng, Mỹ Tâm, Hà Hồ.

Với thâm niên 60 năm trong nghề, nhạc sỹ Nguyễn Ánh 9 cho rằng thị trường âm nhạc Việt Nam hiện nay chỉ có giải trí. Ông nói: “Việt Nam hiện tại chỉ có giải trí, không có nghệ thuật. Bây giờ, nhạc để xem nhiều hơn là để nghe. Người ta làm giải trí kiếm tiền, coi qua rồi bỏ chứ hiếm người tâm huyết làm nghệ thuật. Điều này khiến tôi buồn lắm vì con đường nghệ thuật của mình không có những người chung chí hướng để làm tốt vai trò nghệ sỹ.”

- So với thế hệ trước như ông, giới ca - nhạc sỹ Việt hiện nay có gì khác biệt đáng nói?

Hồi xưa, người nhạc sỹ viết ca khúc từ những cảm xúc thật của họ, họ viết ra để chia sẻ niềm vui, nỗi buồn cho mọi người chứ họ không viết nhạc để bán. Còn bây giờ, nhạc sỹ viết nhạc theo yêu cầu đơn đặt hàng nên âm nhạc không có hồn, không có cảm xúc thật của người sáng tác.

Ca sỹ bây giờ đa số chỉ chú trọng ăn mặc, make-up cho đẹp và lên sân khấu hát thì sau lưng có một đám múa. Nhưng ít chú trọng đến xúc cảm âm nhạc, không để tâm hồn vào bài hát.Hồi xưa, có những giọng ca còn để tiếng đến bây giờ như Lệ Thu, Thanh Thúy, Thái Thanh… nhưng bây giờ những ca sỹ hát giọng tốt đếm trên đầu ngón tay, đã vậy lại bị vướng vào kỹ thuật thanh nhạc.

Tôi nói có lẽ sẽ đụng chạm đến những người học thanh nhạc. Người ca sỹ học thanh nhạc hát phải phát âm cho tròn chữ, và cố gắng đưa giọng mình cho tròn trịa, giọng ngân cao vút… nhưng quá mãi lo kỹ thuật nên hát không có cảm xúc!

THANH LAM HÁT "CÔ ĐƠN" CÒN THUA CA SỸ NGHIỆP DƯ

- Những ca sỹ được phong hàng diva như Hồng Nhung, Thanh Lam, Mỹ Linh, Trần Thu Hà có bị vướng vào kỹ thuật thanh nhạc?

Thanh Lam, Mỹ Linh giọng hát rất đẹp, cái gì cũng tốt nhưng đều bị vướng kỹ thuật thanh nhạc nên nhiều lúc nhạc cảm không có, tâm hồn bài hát không có. Hồng Nhung hát tốt hơn Mỹ Linh, Mỹ Linh tốt hơn Thanh Lam.

Đơn cử, nghe Thanh Lam hát bài Cô đơn của tôi, tôi buồn lắm! Nó không ra cái cô đơn, thua một ca sỹ nghiệp dư hát vì hát không có hồn dù giọng đẹp thiệt! Thanh Lam hát những bài sâu lắng nhiều khi đóng kịch nhiều hơn là hát.

Mà đóng kịch phải như người diễn viên, người ta nhập hồn vào vai diễn đó, ví dụ Kim Cương trong Lá sầu riêng, cô là nhân vật cô gái đau khổ tên Tâm chứ không phải là nghệ sỹ Kim Cương, phải quên Kim Cương đi! Ca sỹ cũng phải hát 'nhập vai' như vậy mới ra ca sỹ.

Trần Thu Hà thì khôn hơn, biết cách lợi dụng kỹ thuật để áp dụng. Nhưng mấy người được như Trần Thu Hà? Người nào cũng phô trương, tôi phải hát giọng cao tới nốt đó tôi mới là ca sỹ, còn hát chưa tới thì chưa phải là ca sỹ. Cái đó là sai lầm tai hại vô cùng và không ai chấp nhận.

HỒ NGỌC HÀ VÀ MỸ TÂM 

- Hai nữ ca sỹ đang nổi tiếng nhất trên thị trường hiện nay là Mỹ Tâm và Hồ Ngọc Hà, ông đánh giá tài năng của họ ra sao?

Mỹ Tâm chỉ hát nhạc Pop bình thường thôi, nhưng được cái là sáng sân khấu, xử lý bài hát chính xác. Mỹ Tâm cũng có những ca khúc hát không tới, gặp bài nào hát tới mới hay, như Cây đàn sinh viên, Ước gì ...

Mỹ Tâm hát chỉ hợp với tuổi trẻ. Về tính nghệ thuật thì Hồng Nhung, Trần Thu Hà hát xong có để lại ấn tượng, còn Mỹ Tâm chỉ nghe vui mắt, vui tai, nghe qua xong rồi thì thôi, không để lại ấn tượng gì hết. Mỹ Tâm được cái là may mắn rơi vào đúng thời điểm không có ai cạnh tranh, từ đó nổi tiếng và khi nổi tiếng rồi thì rất khôn khéo đầu tư vào hát, múa, sắc đẹp để giữ vị trí.

Hồ Ngọc Hà hát chỉ nghe chơi thôi! Giọng Hồ Ngọc Hà yếu lắm, khều khào không à! Hồ Ngọc Hà đẹp, có vóc dáng sân khấu, chịu khó múa… cái gì cũng đẹp nhưng giọng hát thì lại không được. Khi diễn tả nội tâm, Hồ Ngọc Hà diễn kịch tính nhưng đóng kịch chứ không thật. Ca sỹ hát phải biến mình thành nhân vật trong ca khúc mới hiểu nỗi đau làm sao. Không lẽ, ngoài đời mình buồn là phải hét, gào thét? Đâu phải vậy!

BẰNG KIỀU, ĐÀM VĨNH HƯNG, QUANG DŨNG

- Với các giọng ca nam đang nổi tiếng như Bằng Kiều, Đàm Vĩnh Hưng, Quang Dũng… ông đánh giá thế nào?

Bằng Kiều cũng giọng tốt như Trần Thu Hà nhưng sau này khoe giọng quá, cố hát lên cao vút để không ai bắt chước được. Thành ra, Bằng Kiều hát bài Buồn ơi chào mi của tôi khiến khán giả ở dưới sững sờ luôn! Tính lại thì hiệu quả sân khấu có nhưng tôi mở băng ra nghe thì phải nghe Tuấn Ngọc hay Xuân Phú, Trọng Bắc hát.

Quang Dũng hát được vài bài của Trịnh Công Sơn chứ không phải là tất cả. Còn Đàm Vĩnh Hưng chỉ được bề nổi vậy thôi, tôi không cho là ca sỹ đúng nghĩa. Tôi chỉ cho Đàm Vĩnh Hưng là một người hát. Đàm Vĩnh Hưng cố hát nhạc xưa, nhạc vàng mà hát có ra đâu!

Đàm Vĩnh Hưng hát bài Ai đưa em về của tôi, tôi bảo ‘con đừng hát bài của bố nữa, tội nghiệp bố lắm’. Tôi không thích, tôi nói thẳng luôn. Đàm Vĩnh Hưng nói ‘nhưng con thích hát nhạc bố…’, tôi nói ‘nhưng con không nên hát nhạc của bố thì hay hơn’.

