Monday, 21 November 2022

Bảy tuần lễ sau khi Thành Đạo tại Bồ Đề Đạo Tràng (Bodh Gaya)

 BỒ-ĐỀ ĐẠO TRÀNG (Bodh Gaya) - Bảy tuần lễ sau khi Thành Đạo

Theo Chú giải bộ Pháp tụ (Atthasālinī), Đức Phật ngự tại Bồ Đề Đạo Tràng (Bodh Gaya) ở những địa điểm khác nhau trong 7 tuần lễ sau khi thành đạo (xem hình kèm theo, đánh số từ 1 đến 7):

- Tuần lễ thứ nhất: Ngồi hành thiền ở cội cây bồ đề, chiệm nghiệm sự giải thoát sau khi đắc đạo quả Chánh Đẳng giác.

- Tuần lễ thứ nhì: Đứng nhìn về cội cây bồ đề.

- Tuần lễ thứ ba: Thực hiện song thông, đi kinh hành trên trời cao để cảm hóa nhóm đạo sĩ.

- Tuần lễ thứ tư: Ngồi hành thiền tại tòa bảo ngọc, chiêm nghiệm về A-tỳ-đàm (Vi Diệu Pháp).

- Tuần lễ thứ năm: Ngồi hành thiền ở cội cây đa của những người chăn dê.

- Tuần lễ thứ sáu: Ngồi hành thiền ở cội cây Mucalinda.

- Tuần lễ thứ bảy: Ngồi hành thiền ở cội cây Rājāyatana.

Có thể đọc thêm về sự tích bảy nơi Đức Phật ngự sau khi Thành Đạo, dựa theo Chú giải. Ngài Hòa thượng Narada tóm tắt trong cuốn "Đức Phật và Phật Pháp":

=> http://budsas.net/uni/u-dp&pp/dp&pp04.htm

*


Thursday, 17 November 2022

Trang trí đơn giản nhưng trang nghiêm

Trang trí đơn giản nhưng trang nghiêm 
Ni viện Dhammasara, Gidgeganup, Western Australia 

Photo: Bình Anson, 16/11/2022

Tôi thích cách thức trang hoàng và bài trí như thế này. Đơn giản, gọn nhẹ. Chỉ vài chậu bông nhỏ là đủ. Trên tường không cần tô vẽ hoa văn màu mè rườm rà.

Tôi vào lạy Phật, rồi ngồi lặng lẻ chiêm ngưỡng, cảm thấy gần gũi với Ngài -- vị Thầy hiền hòa, từ bi của mình. 

*

Duyên sinh siêu thế và duyên sinh hiệp thế

 LÝ DUYÊN KHỞI GIẢI THOÁT
(Transcendental dependent arising/Dependent liberation)
(Bài giảng của Ajahn Brahmali ở Dhamaloka, Tây Úc ngày 23/03/2012)
Dịch Việt: Minh Nguyệt

* 

Về cơ bản, lý duyên khởi giải thoát (LDKG) mô tả tâm lý của thiền, nghĩa là, những gì xảy ra trong tiến trình hành thiền  được hành giả trải nghiệm từ lúc đầu cho đến lúc cuối. 

LDKG có liên hệ chặt chẽ với giáo lý duyên khởi nổi tiếng trong đạo Phật. Cho những ai chưa quen thuộc nhiều với những lời Phật dạy, lý duyên khởi là một chuỗi mười hai yếu tố nhân quả kết nối với nhau. Yếu tố cuối cùng trong chuỗi nhân quả này là khổ. Bởi vì là một chuỗi nhân quả, nó cho ta thấy khổ phát sinh như thế nào. Yếu tố thứ nhất của mười hai nhân duyên là vô minh – không có khả năng thấy được thế gian như nó là, và nó thật sự hoạt động như thế nào. Như thế, bắt đầu với vô minh, yếu tố này dẫn đến yếu tố sau, tiếp luôn cho đến khổ đau. Do vậy, lý duyên khởi chỉ cho ta thấy khổ đau chính là hậu quả của vô minh. 

Đây là cách mà Đức Phật đã giải thích tại sao có khổ đau. Nhưng Đức Phật cũng giảng về một chuỗi nhân quả đưa đến sự thoát khổ. Chính cái chuỗi nhân quả này được gọi là “Lý duyên khởi giải thoát” (SN12:23). LDKG bắt đầu với khổ – nói một cách khác, nó bắt đầu ở yếu tố cuối của lý duyên khởi – và, qua mười hai yếu tố nhân quả kết nối khác, nó chỉ cho bạn thấy làm thế nào để tối hậu đi đến giải thoát.

Triển vọng chấm dứt khổ đau là một thông điệp vô cùng tích cực. Đôi khi người ta nói đạo Phật bi quan – chỉ thấy nói đến khổ đau – nhưng đây lại là điều hoàn toàn ngược lại. Đức Phật nói rằng nhờ vào khổ đau mà chúng ta có thể đi suốt cho đến giải thoát khỏi cái khổ đau đó. 

Chúng ta hãy duyệt qua mười hai chuỗi yếu tố của LDKG. Yếu tố đầu là khổ (dukkha). Ở đây không phải chỉ muốn đề cập đến thực tế là có cái khổ mà còn muốn cho chính chúng ta nhận thức được vấn đề. Chỉ khi nào bạn hiểu được là có vấn đề thì bạn mới tìm cách giải quyết. Một phần là phải hiểu rõ về vấn đề khổ đau bình thường trong cuộc sống hàng ngày. Nhưng điều quan trọng hơn là phải thấy phạm vi rộng lớn của khổ đau. Sự hiểu biết này bắt đầu phát sinh khi việc hành thiền của bạn trở nên sâu sắc hơn, và bạn bắt đầu thấy chính mình và thế giới theo một cách khác. Nhưng đặc biệt là ý tưởng tái sinh ­– nhất là khi chính bạn tự mình thấy được – sẽ khiến cho bạn hiểu rõ phạm vi thực sự của vấn đề. 

Đạo Phật cho bạn biết là có giải pháp cho vấn đề này. Một khi bạn hiểu là có vấn đề và nhận biết có một giáo pháp có thể hướng dẫn bạn tìm ra giải pháp, bạn sẽ có niềm tin (saddha, sự tin cậy, tín nhiệm) với giáo pháp này. Đây là yếu tố thứ hai. 

Điều đáng ghi nhận trong những lời Phật dạy là nó chỉ cho bạn thấy giải pháp ở chỗ hoàn toàn khác hẳn với những gì bạn tưởng. Bình thường, trong đời sống, chúng ta nghĩ rằng giải pháp cho khổ đau sẽ được tìm thấy trong những quan hệ tình cảm, bạn bè, của cải vật chất, địa vị, quyền thế, được kính trọng, được khen ngợi, v.v. – những điều mà trong đạo Phật được gọi là “các pháp thế gian” (lokadhammā, AN8:6).  Người ta thường nghĩ câu trả lời cho khổ đau nằm ở đó. Nhưng rồi Đức Phật đến và nói cho bạn biết là bạn đã đi tìm không đúng chỗ, rằng giải pháp được tìm thấy ở một nơi khác. 

