Monday, 8 February 2021

Mười tùy niệm - Dasa anussatiyo - Ten Recollections

 Mười tùy niệm - Dasa anussatiyo - Ten Recollections - 十随念 (Thập tùy niệm) 

* Sáu tùy niệm, Six recollections: AN 6.10, AN 6.25, DN 33
* Mười tùy niệm, Ten recollections: AN 1.296-305; Vism VII-VIII

Pāli – Anh – Việt – Hán – Hán-Việt

01) Buddhānussati – Recollection of the Buddha – Niệm Phật – 佛隨念 – Phật tùy niệm

02) Dhammānussati – Recollection of the Dhamma – Niệm Pháp – 法隨念 – Pháp tùy niệm

03) Saṅghānussati – Recollection of the Saṅgha – Niệm Tăng – 僧隨念 – Tăng tùy niệm

04) Sīlānussati – Recollection of virtuous behavior – Niệm Giới – 戒隨念 – Giới tùy niệm

05) Cāgānussati – Recollection of generosity – Niệm Thí – 施隨念 – Thí tùy niệm

06) Devatānussati – Recollection of the devas (deities) – Niệm Thiên – 天隨念 – Thiên tùy niệm

07) Ānāpānasati – Mindfulness of breathing – Niệm Hơi thở – 安那般那念 (入出息念) – A-na-ban-na niệm (Nhập xuất tức niệm)

08) Maraṇassati – Mindfulness of death – Niệm Chết – 死隨念 – Tử tùy niệm

09) Kāyagatāsati – Mindfulness directed to the body – Niệm Thân – 身随念 – Thân tùy niệm

10) Upasamānussati – Recollection of peace – Niệm Tịch tịnh – 寂止隨念 (寂靜隨念) – Tịch chỉ tùy niệm (Tịch tĩnh tùy niệm)

*





Sunday, 7 February 2021

Niệm Ân đức Tam bảo (Phật-Pháp-Tăng)

 NIỆM ÂN ĐỨC TAM BẢO PHẬT-PHÁP-TĂNG

Nhiều năm trước, một trong những động lực thúc đẩy tôi cố gắng học thuộc lòng và tụng bài Ân đức Tam bảo là sau khi đọc bài kinh Đầu Ngọn Cờ (SN 11.3) thuộc Tương ưng bộ. Bài kinh ấy tạo cho tôi nhiều hứng khởi và niềm tin để cố gắng học cho thuộc ba câu tụng Ân đức Tam bảo bằng tiếng Pāli. Lúc ấy tôi thường xuyên đi công tác ở những vùng xa xôi hẻo lánh, vùng rừng núi lẫn vùng sa mạc hoang vu. Ban đêm một mình trong phòng, trước khi ngủ, tôi đều tụng bài Ân đức Tam bảo bằng tiếng Pāli này. Cảm thấy an tâm, không còn sợ hãi, ngủ ngon, không ác mộng.

Từ đó, mỗi khi một mình đi lang thang nơi xa, tôi đều tụng bài Ân đức Tam bảo. Xem như là thần chú của riêng mình, trị được các nỗi sợ hãi, đúng như lời Phật dạy trong bài kinh Đầu Ngọn Cờ nêu trên.

Ba câu tụng Pāli ấy là:

Itipi so bhagavā arahaṃ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṃ buddho bhagavā'ti.

Svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṃ veditabbo viññūhī'ti.

Suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho ujuppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho ñāyappaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho sāmīcippaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, yadidaṃ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā esa bhagavato sāvakasaṅgho, āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassā'ti.

Dịch Việt:

Thật thế, Ngài là Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Ðây là Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, do người trí tự mình giác hiểu.

Chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn là bậc thiện hạnh, chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn là bậc trực hạnh, chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn là bậc chánh hạnh; chúng Tăng của đệ tử Thế Tôn là bậc như lý hạnh; tức là bốn đôi, tám chúng. Chúng Tăng đệ tử này của Thế Tôn đáng được hiến dâng, đáng được chào đón, đáng được cúng dường, đáng được bố thí, đáng được chấp tay, là vô thượng phước điền ở trên đời.

*----------*

KINH ĐẦU NGỌN CỜ (SN 11.3)

Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ). Rồi Thế Tôn gọi các tỳ-khưu: “Này các tỳ-khưu.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” Các tỳ-khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

“Thuở xưa, này các tỳ-khưu, một cuộc chiến dữ dội khởi lên giữa chư thiên và các asura (a-tu-la). Rồi thiên chủ Sakka (Đế-thích) gọi chư thiên ở cõi trời Tavatiṃsa (Tam thập tam) và nói: ‘Này các ông, khi các ông lâm chiến, nếu sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên; lúc ấy, các ông hãy nhìn nơi đầu ngọn cờ của ta. Khi các ông nhìn lên đầu ngọn cờ của ta, thì sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược sẽ tiêu diệt.

“‘Nếu các ông không nhìn lên đầu ngọn cờ của ta, thời hãy nhìn lên đầu ngọn cờ của thiên vương Pajāpati. Khi các ông nhìn lên đầu ngọn cờ ấy, thì sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược cũng sẽ tiêu diệt.

“‘Nếu các ông không nhìn lên đầu ngọn cờ của thiên vương Pajāpati, hãy nhìn lên đầu ngọn cờ của thiên vương Varuṇa … Nếu các ông không nhìn lên đầu ngọn cờ của thiên vương Varuṇa … Nếu các ông không nhìn lên đầu ngọn cờ của thiên vương Īsāna … Khi các ông nhìn lên đầu ngọn cờ ấy, thì sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược cũng sẽ tiêu diệt.’

“Này các tỳ-khưu, khi họ nhìn lên đầu ngọn cờ của thiên chủ Sakka, hay của thiên vương Pajāpati, hay của thiên vương Varuṇa, hay của thiên vương Īsāna, thì sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược được khởi lên có thể sẽ tiêu diệt mà cũng có thể sẽ không tiêu diệt. Vì cớ sao? Vì thiên chủ Sakka, thiên vương Varuṇa, thiên vương Pajāpati chưa đoạn diệt tham, chưa đoạn diệt sân, chưa đoạn diệt si, còn nhát gan, hoảng hốt, hoảng sợ, hoảng chạy.

“Nhưng này các tỳ-khưu, Ta nói như sau: ‘Khi các ông đi vào rừng, đi đến gốc cây hay đi đến ngôi nhà trống, nếu sợ hãi, hoảng hốt, hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, lúc ấy hãy niệm nhớ đến Ta: ‘Ngài là Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’ Khi các ông niệm nhớ đến Ta, này các tỳ-khưu, thì sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên sẽ tiêu diệt.

“Nếu các ông không niệm nhớ đến Ta, hãy niệm nhớ đến Pháp: ‘Ðây là Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, do người trí tự mình giác hiểu’. Khi các ông niệm nhớ đến Pháp, này các tỳ-khưu, thì sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên sẽ tiêu diệt’.

“Nếu các ông không niệm nhớ đến Pháp, hãy niệm nhớ đến chúng Tăng: ‘Chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn là bậc thiện hạnh, chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn là bậc trực hạnh, chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn là bậc chánh hạnh; chúng Tăng của đệ tử Thế Tôn là bậc như lý hạnh; tức là bốn đôi, tám chúng. Chúng Tăng đệ tử này của Thế Tôn đáng được hiến dâng, đáng được chào đón, đáng được cúng dường, đáng được bố thí, đáng được chấp tay, là vô thượng phước điền ở trên đời’. Khi các ông niệm nhớ đến chúng Tăng, này các tỳ-khưu, thì sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên sẽ tiêu diệt’.

“Vì sao? Này các tỳ-khưu, Như Lai, bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri đã ly tham, ly sân, ly si, không nhát gan, không hoảng hốt, không hoảng sợ, không hoảng chạy.

Thế Tôn nói như vậy. Sau đó, bậc Ðạo Sư nói tiếp:

Này các vị tỳ-khưu,
Trong rừng hay gốc cây,
Hay tại căn nhà trống,
Hãy niệm bậc Chánh Giác.
Các ông có sợ hãi,
Sợ hãi sẽ tiêu diệt.

Nếu không tư niệm Phật,
Tối thượng chủ ở đời,
Và cũng là ngưu vương,
Trong thế giới loài người,

Vậy hãy tư niệm Pháp,
Hướng thượng, khéo tuyên thuyết.

Nếu không tư niệm Pháp,
Hướng thượng, khéo tuyên thuyết,
Vậy hãy tư niệm Tăng,
Là phước điền vô thượng.

Vậy này các tỳ-khưu,
Như vậy tư niệm Phật,
Tư niệm Pháp và Tăng,
Sợ hãi hay hoảng hốt,
Hay lông tóc dựng ngược,
Không bao giờ khởi lên.

* Nghe tụng nhẹ nhàng, chậm rải để tập tụng theo:
https://www.youtube.com/watch?v=pVoYr7VsPvo&t=3311s

*----------*



Saturday, 6 February 2021

Mạn, ngã mạn, kiêu mạn

Nguồn: Buddhist Dictionary - Manual of Buddhist Terms and Doctrines,
by Nyanatiloka Mahathera

māna: mạn 慢, một trong 10 sợi dây trói buộc vào luân hồi (saṃyojana, kiết sử). Mạn được trừ diệt hoàn toàn khi hành giả đắc quả vị A-la-hán (xem thêm: asmi-māna, ego-conceit, ngã mạn 我慢). Thêm vào đó, mạn là một trong các tùy miên (anusaya, 隨眠) và phiền não (kilesa, 煩惱 – ô nhiễm 汙染).

Trích kinh:

“Mạn, ti mạn, thắng mạn: ba mạn này cần phải đoạn diệt. Khi nào vị tỳ-khưu đã đoạn diệt được ba mạn này, vị ấy đoạn tận khổ đau do hoàn toàn thấu hiểu ngã mạn.” (AN 6.106)

“Này Soṇa, những sa-môn hay bà-la-môn nào dựa vào sắc, thọ, tưởng, hành, thức này¬ – vốn là vô thường, khổ, biến hoại – nghĩ rằng: ‘Ta tốt đẹp hơn’, hay ‘Ta ngang bằng’, hay ‘Ta thấp kém hơn’, thì đó là những người không thấy như thật.” (SN 22.49)

*

asmi-māna: ngã mạn 我慢, (ego-conceit, self-conceit), ý tưởng thô sơ về lòng kiêu hãnh cho đến cảm giác vi tế về cái tôi phân biệt hay cái tôi cao thượng vẫn còn hiện hữu như là kiết sử thứ tám trong 10 kiết sử (saṃyojana) trói buộc chúng sinh vào luân hồi. Chỉ chấm dứt khi đắc quả A-la-hán. Ý tưởng này dựa vào sự so sánh mình với người khác, đưa đến cảm giác ngang bằng, thấp kém hơn hay cao thượng hơn. Cần phân biệt giữa “mạn” và “thân kiến” (sakkāya-diṭṭhi), là cái nhìn hay lòng tin có một cái ngã hay linh hồn, đó là kiết sử đầu tiên trói buộc vào luân hối. Kiết sử này tan biến khi đắc quả Dự lưu (Sotāpatti).

Trích kinh:

“Này chư hiền, dù vị thánh đệ tử đã đoạn tận năm hạ phần kiết sử, nhưng đối với năm uẩn để chấp thủ, vị ấy vẫn còn dư tàn ngã mạn ‘Tôi là’, dư tàn ngã dục ‘Tôi là’, dư tàn ngã tùy miên ‘Tôi là’ chưa được đoạn trừ. Vị ấy tiếp tục sống tùy quán sự sinh diệt của năm thủ uẩn ấy: ‘Ðây là sắc, đây à sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Ðây là thọ... Đây là tưởng... Đây là các hành... Đây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt’. Vị ấy sống tùy quán sự sinh diệt của năm thủ uẩn như thế sau một thời gian các dư tàn dư tàn ngã mạn ‘Tôi là’, dư tàn ngã dục ‘Tôi là’, dư tàn ngã tùy miên ‘Tôi là’ chưa được đoạn trừ nay đi đến đoạn trừ.” (Kinh Khemaka, SN 22.89)

*

ÁI (AN 6.106)

“Này các tỳ-khưu, ba ái và ba mạn này cần phải đoạn diệt. Thế nào là ba ái cần phải đoạn diệt? Dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Ba ái này cần phải đoạn diệt.

“Thế nào là ba mạn cần phải đoạn diệt? Mạn, ti mạn, thắng mạn. Ba mạn này cần phải đoạn diệt.

“Khi nào vị tỳ-khưu đã đoạn diệt được ba ái và ba mạn này, vị ấy được gọi là vị tỳ-khưu đã chặt đứt ái, đã loại bỏ các kiết sử, đã đoạn tận khổ đau do hoàn toàn vượt qua kiêu mạn.”

*

CRAVING (AN 6.106)

“Bhikkhus, there are these three kinds of craving, and these three kinds of conceit, that are to be abandoned. What are the three kinds of craving that are to be abandoned? Sensual craving, craving for existence, and craving for extermination: these are the three kinds of craving that are to be abandoned.

“And what are the three kinds of conceit that are to be abandoned? Conceit, the inferiority complex, and superiority complex: these are the three kinds of conceit that are to be abandoned.