Thật ra, giọng Đàm Vĩnh Hưng nửa Nam nửa Bắc, cách thức hát cũng không có và lối hát cũng vậy. Hồi xưa, Đàm Vĩnh Hưng mà đi hát thì chỉ xứng là ca sỹ loại C hát lót chứ không được vào hạng ca sỹ chính của phòng trà đâu! 

- Ngoài danh ca Tuấn Ngọc thì những giọng ca nào khiến ông hài lòng nhất?

Giọng nữ thì tôi thích Ngọc Anh, Hồng Nhung, Ánh Tuyết, Trần Thu Hà ... Nguyên Thảo nếu tiếp tục hát như ngày xưa thì rất hay. Ngày xưa, Nguyên Thảo hát cho thỏa đam mê còn sau này, bị gò bó vào kỹ thuật như Mỹ Linh để khoe giọng và vô tình giết chết tình cảm.

Vừa rồi làm đĩa than của tôi có 2 bài Nguyên Thảo hát. Cách đây 6 năm, Nguyên Thảo hát Buồn ơi chào mi xuất thần luôn, nhưng giờ Nguyên Thảo để tâm đến kỹ thuật nhiều nên tình cảm không còn, so ra khác hẳn.

Giọng nam thì ngoài Tuấn Ngọc còn có Trọng Bắc, Lê Hiếu … Tuấn Hiệp lúc trước hát tốt, tôi thích nhưng giờ chạy theo hát nhạc vàng bị mất chất.

- Nhưng rõ ràng trên thị trường, những giọng ca này không phải nổi tiếng nhất, được khán giả ưu ái nhất. Theo ông vì sao có nghịch lý này?

Nhiều ca sỹ hát hay nhưng chưa nổi được, tại vì bây giờ còn phụ thuộc vào công nghệ lăng xê. Khán giả cũng bị ảnh hưởng bởi phim ảnh Hàn Quốc nhiều quá, 10 cái clip của Hàn Quốc thì 11 cái có nhảy rồi! Cái đó gọi là âm nhạc giải trí, nghe qua rồi bỏ, khác xa với nghệ thuật.

Tôi thấy giới trẻ bây giờ nghe nhạc vô tội vạ, nghe theo phong trào, chạy theo lai căng ngoại quốc nhiều quá nên không còn bản chất.

MONG CÓ NHIỀU NGHỆ SỸ ‘TỬ TẾ’ VÀ NGƯỜI NGHE ‘TỬ TẾ’

- Với những đánh giá này, phải chăng gu thưởng thức âm nhạc bây giờ của khán giả quá khác với ông, bởi đơn cử, Đàm Vĩnh Hưng đang được phong là ‘ông hoàng nhạc Việt’?

Không phải! Nếu đem so sánh Tuấn Ngọc với Đàm Vĩnh Hưng, người ta vẫn thích nghe Tuấn Ngọc hát nhiều hơn, đúng không?

Nghe Tuấn Ngọc hát thấy nó khác liền, hát ra là cảm xúc đến với người nghe chứ không phải gắng gượng. Tại vì Tuấn Ngọc đã sống trong bài hát đó, khi hát Tuấn Ngọc để tâm trạng vào bài hát, nói lên tâm trạng của nhiều người. Ví dụ khi mình bị người yêu bỏ, nghe Tuấn Ngọc hát Buồn ơi chào mi, nghe nó đã lắm! Tuấn Ngọc vẫn là giọng ca số một dù tuổi tác, thời gian làm cho giọng của Tuấn Ngọc không còn được đẹp như ngày xưa nữa, nhưng cái xúc cảm vẫn là Tuấn Ngọc và xúc cảm càng ngày càng sâu hơn.

- Vậy theo ông, thị trường nhạc Việt sẽ đi về đâu?

Đây là vấn đề lớn, cả một thế hệ chứ không phải đơn giản, ăn thua là cách giáo dục của gia đình với con em làm sao. Nếu trong một gia đình chỉ có tối ngày đi kiếm tiền thì tinh thần nghệ thuật của họ chết rồi, bị tiền bạc chi phối hết. Thành ra, họ cũng không chăm sóc con cái, cứ cho tiền là xong. Họ cũng ỷ lại tiền, đưa con vào trường này trường kia, mặc con muốn làm gì thì làm.

Theo tôi, thị trường nhạc Việt vẫn đang nằm yên. Rồi từ từ, nhạc thị trường sẽ rớt dần và tới một giai đoạn nào đó, nghệ thuật sẽ lên ngôi. Nhạc thị trường tự động phát sinh rồi sẽ tự động chết bởi những gì không hay sẽ không tồn tại. Tôi tin tưởng như vậy. Đời tôi không thấy nhưng đời con, đời cháu của tôi sẽ thấy điều này.

- Sau 60 năm cống hiến cho nghệ thuật, điều ông mong muốn nhất là gì?

Tôi chỉ mong muốn duy nhất là có nhiều nghệ sỹ tử tế và người nghe nhạc tử tế. Tất cả những gì cứ để thử lửa đi, đốt cách mấy thì vàng cũng vẫn là vàng. Mình hãnh diện là người Việt Nam không thua ai hết!

- Xin cảm ơn ông!

Phượng Hoàng (thực hiện)
VTC News 24/08/2013

*-----*



Monday, 2 May 2022

Điều răn duy nhất trong gia đình tôi

Khi còn là một sinh viên ở Sài Gòn rồi sau đó sang du học ở Bangkok trước 1975, tôi rất thích phim “Love Story” (Chuyện Tình), đi xem ở rạp chiếu bóng, rồi tìm mua đọc cuốn sách của Erich Segal. Trong đó có một đoạn ngắn tôi thích nhất, về cuộc đối thoại giữa người cha và cô con gái độc nhất của mình:

“He had then warned his daughter not to violate the Eleventh Commandment.
“Which one is that?” I asked her.
“Do not bullshit thy father,” she said.”
― Erich Segal, Love Story

“Ông cảnh cáo con gái ông đừng vi phạm vào Điều Răn Thứ 11 (của Đức Chúa Trời).
“Điều răn đó là gì?” Tôi hỏi cô ấy.
“Đừng ba xạo với cha của mình”, cô trả lời.

Như các bạn đã biết, trong đạo Ky-tô có mười điều răn của Đức Chúa Trời. Nhưng ở đây, cha của cô gái đặt thêm một điều răn nữa.

Tôi rất ấn tượng về câu nói đó. Khi lập gia đình và có hai cô con gái, tôi thường nói với các cô là nhà mình theo đạo Phật, không có mười điều răn, chỉ có một điều răn duy nhất là:

- “DO NOT BULLSHIT YOUR FATHER” (Đừng ba xạo với cha của mình).

Trong gia đình, bất cứ chuyện gì cũng nên thành thật với nhau, đừng ngại ngùng, e dè. Để thông cảm lẫn nhau, vui buồn với nhau, và cùng nhau giải quyết các khó khăn trong cuộc sống.

Bình Anson,
Perth, Tây Úc, 2019.