Khám phá này của Đức Phật thật là siêu việt. Nó cho bạn có cảm tưởng, ừ nhỉ, đúng là giải pháp phải ở chỗ nào khác, bởi vì đã biết bao lần bạn đã cố gắng tìm hạnh phúc qua những pháp thế gian mà bạn vẫn cứ khổ đau như thường. Trong một nghĩa nào đó, đây chính là bi kịch của con người: chúng ta luôn muốn có hạnh phúc, nhưng thông thường chúng ta lại tìm không đúng chỗ. Cho nên, nên thay vào đó, chúng ta chuốc lấy khổ đau. Khi bạn hiểu là có vấn đề và biết có một giáo lý hứa hẹn cho bạn những giải pháp thực tiễn, niềm tin sẽ khởi lên. Bạn nhận ra rằng có một điều gì đó thật đặc biệt trong những lời giảng dạy này. 

Niềm tin là một điều tuyệt đẹp. Bạn cảm thấy an toàn vì bạn có được một giáo lý chỉ cho bạn giải pháp giúp bạn thoát khổ. Như đề cập trong nhiều bài kinh, một người không có niềm tin, không có nơi nương tựa, giống như một người băng qua sa mạc. Trừ phi người đó tìm được cách đi băng qua, người đó cuối cùng rồi sẽ không thể chống chọi lại được với sức mạnh của thiên nhiên – nắng nóng, thiếu nước, tất cả những vấn đề trong sa mạc. Nhưng người có niềm tin thì giống như một người đã băng qua khỏi sa mạc (MN 39). 

Bởi vậy niềm tin trong đạo Phật rất quan trọng. Đôi khi người ta nghĩ là niềm tin không thật sự quan trọng và chỉ cần tìm hiểu, nghiên cứu xem điều đó đúng hay sai là đủ rồi. Dĩ nhiên, nghiên cứu, tìm hiểu là điểm chính yếu trong đạo Phật . Tuy nhiên, khi niềm tin mạnh mẽ, nó sẽ trở thành một sức mạnh; thúc đẩy bạn đi vào con đường đạo và giúp bạn đi đúng hướng. Đây là một phẩm chất cốt lõi mà ta phải mang theo trong suốt cuộc hành trình tâm linh. Hơn thế nữa, khi niềm tin được đặt đúng chỗ thì tất cả những yếu tố còn lại sẽ đi theo như một hệ quả tự nhiên. Nó trở thành con đường tự hoàn mãn bởi vì mỗi yếu tố là duyên cho yếu tố sau đó phát sinh, từng giai đoạn một, cho đến khi bạn hoàn toàn giác ngộ. 

Kết quả trực tiếp của niềm tin là hân hoan (pāmojja), yếu tố thứ ba của chuỗi LDKG. Niềm hân hoan đến từ sự khám phá ra được một điều gì đó thật là quý báu. Bạn đã tìm ra được kim chỉ nam cho ý nghĩa thật sự của đời sống và bạn cảm nhận được đây là những lời giảng dạy ưu việt. Sự liên hệ giữa niềm tin và hân hoan được mô tả ở nhiều nơi trong kinh. Chẳng hạn, một trong những pháp quán tưởng quan trọng trong kinh là niệm về “Ân Đức Phật”, “Ân Đức Pháp” và “Ân Đức Tăng”. Hân hoan sẽ sinh khởi trong tâm vì những quán tưởng này được thiết lập trên sự nhận biết về giá trị sâu sắc của những giáo lý trong trong Đạo Phật. Điều này được gọi là atthaveda và dhammaveda, cảm hứng trong ý nghĩa và cảm hứng trong Pháp. Nguồn cảm hứng tuyệt vời phát sinh cũng giống như “pāmojja” mà chúng ta đang nói đến ở đây. Như vậy hân hoan đến cùng với cảm hứng và đây là kết quả của niềm tin  (AN 6.10). 

Một khi pāmojja sinh khởi, đạo lộ tự nó sẽ tiếp tục mở ra. Nó là như vậy bởi vì hân hoan khiến cho bạn có niệm và năng lực. Có niệm và năng lực thì khi ngồi xuống hành thiền, bạn sẽ có khả năng giữ được đề mục và bạn sẽ tiến bộ đều đặn. Thiền tập có kết quả. Đôi khi có vẻ như khó nắm bắt được vì sao hành thiền lúc được, lúc không, và đây là lý do tại sao. Hành thiền tốt đẹp khi bạn cảm thấy hân hoan và niềm hứng thú sẽ đến cùng với  niệm và năng lực. Như vậy, phần còn lại của đạo lộ chủ yếu là một tiến trình tự động. Đó là một tiến trình hành thiền dẫn bạn đi từng giai đoạn một cho suốt đến giác ngộ. Đây chính là tâm điểm của tiến trình nhân quả của LDKG. 

Vậy tiến trình này xảy ra như thế nào? Bạn ngồi xuống, theo dõi hơi thở, thật dễ dàng. Khi hành thiền phát triển, hỷ (pīti) bắt đầu khởi lên trong bạn. Đây là yếu tố thứ tư của chuỗi nhân quả này. Khi hành thiền tiến bộ thêm, hỷ lạc lắng xuống và bạn có cảm giảc tĩnh lặng (passaddhi, khinh an), yếu tố thứ năm. Sự tĩnh lặng này, khi được phát triển, sẽ trở thành một cảm giác mãn nguỵên sâu xa và lạc (sukha), yếu tố thứ sáu. Và rồi, điều này dẫn đến tâm định (samādhi), yếu tố thứ bảy, đây là khi mức thiền trở nên vững mạnh thật sự. Khi tâm ra khỏi trạng thái định thâm sâu, bạn sẽ có sự hiểu biết và cái nhìn đúng như sự thật (yathā-bhūta-ñāṇa-dassana, tri kiến như chân). Đây là yếu tố thứ tám. Bởi vì samādhi khắc phục những chướng ngại (triền cái) – cái tâm ô nhiễm ngăn cản không cho bạn thấy đúng đắn sự thật – bây giờ, lần đầu tiên bạn thấy rõ mọi việc. 

Khi nhìn thấy sự vật một cách đúng đắn, bạn sẽ thấy đau khổ kết nối chặt chẽ với sự hiện hữu như thế nào. Bạn sẽ muốn từ bỏ (nibbidā, yếm ly) tất cả. Đây là yếu tố thứ chín. Bạn nhận ra rằng mình phải thoát ra khỏi bánh xe luân hồi. Từ bỏ dẫn đến nhàm chán (virāga, ly tham), yếu tố thứ mười. Virāga là sự chấm dứt ham muốn, đối nghịch lại với khát ái, sự tham đắm thế gian. Và khi sự say đắm, ham muốn biến mất, bạn được giải thoát (vimutti), yếu tố thứ mười một. Khi được giải thoát, bạn cũng sẽ có tri kiến rằng bạn đã được giải thoát (khaye ñāṇaṃ)  Đây là yếu tố thứ mười hai và là yếu tố cuối cùng của chuỗi LDKG. Như vậy, đây là phương cách từ khổ đau dẫn đến giải thoát. 

Để có một cái nhìn sâu sắc hơn về LDKG, tôi muốn xem xét khởi điểm của chuỗi từ một góc nhìn khác. Tôi muốn tập trung vào vài bước đầu của trình tự, bởi vì làm cho đúng những bước này rất quan trọng. Nếu bạn thực hiện đúng đắn những bước đầu, những bước còn lại sẽ tiếp theo như một quy trình tự nhiên. 

Phối cảnh sâu xa này có thể có được bằng cách xem xét một diễn giải phổ biến khác về LDKG thường gặp trong một số bài kinh (thí dụ AN 11.3). Diễn giải này, thay vì bắt đầu bằng khổ đau và niềm tin, bắt đầu bằng giới hạnh. Giới hạnh khiến ta không hối hận (avipaṭisāra), và không hối hận phát sinh hân hoan, pāmojja. Và những phần còn lại thì chủ yếu giống như đã trình bầy ở trên. 

