Sunday, 8 October 2023

Tam tạng Kinh điển tiếng Việt và tiếng Anh trong thẻ nhớ SD

TAM TẠNG KINH ĐIỂN TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH TRONG THẺ NHỚ SD

 Khi chúng tôi đến Cairns, bang Queensland của nước Úc, thăm gia đình con gái, gia đình cô ấy mới dọn về ở một khu mới, đường truyền Internet bất ổn, chập chờn, khi có khi không. Lúc đầu, tôi không thể truy cập Interrnet, chỉ đọc một quyển sách của Hòa thượng Gunaratana mà tôi mang theo.  

Mấy ngày nay đường truyền đã ổn định, tốc độ truy cập rất nhanh - 110 Mbps. Tôi bỗng nảy ra một ý tưởng là mình nên lưu tất cả các bản dịch Tam Tạng Anh-Việt dạng PDF vào thẻ nhớ SD gắn trong máy Surface Pro Laptop mà tôi thường mang theo mỗi khi đi xa. Như thế, mình có thể truy cập, tham cứu kinh điển mà không phải tùy thuộc vào đường truyền Internet.  

Thế là tối hôm qua tôi cặm cụi tải về tất cả các bản PDF cần thiết từ Thư viện Phật học BuddhaSasana (www.budsas.net). Cũng rất nhanh, vì mình đã quen thuộc với các ngăn chứa lưu các tài liệu đó trong trang web. Kết quả là tôi có được một kho Tam Tạng tiếng Anh và tiếng Việt lưu trong thẻ nhớ SD, với các tập tin dạng PDF, gồm tạng Luật, tạng Kinh, tạng A-tỳ-đàm (Vi diệu pháp), dịch từ nguồn Pali tạng và Hán tạng.  

Để chia sẻ đến người hữu duyên, tôi đã tải toàn bộ kho Tam Tạng Anh-Việt đó lên Google Drive. Có 2 ngăn chính: (1) Tipitaka Eng (Tam tạng tiếng Anh); và (2) Tipitaka Viet (Tam tạng tiếng Việt). Kho Tam Tạng gồm 360 tập tin dạng PDF, tổng cộng dung lượng là 3.2 GB. Link của Google Drive để tải Tam Tạng về máy: 

1) https://bit.ly/tamtangkinhdien 
2) https://tinyurl.com/bdcwj74z 

Bình Anson 
Cairns, Queensland 
08/10/2023  

*-----*


 


Thursday, 6 July 2023

Tam tạng Pali - Bản dịch tiếng Anh (Phiên bản dạng PDF)

TAM TẠNG PĀLI – BẢN DỊCH TIẾNG ANH
Phiên bản dạng PDF
(cập nhật: 12/10/2025)


I. VINAYA PITAKA (TẠNG LUẬT):

I.1 The Book of the Discipline (Luật tạng), I.B. Horner dịch (1938)
https://tinyurl.com/b4v6dhts 

I.2 Bản Anh dịch của Bhikkhu Brahmali (2023, 2025):

1) Analysis of Rules for Monks (1) (Phân tích giới tỳ-khưu 1)
https://tinyurl.com/2syfm6nd [4.9 MB]   

2) Analysis of Rules for Monks (2) (Phân tích giới tỳ-khưu 2)
https://tinyurl.com/ytz8txpp [1.9 MB]

3) Analysis of Rules for Nuns (Phân tích giới tỳ-khưu-ni)
https://tinyurl.com/yc6v79wk [1.3 MB]  

4) The Great Division (Đại phẩm)
https://tinyurl.com/msx9xc3n [2.1 MB]   

5) The Lesser Division (Tiểu phẩm)
https://tinyurl.com/yc8pk24t [2.1 MB] 

6) The Compendium (Tập yếu)
https://tinyurl.com/jvwnnt54 [1.9 MB] 

II. SUTTA PITAKA (TẠNG KINH)

II.1. Long Discourses (Trường bộ)

Vol. 1: https://tinyurl.com/yc65zezs
Vol. 2: https://tinyurl.com/4sx95bjn
Vol. 3: https://tinyurl.com/267enbvv 

* Bản dịch của Maurice Walshe: http://tinyurl.com/45dcrcb9 

II.2. Middle Discourses (Trung bộ)

Vol. 1: https://tinyurl.com/2uy9vtxe
Vol. 2: https://tinyurl.com/n87xrr5z
Vol. 3: https://tinyurl.com/yc6wfun6 

* Bản dịch của Bhikkhu Nanamoli & Bhikkhu Bodhi: http://tinyurl.com/4w72d2bz

II.3. Linked Discourses (Tương ưng bộ)

Vol. 1: https://tinyurl.com/3f3ntxuu
Vol. 2: https://tinyurl.com/48w7uk5h
Vol. 3: https://tinyurl.com/ykbp9jdf
Vol. 4: https://tinyurl.com/yf7bzr33
Vol. 5: https://tinyurl.com/3bfc8cpe 

* Bản dịch của Bhikkhu Bodhi: http://tinyurl.com/37wjyxkd

II.4. Numbered Discourses (Tăng chi bộ)

Vol. 1: https://tinyurl.com/2nr5y32d
Vol. 2: https://tinyurl.com/223xktcm
Vol. 3: https://tinyurl.com/3m8tzzx4
Vol. 4: https://tinyurl.com/4d4sm935
Vol. 5: https://tinyurl.com/ytzcpfsx 

* Bản dịch của Bhikkhu Bodhi: http://tinyurl.com/2p8dj7dz

II.5. Minor Collection (Tiểu bộ)

II.5.1. Basic Passages (Tiểu tụng)
https://tinyurl.com/bdhpd4fy

II.5.2. Sayings of the Dhamma (Pháp cú)
https://tinyurl.com/3tmd3hyr

II.5.3. Heartfelt Sayings (Phật tự thuyết)
https://tinyurl.com/yrxceyky

II.5.4. So It Was Said (Phật thuyết như vậy)
https://tinyurl.com/2vexvddc

II.5.5. Anthology of Discourses (Kinh tập)
https://tinyurl.com/4uvukd85 

* Bản dịch của Bhikkhu Bodhi: http://tinyurl.com/mr2h9zrf

II.5.6. Stories of the Mansions (Chuyện Thiên cung)
https://tinyurl.com/ycx5cdd5

II.5.7. Stories of the Departed (Chuyện Ngạ quỷ)
https://tinyurl.com/y58s9yva

II.5.8. Verses of the Senior Monks (Trưởng lão tăng kệ)
https://tinyurl.com/27x59vy8

II.5.9. Verses of the Senior Nuns (Trưởng lão ni kệ)
https://tinyurl.com/2jjpfnam

II.5.10. The Jataka Translation (Chuyện Tiền thân)
https://tinyurl.com/5cdyw39m

II.5.11. Exposition (Diễn giải)
https://tinyurl.com/446vdffc

II.5.12. The Path of Discrimination (Phân tích đạo)
https://tinyurl.com/5n6uaxku

II.5.13. Legends of the Buddhist Saints (Thánh nhân ký sự)
https://tinyurl.com/8ah5dtmv

II.5.14. Chronicle of Buddhas (Phật sử)
https://tinyurl.com/3bpxtnv5

II.5.15 Basket of Conduct (Hạnh tạng)
https://tinyurl.com/425kheur

II.5.16. The Guide, Nettippakaranam (Cẩm nang học Phật)
https://tinyurl.com/zr8u9tw2

II.5.17. The Pitaka Disclosure (Tam tạng chỉ nam)
https://tinyurl.com/5n8rku2z

II.5.18. The Questions of King Milinda (Milinda vấn đạo)
https://tinyurl.com/4xukeap5

III. ABHIDHAMMA PITAKA (TẠNG A-TỲ-ĐÀM, VI DIỆU PHÁP)

III.1. Compendium of States of Phenomena (Pháp tụ)
https://tinyurl.com/bde75ys9

III.2. Book of Analysis (Phân tích)
https://tinyurl.com/22wtzd54

III.3. Discourse on Elements (Nguyên chất ngữ)
https://tinyurl.com/5n7twemr

III.4 Designation of Human Types (Nhân chế định)
https://tinyurl.com/3dszxfuv

III.5. Points of Cotroversy (Ngữ tông)
https://tinyurl.com/4xzsyet9

III.6. Book of Pairs (Song đối)
https://tinyurl.com/mrxvrrvt

III.7. Conditional Relations (Vị trí) 
Vol. 1: https://tinyurl.com/4vtrhnsn 
Vol. 2: https://tinyurl.com/mefdt42p


*-----* 



Tuesday, 4 July 2023

Hỏi Đáp về Phật Pháp - Giác Ngộ Online

 Hỏi Đáp về Phật Pháp - Giác Ngộ Online 

Thỉnh thoảng tôi cũng ghé qua trang web của báo Giác Ngộ, tìm đọc mục Hỏi Đáp, thu thập được nhiều thông tin bổ ích cho sự tu tập của mình. Có 3 tiêu đề chính về Hỏi Đáp:

1) Tư vấn
https://giacngo.vn/tuvantamlinh/tuvan/

2) Sống đạo
https://giacngo.vn/tuvantamlinh/songdao/

3) Tâm linh mầu nhiệm 
https://giacngo.vn/tuvantamlinh/tamlinhmaunhiem/

*-----*



Monday, 3 July 2023

Hỏi Đáp về Phật Pháp - Trung Tâm Hộ Tông

 Hỏi Đáp về Phật Pháp - Trung Tâm Hộ Tông

Trong trang Hỏi Đáp của Trung tâm Hộ Tông, chùa Bửu Long, Hòa thượng Viên Minh đã trả lời các câu hỏi, các thắc mắc về học Pháp, hành Pháp. Đã có khoảng hai mươi ngàn câu hỏi đáp hiện đang được lưu trữ ở đó. Mọi người có thể đến trang web, chọn chủ đề mình quan tâm và tìm đọc các câu hỏi đáp.

Muốn ăn phải lăn vào bếp. Cần phải chịu khó tìm tòi học hỏi thì mới có kết quả lợi lạc cho mình.

Địa chỉ trang web: 
http://trungtamhotong.org/index.php?module=faq



Sách: Toàn tập THÍCH PHƯỚC SƠN (2019)

 Toàn tập THÍCH PHƯỚC SƠN (2019) 

Hai dịch phẩm quan trọng của Hòa thượng:

- Tập 1-4: Luật Ma-ha Tăng-kỳ

- Tập 5-6: Lịch sử Biên tập Thánh điển Phật giáo Nguyên thủy, Tác giả: Hòa thượng Ấn Thuận (Đài Loan).