*


Saturday, 30 April 2022

Về Tạng A-tỳ-đàm (Abhidhamma Piṭaka, Tạng Vi Diệu Pháp, Tạng Thắng Pháp)

ABHIDHAMMA PIṬAKA – Vi Diệu Pháp Tạng, Tạng A-tỳ-đàm.
Chơn Quán Trần Ngọc Lợi dịch (2006), Bình Anson hiệu đính (2022).

* Nguồn: “Dictionary of Pāli Proper Names”, G. P. Malalasekera (1938, 1997), Pali Text Society.

Đây là tạng thứ ba của Tam tạng (Tipiṭaka). Gồm bảy bộ: Pháp tụ (Dhammasaṅganī), Phân tích (Vibhaṅga), Ngữ tông (Kathāvatthu), Nhân chế định (Puggalapaññati), Nguyên chất ngữ (Dhātukathā), Song đối (Yamaka) và Vị trí (Paṭṭhāna); tất cả được gọi là Luận thư (Pakaraṇa). Chỉ trong Biên niên (Chronicles) và Chú giải (Commentaries), từ “Abhidhamma” mới được dùng làm tựa của Tạng thứ ba [1]. Trong Kinh tạng [2], từ ấy có nghĩa là “pháp đặc biệt”, nghĩa là một giáo lý đơn thuần (không có pha trộn thêm văn học hay truyện cá nhân, v.v.), và thỉnh thoảng được dùng kèm theo từ Abhivinaya [3] – được hiểu như là pháp tối thượng và luật tối thượng.

Có người cho rằng [4], vì từ Abhidhamma không thấy hiện diện đơn lẻ trong Kinh tập (Sutta Nipāta), Tương ưng bộ (Saṃyutta Nikāya) hay Tăng chi bộ (Aṅguttara Nikāya), và chỉ được thấy một đôi lần trong Trường bộ (Dīgha Nikāya) và Trung bộ (Majjima Nikāya), từ ấy chỉ được sử dụng vào giai đoạn cuối khi hình thành bốn bộ Nikāya [5].

Những người theo Đại chúng bộ (Mahāsaṅghika) không chấp nhận xem A-tỳ-đàm là một Tạng (Piṭaka) vì họ không công nhận đó là lời của Phật [6].

Theo nhóm Trì tụng Trường bộ (Dighabhānaka), tạng A-tỳ-đàm (Abhidhamma Piṭaka) bao gồm toàn bộ Tiểu bộ (Khuddaka Nikāya), ngoại trừ Hạnh tạng (Cariyāpiṭaka), Thánh nhân Ký sự (Apadāna) và Phật sử (Buddhavaṃsa) [7].

Theo cách phân chia khác, năm bộ Nikāya không phải là thành phần riêng của các bài kinh giảng mà là của toàn bộ kinh văn của thời kỳ nguyên thủy; và trong bộ thứ năm – Tiểu bộ (Khuddaka Nikāya) – bao gồm cả tạng Luật (Vinaya) và tạng A-tỳ-đàm (Abhidhamma) [8].

Ngài Buddhaghosa (Phật Âm) có ghi lại truyền thuyết cho rằng A-tỳ-đàm được Đức Phật thuyết lần đầu tiên ở cõi trời Đao Lợi (Tāvatiṃsa), dưới gốc cây Pāricchataka, lúc Ngài ngồi trên ngai của Thiên chủ Đế-thích (Sakka), trong dịp viếng thăm thân mẫu trên cõi ấy. Sau đó, Phật dạy lại cho Trưởng lão Xá-lợi-phất bên bờ hồ Anotatta, chỗ mà Trưởng lão Xá-lợi-phất đến để phục vụ Đức Phật trong lúc Ngài viếng cõi trời Đao-lợi [9].

Truyền thuyết còn nói thêm rằng sau khi đắc quả Chánh đẳng giác, Đức Phật dành tuần lễ thứ tư ngự tại Bảo cung (Ratanaghara), tập trung tâm trí vào từng chi tiết về các giáo lý phức tạp của A-tỳ-đàm [10].

Tuy nhiên, theo Tiểu phẩm (Cullavagga) của tạng Luật (Vinaya Piṭaka), trong hai kỳ Kết tập Kinh điển đầu tiên [11], tạng A-tỳ-đàm không thấy được trùng tụng.

Sự kiện mà A-tỳ-đàm (Abhidhamma) không thấy được đề cập trong các bài kinh và chỉ có Pháp (Dhamma) và Luật (Vinaya) được đề cập đến cho thấy rằng, vào một lúc nào đó, A-tỳ-đàm không được kết hợp thành một tạng riêng biệt. Trên thực tế, A-tỳ-đàm không được các nhà Chú giải gọi là lời của Phật dạy theo ý nghĩa như các bài kinh. Thêm vào đó, chỉ có một bộ trong tạng A-tỳ-đàm – bộ Ngữ tông (Kathāvatthu) [12], được đem ra giảng dạy trong kỳ Kết tập Kinh điển lần thứ ba.

Bảy bộ A-tỳ-đàm được xem như rất đặc biệt đối với trường phái Theravāda (Thượng tọa bộ); tuy nhiên có bằng chứng cho thấy nhiều trường phái khác, nhất là phái Nhất thiết Hữu bộ (Sarvāstivāda), cũng xem A-tỳ-đàm như là kinh văn thiêng liêng [13].

Về nội dung, A-tỳ-đàm không tạo ra một triết lý được sắp đặt theo một hệ thống nào, mà là một luận giải về về các Pháp (Dhamma) như thấy trong tạng Kinh (Sutta Piṭaka). Hầu hết đều có có tính cách tâm lý và luận lý; các giáo lý căn bản được đề cập hay bàn luận là những gì đã được đề xuất trong các bài kinh, và như vậy, được xem như là hiển nhiên [14]. Ngoài các Chú giải về bảy bộ A-tỳ-đàm, còn có một công trình luận giải về toàn bộ tạng A-tỳ-đàm, có tên là Phụ chú giải A-tỳ-đàm (Abhidhamma Mūlaṭīkā) do ngài Ānanda Vanaratanatissa thuộc trường phái Vanavāsī (Lâm trú) của Sri Lanka soạn thảo.

Ngài Ānanda Vanaratanatissa dựa trên các Chú giải của Luận sư Buddhaghosa (Phật Âm), nhưng có nhiều nơi ngài không đồng ý với Luận sư Buddhaghosa. Công trình được soạn thảo theo lời yêu cầu của Trưởng lão Buddhamitta và tu chính bởi ngài Mahā Kassapa ở Pulatthipura.

Có một Phụ chú (Anuṭīkā) về A-tỳ-đàm do ngài Culla Dhammapāla soạn [15].

----------

Ghi chú:

[1] Xem thảo luận trong DA. i. 15, 18 f.
[2] Vin.i. 64; iii. 144; iv. 344.
[3] D. iii. 267; M. i. 272.
[4] Xem New Pāli Dictionary về từ Abhidhamma
[5] Xem Dial. iii. 199 về nguồn gốc của Abhidamma.
[6] Dpv. v. 32-8.
[7] DA. i. 15.
[8] DA. i. 23.
[9] VibhA. p. 1; AA. i. 71 v.v.
[10] J. i. 78.
[11] Chương xi và xii; nhưng xem thêm DA. i. 15 với thông tin khác.
[12] Xem Kathāvatthu.
[13] Xem Tārānātha: Geschichte des Buddhismus (56) 156 (296).
[14] Thảo luận về nội dung: xem tài liệu về Abhidhamma trong ERE.
[15] Gv. 60, 69. Chi tiết: xem P.L.C., pp. 210-2. Gv. (72) cũng có đề cập đến Abhidhammagaṇḍhi, có thể là một bản tự vựng.