Vậy thì pháp này vận hành như thế nào? Sự hoan hỷ phát sinh từ giới hạnh thuộc về bản chất tâm linh và không liên quan gì đến những niềm vui của giác quan. Đó là niềm hân hoan vì có một tấm lòng tốt đẹp. Những hân hoan đó luôn gắn liền với niệm và năng lượng. Khi vui, tâm bạn có một nguồn năng lượng tự nhiên, nguồn năng lượng đến từ những cảm giác tốt và tích cực. Và bạn có niệm vì niềm vui tâm linh khiến cho giây phút hiện tại thú vị. 

Trong kinh ta thấy lập đi lập lại nhiều lần rằng hành thiền bắt đầu với niệm. Khi bạn đọc những gì Đức Phật giảng về theo dõi hơi thở trong bài kinh Quán niệm Hơi thở (Ānāpānasati Sutta, MN 118), khi bạn đọc Đức Phật dạy gì trong bài kinh Satipaṭṭhāna về bốn chú tâm của niệm (MN 10), bạn sẽ nhận ra niệm là điều kiện tiên khởi cho hành thiền. Nếu không có niệm, bạn sẽ không thể hành thiền đúng đắn được. Thông hiểu điều này rất là quan trọng. Không đủ niệm là lý do chính tại sao đại đa số người ta không thể đạt đến những trạng thái thiền thâm sâu. 

Bởi vì tầm mức quan trọng của niệm, bạn cần phải học để biết cách thẩm định cường độ của niệm và biết mình đã có đủ tỉnh thức để hành thiền chưa. Hãy tự hỏi “Tôi có thật sự hay biết? Tôi có ở đây trong hiện tại? Tâm tôi có đi lung tung khắp nơi? Tôi có bấn loạn không? Tôi có thấy rõ ràng những gì đang xảy ra không?” Nếu tâm bạn tương đối yên ổn và bạn có ý thức rõ ràng – dù vẫn còn một chút suy nghĩ nhưng không nhiều lắm – đó là lúc mà hành thiền thật sự có hiệu quả.

Bởi vì không thể có thiền đúng đắn nếu không có niệm, bởi vì đó là nền tảng nên bạn cần phải xây dựng nó cho thật vững chắc, bạn cần phải biết rõ ràng làm sao để có niệm. Niệm là một đề tài “thời thượng” của tâm lý học Tây phương trong nhiều năm qua. Thông thường những thảo luận xoay quanh về việc niệm sẽ giúp bạn vượt qua các vấn đề như thế nào, những phẩm chất của niệm là gì, làm sao có thể đo lường bằng khoa học, v.v. Nhưng một điều thường thấy thiếu vắng  là một cuộc thảo luận có ý nghĩa về nguyên nhân đưa đến niệm. Để hiểu được nguyên nhân đưa đến niệm là hiểu được làm thế nào để có được niệm. 

Người ta thường nghĩ rằng nếu dùng sức mạnh của ý chí, nếu mình cố gắng hết sức, bạn sẽ có niệm. Nhưng nếu tâm bạn bị tác động bởi phiền não thì dù bạn cố gắng đến đâu cũng không thể có niệm được. Niệm không phải chỉ là giữ yên lặng hay cố gắng hết sức – như thế chưa đủ. Bạn phải chuẩn bị tâm để có thể có  niệm. 

Vậy thì nguyên nhân đưa đến niệm là gì? Trong biến thể của LDKG, yếu tố trước khi có pāmojja (hân hoan) – như tôi đã nói, đến cùng với niệm – là sự không hối hận. Không hối hận đến từ giới hạnh – đạo đức, sự tử tế và có tâm tốt đẹp. Ở đây, hối hận không phải chỉ có nghĩa là cảm thấy tồi tệ vì đã làm một việc thiếu đạo đức. Nó bao gồm tất cả những gì có ảnh hưởng xấu đến tâm do chính những hành vi của mình. Khi tâm mệt mỏi, ngu si, bất an, tiêu cực, hay trạng thái tương tự, thông thường là kết quả của những hành vi chưa đủ trong sạch. Như vậy, hối hận ở đây bao gồm tất cả những chướng ngại làm cản trở không cho bạn cảm thấy được sự hân hoan, niềm vui tự nhiên có ở trong tâm. Điều này có nghĩa là nguyên nhân đưa đến niệm là giới hạnh, và nếu không có giới hạnh thì niệm sẽ quá yếu cho hành thiền. Do vậy, nếu chuyện hành thiền của bạn không đi đến đâu hay không tiến bộ, bạn cần phải xét lại xem mình có thể làm gì để cải thiện giới hạnh của mình. 

Trong Đạo Phật, quan niệm về giới hạnh rất rộng lớn. Dĩ nhiên nó bao gồm giới hạnh về hành động đúng đắn – tử tế, tránh những hành động xấu. Nó cũng bao gồm giới hạnh của lời nói tốt đẹp – nói những điều tử tế, không nói những điều xấu. Cho đại đa số, chỉ nội trong lãnh vực này cũng đã có rất nhiều điều cần phải làm. Một trong những điều quan trọng cần ghi nhớ, giới hạnh không những là tránh làm xấu mà còn phải làm việc thiện nữa.Vậy thì trong cuộc sống, bạn hãy đi làm việc thiện, hãy nói những lời tử tế, hãy làm những việc nho nhỏ tử tế. Khi làm được như vậy là bạn đang xây dựng một cái tâm đẹp đẽ. Và điều này sẽ là một sức mạnh hỗ trợ cho việc hành thiền của bạn. 

Nhưng để cho niệm được thiết lập vững chắc, giới hạnh về thân và khẩu thôi chưa đủ. Bạn còn cần giới hạnh của tâm. Lúc đầu khi thực tập giới hạnh về thân và khẩu qua sự thu thúc, tâm bạn vẫn còn ô nhiễm. Để đối phó với sự ô nhiễm này, bạn cần phải làm việc với cái tâm bằng cách nào để bạn có thể thay đổi cách suy nghĩ. Đôi khi chúng ta cho điều này là khó làm, nhưng với quyết tâm đầy đủ và sự bền chí thì ai cũng có thể làm được. Và đây là điều cần thiết để cho việc hành thiền của bạn có thể phát triển. 

Phiền não quan trọng nhất cần phải vượt qua là sân hận dưới mọi hình tướng của nó, kể cả sự khó chịu và các trạng thái tiêu cực (AN3:68). Sân hận là một trạng thái tâm tạo nên rất nhiều đau khổ cho chúng ta và cho những người chung quanh ta. Nếu chúng ta thật sự nghiêm túc về con đường tâm linh, thì đây là lãnh vực mà ta thật sự cần phải chú tâm đến. Để khắc phục được sân, chúng ta phải tự hỏi làm sao mình có thể thay đổi cách nhìn về thế giới chung quanh. Có thể nào có một cách nhìn nào khác khiến cho những trạng thái tiêu cực không khởi lên? Bạn sẽ thấy rằng nếu mình chịu khó nỗ lực quán chiếu như thế, theo thời gian bạn sẽ dần dần thay đổi – bạn sẽ bắt đầu nhìn thấy mọi chuyện theo một cách mới; bạn sẽ bắt đầu nhìn thế gian một cách từ bi và nhân ái hơn. Khi sân hận, khó chịu và tiêu cực bắt đầu giảm bớt, bạn sẽ cảm nhận được là mình đã trở nên một người tốt hơn, trong sạch hơn. Thật tuyệt diệu khi quan sát thấy điều này đang xảy ra trong chính bạn. Dần dần, bạn thay đổi; bạn tự chuyển hóa mình thành một con người khác. 