*

Tải bản PDF về máy vi tính:

Tập 1: Luật Ma-ha Tăng-kỳ, Quyển 1-10
https://tinyurl.com/yckbkxsm 

Tập 2: Luật Ma-ha Tăng-kỳ, Quyển 11-20
https://tinyurl.com/4f99bjy3 

Tập 3: Luật Ma-ha Tăng-kỳ, Quyển 21-30
https://tinyurl.com/4y72jh3b 

Tập 4: Luật Ma-ha Tăng-kỳ, Quyển 31-40
https://tinyurl.com/4hjctacv  

Tập 5: Lịch sử Biên tập Thánh điển, Chương 1-6 
https://tinyurl.com/2p87pkx8  

Tập 6: Lịch sử Biên tập Thánh điển, Chương 7-12
https://tinyurl.com/etefxm8v  

*




Thursday, 29 June 2023

Giới luật công truyền hay bí truyền? Thích Phước Sơn

 Giới luật công truyền hay bí truyền?
Thích Phước Sơn

*

Trong lời phàm lệ của quyển Tứ phần giới bổn như thích, luật sư Hoằng Tán (1611-1685) nói: “Tam thế chư Phật câu thuyết Kinh-Luật-Luận tam tạng Thánh giáo. Kinh luận nhị tạng hàm thông tại gia, xuất gia, duy Luật nhất tạng Tỷ kheo độc trì, như vương bí tạng phi ngoại quan sở tư. Nhược Sa di, bạch y tiên lâm giả, vĩnh bất thọ đại giới, tội dữ ngũ nghịch đồng liệt. Vị sư giả tối nghi cẩn thận”. Dịch nghĩa: “Ba đời chư Phật đều nói ba tạng Thánh giáo Kinh-Luật-Luận. Hai tạng Kinh-Luận chung cả tại gia, xuất gia, riêng tạng Luật chỉ dành cho Tỷ kheo gìn giữ, như tạng bí mật của vua, hàng ngoại quan không được biết đến. Nếu Sa di, bạch y mà xem trước, thì vĩnh viễn không được thọ đại giới, mắc tội ngang với tội ngũ nghịch. Phàm là người làm thầy phải hết sức cẩn thận”.

Ý kiến này có lẽ bắt nguồn từ Luật sư Châu Hoằng (1532-1612) trong quyển Luật Sa di: “Bất đắc đạo thính Đại Sa môn thuyết giới”.

Thật ra, câu cảnh cáo của ngài Châu Hoằng là nhằm nhắc nhở Sa di không được nghe lén khi Tỷ kheo tụng giới; vì nghe lén là hành vi bất chính. Bởi lẽ, Sa di chưa đủ tư cách pháp nhân của một vị Tăng thực thụ nên không được phép tham dự vào những sinh hoạt chính yếu của Đại tăng như các việc yết ma, bố tát, tự tứ v.v… Nếu người chưa thọ Cụ túc mà khoác áo cà sa, len lỏi vào hàng ngũ Tỷ kheo, tham dự các pháp yết ma, bố tát, tự tứ thì phạm tội tặc trú (ở trong Tăng chúng để trộm pháp), về sau không được thọ Đại giới, hay giới Tỷ kheo. Do đó, khi Tăng tiến hành tiền phương tiên (thủ tục ban đầu) thì thầy Yết ma phải hỏi trong Tăng chúng: “Người chưa thọ giới Cụ túc đã ra chưa?”. Và khi được xác nhận trong Tăng không có người nào chưa thọ giới Cụ túc, thì Tăng mới tiến hành các pháp yết ma. Như vậy, việc làm này rất chính đáng và đâu có dụng ý gì ngăn cấm người chưa thọ giới Cụ túc xem giới pháp của Tỷ kheo? Còn việc không cho Sa di, bạch y tham dự bố tát là có nguyên do. Lúc Phật còn tại thế, một hôm chư Tăng bố tát, có một người bạch y tham dự, sau đó, một Tỷ kheo phạm tội, người bạch y này bèn hạch tội Tỷ kheo. Các Tỷ kheo thấy thế liền bạch với Phật, Phật dạy: “Từ nay trở đi không nên cho bạch y và Sa di tham dự bố tát” (Ngũ phần luật, Đ.22, tr.123a).

Phát xuất từ lời Phật dạy trên đây mà ngài Châu Hoằng nhắc nhở các Sa di không được nghe lén Tỷ kheo tụng giới. Nhưng nếu Sa di vì tha thiết cầu học, có thiện chí tiến tu, thì Ngài cổ vũ: “Nhược nhạo quảng lãm, tự đương duyệt Luật tạng toàn thư” (Nếu muốn hiểu biết rộng thì nên xem toàn bộ Luật tạng). Và một đoạn khác trong Luật Sa di, Ngài khuyến khích: “Tuy Tỷ kheo sự, Sa di đương dự tri chi” (Tuy là việc của Tỷ kheo, nhưng Sa di cũng nên tham dự để biết). Như vậy, thiết nghĩ quan điểm của Luật sư Châu Hoằng đã quá rõ, thế nhưng vẫn có người ngộ nhận như trường hợp ngài Hoằng Tán. Rồi từ ý kiến của ngài Hoằng Tán, có người đã luận giải, nêu ra ba lý do:

1- Nếu Sa di xem trước giới luật Tỷ kheo rồi thấy giới pháp quá nhiều, khó khăn, sẽ sanh tâm thối thất, không dám thọ giới Cụ túc.

2- Nếu Sa di biết giới luật Tỷ kheo, khi họ thấy các Tỷ kheo thọ giới rồi mà không giữ gìn nghiêm túc, hủy phạm cấm giới, họ sẽ sanh tâm kiêu mạn, khinh rẻ các Tỷ kheo, do đó sẽ tổn phước, mất lợi ích.

3- Khi đã biết trước giới pháp thì lúc thọ giới thấy giới không còn thiêng liêng, tâm chí thành sẽ sút giảm nên khó đắc giới thể.

Lý luận ấy mới nghe qua có vẻ như hợp lý, nhưng xét kỹ thì hoàn toàn không ổn. Vì các lẽ: Thứ nhất, chẳng lẽ những người xuất gia toàn là những kẻ bạc nhược hết hay sao mà “thấy giới pháp nhiều sanh tâm thối thất?”; thứ hai, lẽ nào những người xuất gia lại quá kém phẩm chất, chuyên bới lông tìm vết, hễ “thấy Tỷ kheo phạm giới liền sanh tâm khinh rẻ?”; thứ ba, vấn đề giới tử đắc giới thể là do ba việc: “Giới sư thanh tịnh, Giới đàn trang nghiêm và Giới thể chí thành”, chứ đâu phải nhờ giới tử không biết trước giới luật mà đắc giới thể?

Quả thật lối lập luận trên có nhiều chỗ đi xa tinh thần giới pháp và giới luật. Ai cũng biết ngài Qui Sơn (771-833) định nghĩa người xuất gia: “Phàm là người xuất gia là mong cất bước đến chân trời cao rộng, hình dáng và tâm hồn khác với thế tục. Vì mục đích làm rạng rỡ dòng thánh, trấn áp quân ma, báo đáp bốn ân và cứu vớt ba cõi”. Và các bậc cổ đức cũng đã nói: “Thế thượng phi trượng phu đại giải thoát hán, hà năng kham thủ?” (Trên đời này, nếu chẳng phải là bậc trượng phu đại giải thoát, thì làm sao đảm đương nổi “sứ mệnh xuất trần”?).

Vả lại Luật dạy, vị thầy khi nhận đệ tử xuất gia phải chọn những người: về hình dạng thì sáu căn phải đầy đủ, không mắc một khuyết tật nào, về tâm hồn thì phải là người hảo tâm xuất gia, có dũng khí kiên cường bất thối, chứ không phải ai cũng xuất gia được. Chả thế mà ca dao ta có câu “Năm lừa mười lọc mới trọc cái đầu”.

Đúng ra, vì nhờ xem trước giới pháp nên Sa di biết được công dụng của giới là “phòng phi chỉ ác”, là “thuyền bè đưa người qua bể khổ”, nên họ mới sinh tâm khát ngưỡng, trông mong được lãnh thọ giới pháp. Khi đã hiểu giới luật, thấy những điều khó làm mà các Tỷ kheo vẫn tuân thủ nghiêm túc, thì họ càng tăng thêm tâm cung kính, chứ làm sao dám khinh thường? Mặt khác, các Tỷ kheo khi đã hiểu rằng mọi người đều biết những giới luật mình đã lãnh thọ, thì càng phải nỗ lực hộ trì không dám buông lung, vì sợ thiên hạ phê bình. Kinh nghiệm thực tế cho thấy các nước Nam phương như Campuchia, Thái Lan…, mọi Phật tử đều biết giới luật của Tỷ kheo và họ rất tôn kính các nhà sư, chứ không bao giờ dám coi thường hay chỉ trích. Chính nhờ biết trước giới luật nên họ mới có thể tạo điều kiện và tìm cách yểm trợ các sư giữ giới tốt hơn. Tình trạng hiện nay ở thành phố ta có những kẻ lợi dụng chiếc y vàng để đi xin ăn làm tổn thương Phật pháp. Nếu Phật tử biết rõ giới luật, ắt họ sẽ tẩy chay và tìm cách ngăn chặn hành vi phi pháp của những hạng người ấy, để giữ gìn sự trong sáng của đạo pháp.

Còn vấn đề này nữa, tạng Luật phải chăng là bí tạng dành riêng cho các thầy Tỷ kheo, các chúng khác không có quyền biết đến? Khẳng định như vậy thật là vô căn cứ, không có cơ sở và trái hẳn thực tế. Vì trong các giới điều dành cho Phật tử cũng như Sa di, không có một giới nào ngăn cấm họ tìm hiểu giới bổn của Tỷ kheo hết. Đành rằng chỉ có các Tỷ kheo thọ 250 giới, và các Tỷ kheo ni thọ 348 giới mới có bổn phận tuân thủ giới pháp của mình, còn những người khác không ai có quyền bắt họ phải tuân thủ. Đó là nói về trách nhiệm gìn giữ, còn việc cầu thị, tìm hiểu với thiện chí hướng thượng thì ai cũng có quyền nghiên cứu giới luật Tỷ kheo mà không vi phạm bất cứ điều khoản nào.

Giả sử một hội đoàn nào đó gọi chúng ta gia nhập, rồi mới cho biết nội quy và điều lệ, thì liệu chúng ta có yên tâm gia nhập hay nghi ngờ hội đoàn đó có điều gì mờ ám, bất chính? Theo lẽ thường, người có trí mỗi khi muốn tham dự một tổ chức nào chắc chắn phải tìm hiểu tường tận điều lệ của tổ chức ấy rồi mới tham gia. Đó là một việc làm hợp lý và có tinh thần khoa học.