D. = Digha Nikaya, 3 vols. (P.T.S.).
DA. = Sumangala Vilāsinī, 3 vols. (P.T.S.).
Dial. = Dialogues of the Buddha, 3 vols. (Oxford).
Dpv. = Dipavamsa, ed. Oldenberg (Williams and Norgate).
ERE. = Encyclopedia of Religion and Ethics.
Gv. = Gandhavamsa (P.T.S. Journal, 1886).
J. = Jātaka, ed. Fausboll, 5 vols.
M. = Majjhima Nikaya, 3 vols. (P.T.S.).
P.L.C. = The Pali Literature of Ceylon, by Malalasekera (R.A.S.).
VibhA. = Sammoha-Vinodanī, Vibhanga Commentary (P.T.S.).
Vin. = Vinaya Pitaka, 5 vols., ed. Oldenberg (Williams and Norgate).

------------------


30/4: Thành kính tưởng niệm và Hồi hướng phước báu.

Sáng nay có Ajahn Brahm và 2 vị sư đi bát. Sau khi đặt bát, tôi có trình với Sư là hôm nay, 30/4, là một ngày đặc biệt cho người Việt, đánh dấu ngày chấm dứt cuộc nội chiến (1954-1975) với 2,5 triệu người chết, và bắt đầu những cuộc di tản vượt biên trong 20 năm tiếp theo (1975-1995), có khoảng 200 ngàn người đã chết trên biển cả.

Thành kính tưởng niệm và xin hồi hướng phước báu tạo được sáng hôm nay đến những người ấy. Nguyện cho tất cả được tái sinh về cõi an vui.

🙏🙏🙏

Bình Anson
Nollamara, Tây Úc
30/04/2022

*


Friday, 15 April 2022

Hòa thượng HỘ GIÁC (1928-2012) và chữ NIỆM

Vào giữa thập niên 1990, các bạn đạo người Việt tại Perth bắt đầu biết đến pháp hành thiền trong truyền thống Theravada, và cũng như những nơi khác, bắt đầu tìm hiểu, bàn luận sôi nổi về thiền minh sát, thiền tứ niệm xứ, chánh niệm, con đường duy nhất, v.v.

Trong thời gian đó, ngài Hòa thượng và phái đoàn chư Tăng từ Hoa Kỳ đến viếng thăm Tây Úc, và có một buổi thuyết pháp. Sau thời pháp, có người hỏi ngài là làm sao sống trong chánh niệm, ngài trả lời ngắn gọn: –“Sống chánh niệm là làm gì biết nấy.”

Tôi rất tâm đắc với câu nầy, “LÀM GÌ BIẾT NẤY”. Chữ “biết” ở đây rất lợi hại, không phải dễ thực hành. Khi mình ăn, mình có thật sự “biết” là mình đang ăn không? Hay là vừa ăn vừa xem TV, vừa nghe nhạc, vừa trả lời điện thoại, vừa lướt web, vừa nói chuyện với người ngồi kế bên, ... rồi không biết mình đang ăn, không thật sự nếm được hương vị thức ăn trong miệng? Khi mình nói, hay chat trong Net, mình có thật sự “biết” mình đang nói gì, đang phản ứng với tâm gì – tâm tham, tâm sân, hay tâm ngã mạn – không? Có người nói huyên thuyên, từ chuyện này sang chuyện kia, dùng nhiều từ hoa mỹ, nhưng rốt cuộc, người nghe không hiểu được người ấy muốn nói gì. Không biết người nói ấy có thật sự “biết” mình nói về chuyện gì không?

Còn nhiều thí dụ nữa, ngay trong đời sống sinh hoạt hằng ngày. “Làm gì biết nấy”, nghe đơn giản như đang giỡn, nhưng thật ra, không phải dễ thực hiện.

*

Ghi thêm: Hôm nay bỗng nhiên tôi nhớ đến kỷ niệm này với ngài Hòa thượng Hộ Giác. Nhất là bây giờ, cũng như đa số những người cao tuổi khác, tật hay quên của mình càng ngày càng trầm trọng! 

Cho nên, không cần phải lý luận cao xa về pháp thiền này nọ, hay phân tích tâm, tâm sở chi tiết tỉ mỉ theo A-tỳ-đàm, hay trích dẫn một khối kinh điển, lời vàng ngọc của các giảng sư, điều thực tế có ích lợi ngay trước mắt là mình phải gắng tập nhận thức và ghi nhớ mỗi một hành động của mình trong sinh hoạt hằng ngày, ngay bây giờ và tại nơi đây. Đó là CHÁNH NIỆM của người già. Đơn giản nhưng thực tế. Không cần điều gì cao xa hơn.

*



Kinh văn Phật giáo Sơ kỳ (Early Buddhist Texts)

 KINH VĂN PHẬT GIÁO SƠ KỲ
(Early Buddhist Texts, EBTs - 早期佛教经文,  Tảo kỳ Phật giáo Kinh văn)

Nguồn: Bhikkhu Sujato & Bhikkhu Brahmali (2014), The Authenticity of the Early Buddhist Texts. [*]

Kinh văn Phật giáo Sơ kỳ (Early Buddhist Texts, EBTs) gồm những kinh văn ghi lại lời dạy của Đức Phật lịch sử và các đệ tử cùng thời. Đa số là những bài kinh trong bốn bộ Nikāya Pāli chính (Trường bộ, Trung bộ, Tương ưng bộ, Tăng chi bộ) và các kinh văn A-hàm tương đương (Trường A-hàm, Trung A-hàm, Tạp A-hàm, Tăng nhất A-hàm) bằng tiếng Hán, tiếng Tây Tạng, tiếng Sanskrit và một số phương ngữ Ấn Độ; giới bổn tỳ-khưu (Pātimokkha, Ba-la-đề-mộc-xoa) và một số đoạn kinh văn trong Hợp phần (Khandhaka) của tạng Luật; và một số kinh văn trong Tiểu bộ – Kinh tập, Cảm hứng ngữ, Như thị ngữ, Pháp cú, Trưởng lão kệ và Trưởng lão ni kệ. Từ “kinh” (sutta) ở đây được dùng để chỉ những đoạn văn ghi lại lời Đức Phật nói ra (và một phần nào đó, cũng bao gồm lời của các vị đệ tử cùng thời với Ngài).

Không được xem là Kinh văn Phật giáo Sơ kỳ (non-Early Buddhist Texts, non-EBTs) gồm có: tạng A-tỳ-đàm (tạng Vi diệu pháp), các kinh văn Đại thừa, các tập tiểu sử Đức Phật, các biên niên sử, cũng như phần còn lại của Tiểu bộ và tạng Luật. Bộ Chuyện Tiền thân trong Tiểu bộ không phải là Kinh văn PG Sơ kỳ nhưng trong một số trường hợp, có nguồn gốc từ những tích truyện ra đời sớm hơn thời Đức Phật. Các bộ Chú giải và những văn liệu về sau có thể bao gồm những thông tin lịch sử có giá trị cùng với những sáng tác viết ra về sau này.