Người ta thường nghĩ rằng sức mạnh của ý chí là cách để giải quyết những trạng thái tâm tiêu cực. Họ nghĩ là họ có thể bắt buộc họ phải dễ thương, họ có thể đè bẹp sân hận, nghiền nát sự tiêu cực. Và thỉnh thoảng khi bạn đọc kinh thấy có vẻ là như vậy. Bạn đọc thấy là bạn cần phải “tiêu diệt” trạng thái tâm tiêu cực, “ loại bỏ” chúng , “hủy diệt” chúng. Từ ngữ dùng có thể rất mạnh và rất dễ dàng để nghĩ rằng kinh văn muốn ám chỉ đến “sức mạnh” hay quyền lực. Nhưng thật ra Đức Phật muốn nói cách tốt nhất để vượt qua những trạng thái tiêu cực là dùng trí tuệ (MN 19). 

Dùng trí tuệ là tự hỏi xem sân sẽ dẫn bạn đến đâu. Nếu bạn suy nghiệm về điều này, bạn sẽ thấy nó luôn luôn dẫn đến đau khổ, cho chính bạn và người khác (MN 19). Nó dẫn đến đau khổ cho chính bạn vì khi so sánh ta sẽ thấy sân hận là đau đớn so với trạng thái tâm bình an. Nó dẫn đến đau khổ cho người khác vì khi sân chúng ta có khuynh hướng làm nhiễu hại đến người khác. Hơn thế nữa, bạn tạo bất thiện nghiệp khi bạn sân, nhất là khi bạn hành động vì sân hận. Bạn tự gây ra bất hạnh cho mình ngay ở đời này lẫn cả các đời sau. Như vậy, tính cách tiêu cực tạo ra cả một chuỗi phản ứng với các kết quả khó chịu và phiền muộn. Hãy tự nhắc nhở bạn như thế. Hãy suy ngẫm thường xuyên về điều này. Sân hận, tiêu cực, làm hại – đó là lãnh vực nguy hiểm; nó thật sự sẽ dẫn đến đau khổ cho bạn và cho những người chung quanh. Nhận thức càng mạnh mẽ bao nhiêu, rằng đây là một vấn đề thật sự, thì bạn càng có nhiều khả năng để quay lưng lại với nó. 

Khi nhận thức về nguy hiểm của sân hận trở nên vững chắc và rõ ràng, nó trở thành một phương tiện hữu hiệu trong việc phát triển tâm. Khi một tư tưởng sân bắt đầu nẩy sinh, bạn chỉ cần khởi lên nhận thức về sự nguy hiểm là tư tưởng sân này sẽ biến mất. Trí tuệ làm việc này cho bạn. Nhưng hãy nhớ rằng để xây dựng trí tuệ cần rất nhiều thời gian, như hầu hết tất cả những việc làm trên con đường tâm linh. Thật ra không phải là khó nhưng cần phải có quyết tâm và kiên trì. Dần dần bạn sẽ thấy sự nguy hiểm ngày càng rõ ràng hơn. Bạn càng hiểu rõ bao nhiêu thì bạn càng có khả năng để khắc phục sân hận mỗi khi nó khởi lên. Cũng chính vì vậy mà Đức Phật dùng những chữ như “tiêu diệt”, “loại bỏ”, “ hủy diệt” để diễn tả sự khắc phục những tư tưởng này. Những từ này không có ý nói đến sức mạnh của ý chí mà nói đến một phương tiện có hiệu quả hơn nhiều, đó là phương tiện trí tuệ. Trí tuệ, khi được phát triển tốt đẹp, sẽ cắt đứt những điều này – cũng giống như nó “tiêu diệt” những trạng thái tâm tiêu cực. Chúng sẽ đơn giản biến mất ngay. Hãy tiếp tục quán chiếu về sự nguy hiểm của sân hận ở dưới tất cả mọi hình thức.  Cuối cùng rồi bạn sẽ có một phương tiện hữu ích cho việc tu tập tâm linh. 

Một hậu quả tiêu cực khác của sân hận là nó hủy hoại trí tuệ (MN 19). Trí tuệ là một phẩm chất tâm linh quan trọng nhất. Chính trí tuệ đã khiến cho bạn hiểu sự khác biệt giữa hạnh phúc và khổ đau, quan trọng hơn nữa, hiểu được sự khác biệt giữa nguyên nhân của hạnh phúc và nguyên nhân của đau khổ. Trí tuệ giúp chúng ta giải quyết các vấn đề của cuộc sống. 

Đức Phật nói trí tuệ diệt là hệ quả của những trạng thái tâm bất thiện (paññānirodhika, MN 19). Xét tầm mức quan trọng của trí tuệ, phải chăng đó không phải là lý do chính đáng đủ cho ta từ bỏ và tiêu diệt những trạng thái tâm bất thiện hay sao? Hãy so sánh tâm khi bạn giận và khi bạn không giận. Hãy nhìn sự khác biệt. Bạn sẽ nhận thấy rằng khi sân giận, bạn không thể thấy thế gian một cách rõ ràng. Bạn không hiểu đâu là phải, đâu là trái – tất cả mọi việc trở nên đảo ngược, méo mó đi bởi giận dữ. Hãy xem nó phá hủy trí tuệ như thế nào. Quán chiếu về những điều này rất có hiệu quả. 

Một cách quán chiếu khác được Đức Phật khuyên là hãy xem thử sân giận tổn hại đến tâm như thế nào (MN 19). Hãy suy ngẫm xem bạn cảm thấy tâm mình như thế nào khi sân giận so với tâm khi bình an. Sự khác biệt thật là lớn lao! Khi sân giận bạn bị thiêu đốt bên trong. Tại sao bạn lại muốn sân giận khi mà có một lựa chọn khác là không sân giận? 

Những quán chiếu như thế là một trong những khía cạnh đầy oai lực của giáo pháp và cũng hữu hiệu nhất để bạn vượt qua những trạng thái tâm bất thiện. Nếu bạn muốn thay đổi cách suy nghĩ của bạn, trí tuệ là con đường, chứ không phải sức mạnh của ý chí. 

Với thời gian, khi được khai mở với một nhân sinh quan mới, bạn sẽ thấy những ô nhiễm của bạn giảm bớt, những vấn đề khó khăn trong đời sống của bạn bớt đi, và pāmojja – niềm hân hoan – dần dần tăng lên trong tâm bạn. Hân hoan đến từ sự thanh tịnh, từ thực tế là bạn đã trở nên một người tốt hơn. Và khi pāmojja trở nên mạnh hơn, niệm cũng mạnh hơn. Chính những ô nhiễm của tâm đã ngăn không cho niệm thực sự trở thành một sức mạnh tinh thần. Ô nhiễm càng giảm đi, niệm càng mạnh lên. Nếu bạn có thể làm giảm bớt những chướng ngại trong sự thực tập hàng ngày, bạn sẽ thấy mỗi lần bạn đi hành thiền nhiều ngày, bạn có thể theo dõi những điều mà trước đây bạn không thể theo dõi. 

Khi bạn theo dõi hơi thở mà không đủ niệm, tâm bạn có khuynh hướng đi lung tung khắp nơi. Bạn hoàn toàn không làm chủ được tâm mình – thay vào đó, ô nhiễm lôi bạn đi lòng vòng. Nhưng một khi niệm có mặt, bạn sẽ cảm thấy bạn làm chủ được chính mình. Và bởi vì bạn có cảm giác tự chủ, bạn có thể hướng sự chú ý của mình vào hơi thở hay vào bất cứ điều gì bạn muốn chú tâm vào. Trong kinh có nói rằng niệm được xây dựng đúng đắn là một sức mạnh (SN 50.1). Chính vì vậy, niệm rất quan trọng. 