Vả lại, Phật giáo là đạo công truyền chứ không phải bí truyền, là đạo trí tuệ chứ không phải giáo điều, lại càng không chấp nhận sự cuồng tín. Chính Đức Phật đã bác bỏ quan điểm độc quyền của Bà La Môn cho rằng chỉ có giáo sĩ Bà La môn mới có quyền đọc Thánh kinh Vệ Đà. Phật còn dạy: “Tin Ta mà không hiểu Ta, tức là hủy báng Ta”. Và một chỗ khác lại nói: “Chánh pháp được thuyết giảng giống như bàn tay mở ra, chứ không phải bàn tay nắm lại”. Hoặc nói: “Phật pháp là thiết thực hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy, được người trí chứng ngộ”. Chung quy cũng chỉ nhằm nói lên tinh thần cởi mở, phóng khoáng, tự do tư tưởng và tôn trọng sự thật của đạo trí tuệ mà thôi.

Hơn nữa, bàng bạc đó đây trong một số kinh điển đều có đề cập đến giới Tỷ kheo; như kinh Di Giáo, Phật dạy Tỷ kheo không được buôn bán đổi chác, không được mua ruộng tạo nhà, không được đào đất, đốn cây, không được coi ngày, xem tướng v.v… Như vậy toàn là giới cả, chứ có gì khác đâu. Vả lại ngày nay, kinh điển, giới luật được in ấn, phát hành rộng rãi, ai cũng có thể tự do tìm đọc, thì làm sao cấm người ta xem giới cho được.

Hơn nữa, giá như ông cha ta để lại lời di chúc cho chúng ta theo đó sống hợp với đạo lý làm người, hầu trở thành một người hữu ích, có giá trị, rồi chúng ta đem cất trên khám mà thờ, không biết trong đó nói gì, thì thử hỏi hành vi ấy là tôn kính hay bất kính đối với tổ tiên?

Ai cũng biết rằng tính chất của giới luật là “thanh lương”, nghĩa là mát mẻ, là “biệt biệt giải thoát”, tức là giữ được điều nào giải thoát được điều ấy, thế mà bảo rằng “người nào xem trước giới luật Tỷ kheo thì phạm tội ngang bằng tội ngũ nghịch” thì thực không còn biết nói thế nào nữa! Như vậy chẳng hóa ra quyển Luật Tứ phần là một tác phẩm văn hóa độc hại hay sao? Nói kiểu ấy là chỉ nhìn vấn đề một cách rất phiến diện và lệch lạc. Thực sự, nếu nhiều người hiểu rành giới luật thì có lẽ xã hội sẽ tốt đẹp hơn nhiều; và những tội ác xảy ra hàng ngày làm cho chúng ta phải đau lòng chắc chắn sẽ giảm đi không ít.

Đành rằng công đức xiển dương Luật học của ngài Hoằng Tán là đáng trân trọng, chúng ta chẳng dám xem thường; nhưng nếu bảo phải tin một cách tuyệt đối, không được tìm hiểu thấu đáo, thì chúng ta cũng không thể chấp nhận, vì nó trái hẳn với tinh thần học Phật. Đức Phật dạy: “Khi nghe một điều gì, các ngươi chớ vội bác bỏ, cũng chớ vội tin ngay, dù nó là Thánh điển”.

Thử hỏi, từ khi Đức Đạo sư chế giới, trải qua Tổ Tổ tương truyền cho đến Tổ Châu Hoằng (1532-1612), giới luật vẫn thuần khiết, nhất vị, không có điều gì phải thắc mắc, đến khi ngài Hoằng Tán (1611-1685) xuất hiện sau Tổ Châu Hoằng gần cả thế kỷ, đưa ra một câu nói khiến cho nhiều người hoang mang, thì làm sao chúng ta không bức xúc cho được?

Do vậy, chúng tôi mạo muội nêu vấn đề này ra thương xác ở đây là nhằm hai mục đích: thứ nhất là hy vọng trấn an được phần nào nỗi hoang mang của tầng lớp Tăng Ni trẻ, nhất là những người mới xuất gia, chưa thọ Đại giới; thứ hai là để cho những ai tha thiết tìm hiểu giới pháp có thể nhận thức đúng đắn tinh thần giới luật mà đấng Đại giác đã từ bi truyền dạy. Vì thế, tuyệt nhiên không hề có ý phê bình ngài Hoằng Tán ở đây. Tuy vậy, chúng tôi cũng rất mong thỉnh thị các bậc tôn túc luật sư cao minh, và hy vọng nhận được sự quan tâm chỉ giáo của các vị nếu có điều chi sai sót.

(Trích "Phật Học Cơ Bản",  Tập 3, Nguyệt san Giác Ngộ, 2000)

*-----*

Tuesday, 27 June 2023

Chiếc áo không làm nên nhà sư. - Bhikkhu Cittacakkhu (Tỳ-khưu Tâm Nhãn)

 Chiếc áo không làm nên nhà sư
Bhikkhu Cittacakkhu
(Tỳ-khưu Tâm Nhãn) 

Nguồn: Phật Việt, 26/06/2023

Tưởng niệm Ân sư Tuyên Luật sư Thích Đỗng Minh,
viên tịch 11 tháng 5 năm Ất Dậu – 2005.

Câu thành ngữ mà người Việt thường nghe “Chiếc áo không làm nên nhà sư” (Das Kleid macht keinen mönch & L’habit ne fait pas le moine), nghĩa bóng của nó như một lời nhắc nhở mọi người, đừng vội đánh giá người khác qua hình thức bên ngoài. Nhưng trong đạo, “chiếc áo không làm nên nhà sư” lại có ý vị sâu xa khác, ví dụ một nhà sư vì hoàn cảnh binh đao hay thời kỳ tao loạn, ảnh hưởng tính mạng, nhà sư cần khoác áo thường dân để ẩn dật thì dù mặc y phục kiểu gì lúc ấy bản thể của tỳ-kheo cũng không bao giờ mất đi. Bình nhật trở lại, nhà sư cũng không thể mặc hoài y phục thế gian là thành ông sư, “chiếc y làm nên nhà sư” (quand l’habit fait le moine). Song, trọng ca-sa hay trọng giới thể đó là điều chúng ta cần bàn.

Câu chuyện trong chùa. Tôi có vị sư huynh đang tu học theo hệ Phật giáo Bắc tông, sinh hoạt tại một ngôi cổ tự – Sài Gòn, sư huynh thọ giới cụ túc năm 1991, nay có ý muốn chuyển sang Phật giáo Nam tông. Vì nghĩ rằng chiếc y của mình đang khoác không phải màu y của Phật giáo nguyên thủy chính thống, tuy nhiên còn phân vân chưa dứt khoát, với lý do nếu qua đó phải làm sa-di và thọ giới cụ túc lại từ đầu…

1. GIỚI THỂ VÔ BIỂU

Trong Phật giáo Bắc tông có hai vị Trưởng lão kỳ túc đã đổi y từ Bắc tông sang Nam tông nhưng không hề thọ giới lại theo truyền thống Nam truyền, đó là Hòa thượng Thích Minh Châu và Hòa thượng Thích Đỗng Minh.

Trong giai đoạn Phật giáo đứng trước khúc quanh lịch sử đau thương năm 1978, Hòa thượng Đỗng Minh bị bắt, sau hai năm ở tù trở về, Ôn đổi y Bắc tông sang y Nam tông, không vì chuyện này mà nói rằng giới thể “vô biểu” của Ôn bị mất hoàn toàn. Thầy Tuệ Sỹ viết về Ôn: Hòa thượng là một số rất ít trong các tỳ-kheo trì luật của Tăng-già Việt Nam kể từ khi Phật giáo được trùng hưng, Tăng thể được chấn chỉnh và khôi phục… Ngài xứng đáng là bậc Long Tượng trong chốn tòng lâm, đời sống phạm hạnh nghiêm túc, phản chiếu giới đức sáng ngời, tịnh như băng tuyết[1]. Và khi Ôn viên tịch, Hòa thượng Trí Quang kính tiến tán tụng:

“Kính cúng dường bậc Đại đức tôn quý trong hàng tứ chúng, một đời trì luật, thuận Giới giải thoát (prātimokṣa).” (Phụng cúng chúng trung tôn, thiện thuận giải thoát giới 奉供眾中尊善順解脫戒)[2].

Vị Tôn trưởng thứ hai, Hòa thượng Thích Minh Châu sinh năm 1918 (Mậu Ngọ) tại làng Kim Thành, Quảng Nam. Năm 1946, Hòa thượng xuất gia đầu sư với ngài Tịnh Khiết (Đức Đệ nhất Tăng thống GHPGVNTN) tại tổ đình Tường Vân, thành phố Huế. Năm 1949 (Kỷ Sửu) thọ cụ túc giới tại Giới đàn Hộ Quốc chùa Báo Quốc. Năm 1952, Hòa thượng du học tại Sri Lanka, sau đó sang Ấn-độ học tại Đại học Bihar. Tháng 4 năm 1964, trở về nước, Hòa thượng làm Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh…[3] Hòa thượng thọ giới theo truyền thống Bắc tông (Pháp tạng bộ) rồi chuyển y Nam tông, thời điểm chuyển y không thấy sử liệu nào ghi chép, có thể là trong giai đoạn du học?

Từ thời Phật, khi Ngài chế định việc truyền giới cụ túc phải hiện diện 10 vị tỳ-kheo mới đủ thẩm quyền để tiến hành việc truyền giới cụ túc và nghi thức được tiến hành thông qua ba lần hỏi (yết-ma) lấy biểu quyết của Tăng, và một lần tác bạch thưa thỉnh trước đó là bốn lần, gọi là Bạch tứ yết-ma (jñapticaturthaṃ karma)[4], cho đến nay cả hai hệ: Phật giáo Nam tông y cứ trên luật tạng Pāli và Bắc tông y cứ hệ luật Tứ phần đều thực hiện như nhau. Và theo các nhà Hữu bộ luận giải, khi giới tử phát sinh tâm niệm cầu thọ cụ túc giới, được dẫn vào trước Tăng, thành khẩn nói những lời cầu thỉnh giới sư v.v… cho đến khi Tăng đã thực hiện một lần tác bạch và ba lần yết-ma, tất cả những diễn tiến này đều được gọi là gia hành của nghiệp đạo. Sau khi Tăng đã hoàn tất Bạch tứ yết-ma, giới thể vô biểu đã phát sinh nơi giới tử.