[*] Tải bản PDF:
http://dhammaloka.org.au/files/pdf/authenticity.pdf

*-----*

From: Bhikkhu Sujato & Bhikkhu Brahmali (2014), The Authenticity of the Early Buddhist Texts

Early Buddhist Texts (EBTs): Texts spoken by the historical Buddha and his contemporary disciples. These are the bulk of the Suttas in the main four Pali Nikāyas and parallel Āgama literature in Chinese, Tibetan, Sanskrit, and other Indian dialects; the pātimokkhas [1] and some Vinaya material from the khandhakas; [2] a small portion of the Khuddaka Nikāya, consisting of significant parts of the Sutta Nipāta, Udāna, Itivuttaka, Dhammapada, and Thera- and Therī Gāthā. The “Suttas” in a narrow sense are those passages that are directly attributed to the Buddha himself (and to a lesser extent his direct disciples).

Non-EBTs: Abhidhamma, Mahāyāna Sūtras, Buddha biographies, historical chronicles, as well as the majority of the Khuddaka Nikāya and the Vinaya Piṭaka. The Jātakas are non-EBT, but derive from stories that in some cases may even be earlier than the Buddha. Commentaries and other late texts may contain some genuine historical information alongside much later invention.
  
------------------
[1] We have normally used Pali spelling of Indic terms, simply because we are more familiar with Pali. In certain contexts, however, convenience or custom dictates the use of Sanskrit. When quoting from inscriptions—which frequently have spelling irregularities and inconsistencies—we use the form given in our sources, occasionally supplying the Pali form for clarity.

[2] In particular some of the monastic procedures, such as the upasampadā and uposatha ceremonies, that are found across all Vinaya traditions.

*


Tuesday, 12 April 2022

Samādhi - Stillness - Định

 SAMĀDHI - STILLNESS - ĐỊNH

Trưa nay nghe được một bài pháp trên YouTube của Ajahn Brahm giảng kinh An trú Tầm (MN 20), trong đó có một đoạn Sư giảng về tâm an định, từ Pali là "SAMĀDHI". Các dịch giả tiếng Anh, kể cả ngài Bhikkhu Bodhi, dịch là "Concentration". Tôi cũng tưởng thế là đúng và vẫn dùng từ ấy.

Nhưng trong bài giảng tôi vừa nghe, Sư Brahm nói Sư không đồng ý và có trao đổi nhiều lần với ngài Bodhi. Sư nghĩ rằng từ "Concentration" (tập trung) có hàm ý bó buộc, gắng sức, ép buộc, trong khi "Samādhi" là một trạng thái tâm đạt được khi buông xả tất cả, không dính chấp vào một đối tượng nào, một trạng thái yên tĩnh, lắng đọng. Theo sự hiểu biết và kinh nghiệm hành thiền của Sư, Sư thấy từ "Stillness" diễn đạt đúng hơn cho từ "Samādhi" và Sư chủ trương dịch là "Stillness" thay vì "Concentration".

Rồi Sư kể một chuyện xảy ra nhiều năm trước. Trong một khóa thiền quốc tế tổ chức tại trường thiền Jhana Grove, Tây Úc, trong một bài pháp, Sư có đề cập đến cách dịch này - Samādhi dịch là Stillness, thay vì Concentration. Một vị thiền sinh đến từ Singapore phát biểu ý kiến, cho biết là trong tiếng Trung, Samādhi lúc nào cũng được dịch với ý nghĩa của Stillness. Ajahn Brahm không nói rõ từ tiếng Trung đó là gì, nhưng tôi đoán ngay đó là "ĐỊNH" mà có lẽ đa số Phật tử Việt chúng ta đều quen thuộc. Trong tiếng Hán Việt, Samādhi thường được dịch là định, an định, an chỉ, ... tùy trường hợp (sammā-samādhi: chánh định), nhưng lúc nào cũng mang ý nghĩa "Stillness" chứ không phải "Concentration" (tập trung) như đa số các dịch giả tiếng Anh thường dùng.

Tò mò, tôi đến gõ cửa bác Gờ, hỏi thêm về cách chiết tự từ ĐỊNH (定) trong tiếng Hán Việt. Đó là tập hợp từ MIÊN (宀, mái nhà, nơi trú ẩn) trên từ CHÍNH (正). Từ CHÍNH nếu phân tích thêm, bao gồm từ NHẤT (一) và CHỈ (止). Tâm lắng đọng tại một nơi có sự che chở, bao trùm.

*-----*


Sunday, 10 April 2022

Tin xấu, tin tốt.

 Tin xấu, tin tốt.

Hằng ngày tôi thường đến các trang web truyền thông bằng tiếng Anh để đọc/xem tin tức đó đây trên thế giới, như ABC (Australia), BBC (Anh quốc), CNN (Mỹ). Thỉnh thoảng tôi mới đến xem tin tức tiếng Việt - trong nước và hải ngoại - vì đa phần các thông tin này là dịch từ các bản tin tiếng Anh, và nếu có tin tức về Việt Nam thì tôi nghi ngờ độ chính xác và mức độ khách quan của các trang web tiếng Việt đó.

Dù là tiếng Anh hay tiếng Việt, nếu chịu khó quan sát, ghi nhận thì mình thấy đa phần là loan những tin tức xấu, bi quan, tiêu cực (chiến tranh, cướp giật, giết người, gian lận, lường gạt, khủng hoảng chính trị, khủng hoảng kinh tế, tai họa ...). Có lẽ như thế mới thu hút người đọc. Cho nên, mới có câu: "No news is good news" - Không có tin tức gì thì đó là tin tức tốt lành. Nếu có tin tức, thì toàn là tin giật gân, buồn rầu, xấu ác.

Tuy nhiên, trong các trang web thông tin tiếng Anh, tôi thấy trang ABC của Úc là có mục "Good News" - Thông tin tốt lành, nhưng lại đặt để ở phần cuối trang. Đến đó là mình đọc được những thông tin tốt lành về các sinh hoạt xây dựng, đóng góp tích cực cho xã hội.

Nói đi rồi cũng phải nói lại. Ngay chính bản thân mình, tôi cũng thích đọc các thông tin bi quan, tiêu cực (chiến tranh, khủng hoảng, tai họa, ...). Còn các tin tức tốt lành thì ít khi để ý đến. Có lẽ đây là tâm lý chung của thế gian. Miệng thì nói thích an vui, hòa bình, nhưng trong tâm thì thật ra thích để ý, bình luận, dính mắc vào các chuyện nóng bỏng, đau buồn, đấu tranh, tiêu cực.

*


Tuesday, 5 April 2022

Những căn bệnh thường gặp ở người cao tuổi (trên 60-65 tuổi)

 NHỮNG CĂN BỆNH THƯỜNG GẶP Ở NGƯỜI CAO TUỔI
Đào Lan Anh (01/10/2020)

Ở người cao tuổi, nhiều chức năng của cơ thể bị suy giảm, dẫn đến sức khỏe yếu dần. Dưới đây là một số nhóm bệnh thường gặp ở người cao tuổi (trên 60-65 tuổi).