“When a bhikkhu has abandoned these three kinds of craving and these three kinds of conceit, he is called a bhikkhu who has cut off craving, stripped off the fetter, and by completely breaking through conceit, has made an end of suffering.” (Bhikkhu Bodhi trans.)

Ghi chú:

Khát ái: taṇhā, 爱, craving – Dục ái: kāmataṇhā, 欲愛, craving for sensual pleasures – Hữu ái: bhavataṇhā, 有愛, craving for existence – Phi hữu ái: vibhavataṇhā, 非有爱, craving for extermination.

Mạn: māna, 慢, conceit – Ti mạn: omāna, 卑慢, inferiority complex – Thắng mạn: atimāna, 勝慢, superiority complex (quá mạn 過慢,, tăng thượng mạn 增上慢).



Sunday, 31 January 2021

Why I want to die at 75 - David Robson

WHY I WANT TO DIE AT 75
By David Robson,
BBC, 21st October 2014

How long should we live? At BBC Future’s World-Changing Ideas summit in New York, Ezekiel J Emanuel argued that we focus too much on racking up years, and it’s time for a new attitude to death.

*

Death – along with sex – is one of our two great taboos. So it came as some surprise when Ezekiel Emanuel took to the stage today in New York. Here, at 57 and in full health, he is already planning the date of his death – at 75. “My brother called me on my birthday and said, ’Is it 17 or 18 more years that I have to put up with you?’” he told BBC Future’s World Changing Ideas Summit in New York. “I think by 75 you’ve lived through the full arc of life... You’ve worked hard as an adolescent, you’ve made a career and had a family. That seems like a great life to me, so why run the risk of dementia, drooling, and being a burden to your family?”

The statement is all the more surprising, considering that Emanuel is an oncologist and the director of the Clinical Bioethics Department at the US National Institutes of Health. He surely knows more than most about the potential of modern medicine. Yet he says it is important that we all consider the nature of our deaths, as hard as that may be. Is there an ideal time to die, and should we choose to end our lives at that point?

Emanuel has been talking about the question for much of his adult life. “My kids have been hearing it since they were in diapers,” he told the conference delegates. But his views gained national attention when he explored them in an article for The Atlantic magazine last month. As he wrote:

“Doubtless, death is a loss. It deprives us of experiences and milestones, of time spent with our spouse and children. In short, it deprives us of all the things we value.

"But here is a simple truth that many of us seem to resist: living too long is also a loss. It renders many of us, if not disabled, then faltering and declining, a state that may not be worse than death but is nonetheless deprived. It robs us of our creativity and ability to contribute to work, society, the world. It transforms how people experience us, relate to us, and, most important, remember us. We are no longer remembered as vibrant and engaged but as feeble, ineffectual, even pathetic.”

Emanuel’s point has, of course, been made many times before. Both the desire for immortality – and the pain this can bring – have long haunted humanity. Greek mythology tells the story of the goddess Eos, who begs Zeus to grant her lover Tithonus eternal life. But there is a catch: although he lives forever, Tithonus still ages like the rest of us, and descends into senility. Eos is eventually so disgusted with her lover that she locks him a separate chamber, from which he can be heard begging for death. One of the more recent figures to share this view was the writer Martin Amis, who caused controversy when he said he would welcome “euthanasia booths” on the street, to allow anyone to end their life when the indignities of old age became too much to bear.

PROVOCATIVE ARGUMENT

But something about Emanuel’s views strike a nerve. Perhaps it was the fact that we heard this from a doctor – someone we expect to give us hope and protect us from the Grim Reaper. While we may have put aside superstitions and belief in the afterlife, we gain comfort from the idea that medicine can – and should – extend our lives for as long as possible. The crucial point, according to Emanuel, is that although many therapies might prolong the years we live, they don’t necessarily preserve a functioning, active life: more people live with disability and chronic illness than ever before. As an example, he says that 20% more people survive stroke now than in the past – even though they are often seriously disabled as a result. “On one hand, it’s a triumph; on the other hand – maybe not.”

It’s important to note that, unlike Amis, Emanuel is not suggesting that people should take deliberate action to accelerate death; rather, once he reaches 75 he will simply refuse medical care – such as chemotherapy, a pacemaker or statins– that could prolong his life. “It’s about not being driven by the medical establishment to take every medicine,” he says.  Even antibiotics will be off the cards, he says. Even so, his point of view seems hard to reconcile with the fact that Emanuel has long opposed legalised euthanasia for the terminally ill. But it’s important to note this is a personal choice; he certainly isn’t suggesting that it should impact policies for health care. Changing the law to allow assisted suicide creates many more legal and moral issues that are far more difficult to resolve and could be abused, he says.

One issue that Emanuel readily acknowledges is that everyone will age differently. As one member of the audience pointed out, her father, in his 80s, plays saxophone in the morning, then runs a mile and plays tennis with his friends later in the day. “Almost everyone’s initial response to my article was to list the 27 people they know who are over 75,” says Emanuel. “And there are things you can do if you want to live a vigorous, engaged, intellectually vibrant life: exercise is important; continue to have a large social sphere, and keep working – because it forces you to have social interactions and do a routinised thing of having a plan, and getting things done. Yes, those things might boost you chances of being an outlier – but remember, we can’t all be outliers.”

Another audience member – an epidemiologist – points out that over 70s often show up as being the happiest members of a society, with the fewest mental health issues. “But people accommodate to their restricted circumstances and lower their expectations – is that really the way we want to achieve happiness?” he responded. He says he already has experience of this. “I Skype with my daughters and they say I’m more distractible… Do I notice that, no? But do they notice it? Yes.” And the thought of happily sliding into senility while becoming a burden to his family just doesn’t appeal to his own view of people should age.

Ultimately, he admits the specific limit, of 75 years, is somewhat arbitrary – but his point is that it makes you start to consider where your life is heading; the ultimate memento mori. “I’m challenging people to think about their personal philosophy,” he says; he’s certainly not suggesting that others follow him. “I think one of the problems, if you don’t set a date, is that you don’t confront the big question, and you don’t perceive you decline,” he says. “I want to shift to focus to saying ‘you’ve got 75 years, what are you going to make of it?’”

*

Xem thêm bản lược dịch tiếng Việt:

Chúng ta nên sống đến bao lâu?
https://budsas.blogspot.com/2020/05/chung-ta-nen-song-en-bao-lau.html

*-----*




Thursday, 21 January 2021

Sách: Hướng dẫn hành thiền (tiếng Anh)

 Gần đây, tôi nhận được vài yêu cầu của bạn đạo FB nhờ tôi giới thiệu các tập sách tiếng Anh về hành thiền trong đạo Phật với các hướng dẫn cụ thể, thực tế, dễ thực hành, không đặt nặng phần lý thuyết. Mục đích là để giới thiệu đến bạn bè phương Tây muốn học hành thiền, hay để giới thiệu đến lớp con cháu trẻ đang sinh sống ở nước ngoài, đọc tiếng Anh dễ dàng hơn đọc tiếng Việt.

Dưới đây là các cuốn sách dạng ebook (PDF) tôi đã sưu tập và đưa vào trang web BuddhaSasana.

*

CÁC SÁCH TIẾNG ANH HƯỚNG DẪN HÀNH THIỀN TRONG PHẬT GIÁO
GUIDE BOOKS ON BUDDHIST MEDITATION IN ENGLISH

1) Bhikkhu Bodhi. Simple Guidelines to Meditation for Beginners 
(Hướng dẫn đơn giản về hành thiền cho những người bắt đầu)
https://budsas.net/sach/en191.pdf

2) Ajahn Brahm. The Basic Method of Meditation 
(Pháp hành thiền căn bản)
https://budsas.net/sach/vn18-eng.pdf

Bản dịch Việt:
https://budsas.net/sach/vn18-viet.pdf

3) Kornfield, Jack. Meditation for Beginners (2004) 
(Pháp thiền cho người bắt đầu)
https://budsas.net/sach/en202.pdf

4) Ajahn Amaro. Finding the Missing Peace - A Primer of Buddhist Meditation (2019) 
(Tìm lại an bình - Bước đầu hành thiền Phật giáo)
https://budsas.net/sach/en193.pdf

5) Ajahn Sucitto. Meditation, A Way of Awakening (2011) 
(Thiền, Con đường đến giác ngộ)
https://budsas.net/sach/en194.pdf

6) Cianciosi, John. Meditative Path: A Gentle Way to Awareness, Concentration and Serenity (2001) 
(Con đường hành thiền: Một phương pháp nhẹ nhàng tiến đến Tỉnh giác, Định tâm và Trầm lặng)  
https://budsas.net/sach/en196.pdf

7) Bhikkhu Thanissaro. With Each & Every Breath: A Guide to Meditation (2016)
(Với từng mỗi hơi thở: Hướng dẫn hành thiền)
https://budsas.net/sach/vn54_eng.pdf 

Bản dịch Việt:
https://budsas.net/sach/vn54_vn.pdf

8) Bhante Gunaratana. Mindfulness in Plain English (2011)
(Niệm bằng ngôn ngữ thông thường)
https://budsas.net/sach/en111-eng.pdf

Bản dịch Việt:
https://budsas.net/sach/vn68.pdf

9) Bodian, Stephan. Meditation for Dummies (2006) 
(Hành thiền cho những người ngốc nghếch)
https://budsas.net/sach/en192.pdf

10) Ajahn Brahm. Mindfulness, Bliss, and Beyond: A Meditator's Handbook (2006) 
(Niệm, hỷ lạc và vượt xa hơn: Cẩm nang tu thiền)
https://budsas.net/sach/en55-eng.pdf 

Bản dịch Việt:
https://budsas.net/sach/en55-vnlkk.pdf

11) Salzberg, Sharon. Real Happiness: The Power of Meditation (2011)
(Hạnh phúc thật sự: Sức mạnh của niệm)
https://budsas.net/sach/en205.pdf

12) Goldstein, Joseph. The Experience of Insight (1976)
(Kinh nghiệm thiền quán)
https://budsas.net/sach/vn70-eng.pdf 

Bản dịch Việt:
https://budsas.net/sach/vn70.pdf

13) Rosenberg, Larry. Breath by Breath, The Liberating Practice of Insight Meditation (1998, 2002)
(Từng hơi thở, Thực hành thiền quán giải thoát)
https://budsas.net/sach/en120.pdf 

14) Samararatne, Godwin. Living Meditation (1998)
(Thiền trong đời sống)
https://budsas.net/sach/en126a.pdf

15) Samararatne, Godwin. Gentle Way of Buddhist Meditation (1997)
(Pháp thiền nhẹ nhàng)
https://budsas.net/sach/en126b.pdf 

16) Visuddhacara. Invitation to Vipassana (1991) 
(Mời đến thiền quán)
https://budsas.net/sach/en195.pdf

17) Sperry, Rod Meade (Ed.). Beginner's Guide to Meditation: Practical Advice and Inspiration From Contemporary Buddhist Teachers (2014) 
(Hướng dẫn hành thiền cho người bắt đầu: Lời khuyên thực tế của các thiền sư đương thời)
https://budsas.net/sach/en197.pdf

18) Kabat-Zinn, Jon. Wherever You Go, There You Are: Mindfulness Meditation In Everyday Life (2005, 2009) 
(Đến nơi nào, sống nơi đó: Thiền quán niệm trong đời sống hằng ngày) 
https://budsas.net/sach/en198.pdf

19) Shankman, Richard - Art and Skill of Buddhist Meditation, Mindfulness, Concentration, and Insight (2015) 
(Nghệ thuật và kỷ năng hành thiền, niệm, định tâm và tuệ quán)
https://budsas.net/sach/en199.pdf

20) Goldstein, Joseph & Kornfield, Jack. Path of Insight Meditation (1977, 1997, 2018) 
(Con đường thiền quán)
https://budsas.net/sach/en200.pdf

21) Goldstein, Joseph & Kornfield, Jack. Seeking the Heart of Wisdom: The Path of Insight Meditation (1987, 2012) 
(Cốt lõi Tuệ giác: Con đường Thiền quán) 
https://budsas.net/sach/en201.pdf

22) Ajahn Sumedho. Mindfulness: The Path to the Deathless (2012) 
(Chánh niệm: Đường đến Bất tử)
https://budsas.net/sach/en203.pdf

23) Bhikkhu Analayo. Satipaṭṭhāna Meditation: A Practice Guide (2018) 
(Thiền lập niệm - Hướng dẫn thực hành)
https://budsas.net/sach/en190.pdf 

24) Nyanaponika Thera. Heart of Buddhist Meditation (1962, 2017) 
(Cốt lõi của thiền Phật giáo)
https://budsas.net/sach/en204.pdf 

25) Ayya Khema. Being Nobody, Going Nowhere (1987, 2016)
(Không là ai, chẳng đi đâu).
https://budsas.net/sach/vn66-eng.pdf

Bản dịch Việt:
https://budsas.net/sach/vn66.pdf

*-----*

Các vị thiền sư trong hình:
(trái sang phải, trên xuống dưới)
- Ajahn Brahmavamso, Bhante Gunaratana, Bhikkhu Thanissaro
- Bhikkhu Bodhi, Bhikkhu Analayo, Godwin Samaratne
- Stephan Bodian, Larry Rosenberg, Joseph Goldstein

*-----*

Các vị thiền sư trong hình:
(trái sang phải, trên xuống dưới)
-  Ajahn Sumedho, Nyanaponika Maha Therra, Ajahn Amaro, Ajahn Sucitto
- John Cianciosi, Rod Meade Sperry, Jon Kabat-Zinn, Richard  Shankman 
- Ayya Khema, Jack Kornfield, Visuddhacara Teoh, Sharon Salzberg

*



Saturday, 16 January 2021

Con đường nay tôi đi.