Vô biểu (Skt. avijñapti, 無表) là những thế lực điều động các hoạt động của thân và ngữ, không biểu lộ ra bên ngoài cho người khác có thể thấy. Thế lực đó là khả năng phòng hộ của giới. Nó giống như sự phản xạ có điều kiện của một người học võ do tập luyện lâu ngày, có khả năng phòng vệ sinh mạng của mình trong bất cứ lúc nào và dưới bất cứ trường hợp nào[5]. Và năng lực phòng hộ này chỉ mất với những trường hợp như sau:

Luật Pāli (Vin. 3. 26), Tứ phần (p. 571b12) v.v… giải thích: thứ nhất, đối diện với người có khả năng hiểu mình muốn nói gì, tuyên bố từ bỏ học xứ, như nói: “Tôi bỏ Phật, Pháp, Tăng, … xả giới, xả luật, muốn làm cư sĩ…” là mất giới. Thứ hai là phạm ba-la-di (pārājika) là mất giới. Luận Câu-xá[6] giảng thêm: Mất giới khi mạng chung (xả tụ đồng phần 捨聚同分); bị lưỡng tính ái nam ái nữ (nhị căn chuyển sinh 二根轉生); thiện căn bị đoạn (善根斷), như khởi tà kiến không tin nhân quả, tham, sân, si trỗi dậy làm mất thiện căn, mất giới. Không thấy giáo nghĩa nào nói, một tỳ-kheo thay đổi y phục sang hệ phái cùng tông phái Phật giáo là mất giới. Ngoại trừ tỳ-kheo nào ưa thích muốn làm đệ tử ngoại đạo (titthayasāvakabhāvaṃ patthayamāno), cải tông mới mất giới hoàn toàn. Vậy vì sao Phật giáo Nam tông không chấp nhận giới thể của hệ Bắc tông thọ trì theo hệ Tứ phần – Pháp tạng bộ?

2. TƯ TƯỞNG TỰ TÔN CỦA TÔNG PHÁI

Mặc dù, Hòa thượng Minh Châu và Ôn Đỗng Minh đổi y nhưng Phật giáo Nam tông tại Việt Nam lúc bấy giờ cũng không công nhận là được “chân truyền”. Sự thật lịch sử:

Tháng 4 năm 1976, Pol Pot lên nắm quyền Campuchia, bãi bỏ mọi tôn giáo, tiêu diệt các nhà sư Phật giáo. Năm 1978, Việt Nam tấn công Campuchia lật đổ chế độ Pol Pot và phía chính quyền Việt Nam muốn Phật giáo Nam tông tại đây được khôi phục, cho nên tổ chức một phái đoàn Phật giáo Nam tông từ Việt Nam sang truyền giới cho các nhà sư Campuchia. Theo tài liệu của Đỗ Trung Hiếu ghi chép, phái đoàn gồm 12 người: 1. Hòa thượng Bửu Chơn (trưởng đoàn); 2. Hòa thượng Giới Nghiêm (phó đoàn); Thượng tọa Siêu Việt, Thượng tọa Minh Châu, Thượng tọa Thiện Tâm v.v… Ngày 17 tháng 9 năm 1979, đoàn Phật giáo Việt Nam lên đường. Đến nơi, chiều ngày 18, Hòa thượng Bửu Chơn trở bệnh nặng… Tiếp ngày hôm sau, đúng 9 giờ sáng ngày 19 tháng 9 (1979), lễ xuất gia được tổ chức tại chùa Ounalon (chùa lớn nhất Phnôm Pênh, nơi vua sãi ở). Có 7 vị sư Campuchia xuất gia. Hòa thượng Giới Nghiêm làm thầy tế độ, Thượng tọa Siêu Việt, Thượng tọa Thiện Tâm làm Yết-ma, các vị khác làm thành viên của buổi lễ. Riêng Thượng tọa Minh Châu vì là Bắc tông nên chỉ tham dự với tư cách khách danh dự[7].

Vì sao Hòa thượng Minh Châu không được tham dự chính thức, nếu nói do ngài không thạo tiếng Campuchia thì điều này không hợp lẽ, trong phái đoàn cũng có Thượng tọa Thiện Tâm không biết tiếng Campuchia, lại làm Yết-ma. Tập tài liệu của ông Hiếu có nhấn mạnh rõ ràng: “Ngoài Thượng tọa Minh Châu, tất cả sư đều là Nam tông”.

Trường hợp của Ôn Đỗng Minh cũng không ngoại lệ, Ôn từng kể cho chúng tôi nghe, có lần Ôn muốn nghiên cứu cách thức tác pháp yết-ma của Tăng-già Nam tông, Ôn đến tham dự nhưng chỉ dự khán, ngồi bên ngoài Sīmā, tức chỉ cho cương giới của Tăng Nam tông Yết-ma truyền giới cụ túc. Vì Ôn không phải túc số của Tăng, ngồi vào trong thì buổi lễ yết-ma đó sẽ bất thành.

Nghi thức truyền giới cụ túc của hai hệ Nam tông và Bắc tông tuy sai khác về văn bản tụng đọc và lễ nghi tổ chức nhưng túc số Tăng để yết-ma cũng 10 vị tỳ-kheo mà thôi. Bên Bắc tông có thêm vị dẫn thỉnh (điển lễ) và bốn vị giám đàn, xét trên nguyên tắc những người này không cần thiết, chỉ ảnh hưởng tập tục nghi tiết của Trung Quốc, họ không được tính trong túc số Tăng 10 vị.

Theo chúng tôi biết, hiện nay tại Việt Nam, cả hai hệ phái tổ chức giới đàn, trong túc số 10 vị không thấy có sự thỉnh mời tham dự xen lẫn. Giả thuyết, sư Bắc tông không thể tụng đọc Pāli, hay sư Nam tông không biết tụng đọc âm Hán-Việt, nên không thể ngồi chung; hoặc lý luận, bên nào quen với truyền thống bên đó, càng không đúng. Phải chăng chính do đôi bên tự tôn tông phái, nảy sinh tính kỳ thị, mới có chuyện không chấp nhận nhau và có thành kiến với y phục, cả sự đắc giới của đôi bên. Thời xưa, những vùng miền linh hoạt luật học thì không bao giờ có chuyện này.

3. GIỚI ĐÀN HIỆN DIỆN NHIỀU BỘ PHÁI

Sử liệu lưu truyền, vào thế kỷ thứ 3 trước Tây lịch, Mahinda (摩哂陀, Ma-sẩn-đà) con trai vua A-dục (Aśoka) nhận Moggaliputta Tissa (目犍連子帝須, Mục-kiền-liên Tử Đế-tu) làm Hòa thượng bổn sư (upādhyāya), Mahādeva (大天 Đại Thiên) là Hòa thượng (A-xà-lê, ācārya, 阿闍黎) truyền 10 giới sa-di; Madhyāntika (摩闡提 Ma-xiển-đề) là Hòa thượng (A-xà-lê) truyền giới cụ túc. Trong một giới đàn có ba hệ phái cùng tham dự: Moggaliputta Tissa là người Phân biệt thuyết bộ (Vibhajyavādin), Mahādeva là phái Đại chúng (Mahāsaṅghika), Madhyāntika là Thuyết nhất thiết hữu bộ (Sarvāstivādin)[8]. Mahinda chính là Sơ tổ Phật giáo Nam tông bây giờ. [9] Mahinda cùng các vị đại đức Iṭṭhiya (Iddhiya), Uttiya, Bhaddasāla và Sambala đến Tích-lan truyền giáo theo sắc lệnh vua cha và nhóm này hình thành Thượng tọa bộ, còn gọi Đồng diệp bộ (Tāmraśāṭīyas, bộ phái mặc màu y lá đồng đỏ), cho đến tận ngày nay dấu chân hoằng hóa của họ phát triển khắp nơi trên thế giới.

Tại Trung Hoa, thời kỳ đầu Phật giáo du nhập, lúc này Tăng sĩ chỉ cạo tóc xuất gia, trọ trì tam quy ngũ giới, không có luật nghi. Đến năm 250, niên hiệu Gia bình thời Tào Ngụy, Đàm-ma-ca-la (Dharmakāla) người Ấn-độ đến Lạc Dương, dịch Tăng-kỳ giới tâm; năm 254, niên hiệu Chánh nguyên, sa-môn Đàm-đế người An tức cũng đến Lạc Dương dịch Đàm-vô-đức bộ tứ phần giới bổn, thỉnh đủ 10 vị Phạn tăng tổ chức pháp yết-ma truyền giới tỳ-kheo. Đó là giới đàn truyền giới tỳ-kheo đầu tiên tại Trung Hoa. Không rõ 10 vị Tăng được thỉnh mời thuộc tông nào nhưng theo tư liệu Hán dịch nói rằng Đàm-ma-ca-la và Đàm-đế thuộc tông Pháp tạng bộ trì luật Tứ phần[10].

Về ni giới. Cho đến đời Tấn, niên hiệu Thăng bình (357), sa-môn Đàm-ma-kiết-đa lập giới đàn truyền giới tỳ-kheo-ni cho Tịnh Kiểm và bốn cô nữa. Đây được kể là tỳ-kheo-ni đầu tiên tại Trung quốc, nhưng không đủ nhị bộ tăng, mà trực tiếp truyền từ tỳ-kheo Tăng. Vì bấy giờ Trung quốc chưa có ni thì không thể đủ hai bộ để truyền như luật định. Đàm-ma-kiết-đa cho rằng giới từ Đại Tăng mà có, nay Đại Tăng đủ số thì có thể truyền. Sau đó, vào năm Nguyên gia 6 (429), có sa-môn Cầu-na-bạt-ma (Guṇavarma) đến Trung quốc, ni cô Huệ Quả đem vấn đề thọ giới đắc pháp ra hỏi, ngài trả lời: không đắc, vì không đủ nhị bộ tăng. Lúc bấy giờ tại Trung quốc có 8 vị tỳ-kheo-ni từ Tích lan sang, nhưng Cầu-na cho là chưa đủ số thập sư nên chưa chịu tổ chức giới đàn. Theo lời khẩn cầu của các ni cô bấy giờ, Cầu-na-bạt-ma cử người sang đảo Sư tử, tức Tích-lan ngày nay, thỉnh thêm cho đủ Thập ni để truyền giới. Về sau, có thêm Thượng tọa ni Thiết-sách-la cùng bốn vị nữa từ đảo Sư tử sang, nhưng bấy giờ Cầu-na-bạt-ma đã tịch. Giới đàn khi ấy do Tăng-già-bạt-ma tổ chức, đủ túc số hai bộ tăng truyền giới tỳ-kheo-ni. Đây gọi là chính thức tỳ-kheo-ni như pháp được truyền thọ tại Trung quốc[11]. Chúng ta thấy, giới đàn ni, trong 10 vị Tăng, Tăng-già-bạt-ma (Saṃghavarman) là người Hữu bộ, những vị Tăng khác có thể Pháp tạng bộ hoặc Hữu bộ, còn thập sư tỳ-kheo-ni là Đồng diệp bộ (Phật giáo Nam tông).