1) BỆNH VỀ HỆ THẦN KINH TRUNG ƯƠNG
Hầu hết người cao tuổi do hệ thần kinh trung ương bị lão hóa dần nên làm cho trí nhớ kém, hay quên, cá biệt mắc một số bệnh như: Parkinson hoặc Alzheimer.

2) BỆNH VỀ HỆ THỐNG TUẦN HOÀN
Trong số các bệnh về tim mạch ở người cao tuổi thì bệnh xơ vữa động mạch, bệnh thiểu năng mạch vành, bệnh tăng huyết áp… chiếm một tỷ lệ đáng kể. Trong một số trường hợp, các loại bệnh này thường thấy ở những người béo phì, nghiện bia, rượu chiếm tỷ lệ cao hơn những người không nghiện bia rượu.

3) BỆNH VỀ HỆ HÔ HẤP
Bệnh viêm họng, viêm phế quản mạn tính, giãn phế quản, tâm phế mạn tính, hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là những bệnh gặp khá nhiều ở người cao tuổi, nhất là ở những người có tiền sử hoặc đang hút thuốc lá, thuốc lào, những người sống trong tình trạng thiếu dưỡng khí như: nhà chật hẹp, thiếu ánh sáng, khói bếp nhiều...

4) BỆNH VỀ HỆ XƯƠNG KHỚP
Đau xương, khớp, thoái hóa khớp nhất là đốt sống thắt lưng, khớp gối hoặc bệnh gút làm cho người bệnh đau đớn, lo lắng, buồn chán, nhất là khi thay đổi thời thiết. Thoái hóa khớp gối, gây biến chứng cứng khớp gây đau khớp gối và vận động khó khăn mỗi buổi sáng lúc bắt đầu ngủ dậy. 

Triệu chứng đau nhức các khớp xương tương đối phổ biến ở người cao tuổi, đặc biệt là về đêm gây khó chịu ảnh hưởng đến sức khỏe và gây mất ngủ hoặc ngủ không sâu, không ngon giấc.

5) BỆNH VỀ ĐƯỜNG TIÊU HÓA
Người cao tuổi rất dễ mắc bệnh rối loạn tiêu hóa như: ăn không tiêu, đầy hơi, chướng bụng, táo bón hoặc tiêu chảy. Táo bón là một bệnh do nhiều lý do khác nhau nhưng trong đó có một lý do mà người cao tuổi hay gặp phải là ít vận động. người cao tuổi thường ngồi một chỗ thêm vào đó ít ăn rau, uống ít nước cho nên phân ứ lại lâu ngày ở trực tràng làm cho các mạch máu trực tràng giãn ra gây nên bệnh trĩ. người cao tuổi cũng có thể mắc bệnh viêm loét dạ dày-tá tràng, trào ngược thực quản hoặc viêm đại tràng mạn tính. 

Các loại bệnh dạng này thường làm cho người cao tuổi rất khó chịu, gây lo lắng, ăn không ngon, ngủ không ngon giấc hoặc kém ngủ, mất ngủ kéo dài. Mất ngủ lại làm cho nhiều bệnh tật phát sinh.

6) BỆNH VỀ HỆ TIẾT NIỆU - SINH DỤC
Người cao tuổi cũng rất dễ mắc các bệnh về hệ tiết niệu - sinh dục, đặc biệt là u xơ tiền liệt tuyến hoặc ung thư tiền liệt tuyến. Những bệnh về sinh dục - tiết niệu thường có hiện tượng đi tiểu nhiều lần, tiểu dắt, tiểu són, nhất là vào ban đêm gây nhiều phiền toái cho người cao tuổi.

Ngoài ra, ở người cao tuổi cũng thường bị rối loạn một số chỉ số về mỡ máu (cholesterol, triglycerid), rối loạn về chức năng gan, đái tháo đường,… Do đó, người cao tuổi nên đi khám bệnh định kỳ, tập thể dục đều đặn, có chế độ dinh dưỡng hợp lý; không nên uống rượu, bia, không nên hút thuốc lá, thuốc lào, luôn giữ cho mình một tinh thần lạc quan, vui vẻ./.

– Đào Lan Anh 
(01/10/2020)

*-----*




Friday, 1 April 2022

Nhớ chùa - Hòa thượng Thích Mãn Giác

 NHỚ CHÙA
Huyền Không (1949) 
(HT Thích Mãn Giác)

Từ thuở ra đi vắng bóng chùa
Đường đời đã nhọc chuyện hơn thua
Trong tôi bừng dậy niềm chua xót
Xao xuyến mơ về lại cảnh xưa

Thấp thoáng đâu đây cảnh tượng làng
Có con đường đỏ chạy lang thang
Có hàng tre gợi hồn sông núi
Im lặng chùa tôi ngập nắng vàng

Có những cây mai sống trọn đời
Bên hàng tùng bách mãi xanh tươi
Nhìn lên phảng phất hương trầm tỏa
Đức Phật từ bi miệng mỉm cười

Tôi nhớ làm sao những buổi chiều
Lời kinh giải thoát vọng cao siêu
Đây ngôi chùa cổ ngày hai buổi
Cầu nguyện dân làng sống mến yêu

Vì vậy làng tôi sống thái bình
Sớm khuya gần gũi tiếng chuông linh
Sắn khoai gạo bắp nuôi dân xóm
Xây dựng tương lai xứ sở mình

Mỗi tối dân quê đón gió lành
Khắp chùa dào dạt ánh trăng thanh
Tiếng chuông thức tỉnh lan xa mãi
An ủi dân hiền mọi mái tranh

Trầm đốt hương thơm bay ngạt ngào
Thôn trên xóm dưới dạ nao nao
Dân làng tắm gội lên chùa lễ
Mười bốn, ba mươi mỗi tối nào

Biết đến bao giờ trở lại quê
Phân vân lòng gởi nhớ nhung về
Tang thương dù có bao nhiêu nữa
Cũng nguyện cho chùa khỏi tái tê

Chuông vẳng nao nao nhớ lạ lùng
Ra đi ai chẳng nhớ chùa chung
Mái chùa che chở hồn dân tộc
Nếp sống muôn đời của tổ tông.

- Huyền Không (1949) 
(HT Thích Mãn Giác)

*-----*


Thursday, 10 March 2022

Nhất dạ hiền giả

 KINH NHẤT DẠ HIỀN GIẢ
(Bhaddekaratta Sutta, MN 131)

(Lược trích)

Đức Thế Tôn dạy:

Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến.
Chỉ có pháp hiện tại,
Tuệ quán chính ở đây,
Không động, không rung chuyển.

Biết vậy, nên tu tập,
Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết.

Trú như vậy nhiệt tâm,
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhất Dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.

Này các tỳ-khưu, thế nào là truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: “Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là tưởng của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là hành của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy, “Như vậy, là thức của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các tỳ-khưu, là truy tìm quá khứ.

Thế nào là không truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: “Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ”, và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ”, và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là tưởng của tôi... Như vậy là hành của tôi... Như vậy là thức của tôi trong quá khứ”; và không truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các tỳ-khưu, là không truy tìm quá khứ.