 CON ĐƯỜNG NAY TÔI ĐI

Con đường đó chỉ là một ngõ hẹp cạnh tường rào, lót gạch, dài khoảng 20 mét. Từ phòng ngủ, mở cửa bên hông bước ra. Thong thả đi tới, đi lui. Để tâm theo dõi từng bước chân. Cảm thấy thoải mái, dễ chịu, nhất là vào buổi chiều tối, khi gió biển bắt đầu thổi tới, mát lạnh toàn thân. Khu vực khá yên tĩnh, thỉnh thoảng chỉ vài tiếng chó sủa, vài tiếng xe chạy ngoài đường rồi trở về không khí lặng yên. Buông bỏ tất cả, không nghĩ đến điều gì khác, ngoại trừ việc quán sát, ghi nhận chuyển động nhịp nhàng của hai bàn chân, cảm giác xúc chạm với mặt đất, thân thể rung động theo bước đi, và cảm giác xúc chạm của luồng gió vào thân. 

Chỉ vậy thôi. Không mong cầu gì hơn. Không tìm kiếm gì khác. Thiền hành (đi kinh hành) của tôi chỉ đơn giản có bấy nhiêu đó. Không có gì cao siêu, huyền bí.

Các bạn có thể tìm đọc thêm về pháp thiền hành trong tập sách “Lợi ích của thiền hành”, Thiền sư U Silananda:

=> https://budsas.net/sach/vn29.pdf 

Hoặc trong tập sách “Căn bản hành thiền”:

=> https://budsas.net/sach/vn18-viet.pdf 

*-----*



Ba sách Phật giáo căn bản

 BA SÁCH PHẬT GIÁO CĂN BẢN

Hôm nay đi bơi. Khi thả nổi thân thể thư giãn trên mặt hồ, bỗng nhiên nghĩ đến các sách căn bản để tu học. Không phải có ý khoe khoang, nhưng thành thật mà nói, tôi nghĩ chỉ cần đọc đi đọc lại và suy ngẫm về ba cuốn sách này là tạm đủ hành trang lên đường.

Những ai tò mò -- hoặc các nhà học giả, nghiên cứu sinh, thích tìm hiểu, nghiên cứu sâu rộng về những lĩnh vực khác trong đạo Phật thì có thể tìm đọc, tham khảo thêm các tài liệu sách vở kinh điển khác.

Thật tình mà nói, tôi chỉ biết có bấy nhiêu đó thôi. Không biết gì về các vấn đề cao xa, uyên thâm khác.

Có thể tải các bản PDF về máy để đọc:

1) Phật Pháp Vấn Đáp (2019):
https://tinyurl.com/4n9jz56j

2) Căn Bản Hành Thiền (2018):
https://tinyurl.com/2dj4x66w

3) Những Lời Phật Dạy (2023):
https://tinyurl.com/ju2p7k4p

*



Friday, 15 January 2021

Quan niệm sống của một người cao niên

QUAN NIỆM SỐNG CỦA MỘT NGƯỜI CAO NIÊN
Chẩm Tá Nhân – Texas

Tôi hỏi một người bạn thân tôi
Qua 70, sắp đến 80:
Bạn đã thấy có gì thay đổi
Về quan niệm sống ở trong đời?
Bạn tôi gửi cho tôi những dòng này
Mà tôi nhận thấy rất là hay
Nên với các bạn, tôi chia sẻ
Mời các bạn cùng đọc sau đây:

1) Sau khi đã dành tình yêu cho
Cha mẹ, anh em, vợ con, bè bạn
Bây giờ thì tôi khởi sự lo
Cho chính bản thân tôi, trọn vẹn.

2) Tôi biết tôi không phải siêu nhân
Vũ trụ, không tôi, vẫn xoay vần
Vai tôi không dùng đỡ trái đất
Cuộc sống này tôi may mắn dự phần.

3) Tôi đã thôi, không còn mặc cả
Khi đi mua trái cây, rau cỏ
Túi tôi không thủng vì mất thêm vài xu
Nhưng người bán, giúp con, có thể,
Góp phần nào trả tiền học phí.

4) Tôi cho “tip” những người hầu bàn
Một số tiền kể là kha khá.
Để thấy một nụ cười hân hoan.
Trên mặt họ, họ quá vất vả.

5) Với những người cao tuổi hơn tôi
Thường chuyện xưa, kể đi, kể lại.
Tôi không còn nhăn nhó: “Biết rồi,
Cụ ơi, khổ lắm, cứ nói mãi!”
Vì tôi nhận ra họ đang sống lại
Những quá khứ đẹp đẽ trong đời.

6) Tôi đã học được một tính tốt
Không sửa lưng những người chung quanh
Ngay cả khi tôi biết họ sai lầm.
Cái trách nhiệm làm mọi người toàn hảo|
Không là của tôi. Sự an bình
Đáng quý hơn là tính chính xác.

7) Hãy dùng những lời ngợi khen
Một cách thoải mái và thường xuyên
Chúng làm tăng niềm vui người nhận,
Và cả người cho. Những lời khen
Bạn nhận được, đừng bao giờ từ chối
Và chớ quên nói tiếng “Cám Ơn!”

8) Tôi đã tập được tính dễ dãi
Không bận tâm vì những vết nhăn
Hay vệt ố trên áo, trên quần.
Tư cách con người luôn đáng nói
Hơn vẻ hào nhoáng của ngoại thân.

9) Tôi biết lánh xa những người mà
Với tôi họ không có lòng tôn trọng
Giá trị tôi, họ không nhìn ra,
Chỉ riêng tôi có thẩm quyền nhận định.

10) Tôi luôn giữ bình tĩnh khi ai đó
Chơi xấu tôi trong một cuộc đua
Thực tình tôi không xấu như họ,
Và tôi cũng chẳng tham dự cuộc đua.

11) Tôi không xấu hổ khi bị xúc động.
Những xúc động là bản tính con người

12) Tôi nhận ra một điều quan trọng
Tốt hơn là gạt bỏ cái “Tôi”
Để giữ vững tình thân bè bạn
Cái “Tôi” chỉ khiến mình lẻ loi
Với bạn bè, hoà đồng tôi sẽ đứng.

13) Tôi chấp nhận sẽ sống mỗi ngày
Như ngày cuối trong cuộc đời này.
Mà thật ra ai biết đâu đấy
Ngày cuối không chừng là hôm nay!

14) Tôi làm mọi thứ để có hạnh phúc.
Niềm hạnh phúc đến từ chính tôi.
Món nợ đó không của một ai
Tự thân tôi phải trả cho được.
Có hạnh phúc là một lựa chọn
Hạnh phúc có mọi lúc, mọi nơi,
Chỉ cần bạn quyết tâm tìm đến!

– CHẨM TÁ NHÂN, Texas (29/11/2020)

*--------------------------------------*

Nguyên tác Anh ngữ, không biết tác giả là ai.

OUR LIFE LESSONS

I asked a friend who has crossed 70 and is heading towards 80 what sort of changes he is feeling in himself and to share some observations on life? So this is what he said:

1) After loving my parents, my siblings, my spouse, my children and my friends, I have now started loving myself.

2) I have realized that I am not “Atlas”. The world does not rest on my shoulders.

3) I have stopped bargaining with vegetable & fruit vendors. A few pennies more is not going to break me, but it might help the poor fellow save for his daughter’s school fees.

4) I leave my waitress a big tip. The extra money might bring a smile to her face. She is toiling much harder for a living than I am.

5) I stopped telling the elderly that they have already narrated that story many times. The story makes them walk down memory lane & relive their past.

6) I have learned not to correct people even when I know they are wrong. The onus of making everyone perfect is not on me. Peace is more precious than perfection.

7) I give compliments freely & generously. Compliments are a mood enhancer not only for the recipient, but also for me. And a small tip for the recipient of a compliment, never, NEVER turn it down, just say "Thank You.”

8) I have learned not to bother about a crease or a spot on my shirt. Personality speaks louder than appearances.

9) I walk away from people who don't value me. They might not know my worth, but I do.

10) I remain cool when someone plays dirty to outrun me in the rat race. I am not a rat & neither am I in any race.

11) I am learning not to be embarrassed by my emotions. It’s my emotions that make me human.

12) I have learned that it's better to drop the ego than to break a relationship. My ego will keep me aloof, whereas with relationships, I will never be alone.

13) I have learned to live each day as if it's the last. After all, it might be the last.

14) I am doing what makes me happy. I am responsible for my happiness, and I owe it to myself. Happiness is a choice. You can be happy at any time, just choose to be!

I decided to share this to all my friends and family. Why do we have to wait to be 60 or 70 or 80? Why can’t we practice this at any stage and age?

*



Thursday, 14 January 2021

Sách: TÁM PHÁP THẾ GIAN (Aṭhalokadhammā)

 TÁM PHÁP THẾ GIAN (Aṭhalokadhammā)
Nārada Mahā Thera - Phạm Kim Khánh dịch Việt

Tải bản PDF (Việt-Anh) về máy để đọc hay in trên giấy:

=> https://budsas.net/sach/vn129.pdf

Giới thiệu: Nguyên tác Anh ngữ của tập sách nhỏ này, tựa đề “The Eight Worldly Conditions”, được ngài Hòa thượng Nārada Mahā Thera soạn thảo vào năm 1970, trước khi ngài lâm trọng bệnh tại Việt Nam. Bản dịch Việt được xuất bản lần đầu tiên vào dịp Lễ Phật Đản 2516 (1972), và từ đó được tái bản nhiều lần, ở Việt Nam cũng như tại hải ngoại. Về sau này, tập sách cũng được đưa vào quyển “The Buddha and His Teachings” (Đức Phật và Phật Pháp), Chương 43.

* Bình Anson hiệu đính & trình bày
Tây Úc, tháng 1-2021. 

*



Tuesday, 12 January 2021

Sách: Kỷ yếu Tưởng niệm Hòa thượng THÍCH MINH CHÂU

 Kỷ yếu Tưởng niệm Hòa thượng THÍCH MINH CHÂU (1918-2012)
Nxb Hồng Đức (2014)

Tải về bản PDF (5 Mb) tại link:

=> https://budsas.net/sach/vn128.pdf

*



Monday, 11 January 2021

Sách: THE ISLAND WITHIN, The Life of the Hermit Monk Bhante ÑĀṆADĪPA.

THE ISLAND WITHIN, The Life of the Hermit Monk Bhante ÑĀṆADĪPA.
Bhikkhu Hiriko (2020)
(Hải đảo bên trong - Cuộc đời của Bhante ÑĀṆADĪPA, nhà tu ẩn dật)

Tải về bản PDF (10 Mb):

1) https://tinyurl.com/y3jqltv3 
2) https://mega.nz/file/WoxAgZYZ#JIt-A-RtDe4VxioE-4RR6fN7Pv_rGpyL7Ec8H0MBHPQ

Contents
I. Evaṃ me suttaṃ (Preface)
II. Vanapattha (Secluded Life in the Forest)
III. Dīpa (The New Light)
IV. Būndala (Beginnings)
V. Laggala (The Community of Hermits)
VI. Muni (The Sage)
VII. Bhāvanā (Development of Mind)
VIII. Dhamma (Showing the Path)
IX. Jarāmaraṇa (Sickness and Death)
X. Evaṃ (Epilogue)

APPENDIX 1. Laggala katikāvata (Rules for Laggala Saṅgha Kuṭīs)
APPENDIX 2. Kālika (Timeline)
APPENDIX 3. Pāli (Glossary)

INDEX

*


Monday, 4 January 2021

What the Buddha Thought - An interview with Richard Gombrich

 What the Buddha Thought
An interview with Richard Gombrich, a historian of early Buddhism.
By Tricycle, Fall 2012


Dr. Richard Gombrich has spent much of his life studying Buddhism, but he does not call himself a Buddhist. The only child of two educated and broadminded parents, he was brought up to hold humanistic values, notably reason, and to look on religion as irrational and best left alone. He became a historian like his father, Ernst Gombrich, and since his father seemed to have Europe well covered in his work, the younger Gombrich turned to Asia, specifically India. He learned Sanskrit and Pali, and encountered the ideas of the Buddha in his reading. Having decided early on that he was an atheist, yet following his parents in placing a high value on morality, Gombrich was drawn to Buddhism because, he says, “it is atheistic and also emphasizes ethics.”

Gombrich’s early research focused on Sri Lankan Buddhism; more recently he has devoted his time to examining the ideas of the Buddha himself. His work has contributed enormously to the study of seeing the Buddha as a man in context, in dialogue with his Brahmanic and Jain contemporaries. Gombrich argues that because we have lost sight of the ideas the Buddha confronted, we have missed the nuances of many of his teachings, sometimes with lasting consequences.

Gombrich’s publications on Buddhism are numerous. Many of the ideas discussed here are explored at greater length in his latest book, What the Buddha Thought (2009). He stepped down from his position as Boden Professor of Sanskrit at Oxford in 2004 and founded the Oxford Centre for Buddhist Studies, which recently launched a publication, The Journal of the Oxford Centre for Buddhist Studies.

Tricycle contributing editor Philip Ryan had the following e-mail exchange with Dr. Gombrich in February.

*

You’re not a Buddhist. How do you feel about studying Buddhism, and what does it mean to you? 