4. LUẬN KẾT

Giới thể của tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni được thẩm định từ người hành trì Phạm hạnh và thọ giới đúng pháp Yết-ma, chứ không đánh giá hình thức bề ngoài sắc phục là tông phái nào. Giáo pháp và quy chế của Phật vừa cố định vừa quy ước, nó đã thích nghi với một xã hội Ấn-độ trước thế kỷ thứ 5 trước Tây lịch. Về sau, Phật giáo truyền đến các nước, chư Thánh đệ tử đã linh hoạt với nếp sống hòa nhập, sao cho không trái phạm với nền tảng giới luật của Phật chế. Mục đích giữ luật không phải cực đoan, cục bộ hay tự tôn tông phái. Ngày nay Phật giáo Bắc tông là Pháp tạng bộ (Dharmaguptaka), hệ thống kinh điển và Luật tạng gần như là bản sao của Phật giáo Nam tông. Phật giáo Nam tông hay gọi Phật giáo Nam truyền cũng xuất phát từ Phân biệt thuyết bộ (Vibhajyavādin), Tam tạng thánh giáo và nếp sống gần nguyên thủy, chứ hoàn toàn không phải Phật giáo Nguyên thủy. Chính Bhikkhu Bodhi là nhà sư Nam tông cũng công nhận điều này[12]. Nếu nói là Phật giáo nguyên thủy là chỉ cho Phật giáo tiền bộ phái (Pre-sectarian Buddhism) hay gọi Phật giáo sơ kỳ (Early Buddhism), tức chỉ cho thời đức Phật tại thế và kéo dài đến triều đại vua A-dục (Aśoka) (c. 268 đến 232 BCE) mà thôi[13].

Năm 1998, tại Bồ-đề đạo tràng (Bodhgaya) Ấn-độ, tổ chức giới đàn truyền giới cụ túc, với sự hiện diện đầy đủ của nhị bộ Tăng-già, bên Tăng có sư Nam tông, Bắc tông, bên Ni là các tỳ-kheo-ni Đài Loan. Trong giới đàn có một số giới tử ni đến từ Tích-lan (Sri Lanka), Nepal… Thế nhưng những giới tử ni đến từ Tích-lan (Sri Lanka) đã bị Giáo hội Tăng-già tại Tích-lan từ chối sự đắc giới của họ, cho rằng đó là giới pháp của Đại thừa (Mahāyāna)[14]. Sự thật này có ghẻ lạnh, vô cảm đến mấy thì Tăng đồ Nam tông cũng không thể quên đi lịch sử quá khứ, Mahinda Sơ tổ Phật giáo Nam tông đã đắc giới từ ba vị thầy thuộc ba bộ phái khác nhau, trong đó Mahādeva là phái Đại chúng phát triển thành Phật giáo Đại thừa sau này.

Người viết vướng bước trong suy tư quá lâu, nói để khai phóng tâm hồn. “Chánh pháp thì có được tịnh tín…. Sự tồn tại lâu dài của Chánh pháp là vì ích lợi cho chúng sinh”.

Bhikkhu Cittacakkhu
(Tỳ-khưu Tâm Nhãn)

---------------
Chú thích:

[1] Tự ngôn trong bản Việt dịch Luật Tứ phần, thầy Tuệ Sỹ viết tại Quảng hương Già-lam, Cuối Đông, 2549.

[2] Kỷ yếu Tưởng niệm Tôn sư, tr. 71.

[3] https://giacngo.vn/tieu-su-truong-lao-htthich-minh-chau.

[4] Luật tạng: Thập tụng: p. 148b12-17; Tứ phần: p. 799c12-29; Ngũ phần: p. 111b2-23, 25; Pāli: I, 28, 3-6, 31, 2; Tăng-kỳ: cf. pp. 412b26 – 413a6, p. 416b7-10.

[5] Tuệ Sỹ, Yết-ma yếu chỉ (2011), chương i và chương iii.

[6] 《阿毘達磨俱舍釋論》卷11, T29, no. 1559, p. 235c3.

[7] https://vi.wikipedia.org/wiki/Pol_Pot & “Thống nhất Phật giáo Việt Nam – 1994”, tr. 8-11, Đỗ Trung Hiếu.

[8] 印順導師, 初期大乘佛教之起源與開展, p. 409.

[9] Dīpaṃvasa (Đảo vương thống sử, ch. VIII), Mahāvaṃsa (Đại vương thống sử, ch. XII), Samantapāsādikā (Nhất thiết thiện kiến luật chú, pp. 63, 19-69, 15); Chuan Cheng, Designations of Ancient Sri Lankan Buddhism in the Chinese Tripitaka (Journal of the oxford centre for buddhist studies, vol. 2), p. 104.

[10] 《四分律刪繁補闕行事鈔》卷2, T40, no. 1804, p. 51c4 & 《佛祖統紀》卷29, 35, T49, no. 2035, p. 296c7, p. 332a12.

[11] 《四分律刪繁補闕行事鈔》卷2, p. 51c4; 《高僧傳》卷3, T50, no. 2059, p. 342b11)Tuệ Sỹ, Một thời truyền luật.

[12] Bhikkhu Bodhi, The revival of Bhikkhunī ordination in the Theravāda tradition, p. 35-36.

[13] Griffiths, Paul J. (1983) “Buddhist Jhana: A Form-Critical Study”, Religion 13, pp. 55–68. & Collins, Steven (1990) “On the Very Idea of the Pali Canon”, Journal of the Pali Text Society 15, pp. 89–126.

[14] Bhikkhu Bodhi, p. 36.

Người cư sĩ hiểu luật nhà Phật để làm gì? Bhikkhu Cittacakkhu (Tỳ-khưu Tâm Nhãn)

 Người cư sĩ hiểu luật nhà Phật để làm gì?
Bhikkhu Cittacakkhu
(Tỳ-khưu Tâm Nhãn)

Nguồn: Phật Việt, 20/02/2022

*

Hiện nay hàng cư sỹ Phật tử tại gia đi chùa, học Phật và đóng góp công tác cho Phật giáo nhiều hạnh nguyện khác nhau; đôi khi cũng có người sống như một Duy-ma-cật (Vimalakīrti), hay một Thắng Man (Śrīmālā) v.v. Song, lâu lâu tôi lại nghe một vài Phật tử nói, luật nhà chùa người cư sỹ không được tìm hiểu đọc nó, chính tôi cũng bị nhiều người hỏi về vấn đề này. Liệu có ai thắc mắc, có phải chính đức Phật đã cấm người cư sỹ đọc luật Phật giáo? Nếu có, tài liệu nào nói? Tôi trả lời ngay câu hỏi này. Thật ra, đức Phật cấm người cư sỹ tham gia “tố tụng” tỳ-kheo, hay nghe tội, hoặc cử tội tỳ-kheo, chứ không phải cấm đọc luật tỳ-kheo. Chỉ có chuyện bà Viśākhā trình bày tội tỳ-kheo với đức Phật là trường hợp duy nhất trong giới bất định.[1] Trong chuyện này có hai điều cần chú ý: 1. Bà Viśākhā là người chứng quả Dự lưu (sotāpanna), chuẩn mực tư cách đạo đức, đủ để Tăng tin tưởng lắng nghe. 2. Khi bà thưa xong thì Tăng sẽ phán xử tỳ-kheo đó, bà không tham dự. Đây là vấn đề tế nhị nhưng quan trọng trong việc học luật, hiểu luật và hành luật. Luật đời luật đạo cũng thế.

Chúng ta trở lại lý do đức Phật cấm cư sỹ nghe tội tỳ-kheo. Câu chuyện này thuộc phần Skandhaka (Kiền-độ) của Luật tạng, tuy nhiên luật bộ phái ghi chép có sai khác chút ít.

1) Luật Ngũ phần của Hóa địa bộ quyển 18 dẫn: Khi các tỳ-kheo bố-tát, có bạch y nghe tỳ-kheo phạm tội, bạch y đó nêu tội tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: Không nên cho bạch y và sa-di nghe tỳ-kheo bố-tát tụng giới.[2]

2) Luật Pāli của Thượng tọa bộ (Mahāvagga [Đại phẩm], chương Uposatha [Bố-tát]) ghi: Vào lúc bấy giờ (ngày bố-tát), Devadatta tụng đọc giới bổn Pātimokkha (Ba-la-đề-mộc-xoa) trong hội chúng có sự hiện diện của cư sỹ. Các tỳ-kheo đem việc ấy bạch Phật. Phật dạy: Này các tỳ-kheo, không nên tụng đọc Pātimokkha trong hội chúng có sự hiện diện của cư sỹ. Vị nào tụng đọc, phạm dukkaṭa (đột-kiết-la).[3]

3) Luật Ma-ha Tăng-kỳ của Đại chúng bộ quyển 27: Có tỳ-kheo thuyết Ba-la-đề-mộc-xoa, nói năm nhóm tội từ ba-la-di đến tội việt tỳ-ni cho người chưa thọ cụ túc (người thế tục) nghe, rồi tỳ-kheo đi vào thôn xóm, bị người thế tục nêu tội: “Trưởng lão phạm ba-la-di…” Sau đó, đức Phật dạy không được thuyết Ba-la-đề-mộc-xoa, nói năm nhóm tội cho người chưa thọ cụ túc nghe. Chỉ được phép nói: “Ngươi không được làm phi phạm hạnh, không được trộm cắp, không được sát sinh, không được vọng ngữ.”[4]

4) Luật Tứ phần của Pháp tạng bộ cũng dẫn: “Bấy giờ, đến ngày thuyết giới, nhóm sáu tỳ-kheo làm các việc như chào hỏi và nói chuyện với bạch y, tác yết-ma thuyết giới, thuyết pháp.”[5]

Như vậy chúng ta thấy, xã hội nhà chùa trong thời kỳ đầu, lễ bố-tát thuyết giới có cư sỹ tham dự. Sau đó do phát sinh tâm khinh miệt tỳ-kheo phạm tội, hoặc vì giảm lòng tin của người cư sỹ, hay mất tín tâm đối với những người chưa có lòng tin…, điều này ảnh hưởng lớn đến Tăng đoàn mới khiến đức Phật cấm chế. Về sau, khi tông luật Tứ phần phát triển cực thịnh ở Trung Hoa, đến năm Sùng trinh thứ 16 đời nhà Minh (1643), tỳ-kheo Hoằng Tán[6] biên soạn Tứ phần giới bổn như thích, viết rằng: “Ba đời chư Phật đều thuyết kinh, luật, luận; Tạng kinh và luận đều dành chung cho xuất gia và tại gia. Riêng Tạng luật chỉ có tỳ-kheo độc trì, như kho tàng của vua, ngoại quan không được biết đến. Cho nên bạch y, sa-di mà xem trước vĩnh viễn sau này không được thọ đại giới và phạm ngang tội ngũ nghịch. Phàm làm thầy phải hết sức cẩn thận”.[7] Có lẽ Hoằng Tán y cứ vào luật Ngũ phần mà “tô điểm” thêm, đề cao Luật tạng trở thành bí truyền, tạo học thuyết hăm dọa hoang tưởng quá đáng. Từ đó về sau Phật giáo Việt Nam hành trì tông luật Tứ phần, đôi khi hưởng ứng theo “chủ nghĩa thậm xưng” của tỳ-kheo Hoằng Tán; hoặc giả một số nhà sư hiểu nhầm từ sự nghiêm cấm trên mà giảng dạy cho Phật tử không được đọc luật Phật giáo. Đây chỉ là sự ngộ nhận, vả lại xã hội thời Phật từ thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 4 trước Tây lịch chưa có bút mực biên chép thành sách thì khái niệm cấm đọc luật tỳ-kheo càng không có.

