ĐẮC QUẢ A-LA-HÁN TRONG LÚC CHƯA XUẤT GIA TỲ-KHƯU
Tam Tạng Pāli có ghi trường hợp những vị đắc quả A-la-hán trong lúc chưa xuất gia tỳ-khưu:
1) Cư sĩ Yasa (Đại phẩm, tạng Luật)
2) Du sĩ Bāhiya Dārucīriya (Tiểu bộ, tạng Kinh)
3) Gia chủ Uttiya (Kathāvatthu, tạng A-tỳ-đàm)
4) Thanh niên Setu (Kathāvatthu, tạng A-tỳ-đàm)
Thêm vào đó, theo Chú giải, có thêm các vị:
5) Bà Khemā
6) Bà Sujātā
7) Bà Ubbirī
8) Vua Suddhodana
9) Đại thần Santati
10) Thanh niên Uggasena
11) Thanh niên Bhaddaji
I. BỐN VỊ ĐƯỢC GHI TRONG CHÁNH TẠNG PĀLI
1. Cư sĩ Yasa (Đại phẩm, tạng Luật)
Yasa là công tử con nhà triệu phú ở Bārāṇasī. Một ngày nọ, thức dậy sớm ông thấy thấy cảnh các hầu thiếp còn ngủ say trượt phấn, ông chán ngán thốt lên "Thật phiền muộn, thật khổ não!" rồi bỏ nhà đi lang thang đến Isipatana.
Đức Phật đang kinh hành, gọi: "Này Yasa, hãy lại đây". Phật thuyết tuần tự pháp (anupubbikathā): bố thí, trì giới, quả báo sinh thiên, sự nguy hiểm của dục, sự lợi ích của xuất ly. Khi tâm của Yasa nhuần nhuyễn, Phật thuyết Tứ Thánh Đế, ngay sau đó Yasa chứng quả Dự Lưu.
Mẹ của Yasa không thấy ông ở nhà, bèn bảo cha của Yasa đi tìm. Đến gặp Phật, người cha được Ngài thuyết tuần tự pháp chứng quả Dự Lưu, còn Yasa sau nghe lại lần thứ nhì chứng quả A-la-hán. Như thế, Yasa là vị cư sĩ đầu tiên trong giáo pháp của Đức Phật Gotama đắc quả A-la-hán khi còn mang hình thức cư sĩ. Sau đó, Phật cho ông xuất gia bằng cách tuyên bố: “Ehibhikkhu - Hãy đến đây, này tỳ-khưu!” Ông là vị tỳ-khưu thứ 6, sau 5 anh em Kiều-trần-như, trong Tăng đoàn của Đức Phật.
2. Du sĩ Bāhiya Dārucīriya (Udāna I.10 và Chú giải Pháp cú)
Bāhiya vốn là thương buôn bị đắm tàu, sống lõa thể mặc vỏ cây ở Suppāraka (bờ biển phía Tây Ấn Độ). Dân chúng tưởng ông là A-la-hán, ông cũng tưởng vậy. Một vị chư thiên từng là bà con trong quá khứ hiện ra nói: "Ngươi không phải A-la-hán, cũng không biết đạo lộ đến A-la-hán. Ở Sāvatthi có Đức Thế Tôn mới là bậc A-la-hán chân chánh".
Bāhiya lập tức đi bộ không nghỉ suốt nhiều ngày đêm đến Sāvatthi, gặp Phật đang đi khất thực. Ông thỉnh cầu 3 lần, Phật dạy một câu kệ bất hủ:
- Này Bāhiya, trong cái thấy sẽ chỉ là cái thấy, trong cái nghe sẽ chỉ là cái nghe, trong cái cảm giác sẽ chỉ là cái cảm giác, trong cái nhận thức sẽ chỉ là cái nhận thức. Ông nên học tập như thế. Lúc đó, ông không còn là với điều ấy. Khi không là với điều ấy, ông không còn ở trong đó. Khi không còn ở trong đó, ông sẽ không là ở đây, không là ở kia, không là ở khoảng giữa của cả hai. Chính điều này là sự chấm dứt của đau khổ.
Ngay khi nghe, Bāhiya chứng A-la-hán khi còn là ngoại đạo lõa thể. Ông xin xuất gia nhưng Phật bảo phải đi tìm y bát. Trên đường đi tìm, ông bị bò húc chết. Phật xác nhận ông đã là A-la-hán, và khen ông là vị chứng đạo quả nhanh nhất (khippābhiññā).
3 & 4. Gia chủ Uttiya và thanh niên Setu (Kv 4.1, bộ Ngữ tông - Kathāvatthu, tạng A-tỳ-đàm)
Không thấy ghi tiểu sử, chỉ được nêu tên để làm bằng chứng pháp lý cho luận điểm “cư sĩ có thể đắc A-la-hán”. Về sau, Chú giải Kathāvatthu giải thích rằng Uttiya là gia chủ ở Sāvatthi, Setu là một thanh niên Bà-la-môn. Cả hai sau khi nghe pháp, đắc A-la-hán khi còn tại gia. Vì không có người truyền giới xuất gia cho họ kịp thời nên họ đã nhập Niết-bàn ngay trong ngày đó khi còn là cư sĩ.
II. BẢY VỊ ĐƯỢC GHI TRONG CHÚ GIẢI (Aṭṭhakathā)
5. Bà Khemā - Bậc trí tuệ đệ nhất Ni đoàn
Bà là vợ chánh của vua Bimbisāra, rất đẹp và say mê sắc đẹp của mình nên không dám gặp Phật vì sợ Ngài sẽ chê về tấm thân bất tịnh. Vua Bimbisāra muốn độ vợ, bèn cho ca kỹ hát ca ngợi cảnh đẹp của tinh xá Trúc Lâm để dụ bà đến viếng, với điều kiện là phải đến lễ Phật.