Thế nào là ước vọng trong tương lai? Vị ấy nghĩ: “Như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy sẽ là thọ của tôi trong tương lai”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy sẽ là tưởng của tôi... sẽ là hành của tôi... sẽ là thức của tôi trong tương lai”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các tỳ-khưu, là ước vọng trong tương lai.

Thế nào là không ước vọng trong tương lai? Vị ấy nghĩ: “Như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai”, và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy sẽ là thọ của tôi trong tương lai”, và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy sẽ là tưởng... sẽ là hành... sẽ là thức của tôi trong tương lai”, và không truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các tỳ-khưu, là không ước vọng trong tương lai.

Thế nào là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này các tỳ-khưu, có kẻ vô văn phàm phu không đi đến các bậc thánh, không thuần thục pháp của các bậc thánh, không tu tập pháp của các bậc thánh; không đi đến các bậc chân nhân, không thuần thục pháp của các bậc chân nhân, không tu tập pháp của các bậc chân nhân; quán sắc là tự ngã, hay quán tự ngã là có sắc, hay quán sắc là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong sắc; hay vị ấy quán thọ là tự ngã, hay quán tự ngã là có thọ, hay quán thọ là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong thọ; hay vị ấy quán tưởng là tự ngã, hay quán tự ngã là có tưởng, hay vị ấy quán tưởng là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong tưởng; hay vị ấy quán hành là tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là có hành, hay vị ấy quán hành là trong tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là trong hành; hay vị ấy quán thức là tự ngã, hay quán tự ngã là có thức, hay quán thức là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong thức. Như vậy, này các tỳ-khưu, là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.

Thế nào là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này các tỳ-khưu, có vị Ða văn Thánh đệ tử đi đến các bậc thánh, thuần thục pháp của các bậc thánh, tu tập pháp của các bậc thánh, đi đến các bậc chân nhân, thuần thục pháp của các bậc chân nhân, tu tập pháp của các bậc chân nhân. Vị này không quán sắc là tự ngã, không quán tự ngã là có sắc, không quán sắc là trong tự ngã, không quán tự ngã trong sắc; không quán thọ... không quán tưởng... không quán hành... không quán thức là tự ngã, không quán tự ngã là có thức, không quán thức trong tự ngã, không quán tự ngã trong thức. Như vậy, này các tỳ-khưu, là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.

Do đó Ta nói:

Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến.
Chỉ có pháp hiện tại,
Tuệ quán chính ở đây,
Không động, không rung chuyển

Biết vậy, nên tu tập,
Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết.

Trú như vậy nhiệt tâm,
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhất Dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.

(Bình Anson lược trích, 10-03-2022)

*----------*













Wednesday, 9 March 2022

Thế nào là sống một mình (độc trú)?

 THƯỢNG TỌA
(Tạp A-hàm, kinh số 1071)

Tôi nghe như vầy: Một thời Đức Phật ở tại tịnh xá Cấp cô độc, vườn Kỳ-đà, gần thành Xá-vệ. Bấy giờ có tỳ-khưu tên là Thượng Tọa, chỉ thích sống một mình tại một nơi, thường hay ca ngợi người sống một mình, đi khất thực một mình, thọ trai xong trở về một mình và ngồi hành thiền một mình.

Bấy giờ có một số tỳ-khưu đi đến gặp Phật, cúi đầu đảnh lễ, rồi lui ngồi một bên, bạch với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, có tôn giả tên là Thượng Tọa chỉ thích sống một mình tại một nơi, thường hay ca ngợi người sống một mình, đi khất thực một mình, thọ trai xong trở về một mình và ngồi hành thiền một mình.”

Đức Thế Tôn bảo một vị tỳ-khưu:

“Ông hãy đến chỗ tỳ-khưu Thượng Tọa và nói rằng Ta gọi ông ta.”

Vị tỳ-khưu ấy vâng lời Phật dạy, đến nói lời như trên với tỳ-khưu Thượng Tọa. Tỳ-khưu Thượng Tọa liền đi đến gặp Phật, cúi đầu đảnh lễ, rồi lui ngồi một bên. Thế Tôn hỏi tỳ-khưu Thượng Tọa:

“Có phải ông chỉ thích sống một mình tại một nơi, thường hay ca ngợi người sống một mình, đi khất thực một mình, thọ trai xong trở về một mình và ngồi hành thiền một mình chăng?”

Tỳ-khưu Thượng Tọa đáp:

“Bạch Thế Tôn, thật như vậy.”

Phật hỏi tỳ-khưu Thượng Tọa:

“Ông sống một mình như thế nào?”

Tỳ-khưu Thượng Tọa đáp:

“Con sống một mình tại một nơi, thường hay ca ngợi người sống một mình, đi khất thực một mình, thọ trai xong trở về một mình và ngồi hành thiền một mình. Chỉ thế thôi.”

Phật dạy:

“Ông đúng là người thích sống một mình, Ta không nói là chẳng phải sống một mình. Nhưng có lối sống một mình cao thượng hơn. Vì sao gọi là lối sống một mình cao thượng? Đó là tỳ-khưu quán chiếu để thấy rằng quá khứ đã không còn, tương lai thì chưa tới, an nhiên sống trong hiện tại mà không bị vướng mắc vào các tham dục. Đó là vị tu sĩ với tâm không còn do dự, bỏ hết mọi lo âu, xa lìa mọi tham dục, đoạn tận các kết sử. Đây mới là thật sự sống một mình, không có lối sống nào cao thượng hơn nữa.”

Rồi đức Thế Tôn nói lên bài kệ:

Quán chiếu vào cuộc đời,  
thấy rõ được vạn pháp, 
không chấp vào pháp nào, 
lìa xa mọi ái nhiễm.
Sống an lạc như thế, 
tức là sống một mình.

Phật giảng xong, tôn giả Thượng Tọa hoan hỷ đón nhận lời Phật dạy, cung kính đảnh lễ cáo từ.

*----------*

VỊ TỲ-KHƯU TÊN THERA
(Theranāmaka Sutta, SN 21.10)

Một thời, Thế Tôn trú ở Trúc Lâm gần thành Vương Xá, tại nơi nuôi dưỡng các con sóc. Lúc bấy giờ có một tỳ-khưu tên là Thera (Trưởng Lão, Thượng Tọa) sống độc trú và tán thán hạnh sống độc trú. Vị ấy đi vào làng khất thực một mình, đi về một mình, ngồi vắng lặng một mình, và đi kinh hành một mình.

Rồi có nhiều vị tỳ-khưu đi đến gặp Thế Tôn. Sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên, rồi  bạch Thế Tôn:

“Bạch Thế Tôn, có vị tỳ-khưu tên là Thera sống độc trú và tán thán hạnh sống độc trú.

Thế Tôn bảo một tỳ-khưu:

“Này tỳ-khưu, hãy đến gặp ông ấy và nói Ta gọi ông ấy.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn”, vị tỳ-khưu vâng đáp rồi đi đến gặp tỳ-khưu Thera và nói:

“Này hiền giả Thera, bậc Ðạo Sư gọi hiền giả.”

“Thưa vâng, hiền giả.” Tôn giả Thera vâng đáp tỳ-khưu ấy và đi đến gặp Thế Tôn. Sau khi đến, vị ấy đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn hỏi tôn giả Thera:

“Có thật chăng, này Thera, ông sống độc trú và tán thán hạnh độc trú?