Để rộng bàn thêm về vấn đề này chúng tôi dẫn thêm vài trường hợp trong luật Tăng-kỳ nêu: Nếu trong Tăng không dập tắt được sự tranh chấp của các tỳ-kheo thì nên tìm một tỳ-kheo có đức, hay đa văn, hoặc tỳ-kheo ở a-luyện-nhã (arañña, sống nơi sơn lâm, hoang dã). Nếu không có thì tìm một ưu-bà-tắc (cư sỹ nam) có thế lực.[8] Hay câu chuyện Tăng đang bố-tát, cư sĩ Cù-sư-la (Ghoṣila) đi vào, cố ý ở lại nghe, không đi. Các tỳ-kheo bạch Phật. Phật dạy, nếu người có đức hạnh cao quý muốn nghe Tăng giải quyết sự việc thì cho họ nghe. Đồng thời, nếu trong chúng có người tài giỏi, nói năng lưu loát, giải quyết sự việc phân minh thì cứ tự nhiên tiến hành. Trái lại, nếu giải quyết sự việc trước kẻ phàm phu tầm thường thì phạm tội việt tỳ-ni.[9]

Vậy rõ ràng đối với những người cư sỹ tại gia đã có tín tâm kiên cố nơi Tam bảo, dù họ có nghe lỗi lầm của tỳ-kheo đi chăng nữa họ vẫn giúp Tăng phục hoạt cho thanh tịnh, hoàn toàn không có tâm cao ngạo hủy báng Tăng. Tuy nhiên cũng có trường hợp việc của Tăng do Tăng quyết định, cậy nhờ đến quan, bạch y thì khó giải quyết – luật Thập tụng nói như vậy.[10]

Qua đây chúng ta thấy luật Phật giáo chỉ ngăn cấm hạng người hiểu biết nhiều, tâm kiêu ngạo bốc cao, bất kính Tam bảo, không có tâm đạo… Ngày nay, giới nghiên cứu luật học Phật giáo đều biết đến E. Frauwallner, Akira Hirakawa, Lamotte, I. B. Horner v.v. Họ là cư sỹ viết về Luật tạng của Phật giáo, công trình của họ để lại cho đời đáng cho người học Phật phải bái phục. Họ là cư sỹ mà thông luật Phật giáo hơn cả tu sĩ trong chùa, vậy họ có phạm tội ngũ nghịch như Hoằng Tán nói không? Phật giáo được truyền bá rộng rãi sang các nước phương Tây cũng chính nhờ họ, những gì họ làm có giá trị miên viễn cho giới học thuật.

Do đó, trách nhiệm của người cư sỹ tại gia nên đọc luật Phật giáo, đọc với mục đích gì, đọc với cái tâm ra sao mọi người tự biết. Thời Ôn Đỗng Minh còn sinh tiền hay đùa với chúng tôi, Ôn nói các nước Phật giáo Nam tông mấy ông sư không cần giữ giới, Phật tử giữ giới cho mấy ông sư. Vì họ hiểu luật lệ của nhà sư. Năm 2011, tôi qua Thái Lan thăm một người bạn, nhằm ngày “Cửu hoàng thắng hội” – tức lễ ăn chay của người Thái, từ ngày mồng 1 tháng 9 Âm lịch đến ngày mùng 10. Một hôm, chúng tôi đi chợ buổi chiều, gặp một người Thái, họ biết chúng tôi là nhà sư Phật giáo Bắc tông ăn chiều nên lấy tiền cúng dường. Điều làm tôi ngạc nhiên là người bạn của tôi không đưa tay nhận mà kéo ống tay ra để họ cúng tờ tiền lên ống tay áo. Đó cũng là một cách “linh hoạt” nhà sư không nhận tiền trực tiếp, và họ là nữ không dám đụng chạm nhà sư, vân vân. Tôi còn biết, tại các trường Phật giáo Thái Lan, môn luật Phật giáo đều có cư sỹ tham gia học tập nghiên cứu. Ngạc nhiên hơn là bộ môn đó do giáo sư cư sỹ giảng dạy.

Chúng tôi bàn thêm chuyện sa-di không được đọc luật tỳ-kheo. Điều này hồi tôi mới vào chùa đã nghe quý thấy thường nhắc nhở vậy. Trong các bộ phái chính thống chỉ có Hóa địa bộ soạn luật Ngũ phần đề cập đến sa-di. Tại sao không cho sa-di dự Tăng yết-ma bố-tát? Theo chúng tôi hiểu, lễ bố-tát sám hối, đọc giới điều của tỳ-kheo, như nêu tội tỳ-kheo đồng nghĩa xử án, luật đời như luật đạo: Tại phiên tòa xét xử, người dưới 16 tuổi không được tham dự. Trừ vụ án có liên quan, được tòa triệu tập thì người này mới được đến. Do đó sa-di chưa đủ tuổi 20 cũng vậy, họ còn nhỏ, tư tưởng chưa chín chắn, không đủ tư cách để tham dự.

Tóm lại, nếu một tỳ-kheo lui vào rừng sâu ẩn dật như con tê giác thì cư sỹ tại gia không cần học luật, hiểu luật Phật giáo để làm gì. Song le đời sống của tỳ-kheo ngày nay hòa nhập, va chạm với xã hội xung quanh quá nhiều, trách nhiệm của họ giữ luật là một lẽ, mà bổn phận của người cư sỹ cũng cần hiểu luật tỳ-kheo, hiểu căn bản thôi, có như vậy mới giúp ích cho tỳ-kheo, và lớp người cư sỹ là vành đai an toàn cho đời sống Tăng, ni và cộng đồng Tăng-già hiện nay.

Nha Trang, ngày 20 tháng 2 năm 2022.
Bhikkhu Cittacakkhu

----------------
Chú thích:

[1] 四分律 卷 5, T22, no. 1428, p. 600b9; 彌沙塞部和醯五分律 卷 4, T22, no. 1421, p. 22c15; v.v…

[2] 彌沙塞部和醯五分律 卷18, T22, no. 1421, p. 123a17.

[3] Pāli, Vin. Mahāvagga, Uposathakkhandhako: Tena kho pana samayena devadatto sagahaṭṭhāya parisāya pātimokkhaṃ uddisati. Bhagavato etamatthaṃ ārocesuṃ. Na, bhikkhave, sagahaṭṭhāya parisāya pātimokkhaṃ uddisitabbaṃ. Yo uddiseyya, āpatti dukkaṭassāti.

[4] 摩訶僧祇律 卷27, T22, no. 1425, p. 448b22-21.

[5] 四分律 卷35, T22, no. 1428, p. 819a10.

[6] Hoằng Tán 弘贊 (1611-1685), sống cuối đời Minh đầu đời nhà Thanh.

[7] 四分戒本如釋 卷1, X40, no. 717, p. 193c15-18:三世諸佛。俱說經律論三藏聖教。經論二藏。咸通在家出家。惟律一藏。比丘獨持。如王秘藏。非外官所司。故白衣。沙彌。若先覽者。後永不得受大戒。罪與五逆同例。凡為師者。最宜謹慎.

[8] 僧祇律 12, p. 328a.

[9] Ibid., 27, 449b10.

[10] Cf. 十誦律 49, p. 362a03.

Saturday, 24 June 2023

Bộ Luận A-tỳ-đàm Bắc truyền - Nhất thiết Hữu bộ

 BỘ LUẬN A-TỲ-ĐÀM BẮC TRUYỀN (HÁN TẠNG)
NHẤT THIẾT HỮU BỘ (Sarvāstivāda - 一切有部)

Bộ phái Sarvāstivāda (Nhất Thiết Hữu Bộ, còn gọi tắt là Hữu Bộ) có bảy bộ luận A-tỳ-đàm (Abhidharma, Vi Diệu Pháp), hiện nay chỉ còn lưu bản dịch trong Hán tạng, và gần đây đã được dịch sang tiếng Việt trong bộ Đại tạng kinh Linh Sơn Pháp bảo. Khác với tạng A-tỳ-đàm của bộ phái Theravada (Thượng tọa bộ), bảy bộ luận này đều có ghi tên tác giả.

Có thể tải bản PDF theo những links sau đây:

III.1. A-tỳ-đạt-ma Tập Dị Môn Túc Luận – T1536
(Abhidharma-saṅgītīparyāyapāda-śāstra - 阿毘達磨集異門足論)
Tác giả: Śāriputra (Xá-lợi-phất)
https://tinyurl.com/527kmdr7

III.2. A-tỳ-đạt-ma Pháp Uẩn Túc Luận – T1537
(Abhidharmadharma-skandhapāda-śāstra - 阿毘達磨法薀足論)
Tác giả: Maudgalyāyana (Mục-kiền-liên)
https://tinyurl.com/4uk23r6n

III.3. Thi Thiết Luận – T1538
(Prajñapti-śāstra - 施設論)
Tác giả: Maudgalyāyana (Mục-kiền-liên)
https://tinyurl.com/yc4xjf2m

III.4. A-tỳ-đạt-ma Thức Thân Túc Luận – T1539
(Abhidharma-vijñānakāyapāda-śāstra - 阿毘達磨識身足論)
Tác giả: Devakṣema (Đề-bà-thiết-ma)
https://tinyurl.com/mr4duj88

III.5. A-tỳ-đạt-ma Giới Thân Túc Luận – T1540
(Abhidharma-dhātukāyapāda-śāśtra - 阿毘達磨界身足論)
Tác giả: Vasumitra (Thế Thân)
https://tinyurl.com/y7td7u5f

III.6. A-tỳ-đạt-ma Phẩm Loại Túc Luận – T1542
(Abhidharma-prakaraṇapāda-śāstra - 阿毘達磨品類足論)
Tác giả: Vasumitra (Thế Thân)
https://tinyurl.com/mexv3s83

III.7. A-tỳ-đạt-ma Phát Trí Luận – T1544
(Abhidharma-jñānaprasthāna-śāstra - 阿毘達磨發智論)
Tác giả: Kātyāyanīputra (Ca-đa-diễn-ni Tử)
https://tinyurl.com/yvsrxpt6


*-----* 



Friday, 23 June 2023

ĐẠI TẠNG KINH VIỆT NAM (Phiên bản dạng PDF)

 ĐẠI TẠNG KINH VIỆT NAM
(Phiên bản dạng PDF)

A. TAM TẠNG PALI - BẢN DỊCH TIẾNG VIỆT
I. LUẬT TẠNG
I.1. Phân tích giới bổn. 914 trang, 84.6 MB
https://tinyurl.com/3fpk4h4u

I.2. Hợp phần, Tập yếu. 1502 trang, 140.4 MB
https://tinyurl.com/76f7fv4m

*
II. KINH TẠNG
II.1. Trường bộ. 668 trang, 70.2 MB 
https://tinyurl.com/bdhztbu7