Vì niệm phát sinh từ giới hạnh, nhất là giới hạnh của tâm, cho nên nỗ lực vượt qua những khuynh hướng tiêu cực của tâm là điều rất quan trọng. Đôi khi rất khó khăn, vì những khuynh hướng và thói quen của ta thường đã thâm căn cố đế. Cần phải có quyết tâm và kiên trì để thay đổi cách bạn nhìn sự việc, cách bạn hành động. Nhưng dần theo năm tháng, bạn sẽ thấy sự thay đổi trong bạn. Một khi bạn thay đổi, việc hành thiền của bạn trở nên an tịnh và sâu lắng hơn. Thật là tuyệt vời biết mấy khi hành thiền bắt đầu tiến triển, khi bạn có thể giữ được đối tượng hành thiền và thấy tiến bộ thật sự. Khi niệm đã trở thành niệm lực, với niềm hoan hỷ trong tâm, bạn chỉ cần ngồi xuống, theo dõi hơi thở và việc hành thiền sẽ tự nó diễn tiến. 

Khi hành thiền tự động diễn ra, bạn không cần đến sức mạnh. Tất cả những gì bạn cần làm là chỉ ngồi đó, hay biết, và theo dõi hơi thở. Bởi vì bạn có niệm, việc theo dõi là tự nhiên và dễ dàng, không cần đến sức mạnh của ý chí. Mỗi giây phút trôi qua, hành thiền càng lúc càng trở nên mạnh mẽ, và càng lúc càng trở nên thâm sâu. Tất cả những gì bạn cần phải làm chỉ là hiện diện ở đó. 

Đến một thời điểm nào đó trong tiến trình này, pīti, hỷ, bắt đầu phát sinh. Pīti là một cảm giác của niềm vui. thường biểu hiện mạnh mẽ qua thành phần thể chất. Nó có thể được trải nghiệm như những làn sóng phỉ lạc chạy qua khắp châu thân. Thật ra, nó chỉ là sự tăng thêm cường độ của hân hoan đã có được trước đó. Cái mà ta cảm nhận ở đây là khởi đầu của niềm vui thuần túy của tâm, niềm hạnh phúc tinh thần. Sau buổi thiền, ta nên suy ngẫm về những tính chất của những cảm giác này, xem thử nó khác với những niềm vui vật chất như thế nào. Bạn sẽ nhận ra rằng pīti là kết quả của tâm thanh tịnh, đặc biệt là sự vắng mặt của sân hận và tham ái mạnh mẽ. Sự thanh tịnh này là kết quả của việc thực hành giới hạnh trước đó. Bằng trực giác, bạn biết đó là một cảm giác thiện lành. Và đồng thời cũng cảm thấy rất dễ chịu. Bạn biết mình đã đi đúng hướng và bạn cần phải phát triển điều này thêm nữa. 

Bạn tiếp tục theo dõi hơi thở. Dần dần, các khía cạnh “thú vị” của pīti bắt đầu lắng xuống và bạn kinh nghiệm được một cảm giác tĩnh lặng sâu hơn, passaddhi (khinh an). Khi sự tĩnh lặng vào sâu hơn nữa, bạn sẽ kinh nghiệm một cảm giác bình an thâm sâu của hạnh phúc, sukha (lạc). Với mỗi bước, hành thiền càng trở nên tuyệt đẹp và mạnh mẽ hơn. Ở thời điểm này bạn cảm thấy hoàn toàn mãn nguyện đến nỗi tâm không muốn đi nơi nào khác. Đây là bắt đầu của samādhi (định). Một lần nữa, tất cả chuyện này hoàn toàn tự nó xảy ra. Bạn chỉ cần ngồi đó theo dõi cả tiến trình mở ra. 

Samādhi là nhất điểm tâm, khả năng tập trung một cách dễ dàng vào một đối tượng, dù là hơi thở, ánh sáng trong tâm hay bất cứ điều gì. Ở thời điểm này, tâm rất vững vàng; nó gắn liền với đối tượng mà không dao động. Bạn để cho samādhi phát triển cho đến khi năm triền cái hoàn toàn bị loại trừ , tâm chói sáng và hoàn toàn tập trung. Tiến trình này lên đến đỉnh điểm là khi đạt được jhanas (các tầng thiền-na).

Sau khi bạn ra khỏi samādhi, tâm bạn trong sáng và mạnh mẽ. Nhờ sự trong sáng này mà bạn biết và thấy sự vật đúng như nó là, yathā-bhūta-ñāṇa-dassana (tri kiến như chân). Thấy sự vật như nó là chỉ có thể làm được sau samādhi, bởi vì chỉ với samādhi mà sự loại trừ các triền cái mới được bền vững (MN68). Đây là một trong những lý do chính tại sao jhanas thuận lợi cho việc thấy sự việc như nó là.

Như tôi đã nói lúc đầu, gốc rễ của đau khổ là vì sự hiểu biết sai lầm của ta về sự vận hành thật sự của thế gian. Ta thấy hạnh phúc trong khổ đau. Ta thấy một cái ngã dù rằng chẳng hề có điều này. Ta nghĩ mọi vật sẽ trường tồn mặc dù nó có thể biến mất bất cứ lúc nào. Bằng cách nhìn thấy sự vật như nó là, chúng ta sẽ chấn chỉnh lại cái nhận định bị bóp méo, vô minh hay si mê, căn nguyên của vấn đề. 

Bởi vậy khi ta loại trừ chướng ngại bằng samādhi, vô minh bị yếu dần và bào mòn. Vì vô minh là yếu tố đầu tiên của lý Duyên khởi, mỗi yếu tố sau đó, kể cả đau khổ đều bị ảnh hưởng bởi cường độ của vô minh. Như thế có nghĩa là vô minh càng yếu thì khổ đau càng vơi, cho cả bây giờ và mai sau. 

Nhìn thế gian như nó thật sự là và thông hiểu toàn bộ khổ đau trên đời, nó đi sâu đến như thế nào, quả thật là một bừng tỉnh đáng kinh ngạc. Đức Phật nói giống như bạn bị bọc kín trong một cái vỏ, bất chợt cái vỏ bị nứt bể ra, bạn nhìn thấy thế giới lần đầu tiên (MN 53). Giống như bạn bị bao trùm bởi bóng tối và bất chợt có người bật đèn lên (MN 36). 

Thấy được Pháp trọn vẹn sẽ khiến cho bạn có một quan điểm hoàn toàn mới về đời sống. Bởi vì bạn thấy toàn bộ vấn đề, bạn nhận ra rằng không có lối thoát khỏi khổ đau trong sự hiện hữu thế tục và bạn nhàm chán tất cả. Đó là nibbida (yếm ly), sự chối bỏ tất cả mọi thứ, bởi vì bạn thấy đau khổ đi sâu đến như thế nào. 

Khi bạn nhàm chán tất cả, không còn gì để bám víu vào nữa thì ham muốn trở thành không thể có. Đó là ly tham, viraga. Bởi vì tất cả là khổ đau, bạn xả bỏ và bạn không bao giờ còn có thể ham muốn gì nữa. Khi bạn nhận ra rằng đi tìm hạnh phúc là phù phiếm, tham ái sẽ chấm dứt. Đó là giải thoát, vimutti. Cuối cùng bạn được giải thoát, giải thoát khỏi mọi vấn đề của hiện hữu. Và bạn có tri kiến là mình đã được giải thoát. Bạn đạt đến cái hạnh phúc tối đa có thể có. Đó là những gì mà đạo lộ của Đức Phật hứa hẹn cho bạn. 