“Vâng, đúng như thế, bạch Thế Tôn.”

“Như thế nào, này Thera, ông sống độc trú và tán thán hạnh sống độc trú?”

“Bạch Thế Tôn, con đi vào làng khất thực một mình, con đi về một mình, con ngồi vắng lặng một mình, rồi con đi kinh hành một mình. Đó là cách con sống độc trú và tán thán hạnh sống độc trú.”

“Ðó là sống độc trú, này Thera, Ta không nói không phải vậy. Tuy nhiên, có một cách làm viên mãn sống độc trú đầy đủ với các chi tiết. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

“Này Thera, thế nào là độc trú được làm viên mãn với đầy đủ các chi tiết? Ở đây, cái gì thuộc quá khứ thì đoạn tận; cái gì thuộc tương lai thì từ bỏ; ngã ái và dục ái trong hiện tại được nhiếp phục. Như vậy, này Thera, là độc trú được làm viên mãn với các chi tiết.”

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Xong rồi, Thiện Thệ, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

Ai chiến thắng tất cả,
Ai hiểu biết tất cả,
Ai là bậc thiện trí,
Mọi pháp không ô nhiễm.
Ai từ bỏ tất cả,
Ái tận, được giải thoát,
Ta nói chính người ấy,
Thật là vị độc trú.

*----------*




Wednesday, 16 February 2022

Sách: Rhys Davids, T.W. and Stede, W. - Pāli-English Dictionary (1921) - Từ điển Pali-Anh

Sách:

Rhys Davids, T.W. and Stede, W. Pāli-English Dictionary (1921) [en234.pdf
Từ điển Pali-Anh 

Link để tải bản PDF (12.5 MB):

 1. https://tinyurl.com/2p9xjyf4  2. https://mega.nz/file/mkIkkZiC#jwiWRDmCAJXhjLtykehCcbq-7Xt-FihaK5B_cVq4K1I

*



Tuesday, 15 February 2022

 Ngay bây giờ, với thân tâm này, chỉ theo dõi hơi thở.

Sáng nay, khi hành thiền, tâm tôi không ổn định, suy nghĩ đủ chuyện. Rồi bỗng nhớ đến câu chuyện về ba câu hỏi của nhà vua. Tự hỏi tại sao mình không thử áp dụng cho mình?

1) Thời gian thuận lợi nhất là NGAY BÂY GIỜ, không phải là lúc nào khác.

2) Người quan trọng nhất là chính THÂN TÂM NÀY, không phải quan tâm về bất cứ người nào khác.

3) Công việc quan trọng nhất là THEO DÕI HƠI THỞ VÀ CÁC CẢM THỌ NƠI THÂN, không phải là lúc lo lắng, suy tính về bất cứ chuyện gì khác.

Sau khi quyết định như thế, tự nhiên thấy các ý nghĩ vẩn vơ đều tan biến. Tâm trở nên ổn định, tập trung vào hơi thở và các cảm thọ ở thân trong suốt buổi thiền. Nghĩ cũng lạ. Xin chia sẻ ở đây.

*



Saturday, 12 February 2022

Trưởng lão Sīvalī

Trần Ngọc Lợi dịch 
(Bình Anson hiệu đính)

* Nguồn: G. P. Malalasekera (1938), Dictionary of Pali Proper Names, The Pali Text Society, London.

Ông là con của Công chúa Suppavāsā, tức cháu ngoại của vua trị vì xứ Koliya. Mẹ ông mang thai ông bảy năm bảy ngày và chuyển bụng trong bảy ngày liền (xem nhân duyên trong Asātarūpa Jātaka [1]). Bấy giờ bà nói với chồng rằng: “Trước khi mạng chung, tôi sẽ bố thí,” và nhờ chồng đến yết kiến Phật. Phật ban phước lành cho bà, bà sinh được mẹ tròn con vuông. Để tạ ơn, bà yêu cầu chồng cúng dường Đức Phật và chúng Tăng trong bảy ngày.

Từ lúc sinh ra, Sīvalī có thể làm bất cứ việc gì. Tôn giả Sāriputta nói chuyện với chàng ngay trong ngày chàng chào đời và truyền giới cho chàng với sự cho phép của Công chúa Suppavāsā. Chàng đắc Sơ quả ngay sau khi nắm tóc đầu tiên được thí phát, và đắc Nhị quả ngay sau khi nắm tóc thứ nhì được cắt đứt. Thọ giới xong, chàng vô rừng ẩn tu, hành thiền quán về sự chậm ra đời của mình và đạt thắng trí của bậc A-la-hán.

Vào thời Phật Padumuttara, ông có phát nguyện được làm vị đệ tử tối thắng về nhận vật thực cúng dường như ngài Sudassana, đệ tử của Đức Phật. Do đó, ông cúng dường Phật và chúng tỳ-khưu trong bảy ngày. 

Vào thời Phật Vipassī, ông làm gia chủ ở gần Bandhumatī, từng cúng dường mật, sữa chua và đường đủ cho 68 ngàn vị tỳ-khưu. 

Vào thời Phật Atthadassī, ông là vua Varuṇa từng cúng dường cội Bồ-đề sau khi Phật nhập diệt. Về sau, ông băng hà dưới cội Bồ-đề này và sinh lên cõi Nimmānaratī (Hóa lạc thiên). Ông làm vua 34 lần, với vương hiệu Subāhu [2].

Theo Apadāna [3], phụ thân ông trong kiếp sau cùng là người Licchavī tên Mahāli.

Trưởng lão Sīvalī được Phật tuyên bố là vị đệ tử tối thắng về nhận vật thực cúng dường [4]. Trưởng lão có tháp tùng Phật trong chuyến du hành đến Khadiravaniya-Revata vì đoạn đường này khó đi và ít được cúng dường vật thực [5]. Ngoài ra, Trưởng lão từng đi với 500 tỳ-khưu lên Hy Mã Lạp Sơn để thử sự tối thắng về nhận vật thực cúng dường của ông; ông được chư Thiên cúng dường chu đáo. Trên núi Gandhamādana, ông được Thiên tử Nāgadatta cúng dường cháo sữa trong suốt bảy ngày.

----------

Ghi chú:

[1] Cf. Ap. 494, vs. 29 f. Chuyện Sīvalī còn được kể trong Ud. ii. 8; AA. i. 136 f.; DhA. iv. 192 f.; ii. 196; J. i. 408 f. Udāna và Jātaka có nói rằng một cư sĩ hộ trì của Moggallāna phải hoãn lại cuộc thỉnh Phật về nhà thọ trai để Ngài nhận lời mời của Suppavāsā đến mừng ngày Sīvalī chào đời; chuyện này không thấy nói đến trong các kinh văn khác. Udāna không có đề cập đến việc Sīvalī vô rừng ẩn tu. Dhammapasaṭṭhakathā kể câu chuyện này một cách khác. 

[2] Thag. vs. 60; ThagA. i. 135. 

[3] Ap. ii. 492 f. 

[4] A. i. 24. 

[5] ThagA. i. 138; Ap. ii. 495; AA. i. 139.

*