Studying Buddhism is the core of my life. Though I have never been a strict pacifist (how can one be if one grows up in a nation defending itself from Hitler?), I strongly agree with several aspects of Buddhist ethics, not only nonviolence. When I grew up, I came to hold that the two great problems for human conduct are sex and violence, and the Western puritanical obsession with sex and tolerance of violence, especially in entertainment, is both pernicious and the wrong way round.

I think that the Buddha’s ideas should form part of the education of every child the world over and that this would help to make the world a more civilized place, both gentler and more intelligent. But I do not agree with all of his ideas. The doctrine of karma is founded on the premise that the world is a just place, but I am afraid unjust suffering stares us in the face. The Buddhist answer that such suffering is explained by misdeeds in former lives cannot convince me, as I do not believe in rebirth. I think we should struggle against injustice, but we have to accept that it persists and that we shall never eliminate it.

Because of my reservations, I do not call myself a Buddhist, though if someone so describes me, I rarely if ever object. I am fairly sure that I know more about important parts of Buddhism than do most Buddhists, let alone other people. I would never become a monk, but I do feel the attraction of a life so focused on what is important.

When I retired and founded the Centre for Buddhist Studies at Oxford, the climate was unsympathetic and material circumstances were difficult. I have put a lot of my slender financial resources into it, as well as most of my most important resource, time. I have to admit that I have made a bad bargain, because the practical needs of running the Centre have severely curtailed the activities I had hoped to undertake in my retirement—teaching and doing research.

I have answered this question largely in terms of my history, not just because I am a historian, but because I agree with the Buddha’s analysis that we are a bundle of processes and every moment are remaking ourselves, using the materials inherited from our past.

Given that we can never understand what it was like to be a person in ancient India, and also given that to understand the Buddha’s ideas we must more or less imaginatively put ourselves in his position, how can we hope to know what the Buddha actually thought—and why, for a religious practitioner, is it important to know? 

[The philosopher] Karl Popper has shown that there is very little that anyone can ever know with absolute certainty. All of our knowledge about the world, about empirical matters, is conjectural, even though for some of it we can claim very high probability. What I am saying is that when we “know” something, we are giving it our best guess.

Both our own lives and the history of the human race are chock-full of things that people have thought that they knew but that turned out to be otherwise. For me, to be constantly aware of this fact is essential. That awareness forms the intellectual and moral foundation of our lives. Our humility may be further boosted when we reflect that what any individual knows is an infinitesimal fraction of what is knowable. Our ignorance is literally infinite.

While I agree that it is more difficult to make good guesses at the thoughts of someone in a very different environment from oneself, I don’t see that in principle time or space is an insuperable barrier. Getting to know anyone is a matter of intelligence and sensitivity, and many kinds of information about them may be relevant.

In the case of the Buddha, we need to know about the society in which he lived, and about the ideas to which he was exposed. Luckily, a good deal of material has survived. The Pali canon is very long and informative, and the body of Brahmanical texts composed before his day is of comparable length.

I am trying to reconstruct and understand the Buddha’s ideas. I do not agree that to understand someone’s ideas it is necessary to “imaginatively put ourselves in his position.” We can understand the ideas that Pythagoras had about mathematics, or Isaac Newton about physics, without having the faintest notion of what each one was like as a person. Understanding what the Buddha was like to live with, or why he was in a bad mood one day, is quite different, and the obstacles to doing so are probably insurmountable, but that is not what I am trying to do.

I don’t think that it is important for a religious practitioner to know what the Buddha thought, unless they have made a commitment to the Buddha by which they intend to guide their lives. There are many people in the world, primarily in Asia, who call themselves Buddhist, who have made this commitment. I am very glad, for example, that my book is being translated into Chinese. Though I think it is extremely valuable to know what people have thought and decided in the past, I believe that in the end I alone am responsible for my own decisions, and the opinions of others can be no more than advisory. That we are responsible for our own intentions and decisions was a fundamental teaching of the Buddha’s—but that is not why I think the same. It is, however, a reason why I find him sympathetic.

Would you explain how Karl Popper’s work has informed your study of the ideas of the Buddha? 

I accept what the texts say as an initial working hypothesis, and I am as interested as anyone in finding out where the tradition cannot be correct and why. I try to follow Popper in welcoming criticism but also in asking those who do not accept my hypotheses to offer a better one. I must say that I find it rather tedious simply to be told that because the texts that have reached us do not go back to the Buddha himself, one cannot trust what they say. I have written about how I envisage that the texts came into being, and I am not aware of any other clear hypotheses about that. I may be wrong about that, as about anything else, but a critic has to say what is wrong with my argument and preferably offer an improved theory.

One kind of thing that could show me to be wrong about the Buddha would be the discovery of new texts. Another would be conclusive proof that texts on which I rely for an argument are too late to fit that argument. However, the most likely source of disagreement is interpretation of known texts. When I offer a new interpretation, I try to show why the interpretation that I hold to be incorrect arose.

So I have made use of Popper’s ideas in my work. Moreover, I believe there are ways in which the Buddha anticipates aspects of Popper’s thought. Specifically, the way in which the legal system of the Vinaya is built up shows Popper’s method of conjecture and refutation, or “trial and error,” in practice. When the Buddha finds that a rule he has made leads to unintended consequences, another useful Popperian concept, he modifies it. He may even just rescind it. This may be the oldest such legal system in the world. Incidentally, I think it proves that the Buddha did not regard himself as omniscient. As in Popper’s social philosophy, the Buddha’s approach is not to start from grand theories and ideals but to see what is going wrong and try to put it right. This corresponds to what Popper called “piecemeal social engineering.” Popper’s work has made me alive to these important facets of the Buddha’s thought.

We know many different ways in which the later traditions viewed the Buddha. What can we say about how the Buddha saw himself, and what is the relationship between how he saw himself and how his followers established his significance? 

The central point here is that the Buddha presented himself as a human being who found the solution to the problem of suffering and repeated rebirth, but that it lay within anyone’s capacity to follow him. He was only exceptional in finding it for himself, whereas we have him as a guide. He denied that he was omniscient, saying that what he knew was what really matters. This was the threefold knowledge: knowledge of his former births, the power to see how all beings are reborn according to their karma, and his destruction of the corruptions (asavas). This reads like a denial of omniscience, but the Buddhist traditions do not share this interpretation. In one way or another, most later schools have regarded him as superhuman, though Theravada has moved least far in this direction. Even Theravada does not in practice follow his insistence that people should be guided by his message, the dhamma, and not care about him personally.

You have said that an overly literal tradition has missed the point of the Buddha’s teachings on the four brahma-viharas, the divine abodes or boundless states, comprising kindness, compassion, sympathetic joy, and equanimity. How do you explain this? 

In principle the explanation is very simple, but to follow all the details requires some patience. Much that is original in my work comes from my acquaintance with Brahmanical texts to which the Buddha was responding. Earlier scholars who have written that the Buddha did not know those texts have been definitively proven wrong.

A famous Upanishad spells out how the fate of people at death depends on the degree of gnosis they have attained. Those who have realized that they are essentially a part of brahman, the essence of the universe, go to join brahman when they die. The Buddhist term brahma-vihara means “living with Brahman.” The Buddha is given to taking key brahminical terms and infusing them with a new meaning. I have compared the relevant passage in the Upanishad with the main text in which the Buddha teaches the brahma-viharas; once one follows the comparison it is, I think, impossible to deny that the Buddha is basing his text on the Upanishadic one and playing his trick, as he does elsewhere, of taking Brahmanical ritual and metaphysics and substituting ethics for both as the means to attain liberation from the cycle of rebirth. So he is preaching that to practice kindness, compassion, empathetic joy, and equanimity is to attain the divine state in this life, namely nirvana. That this interpretation has eluded the Buddhist tradition is easy to explain: Buddhists simply did not learn Brahmanical texts.

Aside from the brahma-viharas, can you give an example of another common assumption about the early tradition that is seriously mistaken? 

The best example is that I feel sure that when the Buddha preached against the idea of the atman, the soul or self, he was alluding to that concept as it was expounded in the early Upanishads. If a Christian, or indeed anyone growing up in a predominantly Christian culture, reads that the Buddha preached against the existence of a soul (anatta), they will apply the Christian understanding of what a soul is and thus totally miss the point of what the Buddha was saying.

Not for a moment was the Buddha denying that we have a sense of personal identity. After all, the many stories of his own former lives are striking testimony to that. But the Brahmans’ atman was a thing, and an unchanging thing at that. The Buddha could see no empirical evidence for the existence of any such thing, and on the contrary, reasoning showed him that to explain how we and all other living beings functioned one had to posit a bundle of interacting and inherently dynamic processes— processes that were neither random nor predetermined. The process of making ethically good or bad decisions was one of them. These processes also explain how we come to have a sense of ourselves.

The second thing is that the Buddha’s major ideas form a coherent single system. I am not saying that any Buddhist is likely to claim that the Buddha was incoherent, but when one learns about Buddhism, the ideas tend to be presented somewhat piecemeal. For me this explains why some people think you can have Buddhism without karma: They do not understand how the Buddha’s idea of karma and rebirth is integral to his thinking and without them, the system doesn’t entirely hold together.

In particular, people are not sensitive to some of the Buddha’s metaphors that tie the system together. I have pointed out that the five components of a living being, processes that are usually translated by the meaningless term “aggregates,” are presented metaphorically by the Buddha as bundles of burning fuel, and this metaphor links to several others, notably nirvana, the going out of a fire.

A third misconception, very common outside the Theravada countries, is that the Buddha had an idealist ontology—in other words, that he thought that the world existed only in our minds. This was indeed taught by the Yogacara school of Mahayana philosophy, but the Buddha did not have any ontology in the sense of a general theory of existence: he was not interested in whether things exist from an external point of view, only in how they interact with us. In other words, his philosophy was concerned only with experience. It was my student Sue Hamilton who convinced me of this.

This leads on to the misconception that the Buddha was a philosopher, in the sense in which that term has been used in the Western tradition. I am not the only person to have insisted that he makes it quite plain that his interest was purely pragmatic: he intended to help people and only attempted to teach the truth to the extent that it was helpful; further speculation he tended to discourage. At the same time, one must remember that, as [the philosopher] Paul Williams has written, “the teachings of the Buddha are held by the Buddhist tradition to work because they are factually true (not true because they work).”

As a rider to this, I would add that because of this pragmatic intent, the Buddha (unlike most philosophers) aimed not at what we would call mathematical accuracy, but only at engineering accuracy. For example, he taught that the laws of causation in the world show that things do not happen at random, while on the other extreme, determinism is false. Otherwise there could not be the moral choice on which the law of karma depends. Free will, and hence moral responsibility, must lie somewhere between these two extremes, but it was pointless to try to define exactly where. I believe that the Abhidharma, which codified and categorized the teachings while stripping out metaphor, tended to misinterpret the Buddha by attributing mathematical accuracy to his statements, when that was not his intention. One example of this may be that the Abhidharma says that nirvana is always an identical phenomenon. I think this is more specific than the Buddha was.

One of the recurring debates taking place among contemporary Buddhists concerns karma and rebirth, which some say are holdovers from the Buddha’s era or are just not essential to his thought. How do you respond to this claim, and what do you think is at stake in this debate that gives it such persistence and emotion? 

There were both Brahmanical and Jain doctrines of karma before the Buddha. The Buddha’s greatest contribution was to say that the moral quality of an act lies in the intention behind it. However, all three traditions agree that the doctrine of karma is inextricably linked to the doctrine of rebirth. This is because the doctrine states that good acts produce good results for the actor, bad acts bad results, and yet it is obvious that this does not always happen in one lifetime. A baby may be born with a terrible disease or deformity; a criminal may benefit from his crime and evade all punishment. If there were no rebirth, falsifications of the doctrine would stare us in the face. Whether the teaching of karma is true matters enormously, so it is no surprise if a debate about it arouses emotion. One could say that what is at stake is whether one can consider the universe to be ultimately a just place. There are people who wish to accept the Buddha’s other teachings but cannot swallow rebirth. They are as entitled to their beliefs as anyone else, but they cannot claim that those beliefs are those of the Buddha, or indeed of any Asian Buddhist tradition that I have come across.

What, according to the Pali canon, was the content of the Buddha’s awakening or enlightenment, and how did it inform his teaching? 

The short answer is that we don’t know. The texts differ. One version is in terms of personal experience: that he attained nirvana, which for him, as for everyone, means eliminating all passion, hatred, and confusion, and knowing that they have been eliminated. The Buddha called these the Three Fires, using as a metaphor the central daily ritual of a Brahman householder’s life. He then extended the metaphor by calling their elimination nirvana, a word meaning “going out” (of a fire). When later Buddhism called them the Three Poisons, the coherence of the metaphor was lost. In terms of more discursive, preachable content, one version is that he realized the chain of dependent origination, another that he realized the content of the First Sermon: the Middle Way, the Four Noble Truths and the Noble Eightfold Path. The last version sounds plausible, I suppose, but it has been convincingly shown that the text of the First Sermon as we have it cannot really be what it purports to be, since it presupposes prior knowledge of teachings of his to which he merely alludes. My own analysis suggests that as well as all of the above he must have seen the law of karma and rebirth, understood the three hallmarks of conditioned existence (impermanence, suffering, lack of an unchanging essence), and experienced certain advanced meditative states. He must have accumulated all these thoughts and experiences over several years, and we cannot possibly know what came when, but in my view it finally all hangs together.