Nó rất là thâm thúy. Mặc dù những lời dạy này có vẻ khó tiếp cận, nhưng tôi tin, hiểu biết trọn vẹn cả bản đồ rất quan trọng, để biết tất cả mọi thứ dẫn đi đến đâu, để thoáng thấy một khía cạnh thâm sâu của Giáo pháp của Đức Phật. Theo kinh nghiệm của tôi, cái thoáng thấy này rất bổ ích, nó thúc đẩy chúng ta tiếp tục con đường tu tập. 

Nhưng trên thực tế, điều quan trọng nhất của LDKG là nó chỉ cho ta thấy sự thành công trên con đường tu Phật, thành công trong hành thiền, tùy thuộc vào sự trong sạch của hành vi, nhất là sự trong sạch của tâm chúng ta. Chỉ khi nào bạn có thể giảm thiểu ô nhiễm của tâm, nhất là giận dữ, tiêu cực, và khía cạnh thô tháo của tham ái, thì việc hành thiền định mới có thể bắt đầu. Đây là một tiến trình tiệm tiến và mỗi bước trên con đường đạo đem đến một phần thưởng. Nếu bạn muốn hạnh phúc và mãn nguyện thật sự thì đây là con đường duy nhất.

 (Bài giảng của Ajahn Brahmali ở Trung tâm Phật giáo Dhamāloka, Tây Úc, ngày 23/03/2012)

Dịch Việt: Minh Nguyệt.
Hiệu đính: Bình Anson.

*-----*

DUYÊN SINH SIÊU THẾ VÀ DUYÊN SINH HIỆP THẾ

Giới thiệu: Đây là một bài kinh rất đặc biệt, Đức Phật giảng về hai loại duyên sinh: 1) Duyên sinh hiệp thế là hệ thống duyên sinh chúng ta thường thấy trong nhiều bài kinh, do vô minh trói buộc chúng sinh trong vòng luân hồi sinh tử; và 2) Duyên sinh siêu thế là hệ thống duyên sinh giúp hành giả tu tập để tiến đến giải thoát.

*

“Này các tỳ-khưu, Ta nói các lậu hoặc được đoạn diệt đối với người biết, đối với người thấy, không phải đối với người không biết, không phải đối với người không thấy.

“Như thế nào đối với người biết, đối với người thấy, các lậu hoặc được đoạn diệt? ‘Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt; đây là thọ, đây là thọ tập khởi, đây là thọ đoạn diệt; đây là tưởng, đây là tưởng tập khởi, đây là tưởng đoạn diệt; đây là hành, đây là hành tập khởi, đây là hành đoạn diệt; đây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt.’ Đối với người biết như vậy, đối với người thấy như vậy, các lậu hoặc được đoạn diệt.

[Duyên sinh siêu thế]

“Này các tỳ-khưu, trong sự đoạn diệt ấy, Ta nói rằng trí về đoạn duyệt có duyên, không phải không có duyên. Duyên của trí về đoạn diệt là gì? Giải thoát là câu trả lời. 

“Này các tỳ-khưu, Ta nói rằng giải thoát có duyên, không phải không có duyên. Duyên của giải thoát là gì? Ly tham là câu trả lời. 

“Này các tỳ-khưu, Ta nói rằng ly tham có duyên, không phải không có duyên. Duyên của ly tham là gì? Yếm ly là câu trả lời. 

“Này các tỳ-khưu, Ta nói rằng yếm ly có duyên, không phải không có duyên. Duyên của yếm ly là gì? Tri kiến như chân là câu trả lời. 

“Này các tỳ-khưu, Ta nói rằng tri kiến như chân có duyên, không phải không có duyên. Duyên của tri kiến như chân là gì? Ðịnh là câu trả lời. 

“Này các tỳ-khưu, Ta nói rằng định có duyên, không phải không có duyên. Duyên của định là gì? Lạc là câu trả lời. 

“Này các tỳ-khưu, Ta nói rằng lạc có duyên, không phải không có duyên. Duyên của lạc là gì? Khinh an là câu trả lời. 

“Này các tỳ-khưu, Ta nói rằng khinh an có duyên, không phải không có duyên. Duyên của khinh an là gì? Hỷ là câu trả lời. 

“Này các tỳ-khưu, Ta nói rằng hỷ có duyên, không phải không có duyên. Duyên của hỷ là gì? Hân hoan là câu trả lời. 

“Này các tỳ-khưu, Ta nói rằng hân hoan có duyên, không phải không có duyên. Duyên của hân hoan là gì? Lòng tin là câu trả lời. 

“Này các tỳ-khưu, Ta nói rằng lòng tin có duyên, không phải không có duyên. Duyên của lòng tin là gì? Khổ là câu trả lời. 

“Này các tỳ-khưu, Ta nói rằng khổ có duyên, không phải không có duyên. Duyên của khổ là gì? Sinh là câu trả lời.

[Duyên sinh hiệp thế]

“Này các tỳ-khưu, Ta nói rằng sinh có duyên, không phải không có duyên. Duyên của sinh là gì? Hữu là câu trả lời. 

“Này các tỳ-khưu, Ta nói rằng hữu có duyên, không phải không có duyên. Duyên của hữu là gì? Thủ là câu trả lời.

“Này các tỳ-khưu, Ta nói rằng thủ có duyên, không phải không có duyên. Duyên của thủ là gì? Ái là câu trả lời. 

“Này các tỳ-khưu, Ta nói rằng ái có duyên, không phải không có duyên. Duyên của ái là gì? Thọ là câu trả lời.

“Này các tỳ-khưu, Ta nói rằng thọ có duyên, không phải không có duyên. Duyên của Thọ là gì? Xúc là câu trả lời.

“Này các tỳ-khưu, Ta nói rằng xúc có duyên, không phải không có duyên. Duyên của xúc là gì? Sáu xứ là câu trả lời.

“Này các tỳ-khưu, Ta nói rằng sáu xứ có duyên, không phải không có duyên. Duyên của sáu xứ là gì? Danh sắc là câu trả lời.

“Này các tỳ-khưu, Ta nói rằng danh sắc có duyên, không phải không có duyên. Duyên của danh sắc là gì? Thức là câu trả lời.

“Này các tỳ-khưu, Ta nói rằng thức có duyên, không phải không có duyên. Duyên của thức là gì? Hành là câu trả lời. 

“Này các tỳ-khưu, Ta nói rằng hành có duyên, không phải không có duyên. Duyên của hành là gì? Vô minh là câu trả lời.

[Kết luận]

“Như vậy, này các tỳ-khưu, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sinh; sinh duyên khổ; khổ duyên tín; tín duyên hân hoan; hân hoan duyên hỷ; hỷ duyên khinh an; khinh an duyên lạc; lạc duyên định; định duyên tri kiến như chân; tri kiến như chân duyên yếm ly; yếm ly duyên ly tham; ly tham duyên giải thoát; giải thoát duyên trí về đoạn diệt.

“Ví như, này các tỳ-khưu, trên đỉnh núi trời mưa nặng hột và nước chảy theo triền thấp, tràn đầy hang núi, khe núi, thung lũng. Khi các hang núi, khe núi, thung lũng được tràn đầy, thì ao nhỏ được tràn đầy; ao nhỏ được tràn đầy thì ao lớn được tràn đầy; ao lớn tràn đầy thì sông nhỏ được tràn đầy; sông nhỏ được tràn đầy thì sông lớn được tràn đầy; sông lớn được tràn đầy thì biển lớn, đại dương được tràn đầy.