II.2. Trung bộ. 1246 trang, 117.5 MB
https://tinyurl.com/5pb9yan8

II.3. Tương ưng bộ. 1432 trang, 127.4 MB
https://tinyurl.com/ycyvnmne

II.4. Tăng chi bộ. 1424 trang, 171.2 MB
https://tinyurl.com/ycyn3tej

II.5. Tiểu bộ
II.5.1. Tiểu bộ I. 1348 trang, 94.6 MB
https://tinyurl.com/56jm45em 
. Tiểu Tụng 
. Pháp Cú 
. Kinh Phật Tự Thuyết 
. Kinh Phật Thuyết Như Vậy 
. Kinh Tập 
. Chuyện Thiên Cung 
. Chuyện Ngạ Quỷ 
. Trưởng Lão Tăng Kệ 
. Trưởng Lão Ni Kệ 

II.5.2. Tiểu bộ II. 1264 trang, 111.6 MB
https://tinyurl.com/y2xdry9c
. Chuyện Tiền Thân (1-438)  

II.5.3. Tiểu bộ III. 1484 trang, 118.7 MB
https://tinyurl.com/bddxsk7f
. Chuyện Tiền Thân (439-547) 

II.5.4. Tiểu bộ IV. 1218 trang, 125.3 MB
https://tinyurl.com/yc5cc6mn
. Đại Diễn Giải
. Tiểu Diễn Giải
. Phân Tích Đạo

II.5.5. Tiểu bộ V. 1268 trang, 115.0 MB
https://tinyurl.com/29b3racx 
. Thánh Nhân Ký Sự 
. Phật Sử 
. Hạnh Tạng 
. Milinda Vấn Đạo 

*
III. VI DIỆU PHÁP TẠNG (Abhidhamma, A-tỳ-đàm, Vô tỷ pháp, Thắng pháp).
III.1. Bộ Pháp Tụ: https://tinyurl.com/5n6e277n 
III.2. Bộ Phân Tích: https://tinyurl.com/49wd67uh
III.3. Bộ Nguyên Chất Ngữ: https://tinyurl.com/j2mx4nmc
III.4. Bộ Nhân Chế Định: https://tinyurl.com/4x4vbffy
III.5. Bộ Ngữ Tông: https://tinyurl.com/35d7pc8j
III.6. Bộ Song Đối: https://tinyurl.com/5y2vahw4

III.7 Bộ Vị Trí
III.7.1. Bộ Vị Trí, quyển 1&2: https://tinyurl.com/y4mfhavh
III.7.2. Bộ Vị Trí, quyển 3&4: https://tinyurl.com/37uju3cc
III.7.3. Bộ Vị Trí, quyển 5&6: https://tinyurl.com/4kefjx9b

*-----*

B. HÁN TẠNG - BẢN DỊCH TIẾNG VIỆT 
I. LUẬT TẠNG
I.1. Luật Ma-ha Tăng-kỳ (Mahāsaṅghika)
Tập 1: https://tinyurl.com/28srakzz
Tập 2: https://tinyurl.com/57j4d2u5
Tập 3: https://tinyurl.com/bdzf2sby
Tập 4: https://tinyurl.com/4cep7zvw

I.2. Luật Tứ Phần. 
Tập 1: https://tinyurl.com/ynder7yb
Tập 2: https://tinyurl.com/y9rutf98
Tập 3: https://tinyurl.com/ywmmtdyf
Tập 4: https://tinyurl.com/2vsn5pns
Tập 5: https://tinyurl.com/3crynsh7
Tập 6: https://tinyurl.com/ysva3r76
Tập 7: https://tinyurl.com/3734bjv3 (Tổng mục lục)

I.3 Luật Ngũ Phần.
https://tinyurl.com/5yxmrw3m 

I.4. Luật Thập Tụng
https://tinyurl.com/2p8b2t3d

*
II. KINH TẠNG
II.1a. Trường A-hàm (Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm dịch) 
https://tinyurl.com/3n4xxvcn

II.1b. Trường A-hàm (Trung Tâm Dịch thuật Trí Tịnh dịch)
https://tinyurl.com/bddkxyde

II.2a. Trung A-hàm (Cao đẳng Phật học Hải Đức dịch)
https://tinyurl.com/2p92k7an

II.2b. Trung A-hàm (Trung Tâm Dịch thuật Trí Tịnh)
https://tinyurl.com/2p9sk9z5

II.3a. Tạp A-hàm (HT Thiện Siêu, HT Thanh Từ dịch)
https://tinyurl.com/22hbczks

II.3b. Tạp A-hàm (Trung Tâm Dịch thuật Trí Tịnh dịch)
https://tinyurl.com/3uhw4s2d

II.4a. Tăng nhất A-hàm (HT Thiện Siêu, HT Thanh Từ dịch)
https://tinyurl.com/5cd6xwtj

II.4b. Tăng nhất A-hàm (Trung Tâm Dịch thuật Trí Tịnh dịch)
https://tinyurl.com/2sdtuy26  

II.5. Tiểu A-hàm 
. Kinh Pháp Cú (T0210) 
https://tinyurl.com/2p87k65c 
. Kinh Pháp Cú Thí Dụ (T0211)
https://tinyurl.com/mr27mp86
. Kinh Xuất Diệu (T0212) 
https://tinyurl.com/53346k9h
. Kinh Pháp Tập Yếu (T0213) 
https://tinyurl.com/2d6zexky
. Kinh Phật Thuyết Nghĩa Túc (T0198) 
https://tinyurl.com/5x68jzy3
. Kinh Na-tiên Tỳ-khưu (T1670) 
https://tinyurl.com/3cpam9bw 
-
Bản dịch của Đoàn Trung Còn & Nguyễn Minh Tiến:
https://tinyurl.com/2cw45bw9
. Kinh Hiền Ngu (T0202)
https://tinyurl.com/29p7f73t
. Kinh Tứ Thập Nhị Chương (T0784)
https://tinyurl.com/2sh6vhy8

IIb. Bản dịch Việt trong Tiểu tạng Thanh văn:
IIb.1. Trường A-hàm. Tuệ Sỹ dịch và chú.  

IIb.2. Trung A-hàm. Tuệ Sỹ dịch và chú. 

IIb.3. Tạp A-hàm. Thích Đức Thắng dịch, Tuệ Sỹ chú thích. 

IIb.4. Tăng nhất A-hàm. Thích Đức Thắng dịch, Tuệ Sỹ chú thích. 

*
III. LUẬN TẠNG (A-TỲ-ĐÀM HỮU BỘ)
III.1. A-tỳ-đạt-ma Tập Dị Môn Túc Luận
https://tinyurl.com/527kmdr7

III.2. A-tỳ-đạt-ma Pháp Uẩn Túc Luận
https://tinyurl.com/4uk23r6n

III.3. Thi Thiết Luận 
https://tinyurl.com/yc4xjf2m

III.4. A-tỳ-đạt-ma Thức Thân Túc Luận
https://tinyurl.com/mr4duj88

III.5. A-tỳ-đạt-ma Giới Thân Túc Luận
https://tinyurl.com/y7td7u5f

III.6. A-tỳ-đạt-ma Phẩm Loại Túc Luận
https://tinyurl.com/mexv3s83

III.7. A-tỳ-đạt-ma Phát Trí Luận
https://tinyurl.com/yvsrxpt6 

III.8. A-tỳ-đàm Bát Kiền Độ Luận 
https://tinyurl.com/4w62ztsn

*-----*



Sunday, 21 May 2023

Sách: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

 LINH SƠN PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH
22 bộ, 203 tập, dạng PDF.

Hạ tải tập tin nén dạng ZIP,  dung lượng 475 MB, gồm toàn bộ 203 tập:
https://tinyurl.com/3jhsnz8h

Hạ tải các bản PDF, riêng rẽ từng tập:
https://www.daitangkinh.org/ 

Liên hệ giữa Đại Chánh Tân Tu và Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh:



Liên hệ giữa số tập của Đại Chính Tân Tu và Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh:





Tuesday, 16 May 2023

Sách: Từ Chánh niệm đến Giác ngộ, Cẩm nang của người tu thiền. Ajahn Brahm (Trần Như Mai dịch)

Sách:

Từ Chánh niệm đến Giác ngộ - Cẩm nang của người tu Thiền
Ajahn Brahm
(Trần Như Mai dịch Việt)

Hiện nay có nhiều sách giá trị về hành thiền phổ biến trên các trang web Phật giáo. Tuy nhiên, tôi xin giới thiệu cuốn cẩm nang hành thiền của ngài Ajahn Brahm, “Mindfulness, Bliss, and Beyond: A Meditator's Handbook“ – “Từ Chánh niệm đến Giác ngộ, Cẩm nang của người tu Thiền” (Trần Như Mai dịch). Cuốn này được nhiều người ưa thích và dịch ra nhiều thứ tiếng. Bản dịch tiếng Việt của chị Trần Như Mai đã được tái bản nhiều lần và có bán tại các nhà sách Phật giáo ở Việt Nam. 

Ngoài ra, còn có 2 bản Việt dịch khác:

- Thiền Theo Cách Phật Dạy Đi Đến Giải Thoát, Lê Kim Kha dịch.
- Phúc Lạc Của Thiền, Huỳnh Văn Thanh dịch.

Có thể tải bản vi tính, dạng PDF, ở các link sau đây (tuy nhiên, theo kinh nghiệm, tôi thấy bản in trên giấy dễ đọc và nghiền ngẫm, tham khảo từ từ, có nhiều lợi lạc hơn):

1) Bản gốc tiếng Anh:
Ajahn Brahm. Mindfulness, Bliss, and Beyond: A Meditator's Handbook (2006) 
https://tinyurl.com/4788ep5t

2) Bản tiếng Việt (Trần Như Mai dịch):
Từ Chánh niệm đến Giác ngộ: Cẩm nang của người tu thiền (2009) 
https://tinyurl.com/2c2f37pa

3) Sách nói: 
Từ Chánh niệm đến Giác ngộ: Cẩm nang của người tu thiền; đọc theo  bản dịch của Trần Như Mai 
https://tinyurl.com/57hu4xez 

*




Sunday, 30 April 2023

30/4: Thành kính tưởng niệm

Thành kính tưởng niệm những người đã chết trong cuộc chiến, 1954-1975, và những người đã chết trên đường di tản, tị nạn, 1975-1995. 

Nguyện cho tất cả được tái sinh về cõi an vui.

----------------

Theo Wikipedia, có khoảng 2,5 triệu người Việt thuộc các thành phần, phe phái khác nhau đã chết trong cuộc nội chiến 1954-1975. Sau đó, 1975-1995, có khoảng 2 triệu người di tản, tị nạn, rời khỏi Việt Nam. Ước tính khoảng 10% (200,000 người) đã bỏ mạng trên biển.