You point out that even the Ven. Dr. Walpola Rahula, so clear in most things, misses the mark when discussing nirvana. How do you explain the persistent confusion or lack of clarity about defining nirvana? 

This is largely due to the fact that it is an experience that is both beyond words and beyond normal experience. Experiences of any kind, from love to a pain in the gut, tend to be hard to put into words, and to do so we have to rely mainly on the assumption or hope that the recipient of the message has had a similar experience. With nirvana, that will rarely work. Rahula’s account confuses the experience of attaining the state with what I might call a theological description of what it is.

It seems that the Buddha was raised in a region that was outside—or at the very fringe of—Vedic society, making him something of an outsider to Brahmanical culture. Meanwhile, the prevailing Buddhist narrative paints him as the ultimate insider: wealthy, educated, and conversant with the major strands of thought of his day. What is the significance of his outsider status?

It is likely that the picture of the Buddha as “the ultimate insider” is at least an exaggeration. I take the story of his early life to be for the most part an allegory, aiming to paint his renunciation in the starkest terms, which indeed it does very well. It does seem to be true that he was of a high caste—in Brahmanical terms, a Kshatriya—as was his Jain contemporary and rival Mahavira. It is clear from his references to early Upanishads that he knew those important texts; they were not yet written down, so he must have heard them orally, and probably he could not have done that unless he had a high social status.

His being an outsider gave him the all-important insight that the Brahmanical structuring of society was something not universal but local. He may well have learned this from traders. In ancient Greece the ability to differentiate nomos, man-made rules, from phusis, nature, was a breakthrough, and the Buddha had the same insight. This enabled him to postulate that all human beings are by nature equal, and to mock the Brahman’s myth that the castes were divinely ordained.

You haven’t mentioned meditation. Why is that? 

As I observe and understand meditation in the great Buddhist traditions of Asia, I think it is for the most part admirable and beneficial. In societies where formal education was rare, meditation could take its place in developing capacities such as concentration and awareness of others and oneself. I am also sure that, with skill, meditation can be used effectively as psychotherapy. But I have misgivings about the modern cult of meditation in the West, which is also spreading to Asia. I agree with the Buddha’s teaching that sound ethics are a prerequisite for success in meditation; and sound ethics are based on unselfishness.

Meditation in the West today, as I see it, is usually part of an essentially solitary pursuit of happiness. Learning to meditate on an (often misconceived) idea that one has no self is a self-centered activity that I think is likely to be self-defeating. Why not use the time to go and be kind and helpful to someone? I think it is relevant that traditionally meditation was always taught in a monastic setting, mostly to monastics; it was not an interlude in a daily life in the world.

In taking this critical view of meditation, I believe I am merely reformulating the Buddha’s Second Noble Truth, that the origin of suffering is craving or desire, which can also be expressed as self-centeredness. Even if I am quite wrong, this may give an idea what Buddhism means to me,

*





Sunday, 20 December 2020

THƯƠNG YÊU LÀ THÔNG CẢM. Tỳ-khưu Visuddhicara (1993)

 THƯƠNG YÊU LÀ THÔNG CẢM
Tỳ-khưu Visuddhicara (1993)
Bình Anson trích dịch (2005)

*

Khi chúng ta nhận thức được trên thế gian này, nhân loại và các loài chúng sinh khác đều chịu quá nhiều đau khổ, việc tối thiểu mà ta có thể làm được khi còn sống là góp phần vào việc làm giảm bớt nỗi khổ đau ở chung quanh ta.

Có nhiều người phục vụ nhân loại bằng nhiều cách tuyệt vời. Họ đã và đang góp phần thiện nguyện cung cấp dịch vụ an sinh xã hội, trợ giúp người bệnh, người tàn tật, người nghèo đói, người già, người sắp chết và những người đang lâm cảnh khó khăn. Tất cả những bậc khai sáng tôn giáo đều dạy các tín đồ phải làm việc từ thiện. Trong Phật giáo, chúng ta không tin vào một đấng Tạo hóa nhưng chúng ta tin vào lòng tốt và giữ giới không sát hại sinh linh. Chúng ta tin vào luật nghiệp báo nhân quả - làm tốt thì được tốt và làm xấu thì bị xấu. Do đó, chúng ta luôn luôn cố gắng tu tập làm điều thiện lành, tránh các điều bất thiện như sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu hoặc dùng các chất say. Chúng ta tu tập để đạt tới mức độ mình làm việc thiện là vì đó là việc thiện, chứ không phải vì sợ bị đọa xuống địa ngục hoặc vì muốn được ân thưởng về sau. Chúng ta làm tốt vì ta vui thích làm tốt, và tự nhiên ta có khuynh hướng làm tốt. Nói cách khác, chúng ta không còn biết làm gì hơn là làm thiện, làm tốt. Thiện và ta là một.

Đức Phật dạy hàng đệ tử phải có lòng từ thiện và quan tâm đến người khác. Khi dạy về lòng bố thí, Ngài nói bất cứ một nỗ lực nhỏ nào cũng quý. Ngay cả ném vụn bánh mì xuống nước để cho cá ăn cũng được Đức Phật khen ngợi. Một lần nọ, khi vài Tỳ-khưu không chăm sóc một vị Tỳ-khưu đang bị bệnh kiết lỵ, Đức Phật đã tự tay tắm rửa cho vị Tỳ-khưu đó và khiển trách các vị kia, nói rằng: "Ai chăm sóc người bệnh, người ấy chăm sóc Như Lai" (Mahavagga VIII 26.1-8). Đức Phật khuyến khích các bậc vua chúa nên cai trị xứ sở với lòng từ ái. Ngài khuyên họ nên diệt trừ nạn nghèo đói, vì đó là nguyên nhân sinh ra trộm cướp và các tội ác khác. Vốn là một người yêu chuộng hòa bình, Đức Phật đã từng đứng ra can gián khi hai bộ tộc có ý định gây chiến chỉ vì tranh giành một khúc sông. Đức Phật hỏi: "Cái gì quan trọng hơn - nước sông hay máu người đổ xuống vì chiến tranh?". Hai bộ tộc nhận ra sự phi lý của cuộc tranh chấp và quyết định rút quân, không đánh nhau nữa.

Một trong những vị vua nhân từ nhất, chịu ảnh hưởng giáo pháp của Đức Phật, là vua A Dục, trị vì Ấn độ vào thế kỷ thứ ba trước Tây lịch, khoảng 200 năm sau khi Đức Phật nhập diệt. Nổi tiếng về lòng nhân đạo, vua A Dục còn có lòng rộng rãi từ tâm đến cả loài thú. Ngài gửi các y sĩ đến chữa bệnh cho cả người lẫn thú. Ngài xây nhà nghỉ cho khách lữ hành, và dưỡng đường cho người nghèo và người bệnh. Mặc dù là một Phật tử thuần thành, vua A Dục cũng cho phép dân chúng được tin theo bất cứ đạo giáo nào và hỗ trợ sự sinh hoạt của mọi giáo phái. Vua A Dục xem vai trò của mình là một người lãnh đạo nhân từ, lúc nào cũng mong người dân được thịnh vượng và hạnh phúc.

Chúng ta cũng vậy, nếu chúng ta theo lời Phật dạy, ta sẽ có những hành động tương tự như vua A Dục để làm giảm thiểu sự đau khổ, mở rộng hòa bình và hạnh phúc. Chính Đức Phật là một tấm gương tốt đẹp nhất để chúng ta noi theo, vì Ngài đã dành trọn cuộc đời của mình để dạy cho mọi người thấy được con đường thoát khổ. Ngài không những chỉ muốn làm giảm khổ mà Ngài còn chỉ dạy con đường đưa đến diệt khổ một cách rốt ráo. Sau khi chứng ngộ, Ngài dùng trọn 45 năm còn lại của đời mình để dạy chúng ta cách thức diệt khổ. Ngài dạy con đường tỉnh giác.

Đức Phật nhận ra rằng chỉ bằng cách tu tập thật rốt ráo thì người ta mới có thể diệt khổ. Mặc dù việc săn sóc người đau ốm, chữa lành bệnh tật, cung cấp thực phẩm và giúp đỡ vật chất cho người bần hàn là một phần của việc cứu khổ, nhưng đó chỉ là chữa những triệu chứng. Đức Phật muốn tìm một sự chữa trị dứt hoàn toàn cơn bệnh khổ. Do đó, Ngài suy nghiệm toàn bộ vấn đề sinh và tử. Để giải quyết vấn đề ở tận gốc rễ của nó, Ngài thấy chúng ta cần phải hay đổi tâm thức một cách rốt ráo. Sự đau khổ chủ yếu là do nơi tâm. Khi một người bị đau đớn về thể xác, người đó thường phản ứng bằng sự buồn rầu, sợ hãi và chán nản. Nhưng Đức Phật nói nếu là một người biết hành thiền thì người đó có thể chịu đuợc cơn đau thể xác mà không bị đau về tinh thần. "Thân có đau, nhưng đừng để tâm đau theo", Ngài dạy như thế. Nói cách khác, người ấy không phản ứng với cơn đau bằng sự buồn rầu, lo âu, chán nản, oán ghét, sân hận, v.v. Ngược lại, người ấy phản ứng với một tâm an định và bình thản. Người ấy vẫn vui vẻ và còn có thể an ủi khuyến khích những người khác nữa.

Vấn đề chủ yếu là do ở Tâm. Nếu chúng ta loại trừ được tham, sân, si ra khỏi tâm thức mình, chúng ta có thể hoàn toàn chế ngự và tiêu diệt được sự khổ não về tinh thần, như băn khoăn và lo lắng, sầu não và than van. Ta phải thừa nhận rằng đau đớn thể chất là điều không thể tránh khỏi khi ta còn hiện hữu với cái thân xác này. Tất cả chúng ta đều biết sự thật là không ai có thể thoát khỏi già lão, bệnh hoạn, tử vong. Nhưng Đức Phật nói một khi tâm chúng ta được thanh tịnh, không còn mọi bợn nhơ của tham, sân, si, thì cơn đau thể xác không còn làm ta sợ hãi nữa. Không gì lay chuyển ta được nữa. Không gì làm ta tức bực được nữa, dù đó là cơn đau đớn kịch liệt của những loại bệnh nan y. Tâm ta có thể vẫn giữ điềm nhiên. Vì vậy, có lần ngài Anuruddha (A-nậu-lâu-đà), một vị đại đệ tử của Đức Phật, được hỏi là làm sao ngài có thể giữ sự an nhiên khi bị bệnh nặng, ngài trả lời rằng đó là vì ngài đã làm chủ được tâm của mình qua việc hành thiền giác niệm do Đức Phật dạy.

Ngoài ra, Đức Phật cũng dạy là nếu người nào đã đạt đến mức độ diệt được tham, sân, si, thì sẽ không còn phải tái sinh nữa. Khi người ấy chết, đó là kiếp cuối của bậc thánh A-la-hán. Người ấy đã đạt đến trạng thái Niết Bàn an lạc, vô sinh. Vì không còn tái sinh, người ấy không còn phải trải qua cảnh lão, bệnh, tử. Đức Phật nói, đó mới là diệt khổ.

GIẢM THIỂU PHIỀN KHỔ

Trên con đường nỗ lực tinh tấn chấm dứt hoàn toàn sự khổ, chúng ta nên giúp cứu khổ bằng mọi cách trong khả năng của mình. Thế gian này không thiếu gì những cảnh khổ ải. Con người gánh chịu khổ não qua nhiều cách khác nhau. Khi đọc tin tức trên báo chí, ta thấy cái khổ ở mọi nơi. Người ta cãi nhau, đánh nhau, giết nhau, cướp bóc, dối trá, lừa đảo, và gây khổ cho nhau bằng đủ mọi cách. Chúng ta làm khổ cho nhau, do sự mê muội của chúng ta. Ngoài ra, còn biết bao thiên tai, tai nạn, rủi ro, đói khát, bệnh tật. Và cảnh lão, bệnh, tử luôn luôn theo sát chúng ta từng bước.

Thực thế, thế gian này tràn đầy khổ ải. Tại sao chúng ta lại đổ thêm khổ ải vào đó? Tại sao chúng ta không chịu dấn thân, giúp làm giảm bớt khổ ải? Ngay cả nếu không làm được nhiều, chúng ta cũng có thể làm được chút ít. Mọi nỗ lực, dù lớn dù nhỏ, đều tốt cả. Như là có người đã nói: "Không có sự sai lầm nào lớn hơn sự sai lầm là mình không chịu làm gì cả bởi vì nghĩ rằng mình chỉ có thể làm được quá ít". Mỗi chúng ta đều có thể làm được một chút ít gì đó, tùy theo hoàn cảnh và khả năng của mình. Trước hết, chúng ta có thể bắt đầu bằng cách ăn ở, cư xử tử tế hơn. Chúng ta có thể kiểm soát cơn giận của chúng ta. Mỗi khi giận dữ, chúng ta gây khổ não cho chính mình và người khác. Nhưng nếu chúng ta kiểm soát được sự giận dữ và nuôi dưỡng lòng bao dung và nhẫn nại, tình thương và từ tâm, chúng ta trở thành những người tử tế hơn, và điều đó sẽ giúp mang niềm vui và hạnh phúc đến cho người khác.