“Cũng vậy, này các tỳ-khưu, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sinh; sinh duyên khổ; khổ duyên tín; tín duyên hân hoan; hân hoan duyên hỷ; hỷ duyên khinh an; khinh an duyên lạc; lạc duyên định; định duyên tri kiến như chân; tri kiến như chân duyên yếm ly; yếm ly duyên ly tham; ly tham duyên giải thoát; giải thoát duyên trí về đoạn diệt. 

– (Kinh Cận duyên – Upanisa Sutta, SN 12.23)

*-----*






Sunday, 13 November 2022

 Sách:

Tuyển tập TÔI HỌC PHẬT 
Bác sĩ ĐỖ HỒNG NGỌC
(Phiên bản 2, 2021, 780 trang)

Link để tải bản PDF (13.4 MB):
https://tinyurl.com/3wtm4zbs 

Mục lục

* NGHĨ TỪ TRÁI TIM (về Tâm Kinh)
* GƯƠM BÁU TRAO TAY (về Kim Cang)
* NGÀN CÁNH SEN XANH BIẾC (về Pháp Hoa)
* CÕI PHẬT ĐÂU XA! (về Duy-ma-cật)
* THẤP THOÁNG LỜI KINH (về các kinh khác)
* THOẢNG HƯƠNG SEN (trích)
* THIỀN TẬP
* TẠP GHI: LÕM BÕM …

*----*



Kinh PHÁP BẢO ĐÀN (六祖壇經), Ngữ lục của Ngài Huệ Năng (惠能).

Sách:
Kinh PHÁP BẢO ĐÀN (六祖壇經), Ngữ lục của Ngài Huệ Năng (惠能). 
Pháp Hải ghi. Đoàn Trung Còn dịch, Nguyễn Minh Tiến bổ sung (2019).

Cuộc đời và các lời dạy của Lục tổ Huệ Năng (惠能), do ngài Pháp Hải, đệ tử của ngài Huệ Năng, ghi chép. Đặc biệt mỗi phẩm của tập sách này bao gồm 2 phần: a) Hán văn kèm theo phiên âm Hán Việt, b) Bản dịch Việt. Rất tiện lợi cho việc tra cứu đối chiếu Hán-Việt. Ngoài ra, dịch giả còn có thêm nhiều ghi chú chi tiết.

Tải bản PDF tại link:
1) https://tinyurl.com/5a79tcxy 
2) https://mega.nz/file/39xkgQbJ#Sf8kDdI4xG7bfq1dVjzsHcw0S18ScLFk6OHLlvNpNeI 

*-----*




Thursday, 10 November 2022

Tiểu bộ (Khuddaka Nikāya)

 LIỆT KÊ TIỂU BỘ (KHUDDAKA NIKĀYA)

1. Khuddakapāṭha - Tiểu Tụng 
2. Dhammapada - Pháp Cú 
3. Udāna - Phật Tự Thuyết 
4. Itivuttaka - Phật Thuyết Như Vậy 
5. Suttanipāta - Kinh Tập 
6. Vimānavatthu - Chuyện Thiên Cung 
7. Petavatthu - Chuyện Ngạ Quỷ 
8. Theragathā - Trưởng Lão Kệ 
9. Therīgāthā - Trưởng Lão Ni Kệ 
10. Jātaka - Bổn Sanh 
11. Niddesa - Diễn Giải 
12. Patisambhidamagga - Phân Tích Đạo
13. Apadana - Thánh Nhân Ký Sự
14. Buddhavamsa - Phật Sử 
15. Cariyapitaka - Hạnh Tạng 

16. Nettipakaraṇa - Cẩm Nang Học Phật 
17. Peṭakopadesa - Tam Tạng Chỉ Nam 
18. Milindapañha - Milinda Vấn Đạo 

Ghi chú: Ngài Luận sư Buddhaghosa chỉ liệt kê 15 tập đầu, Hội PTS (Pali Text Society, Anh quốc), Kinh tạng Thái Lan và Campuchia cũng chỉ bao gồm 15 tập đầu, còn 3 tập kia được xem là ngoại tạng. Kinh tạng Sri Lanka bao gồm 17 tập đầu, tập Milindapañha được xem là ngoại tạng. Kinh tạng Myanmar thì bao gồm đủ 18 tập. Từ “tập” ở đây là để chỉ tựa đề liệt kê trong Tiểu Bộ, không phải số tập in trên giấy.

Bản dịch Việt của Sư Indacanda Chánh Thân, dịch trực tiếp từ bản gốc Pali, gồm đủ 18 tập. Links để tải về các bản PDF:

1) https://www.tamtangpaliviet.net/TTPV/TTPV_BanDich.htm 
2) https://www.tamtangpaliviet.net/VHoc/VHoc_CBDM.htm 
3) https://tinyurl.com/mr2f9a66 

Ghi thêm (10/11/2022): Các tập sau đây của Đại Tạng Kinh Việt Nam, do Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam lần lượt xuất bản trong thời gian qua, chủ yếu là dịch dựa theo các bản Anh dịch của Hội PTS (Pali Text Society, Anh quốc). Các bản Anh dịch này kết hợp các câu kệ trong Chánh tạng với các câu chuyện giải thích trong Chú giải..

6. Vimānavatthu - Chuyện Thiên Cung - Gs Trần Phương Lan dịch. 
7. Petavatthu - Chuyện Ngạ Quỷ - Gs Trần Phương Lan dịch.
8. Theragathā - Trưởng Lão Tăng Kệ - HT Thích Minh Châu dịch.
9. Therīgāthā - Trưởng Lão Ni Kệ - HT Thích Minh Châu dịch.
10. Jātaka - Chuyện Tiền Thân Đức Phật (Bổn Sanh).

10.1 Chuyện số 1 đến số 120 - HT Thích Minh Châu dịch.
10.2 Chuyện số 121 đến số 263 - HT Thích Minh Châu & Gs Trần Phương Lan dịch.
10.3 Chuyện số 264 đến số 371 - Gs Trần Tuấn Mẫn dịch.
10.4 Chuyện số 372 đến số 547 - Gs Trần Phương Lan dịch.

*----------*



Chánh tạng Nam truyền - Tiểu bộ (Khuddakanikāya)

 Chánh tạng Nam truyền - Tiểu bộ (Khuddakanikāya)
Dịch giả: Tỳ-khưu Indacanda (Sư Chánh Thân)

Toàn bộ Tiểu bộ (Khuddakanikāya), tạng thứ 5 của Kinh tạng Nam truyền, đã được Sư Chánh Thân dịch trực tiếp từ bản gốc Pali với nhiều ghi chú, và được trình bày trong dạng song ngữ Pali-Việt. 

Tôi rất hoan hỷ, chân thành tán thán và tri ân công đức của Sư đã miệt mài dịch Luật và Kinh Pali sang tiếng Việt trong 20 năm qua. Sadhu sadhu sadhu!  🙏 💐

Trân trọng giới thiệu đến chư tôn đức Tăng Ni và quý anh chị bạn đạo Phật tử.