*



Friday, 28 April 2023

Sách: Pháp sư NGHĨA TỊNH (義淨 635-713, Yijing, I-ching, I-tsing)

Sách: 

Pháp sư NGHĨA TỊNH
(義淨 635-713, Yijing, I-ching, I-tsing) 

1) Nam Hải Ký Quy Nội Pháp Truyện. Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh, Tập 199, Số 2125. 
南海寄歸內法傳

 Bản dịch tiếng Anh: 
1a) Buddhist Monastic Traditions of Southern Asia - A Record of the Inner Law sent Home from the South Sea. Li Rongxi trans.
1b) A Record of the Buddhist Religion as Practised in India and the Malay Archipelago A.D. 671-695. J. Takakusu trans. 

 2) Sử truyện các vị Cao tăng đến Thiên Trúc cầu Pháp thời Đại Đường. Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh, Tập 187, Số 2066. 
大唐西域求法高僧傳 – Đại Đường Tây Vực Cầu Pháp Cao Tăng Truyện 

 Bản dịch tiếng Anh: 
Chinese Monks in India: Biography of Eminent Monks who went to the Western World in Search of the Law during the Great T'ang Dynasty. L. Lahiri trans. 

 *-----*


Sunday, 23 April 2023

Sách: Giáo trình Pali. HT Thích Minh Châu dịch

 Sách:

GIÁO TRÌNH PALI (trọn bộ 3 tập)
Hòa thượng Buddhadatta.
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt.

Tải bản PDF (4.6 MB):
https://tinyurl.com/y75z7set

Link dự phòng:
https://mega.nz/file/S9BRCA5L#GBPSoOEWa15BVrQtK5nyqFqu4p5W3KXttfVgwWlxLAk

*




Saturday, 15 April 2023

Sách: Minh Đức Triều Tâm Ảnh (Hòa thượng Giới Đức). PHẬT HỌC CĂN BẢN

Sách:

PHẬT HỌC CĂN BẢN (2019)
Minh Đức Triều Tâm Ảnh
(Hòa thượng Giới Đức)

Link để tải bản PDF (2.8 MB):
https://tinyurl.com/3cmsk5pd

Link dự phòng:
https://mega.nz/file/m0Bi0BZA#IznLLtIB75zIjkQKeMFGzEymGXwxV0mfVeDTuDkbeqM

*



Sách: Nguyễn Duy Nhiên dịch. TRÁI TIM THIỀN TẬP.

 Sách:

TRÁI TIM THIỀN TẬP
Nguyễn Duy Nhiên dịch  
(Sharon Salzberg - A heart as wide as the world)

Link để tải bản PDF Việt-Anh (4.0 MB):
https://tinyurl.com/4ma3t7xw

Link dự phòng:
https://mega.nz/file/XtQyTT7J#DQD11ArolPqjp_N1GDNjUBuH1OaVR6Pw_qm7gdk0bnc 

*



Tuesday, 28 March 2023

Vẫn gọi Australia là nhà

 I STILL CALL AUSTRALIA HOME
(TÔI VẪN GỌI AUSTRALIA LÀ NHÀ)

Mấy hôm nay bỗng nhiên nghĩ đến chuyện đi lang thang đó đây của mình trong mấy chục năm qua. Đã thỏa ước nguyện tâm linh là đi hành hương bốn nơi động tâm ở Ấn Độ và viếng thăm sáu nơi kết tập kinh điển Pali ở Ấn Độ, Sri Lanka và Miến Điện. Thêm vào đó, tôi đã hoàn tất ước nguyện ấp ủ từ khi còn bé là đi lang thang dọc theo bờ biển hình chữ S của Việt Nam, từ Cà Mau đến Móng Cái. Bây giờ già rồi và đã toại nguyện, tôi không còn mong ước đi du lịch chỗ này chỗ kia nữa.

Rồi nghĩ thêm, trong 72 năm cuộc đời, tôi đã sống trên vùng đất Kăng-ga-ru này trên 40 năm, nghĩa là hơn phân nửa đời người. Đã quen thuộc và cảm thấy gần gũi với con người và đất nước này. Xem như đó là quê hương thứ hai của mình, và rồi, trên thực tế sẽ sống trong những năm tháng còn lại và kết thúc tại nơi đây.

Từ đó, chợt nhớ đến bài hát này, "I still call Australia home" (Tôi vẫn gọi Australia là nhà), do Peter Allen sáng tác 40 năm trước và thỉnh thoảng vẫn còn nghe dân chúng Úc ca hát nghêu ngao ...

Mời nghe cho vui:

1) Peter Allen hát, có lời để theo dõi:
https://www.youtube.com/watch?v=WZls2uyHKWI

2) Leah Lever (16 tuổi) hát:
https://www.youtube.com/watch?v=kO7cvVwtww8

3) Ban hợp ca học trò:
https://www.youtube.com/watch?v=R3K5RA3VJfs

4) Ca sĩ Dami Im hát:
https://www.youtube.com/watch?v=hsF4nqY3F_o

5) Ban hợp ca The Ten Tenors :
https://www.youtube.com/watch?v=iTJF2WcRBYo

*

I STILL CALL AUSTRALIA HOME (TÔI VẪN GỌI AUSTRALIA LÀ NHÀ).
Peter Allen (1980)

I've been to cities that never close down
From New York to Rio and old London town
But no matter how far
Or how wide I roam
I STILL CALL AUSTRALIA HOME.

I'm always travelin'
And I love bein' free
So I keep leavin' the sun and the sea
But my heart lies waiting over the foam
I STILL CALL AUSTRALIA HOME.

All the sons and daughters spinning 'round the world
Away from their families and friends
Ah, but as the world gets older and colder
It's good to know where your journey ends.

And someday we'll all be together once more
When all the ships come back to the shore
Then I realize something I've always known
I STILL CALL AUSTRALIA HOME.

No matter how far
Or how wide I roam
I STILL CALL AUSTRALIA HOME.

*-----*

Tạm dịch:

Tôi đã từng viếng các thành phố luôn luôn nhộn nhịp
Từ New York đến Rio và London xưa
Nhưng dù tôi có đi thật xa
Và đi khắp mọi nơi
TÔI VẪN GỌI AUSTRALIA LÀ NHÀ.

Tôi luôn luôn đi đó đây
Tôi thích được tự do
Cho nên tôi rời miền biển nắng ấm
Nhưng rồi tim tôi vẫn nằm với bọt sóng biển
TÔI VẪN GỌI AUSTRALIA LÀ NHÀ.

Những người con trai và con gái đi khắp nơi trên thế giới
Rời xa gia đình và bạn bè
Nhưng rồi đến tuổi xế chiều, mệt mỏi
Họ biết nơi nào để trở về an nghỉ.

Ngày nào đó chúng ta sẽ lại đoàn tụ
Khi mọi chiếc tàu đi xa trở về cập bến cũ
Lúc ấy, tôi nhận ra một điều lâu nay hằng ấp ủ
TÔI VẪN GỌI AUSTRALIA LÀ NHÀ.

Dù tôi có đi thật xa
Và đi khắp mọi nơi
TÔI VẪN GỌI AUSTRALIA LÀ NHÀ.

*-----*



Monday, 27 March 2023

Sách: Lý thuyết Nhân tính qua Kinh tạng Pali - Thích Chơn Thiện (1999)

Sách:

LÝ THUYẾT NHÂN TÍNH QUA KINH TẠNG PĀLI.
Hòa thượng Thích Chơn Thiện (1999)

Luận án Tiến sĩ Phật học, Đại học Delhi, Ấn Độ (1996)
(Nguyên tác: The Concept of Personality Revealed Through the Pañcanikāya)

Link tải bản PDF (2 MB):
https://tinyurl.com/2s4karpu

Link dự phòng:
https://mega.nz/file/OgwCSJCL#772JDV44N_FBdZfFVvcGjAap_ZCjflgRmtyChp306Ik

*-----*

Mục Lục

Lời giới thiệu
Lời nói đầu

PHẦN I: LỜI GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT
I.1. Chương 1: Dẫn nhập
I.1.1: Nhan đề và giới thiệu đề tài
I.1.2: Phạm vi đề tài
I.2. Chương 2: Duyên khởi là sự thật
I.2.1: Tư tưởng và xã hội Ấn trước thời đức Phật
I.2.2: Con đường đi đến chân lý của đức Phật

PHẦN II: GIÁO LÝ DUYÊN-KHỞI
II.1. Chương 1: Ý nghĩa Duyên-khởi
II.1.1: Duyên, Duyên khởi, Năng duyên, Sở duyên
II.1.2: Ý nghĩa 12 chi phần Duyên khởi
II.1.3: Sự vận hành của 12 chi phần Duyên khởi
II.2. Chương 2: Sự soi sáng của Duyên khởi
II.2.1: Nhân sinh quan và vũ trụ quan
II.2.2: Duyên khởi và các vấn đề cá nhân
II.2.3: Cá nhân và môi sinh
II.2.4: Cá nhân và các giá trị con người

PHẦN III: LÝ THUYẾT NHÂN TÍNH QUA KINH TẠNG PÀLI
III.1. Chương 1: Các lý thuyết Nhân tính đương thời
III.1.1: Lý thuyết Nhân tính
III.1.2: Các nét đặc trưng về Nhân tính
III.1.3: Lược qua các lý thuyết về Nhân tính tiêu biểu
III.2. Chương 2: Con người là năm uẩn
III.2.1: Ý nghĩa năm uẩn
III.2.2: Sự vận hành của năm uẩn
III.2.3: Năm Thủ uẩn và vấn đề khổ đau và hạnh phúc

PHẦN IV: NĂM THỦ UẨN VÀ CÁC VẤN ĐỀ CÁ NHÂN
IV.1. Chương 1: Dục vọng của cá nhân
IV.1.1: Ham muốn cõi Dục
IV.1.2: Ham muốn phái tính
IV.1.3: Ham muốn hiện hữu
IV.1.4: Ham muốn vô hữu
IV.1.5: Cái nhìn trí tuệ
IV.2. Chương 2: Năm Thủ uẩn và giáo dục cá nhân
IV.2.1: Giáo dục cá nhân
IV.2.2: Năm Thủ uẩn và Nghiệp cũ, Nghiệp mới
IV.2.3: Tu tập Năm Thủ uẩn và Giáo dục

PHẦN V: KẾT LUẬN
V.1. Chương 1: Hướng Văn hóa và Giáo dục mới
V.1.1: Hướng Giáo dục mới
V.1.2: Hướng Văn hóa mới
V.2. Chương 2: Giải đáp cho các khủng hoảng hiện nay
V.2.1: Giải đáp cho "Khủng hoảng tư tưởng"
V.2.2: Giải đáp cho "Khủng hoảng dục vọng"
V.2.3: Giải đáp cho "Khủng hoảng con tim"
V.2.4: Giải đáp cho "Khủng hoảng cảm xúc"
V.2.5: Giải đáp cho "Khủng hoảng đạo đức"
V.2.6: Giải đáp cho "Khủng hoảng môi sinh"
V.2.7: Giải đáp cho "Khủng hoảng giáo dục"

*-----*