Nói cách khác, chúng ta bắt đầu bằng cách thanh tịnh tâm, trừ khử mầm mống bất thiện và tiêu cực của tham, sân, si. Dựa vào khả năng kiểm soát được các trạng thái bất thiện này, chúng ta phát triển tình thương và tâm từ. Chúng ta trở nên tử tế hơn trong quan hệ với những người chung quanh. Chúng ta nói chuyện một cách thương yêu và dịu dàng hơn, và tránh những lời cộc cằn lỗ mãng, châm biếm mỉa mai. Chúng ta trở nên quan tâm nhiều hơn về sự an vui của người khác. Nếu chỉ biết lo cho chính quyền lợi của mình thì chúng ta sẽ không thể mở rộng lòng thương yêu. Muốn có tình thương yêu, chúng ta phải biết quan tâm đến người khác, chứ không phải chỉ riêng có bản thân mình. Vì vậy, chúng ta phải tự hỏi, mình có thương yêu đủ chưa? Mình có quan tâm đủ chưa? Nếu chưa, thì chúng ta chưa thể làm gì để giảm bớt sự khổ. Bởi chính từ tình thương yêu thật sự mà chúng ta mới có những hành động cụ thể.

Mỗi người chúng ta đóng góp theo cách riêng của mình, theo bất cứ cách thức nào mà mình biết. Chẳng hạn, chúng ta có thể đóng góp bằng cách chia sẻ kiến thức về Phật Pháp mà mình biết, cho dù sự hiểu biết của mình còn rất hạn chế. Ta có thể khuyến khích mọi người hành thiền và hướng dẫn họ chút ít trên đường tu học. Ta có thể kêu gọi mọi người thương yêu, quan tâm đến nhau hơn, tử tế và kiên nhẫn với nhau hơn, v.v. Dĩ nhiên chúng ta không hoàn toàn, và có những lúc, chúng ta không làm tròn vai trò của mình. Có câu tục ngữ nói rất đúng, rằng: "Nói thì dễ, nhưng làm được lời mình nói thì rất khó". Vì vậy, ta cũng nên là người đầu tiên đứng ra nhìn nhận những nhược điểm của mình và chấp nhận sửa sai. Chúng ta thường có tác ý tốt và không có ý định hại ai. Nhưng do sự sơ hở, kiêu căng, thiếu hiểu biết, thiếu nhẫn nại, thiếu bao dung, v.v., chúng ta có thể làm khổ phiền người khác, cho dù chúng ta có ý định tốt. Nhưng một người có tâm hồn cao thượng sẽ thông cảm và tha thứ cho ta. Khả năng tha thứ là một đức tính tuyệt vời, vì vậy mới có câu: "Lầm lỗi là người, tha thứ là thánh".

Bạn cứ sẵn sàng cống hiến, đóng góp, bố thí, và chỉ có bạn mới biết cách nào mình có thể đóng góp hay nhất, tốt nhất. Mỗi người chúng ta đều có sở trường, tài nghệ và năng khiếu khác nhau. Điều kiện và hoàn cảnh mỗi người một khác, cho nên chúng ta đóng góp theo cách thức riêng của mình, tùy theo điều kiện và căn duyên của mình. Điều quan trọng là ta có cố gắng, ta làm theo khả năng của mình. Bất cứ một đóng góp nhỏ nhặt nào cũng tốt, và sau một thời gian thì ta sẽ nhận ra rằng mình đã làm được khá nhiều việc. Và đó là dịp để ta hoan hỉ. Dĩ nhiên điều đó không có nghĩa là ta nên ngừng nghỉ trên sự hoan hỉ đó. Còn rất nhiều việc phải làm, cho nên ta phải tiếp tục nỗ lực, tiếp tục tinh tấn thêm.

THƯƠNG YÊU LÀ THÔNG CẢM

Muốn chết lành, chúng ta phải sống tốt. Nếu đã sống tốt thì chúng ta có thể chết lành, không hối tiếc. Chúng ta ra đi bình an, hài lòng rằng mình đã làm tất cả những gì mình có thể làm được, rằng trong đời mình đã chia sẻ sự cảm thông và hạnh phúc, rằng mình đã sống theo những nguyên tắc của mình dựa trên tình yêu thương của tâm từ.

Thương yêu là thông cảm. Tình thương yêu không phán xét hay lên án. Tình thương yêu lắng nghe và thông hiểu. Tình thương yêu quan tâm và có thiện cảm. Tình thương yêu chấp nhận và tha thứ. Tình thương yêu không có ranh giới. Tình thương yêu không phân biệt, không nói: Tôi theo Nam tông, anh theo Bắc tông hoặc Mật tông. Tình thương yêu không nói: Tôi theo Phật giáo còn anh theo Thiên chúa giáo, Hồi giáo, hoặc Ấn độ giáo. Hoặc tôi là người Hoa, chị là người Mã lai, ông kia là người Ấn, bà nọ là người Âu. Hoặc tôi là người Đông phương, còn anh là người Tây phương; hoặc tôi là người Mã lai, anh là người Nhật, chị là người Mỹ, người Miến, người Thái, v.v.

Tình thương yêu vượt qua mọi rào cản. Tình thương yêu thấy và cảm nhận được chúng ta đều cùng một giống, đó là nhân loại. Nước mắt chúng ta đều như nhau, chúng đều mặn, và máu chúng ta đều đỏ. Khi đã có tình thương yêu và từ tâm, chúng ta có thể thông cảm với người khác. Chúng ta thấy rằng mình cùng đi trên một con thuyền trong cơn sóng gió biển cả cuộc đời. Chúng ta là bạn khổ đồng hành trong biển trầm luân, cái vòng sinh tử luân hồi trong cõi Ta-bà. Chúng ta là anh chị em lẫn nhau qua nhiều đời, nhiều kiếp.

Một khi chúng ta đã thấy và cảm nhận điều này, mọi rào cản về chủng tộc, tôn giáo, văn hóa, phong tục tập quán, v.v. sẽ sụp đổ. Chúng ta mở rộng cánh tay với trái tim yêu thương thuần tịnh. Chúng ta hiểu và cảm nhận được cái khổ của người khác. Tâm từ bao trùm thân ta. Trong lời nói hoặc hành động của chúng ta, người khác cảm nhận được tình thương yêu và tâm từ này. Nó làm an dịu và chữa lành khổ ải của mọi người. Nó góp phần vào nền hòa bình và sự cảm thông trên thế giới.

CHUYỆN CON BỌ CẠP

Tình thương yêu đi đôi với tâm từ. Khi có được một trái tim thương yêu, tâm từ sẽ nổi lên dễ dàng trong ta. Mỗi lần thấy một người chịu khổ, ta tự cảm thấy mình cần phải làm điều gì đó để giúp giảm sự khổ cho người ấy. Tâm từ tạo ra một đức tính muốn loại trừ hết mọi sự khổ. Chúng ta có thể nhận ra ngay điều đó, khi ta có hành động tức thời để chấm dứt hoặc giảm bớt nỗi khổ của một người nào.

Câu chuyện sau đây sẽ giúp hiểu rõ hơn: Một người nọ thấy con bọ cạp sắp chết đuối trong một vũng nước. Tự nhiên muốn cứu giúp nó, ông ta nhanh nhẹn đưa tay ra vớt con bọ cạp khỏi vũng nước, đặt nó xuống chỗ khô ráo. Con bọ cạp liền chích ông ta. Vì muốn qua đường, nó đi tiếp và lại lọt vào vũng nước. Thấy nó sắp chết đuối, người đàn ông vớt nó lên lần thứ hai và lại bị nó chích nữa. Một người khác bên đường thấy vậy bèn nói: "Tại sao ông dại quá vậy? Bây giờ ông bị chích chẳng những một lần mà đến hai lần! Thật là điên rồ khi phải cứu vớt một con bọ cạp!" Người đàn ông trả lời: "Thưa ông, tôi không thể không làm được. Ông thấy không, bản tính của con bọ cạp là chích. Còn bản tính của tôi là cứu. Tôi không thể làm gì khác hơn là cứu con bọ cạp."

Người đàn ông nọ có lẽ nên dùng trí khôn và lấy một que cây để vớt con bọ cạp. Nhưng có thể ông ta nghĩ rằng mình có thể vớt nó bằng tay với một cách nào đó để khỏi bị chích. Hoặc ông ta có thể nghĩ rằng một con bọ cạp trong cơn hoạn nạn như vậy sẽ không chích mình. Trong bất cứ trường hợp nào, bài học của câu chuyện này là phản ứng tức thời của người đàn ông muốn cứu một sinh mạng khác, dù đó chỉ là một loại côn trùng. Nó cũng cho thấy người này có tâm từ cao quý đến độ cho dù mình chỉ nhận sự vô ơn của người mình giúp, điều đó cũng không sao. Đức tính của ông ta là lòng giúp đỡ, và nếu phải giúp nữa thì ông cũng làm. Ông ta không biết ghi giữ trong lòng một sự cay đắng thù hận nào.

Do đó, lòng từ ái là ngôn ngữ của con tim. Khi có được tình thương yêu và lòng từ ái thúc đẩy, chúng ta sẵn sàng giúp đỡ người khác, bất kể màu da, tôn giáo, quốc tịch. Khi đã có từ tâm thì việc xác định màu da, tín ngưỡng v.v. trở thành thứ yếu, không còn quan trọng nữa.

Nếu cố gắng nuôi dưỡng loại tình thương yêu và từ tâm như vậy, khi đến lúc chết, chúng ta sẽ ra đi một cách bình an, thanh thản. Ngay cả nếu chưa thành công một trăm phần trăm trong nỗ lực thương yêu toàn hảo, chúng ta vẫn có thể vui sướng và hài lòng là mình đã cố gắng hết sức. Và chắc chắn là chúng ta đã thành công trong một mức độ nào đó.

NGŨ GIỚI

Nếu chúng ta đã cố gắng nuôi dưỡng loại tình thương yêu như vậy, thì việc giữ năm giới sẽ không phải là quá khó. Khi giữ trọn vẹn năm giới này - không sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu hoặc dùng các chất say - ta mang hạnh phúc và sự an toàn đến người khác. Bằng cách nào? Là vì không ai phải lo sợ về chúng ta. Họ không phải sợ hãi, e ngại; trái lại, họ cảm thấy rất an toàn và thoải mái khi gần gũi chúng ta. Họ cảm thấy an tâm là chúng ta không làm hại họ, cướp của, hoặc lừa dối họ. Chúng ta không dan díu với vợ hay chồng của họ. Chúng ta không nói dối với họ. Hơn nữa, nếu chúng ta không uống rượu, họ không phải lo lắng về chuyện con cái họ có thể bắt chước thói uống rượu của chúng ta. Họ cảm thấy có thể tin tưởng chúng ta vì chúng ta không uống rượu say sưa. Chúng ta sùng đạo và thực hành con đường thiện lành, ngay thẳng. Chúng ta là những người vô hại. Người nào còn ham muốn thú vui với cảm giác mạnh có thể nghĩ rằng chúng ta có một cuộc đời nhàm chán, và chúng ta là người điên rồ, ngu dại. Nhưng điều đó không quan trọng. Chúng ta vui vẻ chấp nhận con người của mình. Và người nào có sự hiểu biết minh triết sẽ ngợi khen chúng ta.

Vậy thì việc chúng ta giữ năm giới là điều tốt. Hơn nữa, ta còn thực hành lòng bố thí rộng rãi và tử tế. Ta quan tâm và chia sẻ những gì chúng ta có thể cung hiến. Ta cố gắng tăng trưởng sự giác niệm mà Đức Phật đã dạy, tinh tấn sống một cuộc đời trong tỉnh giác. Ta hành thiền để hiểu rõ hơn về bản chất của sự hiện hữu, về những đặc tính vô thường, khổ và vô ngã của đời sống. Cho nên, khi đã làm hết mọi việc đó - trong đạo Phật gọi là bố thí, trì giới, tham thiền, khi đã sống một cuộc đời tốt đẹp, ta còn gì để sợ khi chết? Ta còn gì để ân hận?

*

Chính vì vậy, muốn có một cái chết tốt thì phải có một cuộc sống tốt. Và khi đã sống đẹp, ta có thể chết đẹp. Ta ra đi bình an, hài lòng rằng mình đã làm tất cả những gì mình có thể làm được. Chúng ta có thể còn phạm vài lỗi lầm trong cuộc sống. Nhưng có mấy ai sống mà không phạm lỗi lầm? Là phàm nhân chưa giác ngộ, ta có thể đã làm một số việc sai quấy. Điều đó dễ hiểu, vì không ai hoàn toàn cả. Nhưng điều quan trọng là một khi nhận ra những sai lầm đó, ta bắt đầu vun trồng tình thương yêu và từ tâm, bắt đầu gìn giữ giới hạnh và thanh lọc tâm thức của mình. Ta vui sướng vì mình còn có đủ thì giờ và cơ duyên để chuyển sang con đường đúng đắn của Chánh Pháp, đưa đến giải thoát tối hậu. Như người ta thường nói: "Thà trễ còn hơn không". Chúng ta có thể đến nơi đó có phần chậm trễ hơn nhiều người khác, nhưng ít ra, ta vẫn có thể tiến đến đó được.