Khi Khemā đến gặp Phật, Ngài hóa hiện một thiên nữ tuyệt đẹp rồi trở thành già - bệnh - chết ngay trước mặt bà, rồi thuyết pháp cho bà nghe. Ngay sau thời pháp, bà thấy rõ vô thường và chứng A-la-hán. Sau đó bà xin vua cho phép xuất gia. Về sau, được Phật khen là trở thành Aggasāvikā – Tỳ-khưu-ni đệ nhất về trí tuệ (AN 1.236).
6. Bà Sujātā
Theo Chú giải Therīgāthā (Trưởng lão ni kệ), bà là con gái của một vị phú gia ở Sāketa, được gả cho một gia đình môn đăng hộ đối, sống hạnh phúc. Một hôm trên đường đi xem hội về, bà ghé vào rừng Añjanavana và được gặp Phật đang thuyết pháp. Ngay khi ngồi nghe tại chỗ, trí tuệ chín muồi, bà chứng A-la-hán khi còn là cư sĩ tại gia. Sau đó bà trở về nhà, xin phép chồng cho được xuất gia vào Ni đoàn. Kệ ngôn chứng đạo của bà được ghi lại trong kệ 145-150 của tập Trưởng lão ni kệ (Thig 6.4).
7. Bà Ubbirī
Theo Chú giải, bà là vợ của một vị quan đại thần, có con gái tên Jīvā rất yêu quý nhưng chết sớm. Đau khổ, mỗi ngày bà vào nghĩa địa khóc than. Phật đến hỏi: "Này Ubbirī, sao con khóc ở đây?". Bà nói vì mất con. Phật dạy: "Chính tại nghĩa địa này, 84.000 cô con gái là tên Jīvā đã từng bị thiêu đốt". Nghe vậy bà bừng tỉnh, quán vô thường, chứng A-la-hán ngay tại nghĩa địa trong y phục cư sĩ, rồi xin xuất gia vào Ni đoàn.Kệ ngôn chứng đạo của bà được ghi lại trong kệ 51-53 của tập Trưởng lão ni kệ (Thig 3.5).
8. Vua Suddhodana (Tịnh Phạn)
Vua Suddhodana là cha của Thái tử Tất-đạt-đa. Theo Chú giải Pháp cú và Chú giải Chuyện Tiền thân, nhà vua Suddhodana đã đắc Dự Lưu, Nhất Lai, Bất Lai qua các lần Phật về thăm quê hương Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu). Khi vua nằm trên giường bệnh sắp sửa băng hà, Phật đã từ Xá-vệ trở về kề bên và thuyết giảng về tính vô thường của các hành. Nghe pháp xong, vua đắc quả A-la-hán ngay trên giường bệnh, rồi sau đó trút hơi thở cuối cùng.
9. Đại thần Santati
Santati là đại thần của vua Pasenadi xứ Kosala. Theo Chú giải Pháp cú, kệ 142, ông trở về sau khi dẹp yên một cuộc nổi loạn ở biên giới. Nhà vua ban thưởng cho ông bằng bảy ngày hưởng thụ, cùng một nữ vũ công ca múa. Trong bảy ngày ấy, Santati uống rượu và vui chơi. Đến ngày thứ bảy, khi nữ vũ công đang biểu diễn, nàng đột ngột qua đời. Santati vô cùng đau khổ.
Ông đến gặp Phật để tìm sự an ủi. Ngài thuyết cho ông một bài kệ bốn câu về vô thường và sự đoạn tận khổ đau. Ngay khi nghe hết bài kệ, ông chứng A-la-hán. Santati biết mình sắp qua đời, xin phép Phật rồi thực hiện thần thông tự hỏa thiêu trước đại chúng và viên tịch.
10. Thanh niên Uggasena
Uggasena là con một trưởng giả giàu có. Theo Chú giải Pháp cú, ông yêu con gái của một người biểu diễn xiếc và sau đó theo đoàn biểu diễn của gia đình vợ. Ông học nghề nhào lộn, biểu diễn trên một cây sào tre cao. Mỗi lần biểu diễn, ông leo lên cột, thực hiện các động tác nguy hiểm rồi nhận tiền thưởng từ đám đông.
Một ngày nọ, Đức Phật đi khất thực ngang qua nơi biểu diễn. Uggasena đang đứng trên đỉnh cột tre thì nghe Đức Phật thuyết bài kệ bắt đầu bằng lời dạy buông bỏ quá khứ, tương lai và hiện tại, vượt khỏi mọi ràng buộc của hữu (Pháp cú, kệ 348). Bài kệ ấy khiến ông trực nhận chân lý và chứng A-la-hán ngay khi còn đứng trên cột. Sau khi chứng đắc, Uggasena xuống khỏi cột và xin Phật cho xuất gia, trở thành một tỳ-khưu.
11. Thanh niên Bhaddaji
Bhaddaji là con trai duy nhất của vị trưởng giả ở Bhaddiya. Một hôm Đức Phật từ Sāvatthi đi đến thành Bhaddiya cùng đại chúng tỳ-khưu, ngồi trên lầu cao mở cửa sổ nhìn ra, Bhaddaji thấy dân chúng lũ lượt đi nghe pháp, bèn cùng đoàn tùy tùng đến chỗ Phật.
Theo Chú giải Trưởng lão kệ (kệ 163-164), khi đang ngồi nghe pháp, dù vẫn còn mang đầy đủ đồ trang sức lộng lẫy của người tại gia, Bhaddaji đã đoạn tận lậu hoặc, chứng đắc A-la-hán. Ngay sau đó, ông xin xuất gia tỳ-khưu với Phật.
*-----*

No comments:
Post a Comment