- LOVING AND DYING, Bhikkhu Visuddhicara (1993)
Bình Anson trích dịch (2005)

*----------*





Saturday, 19 December 2020

LỜI DẶN DÒ CỦA MỘT NHÀ SƯ. Tỳ-khưu Visuddhacara

 LỜI DẶN DÒ CỦA MỘT NHÀ SƯ.
Tỳ-khưu Visuddhacara
Hòa thượng Thích Tâm Quang dịch 
(Bình Anson hiệu đính)

*

Ðối với tang lễ của chính tôi, tôi đã đưa ra ý nghĩ thích hợp về cách tôi muốn thân xác tôi được xử lý ra sao, sau khi tôi chết. Thân thể này thực sự không gì khác hơn là một cái xác sau khi chết. Nó sẽ trở về với đất cát. Cho nên tôi muốn làm được một hành động thiện lành cuối cùng – có nghĩa là hiến xác cho bệnh viện. Các bác sĩ có thể lấy giác mạc ở mắt tôi và trao tặng phẩm tuyệt vời này cho một người mù. Hãy tưởng tượng đến sự vui mừng như thế nào khi người mù có thể nhìn lại được, và tặng phẩm sẽ quí giá, có ý nghĩa với người ấy. Và tôi sẽ vui mừng khi biết đã gửi cho người ấy tặng phẩm về thị lực. Tặng phẩm này không có sự hy sinh nào về phần tôi cả, vì thân xác không còn sử dụng được gì cho tôi sau khi chết. Cho nên, tôi muốn làm được một hành động thiện lành cuối cùng này trước khi thân xác tan rã.

Nếu có thể, các bác sĩ lấy tim, thận, phổi, gan và bất cứ cơ quan nào có thể dùng được sau cái chết của tôi, để đem ghép cho người khác. Và sử dụng bất cứ những gì còn lại có thể đem lợi ích cho các sinh viên y khoa trong việc nghiên cứu, thực tập của họ. Họ có thể thực hành mổ xẻ xác tôi. Cuối cùng, họ có thể tùy nghi xử lý những gì còn lại của thân xác tôi như họ muốn. Rồi có thể phần còn lại đem làm phân bón cho đất để cây cối lớn lên, cho bóng mát và hoa đẹp. Bằng cách này, không ai cần phải lo lắng cho tôi về cái gọi là tổ chức tang lễ thích hợp. Mỗi người đều có thể để lại xác cho bệnh viện để tùy nghi xử lý những gì mà các chuyên gia y tế nghĩ là thích hợp. Việc này sẽ làm cho mọi người cảm thấy dễ dàng hơn. Nói cho đúng, nó sẽ làm cho tâm mọi người nhẹ nhõm. Không ai bị phiền toái gì về cái chết của tôi.

Và nếu có người muốn có một tang lễ thích hợp cho tôi để bày tỏ lòng tôn kính cuối cùng đến tôi, tôi sẽ nói với họ: “Xin đừng bận tâm về việc đó.” Tôi không quan tâm đến tang lễ. Nếu bạn thật lòng tưởng nhớ đến tôi, xin bạn hãy làm những điều thiện lành. Hãy làm bất cứ điều thiện lành nào bạn thích và làm được để tưởng nhớ đến tôi. Hãy sống một cuộc đời hiền thiện. Hãy quan tâm và chia sẻ. Hãy tha thứ và thương yêu. Hãy rộng lượng và mở rộng trái tim. Hãy tử tế và lịch sự. Ðó là tất cả những gì tôi yêu cầu. Ðiều đó sẽ làm cho tôi rất hạnh phúc – biết rằng tôi đã có thể truyền tải những thông điệp tốt và đã có tác động tốt.

- Trích CHẾT TRONG AN BÌNH (LOVING AND DYING)
Tỳ-khưu Visuddhacara
Hòa thượng Thích Tâm Quang dịch
(Bình Anson hiệu đính)

*--------------*



Sách: CHẾT TRONG AN BÌNH (LOVING AND DYING)

CHẾT TRONG AN BÌNH (LOVING AND DYING)
Tỳ-khưu Visuddhacara, Malaysia, 1993
Hòa thượng Thích Tâm Quang dịch, California, USA, 2004
(Bình Anson hiệu đính, 2020)

Tải về bản mềm, dạng PDF:

=> https://budsas.net/sach/vn127.pdf (tiếng Việt)
=> https://budsas.net/sach/vn127_eng.pdf (nguyên tác tiếng Anh)

* MỤC LỤC

Lời người dịch
Lời tựa

XIN CHÀO TỬ THẦN

HAI QUYẾT TÂM
.. Nói chuyện đó bằng cả hoa lá

ĐỐI PHÓ VỚI BỆNH TẬT
.. Chúng ta có thể hành thiền

NGỢI KHEN BÀ KUAI CHAN

CHÚNG TA PHẢI LÀM TRÒN BỔN PHẬN
.. Làm nhẹ bớt khổ đau

THƯƠNG YÊU LÀ HIỂU BIẾT
.. Con người và con bọ cạp
.. Năm giới

CHÚNG TA LÀ CỨU TINH CỦA CHÍNH MÌNH
.. Tái sinh ngay tức khắc
.. Chia sẻ công đức ảnh hưởng ra sao
.. Tang lễ Phật giáo là một tang lễ đơn giản
.. Chúng ta có thể học hỏi từ người khác
.. Không triệt bỏ phiền não
.. Về phần tôi

PHẢI CHẾT THANH THẢN
.. Những giọt nước mắt sung sướng
.. Làm cho bầu không khí thanh tịnh
.. Chập tư tưởng cuối cùng

SUY NGẪM VỀ CÁI CHẾT
.. Khi bốn trái núi đổ xuống
.. Ý thức cấp bách
.. Suy ngẫm dẫn đến hiểu biết và chấp nhận
.. Than vãn khóc than không tác động tro cốt
.. Cái chết không xa lạ gì với chúng ta
.. Cái chết nhất thời
.. Vấn đề đáng suy nghĩ

MỘT THẾ GIỚI KHÁC THƯỜNG

MỘT NỤ CƯỜI NGỌT NGÀO NHẤT

* Tải về bản PDF:

=> https://budsas.net/sach/vn127.pdf (tiếng Việt)
=> https://budsas.net/sach/vn127_eng.pdf (nguyên tác tiếng Anh)

*----------*



Friday, 18 December 2020

Bà Kuai Chan, Một tấm gương đầy cảm hứng.

BÀ KUAI CHAN, MỘT TẤM GƯƠNG ĐẦY CẢM HỨNG
Tỳ-khưu Visuddhacara
Hòa thượng Thích Tâm Quang dịch
(Bình Anson hiệu đính)

*

Tôi muốn nói với bạn về một hành giả tu thiền can đảm, đã chết an bình vì bệnh ung thư với từ “Niết Bàn” trên môi. Tên bà là Kuai Chan và bà ra đi vào ngày 18 tháng 12, năm 1992 tại nhà riêng ở Kuala Lumpur, Malaysia. Lúc ấy bà được bốn mươi ba tuổi. Chồng bà, Billy, kể cho tôi nghe bà đã đương đầu với đau bệnh như thế nào. Nhận thấy câu chuyện có nhiều ý nghĩa, nhất là đối những hành giả tu thiền, tôi xin phép ông được kể lại trong tập sách này, và tôi cám ơn ông đã đồng ý. 

Bà Kuai Chan được chẩn bệnh lần đầu tiên với bệnh ung thư vú vào tháng 4 năm 1989. Lúc ấy, bà đã tu tập hành thiền Minh sát vào khoảng độ một năm. Bà bình tĩnh chấp nhận kết quả chẩn bệnh. Billy nói: “Vợ tôi chấp nhận bệnh, xem đó là nghiệp của bà. Bà không đổ lỗi cho ai hay bất cứ điều gì. Bà cũng không cay đắng hay rơi vào tình trạng ngã lòng. Bà hết sức vững vàng và giữ bình thản cho đến lúc chết.” Kuai Chan đã trải qua phẫu thuật để loại bỏ phần vú bị ung thư. Ba tháng sau bà lại phải giải phẫu lẫn thứ hai khi người ta thấy những tế bào ung thư vẫn còn ở trong vùng đó. Tiếp theo, bà được xạ trị và hóa trị, với rất ít phản ứng phụ. Trong suốt thời kỳ chữa bệnh ung thu vú và trong sáu tháng cuối đời khi được chẩn đoán là có thêm bệnh ung thư phổi trong giai đoạn cuối, bà đã từ chối không dùng một thứ thuốc giảm đau nào. Billy nói: “Bà không muốn thứ thuốc giảm đau nào.  Cả đến khi cơn đau lên đến cực độ, bà vẫn từ chối không dùng thuốc giảm đau, ngay cả đến một viên Panadol. Bà là một người kiên quyết, rất mạnh mẽ và đáng khâm phục.”

Bà quyết định không dùng thuốc giảm đau vì bà muốn giữ tâm bà càng trong sáng và tỉnh táo càng tốt. Bà là hành giả tu thiền, và tất cả những hành giả tu thiền trân quý chánh niệm. Họ không muốn một thứ thuốc nào làm cho tâm họ trì độn và làm suy yếu công phu hành thiền của họ. Cho nên nếu có thể chịu đựng được cơn đau, họ sẽ không dùng thuốc giảm đau. Kuai Chan đã sửa soạn đối đầu với cái đau nên bà đã từ chối dùng thuốc giảm đau. 

Bà chỉ chấp nhận xạ trị, hóa trị cho ung thư vú của bà vì phương pháp này có khă năng dẫn đến chữa lành bệnh. Nhưng về sau, bà bị thêm chứng ung thư phổi và được cho biết đã ở giai đoạn cuối, bà đã từ chối chữa bằng xạ trị, hóa trị mà bệnh viện đề nghị làm cho bà đỡ phải nghẹt thở. Và khi bác sĩ đề nghị thuốc giảm đau, như morphine, bà cũng từ chối. 

Billy cho biết khi trong đợt ung thư vú đầu tiên, Kuai Chan có một chút khó khăn với cơn đau sau khi giải phẫu. Là hành giả tu thiền, bà đã có thể nhận thấy cơn đau rất rõ ràng và cơn đau sẽ biến đi. Nhưng ung thư phổi là một sự thử thách thực sự với bà. Cơn đau luôn lên đến cực điểm nhưng bà vẫn từ chối không dùng thuốc. Có nhiều lúc bà bị ngất xỉu và ngã sóng soài trên sàn nhà khi cơn đau đột phát. Nhưng bà vẫn bình tĩnh. Bà cũng bị ho dữ dội dai dẳng nhiều ngày đêm. Billy ở bên cạnh bà và khi thấy bà không ngủ được ban đêm, ông cố giúp làm bà dịu cơn đau bằng cách xoa dầu, chà sát và những cách chữa trị truyền thống. Billy đưa bà đến các thầy thuốc Tàu và mua nhiều loại thuốc bắc và sắc thuốc cho bà uống. 

Billy nói chính niềm tin tưởng và hành thiền đã khiến bà có thể đối đầu khổ đau với một mức độ thanh thản và tự tại phi thường. Cả hai vợ chồng đều đã tu tập hành thiền với thiền sư Sujiva tại một đạo tràng ở Ðài Bắc năm 1988. Sau đó Kuai Chan tiếp tục tham gia thường xuyên các khóa tu thiền tại thiền đường Santisukharama của thiền sư ở Kota Tinggi, Johor.

Khi được chẩn đoán bị ung thư phổi sau đợt ho vào tháng 7 năm 1992, bác sĩ cho biết bà chỉ sống được một tháng nữa. Chỉ cho Kuai Chan và Billy thấy hình chụp tia X, bác sĩ nói rằng ung thư đã lan tràn khắp cả phổi. Ông cũng rất ngạc nhiên thấy Kuai Chai vẫn đi được và trông rất khỏe mạnh, mặc dù tình trạng ung thư tàn phá phổi của bà. Nhưng bác sĩ không biết là Kuai Chan có một tâm trí sắt thép. Bà sống thêm được sáu tháng nữa. Ðối với bà, đó không phải là một cuộc chiến để sống mà là để chết có phẩm cách. Lúc bà và Billy gặp tôi tại Trung tâm Trí tuệ ở Petaling Jaya khi tôi đến viếng thăm nơi đây vào tháng 7, họ hỏi tôi rằng họ có thể làm gì. Tôi bảo họ: “Ðiều một hành giả có thể làm là tiếp tục hành thiền! Nếu tôi là bà, tôi sẽ hành thiền cho đến lúc cuối cùng.” Hai vợ chồng cảm thấy được khích lệ và Kuai Chan kiên quyết dành những ngày còn lại hành thiền tại nhà. Billy nói ông hỗ trợ bà tận tình. 

Nhưng bà không biết trước là cơn đau có thể ghê gớm đến thế. Bà nói bà chưa từng thấy cơn đau nào như vậy. Nhất là ở phần dưới lưng, nóng như đốt và đau như cắt. Bà đã dồn tất cả sức mạnh tinh thần để ghi nhận cơn đau đớn nhưng có khi vẫn không thành công. Đau đớn quá nặng nề. Có những lúc bà nằm đó bất lực không nhận biết được cái đau đớn nữa. Bà hoàn toàn cam chịu. Nhưng bà vẫn không uống thuốc giảm đau. Bà tham khảo với thiền sư của bà. Thiền sư Sujiva khuyên bà trải lòng từ bi thân ái và tu thiền sổ tức, hít thở để giảm thiểu cơn đau khi bà chịu không nổi nữa. Việc làm này khiến cho bà dễ chịu. Từ sự dễ chịu này bà có thể tiếp tục hành thiền Minh sát. Một hôm sau ba tuần chiến đấu với cơn đau dai dẳng, bà có một kinh nghiệm độc đáo. Bà nói với Billy trong khi nhận thấy cái đau như cắt, bà quan sát thấy nó càng ngày càng nhỏ đi cho đến khi nó biến hẳn. Bà nói bà cảm thấy như tất cả giác quan đều bị cắt bỏ, như thể không có danh-sắc, vào lúc đó tâm và thân đã cùng nhau tan biến với cơn đau. Bà nói với Billy bà cảm thấy giống như bà trải nghiệm Niết Bàn, và bà cảm thấy cực kỳ sung sướng. Sau kinh nghiệm này, bà không còn đới diện với loại đau đớn cực độ như thế nữa. 

Mười ngày trước khi lâm chung, Billy đem bà vào một bệnh viện tư nhân vì bà cảm thấy khó thở. Bác sĩ đặt ống dưỡng khí cho bà. Hình chụp tia X cho thấy những tế bào ung thư đã lan rộng hơn nữa, làm gia tăng chứng khó thở. Chữa bằng xạ trị, hóa trị được đề nghị không phải là có thể chữa lành bệnh mà chỉ để giảm nhẹ bệnh trạng. Nhưng Kuai Chan không muốn tâm mất sáng suốt nên bà đã từ chối. Sau năm ngày, bà đòi Billy đem bà về nhà vì bà cảm thấy không có lý do nào nữa để bà phải ở lại bệnh viện. Billy lắp đặt bình dưỡng khí tại nhà, mang bà về và để bà thở qua ống dưỡng khí hầu làm giảm bớt khó khăn về hít thở của bà. Năm ngày sau, từ 13 tháng 12 đến lúc bà chết ngày 18 tháng 12, bà dường như ở trong tình trạng thiêm thiếp ngủ, thỉnh thoảng mới tỉnh dậy. Hai ngày trước khi chết, bà vẫn còn nhớ ngày sinh nhật thứ 17 của đứa con gái vào ngày 17 tháng 12. Bà nhắc Billy luộc hai quả trứng cho đứa con gái và cho con gái một bao tiền lì xì màu đỏ. Billy đã làm theo lời bà. 

Vào ngày 18 tháng 12, bà tỉnh dậy lúc 9 giờ sáng với một nụ cười. Bà hỏi: “Có phải em đã ngủ không?” Billy trả lời: “Phải. Đã năm ngày rồi, em biết không?” Bà ngạc nhiên. Bà dường như rất sung sướng và mỉm cười. Bà nói bà không cần uống thuốc bắc nữa. Bà lại nhớ lại ngày sinh nhật của đứa con gái và mặc dù Billy đã nói cho bà biết là ông đã đưa bao lì xì đỏ cho đứa con gái như bà đã dặn, bà lại nói lần nữa với Billy: “Hãy cho cho con gái thêm một bao lì xì nữa, nhân danh tôi.” 

Vào khoảng 2 giờ chiều hôm đó, Billy cho biết Kuai Chan muốn nói cái gì với ông ta nhưng quá yếu không nói nổi. Billy nhắc bà hãy duy trì tâm trạng xả ly, đừng lo lắng gì về chồng và các con, và hãy tự do ra đi một cách an bình. Ông nói, trước đây họ đã thảo luận nhiều lần về việc này, rằng nếu bà có thể lành bệnh thì tốt, và nếu không thể chữa được, thì cũng phải chịu. Bà có thể ra đi một cách thanh nhã, hiểu biết luật về nghiệp, rằng tất cả chúng ta một ngày nào đó sẽ phải chia lìa. 

Vào lúc 3 giờ chiều, khi đứa con trai 15 tuổi đi học về và báo với mẹ: “Mẹ ơi, con đã về”, bà nghe hiểu nhưng không nói được. Bà gật đầu để ra dấu bà biết. 

Vào khoảng 3:30 giờ chiều, Billy cho biết Kuai Chan tận dụng sức lực nói rõ ràng bằng tiếng Quảng Ðông “Woh Yap Niphoon (Ngộ nhập Niết Bàn),” có nghĩa là “Tôi đã vào Niết Bàn,” câu này có ý nói nói là bà tin rằng bà đã thực chứng hay chứng nghiệm Niết Bàn. Và bà chỉ vào bụng. Ðó là lời cuối cùng của bà, bà ra đi một cách rất êm ả vào khoảng 45 phút sau. Billy nói Kuai Chan, trong lúc hành thiền, thường quan sát sự chuyển động lên xuống của bụng xảy ra mỗi lần hít vào hay thở ra. Bà thấy sự lên xuống của cái bụng là một đối tượng tốt để đặt tâm vào, và bà thường khuyến khích các hành giả tu thiền nên bám vào đối tượng ấy. Bất chấp hiện tượng nào của thân hay tâm khi ta áp dụng chánh niệm và tập trung vào, cuối cùng ta có thể thấy sự sinh diệt của hiện tượng và đi đến hiểu biết tính chất vô thường, cái bất toại nguyện và vô ngã của chúng. Thấy và biết như thế khởi sinh khi hành giả bắt đầu nhập vào dòng thánh giải thoát, cảm nghiệm Niết Bàn. Sự hiểu biết có thể tiến tới đỉnh cao trong việc đạt Niết Bàn, trạng thái chấm dứt khổ đau. Những ô nhiễm của tham, sân và si sẽ bị hoàn toàn bị loại bỏ khi chứng nghiệm Niết Bàn đạt được ở trình độ của bậc thánh A La Hán.

Billy nói khi giờ phút cuối cùng sắp đến, mặt của Kuai Chan rạng rỡ, khi bà nói, mắt của bà long lanh và sáng. Vào khoảng 4:15 giờ chiều, Billy thấy bà tắt thở. “Bà trông rất bình thản, thanh thoát. Bà đã ra đi một cách rất an lạc,” Billy nói. 

Vào khoảng 4 giờ chiều hôm ấy, một người bạn đạo của Kuai Chan là bà Lily, cư ngụ ở cách xa 25 kílômét, đột nhiên có ý nghĩ trải tâm từ thân ái đến Kuai Chan. Lily ngồi xuống và hành thiền, gửi đi tất cả những ý tưởng về lòng từ thân ái đến Kuai Chan. Bà ta nói bà thấy Kuai Chan rất thanh thản trong một ảo ảnh trong suốt như pha lê. Khi bà ngừng hành thiền, bà ta nhìn đồng hồ lúc đó là 4 giờ 15, cùng lúc Kuai Chan ra đi. 

Chết theo cách Kuai Chan đã chết, rõ ràng là một cái chết đẹp đẽ. Không có cách ra đi nào tốt hơn – với tâm bà tập trung về Niết Bàn. Không ai có thể nói được về sự trải nghiệm độc đáo của bà. Chỉ có mình bà biết thôi. Nhưng có một điều chắc chắn là tâm bà vững vàng vào lúc cuối cùng, hướng về Niết Bàn. Tôi nghĩ rằng có thể bà đã đạt được Niết Bàn. Nếu bà đã không đạt được thế trong đời này, tôi nghĩ rằng bằng tâm vững chắc và cương quyết của bà, bà đã tái sinh vào cõi lành – cõi người hay cõi trời, và sẽ đạt được mục tiêu hằng ấp ủ trong kiếp sống mới. 

Là một Phật tử, bà đã căn dặn Billy tổ chức cho bà một tang lễ đơn giản, không có những nghi lễ và nghi thức không cần thiết. Theo ý muốn của bà, Billy đã thu xếp việc hỏa táng vào ngay ngày hôm sau. Vài vị sư, các hành giả tu thiền và bạn đạo cùng đến tụng kinh. Tang lễ rất giản dị theo lời bà yêu cầu. Sau lễ hỏa táng, Billy thu thập tro cốt và đem rắc tại cây bồ đề tại thiền đường của sư phụ của họ tại Johor. 

Hồi tưởng lại cuộc sống với nhau, Billy nói Kuai Chan là một người vợ tốt nhất mà ông đã có được. Ông nói: “Chúng tôi lấy nhau đã 22 năm và bà đã sát cánh với tôi qua thăng trầm, qua nhiều thử thách và cực khổ. Bà có một tâm tính vui tươi và hoạt bát. Bà bao giờ cũng thương yêu và ân cần. Ngay cả lúc bà ốm, bà vẫn tuyệt vời. Bà không bao giờ phàn nàn. Bà không ngã lòng. Không có giận hờn hay cay đắng nơi bà. Bà vẫn bình tĩnh và vững vàng. Bà vẫn có thể mỉm cười và cười lớn. Bà chấp nhận tất cả khổ đau với thái độ trang nhã. Bà nói thân bà bệnh nhưng tâm bà không bệnh. Tâm bà vẫn sung sức và khỏe mạnh. Sự quan ngại của bà không phải cho chính bà mà cho người khác. Bà nói nếu bà có thể sống thêm 10 năm nữa, bà sẽ thực hành Phật Pháp nhiều hơn. Bà rất quan tâm đến tôi và những đứa con. 

“Thực ra bà đã chịu đựng khổ đau tốt hơn tôi. Tôi không thể chịu nổi khi thấy bà quá nhiều đau đớn. Tôi cố gắng cho bà uống thứ thuốc bắc tốt nhất, hy vọng có thể chữa khỏi hay cho bà được nghỉ ngơi. Ðôi khi tôi hỏi tại sao tất cả việc đó lại xảy ra cho bà. Và tôi nghĩ: ‘Hãy để cho bà sống thêm mười năm và cuộc đời tôi ngắn đi mười năm. Xin để cho tôi cho bà mười năm của đời tôi.’ Nhưng lẽ đương nhiên điều đó không phải là do chúng ta quyết định. Chính là ‘nghiệp’ mới có quyền quyết định cuối cùng. 

“Bà thường nói với tôi: ‘Ðó là nghiệp của em, Billy à. Cái đó hoàn toàn đúng. Em không biết em đã làm gì trong quá khứ. Em phải chấp nhận nghiệp của em.’ Ðôi khi bà nói: ‘Em rất hối hận vì đã đem đến cho anh tất cả khó khăn này, Billy, tất cả cái khổ đau này. Billy biết không, em nợ anh rất nhiều trong cuộc đời này.’ Tôi phải nói với bà rằng xin đừng nói thế. Tôi nói bà không nợ gì tôi cả. Chúng ta là vợ chồng phải không? Và bà là người vợ tuyệt vời của tôi. Chúng ta cùng trải qua những lúc thăng trầm, và bây giờ là giờ phút bà cần đến tôi, tôi sẽ ở bên cạnh bà. Chúng ta sẽ một mất một còn cùng nhau, tôi nói với bà, tôi cam đoan với bà. 

“Vào những dịp khác, bà nói với tôi: ‘Này Billy, đây là giáo pháp chân chính, là con đường chân thật, em tin chắc như thế,’ và bà nhắc tôi đừng lơ là thực tập hành thiền, không nên tự mãn mà phải nỗ lực tu tập. Chúng tôi đã mất một thời gian tìm kiếm một giáo pháp mà chúng tôi có thể hiểu được. Và khi chúng tôi biết được đạo Phật và pháp thiền Minh sát vào năm 1988, chúng tôi đã hăng hái tu tập. Sư biết không, chúng tôi thường cùng nhau bàn luận Phật Pháp mỗi đêm bên tách trà. Mối quan hệ của chúng tôi rất tuyệt vời.”

Người anh em họ của Kuai Chan, Sati, có lần hỏi liệu bà có sợ bệnh ung thư không, bà trả lời không, bà không sợ bệnh này. Bà sẵn sàng chịu đựng đau đớn mà không dùng thuốc. Bà quả là một hành giả can đảm, mặc dù phải đối diện với nhiều nghịch cảnh, vẫn kiên trì thực hành Pháp. Bà làm tôi băn khoăn, nếu tôi, một nhà sư mà ở hoàn cảnh như bà, bị ung thư, thì tôi có thể chịu đựng được nhiều như thế không, có can đảm và chịu đựng như thế không? Bà quả là một tấm gương đầy cảm hứng, một vị thầy làm gương cho tất cả chúng ta. Tôi cám ơn Billy đã đưa ra chuyện riêng tư của mình để chia sẻ với chúng ta câu chuyện đầy cảm hứng này, để chúng ta có thêm nhiều khích lệ trong việc tu tập, cương quyết hơn nữa và phấn đấu mạnh hơn nữa. 

Billy yêu cầu tôi ghi nhận lòng biết ơn của ông đối với thiền sư Sujiva và những vị sư khác cùng với các hành giả tu thiền về tất cả những sự giúp đỡ ân cần mà họ đã dành cho ông và Kuai Chan. Những bạn đạo tại Trung tâm Trí tuệ Phật giáo, Petaling Jaya, đã đặc biệt hỗ trợ tinh thần và khuyến khích Kuai Chan trong suốt thời gian bà lâm bệnh. Ông Billy nói: “Tôi không biết làm sao bày tỏ lòng biết ơn của tôi đến tất cả mọi người đã giúp đỡ chúng tôi. Xin vui lòng nói với họ rằng tôi xin cám ơn tất cả. Xin cám ơn quý vị rất nhiều về mọi thứ mà quý vị đã dành cho Kuai Chan." 

- Trích CHẾT TRONG AN BÌNH (LOVING AND DYING), 
Tỳ-khưu Visuddhacara
Hòa thượng Thích Tâm Quang dịch 
(Bình Anson hiệu đính)

*