Links để tải về các bản PDF:

1) https://www.tamtangpaliviet.net/TTPV/TTPV_BanDich.htm 
2) https://www.tamtangpaliviet.net/VHoc/VHoc_CBDM.htm 
3) https://tinyurl.com/mr2f9a66 

*-----*



Friday, 4 November 2022

Kinh: TAM TẠNG THƯỢNG TỌA BỘ, VIỆN NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC VN (2020)

Tải về máy dạng ebook PDF (các tập tin có dung lượng lớn, đề nghị dùng máy tính hay laptop để tải): 

- Tập 01: Kinh Trường bộ [vn222-01.pdf], 668 trang, 70.2 MB

https://tinyurl.com/bdhztbu7

- Tập 02: Kinh Trung bộ [vn222-02.pdf], 1246 trang, 117.5 MB

https://tinyurl.com/5pb9yan8

- Tập 03: Kinh Tương ưng bộ [vn222-03.pdf], 1432 trang, 127.4 MB

https://tinyurl.com/ycyvnmne

- Tập 04: Kinh Tăng chi bộ [vn222-04.pdf], 1424 trang, 171.2 MB

https://tinyurl.com/ycyn3tej

- Tập 05: Kinh Tiểu bộ I [vn222-05.pdf], 1348 trang, 94.6 MB

https://tinyurl.com/56jm45em

- Tập 06: Kinh Tiểu bộ II [vn222-06.pdf], 1264 trang, 111.6 MB

https://tinyurl.com/y2xdry9c

- Tập 07: Kinh Tiểu bộ III [vn222-07.pdf], 1484 trang, 118.7 MB

https://tinyurl.com/bddxsk7f

- Tập 08: Kinh Tiểu bộ IV [vn222-08.pdf], 1218 trang, 125.3 MB

https://tinyurl.com/yc5cc6mn

- Tập 09: Kinh Tiểu bộ V [vn222-09.pdf], 1268 trang, 115.0 MB

https://tinyurl.com/29b3racx

- Tập 10: Luật tạng - Phân tích giới bổn [vn222-10.pdf], 914 trang, 84.6 MB

https://tinyurl.com/3fpk4h4u

- Tập 11: Luật tạng - Hợp phần, Tập yếu [vn222-11.pdf], 1502 trang, 140.4 MB

https://tinyurl.com/76f7fv4m

 

*

Liệt kê chi tiết:


01. TRƯỜNG BỘ (68.1 MB)  

                                                                    

Phần Mở Đầu

01. Kinh Phạm võng (Brahmajāla Sutta)

02. Kinh Sa môn quả (Sāmaññaphala Sutta)

03. Kinh Ambaṭṭha (A ma trú) (Ambaṭṭha Sutta)

04. Kinh Chủng Ðức (Soṇaḍaṇḍa Sutta)

05. Kinh Cứu la đàn đầu (Kūṭadanta Sutta)

06. Kinh Mahāli (Mahāli Sutta)

07. Kinh Jāliya (Jāliya Sutta)

08. Kinh Ca diếp Sư tử Hống (Kassapasīhanāda Sutta)

09. Kinh Poṭṭhapāda (Poṭṭhapāda Sutta)

10. Kinh Subha (Tu bà) (Subha Sutta)

11. Kinh Kevaddha (Kiên Cố) (Kevaddha Sutta)

12. Kinh Lohicca (Lộ già) (Lohicca Sutta)

13. Kinh Tam Minh (Tevijja Sutta)

14. Kinh Ðại Bổn (Mahāpadāna Sutta)

15. Kinh Ðại Duyên (Mahānidāna Sutta)

16. Kinh Ðại Bát Niết Bàn (Mahāparinibbāna Sutta)

17. Kinh Ðại Thiện Kiến Vương (Mahāsudassana Sutta)

18. Kinh Xà ni sa (Janavasabha Sutta)

19. Kinh Ðại Ðiển Tôn (Mahāgovinda Sutta)

20. Kinh Ðại Hội (Mahāsamaya Sutta)

21. Kinh Đế Thích Sở Vấn (Sakkapañha Sutta)

22. Kinh Ðại Niệm Xứ (Mahāsatipaṭṭhāna Sutta)

23. Kinh Tệ túc (Pāyāsi Sutta)

24. Kinh Ba lê (Pāthika Sutta)

25. Kinh Ưu đàm bà la Sư tử Hống (Udumbarikā Sῑhanāda Sutta)

26. Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Sư Tử Hống (Cakkavatti Sῑhanāda Sutta)

27. Kinh Khởi Thế Nhân Bổn (Aggañña Sutta)

28. Kinh Tự Hoan Hỷ (Sampasādanīya Sutta)

29. Kinh Thanh Tịnh (Pāsādika Sutta)

30. Kinh Tướng (Lakkhaṇa Sutta)

31. Kinh Giáo Thọ Thi ca la việt (Siṅgālavāda Sutta)

32. Kinh A sá nang chi (Āṭānāṭiya Sutta)

33. Kinh Phúng Tụng (Saṅgīti Sutta)

34. Kinh Thập Thượng (Dasuttara Sutta)

    Phụ Lục                                                             

----------

 

02. TRUNG BỘ (117.5 MB)   

                                                                    

Phần Mở Đầu

001. Kinh Pháp Môn Căn Bản (Mūlapariyāya Sutta)

002. Kinh Tất Cả Các Lậu Hoặc (Sabbāsava Sutta)

003. Kinh Thừa Tự Pháp (Dhammadāyāda Sutta)

004. Kinh Sợ Hãi và Khiếp Đảm (Bhayabherava Sutta)

005. Kinh Không Uế Nhiễm (Anaṅgaṇa Sutta)

006. Kinh Ước Nguyện (Ākaṅkheyya Sutta)

007. Kinh Ví Dụ Tấm Vải (Vatthūpama Sutta)

008. Kinh Ðoạn Giảm (Sallekha Sutta)

009. Kinh Chánh Tri Kiến (Sammādiṭṭhi Sutta)

010. Kinh Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna Sutta)

011. Tiểu Kinh Sư Tử Hống (Cūḷasīhanāda Sutta)

012. Ðại Kinh Sư Tử Hống (Mahāsīhanāda Sutta)

013. Ðại Kinh Khổ Uẩn (Mahādukkhakkhandha Sutta)

014. Tiểu Kinh Khổ Uẩn (Cūḷadukkhakkhandha Sutta)

015. Kinh Tư Lượng (Anumāna Sutta)

016. Kinh Tâm Hoang Vu (Cetokhila Sutta)

017. Kinh Khu Rừng (Vanapattha Sutta)

018. Kinh Mật Hoàn (Madhupiṇḍika Sutta)

019. Kinh Song Tầm (Dvedhāvitakka Sutta)

020. Kinh An Trú Tầm (Vitakkasaṇṭhāna Sutta)

021. Kinh Ví Dụ Cái Cưa (Kakacūpama Sutta)

022. Kinh Ví Dụ Con Rắn (Alagaddūpama Sutta)

023. Kinh Gò Mối (Vammika Sutta)

024. Kinh Trạm Xe (Rathavinīta Sutta)

025. Kinh Bẫy Mồi (Nivāpa Sutta)

026. Kinh Thánh Cầu (Ariyapariyesanā Sutta)

027. Tiểu Kinh Dụ Dấu Chân Voi (Cūḷahatthipadopama Sutta)

028. Ðại Kinh Dụ Dấu Chân Voi (Mahāhatthipadopama Sutta)

029. Ðại Kinh Thí Dụ Lõi Cây (Mahāsāropama Sutta)

030. Tiểu Kinh Thí Dụ Lõi Cây (Cūḷasāropama Sutta)

031. Tiểu Kinh Rừng Sừng Bò (Cūḷagosiṅga Sutta)

032. Ðại Kinh Rừng Sừng Bò (Mahāgosiṅga Sutta)

033. Ðại Kinh Người Chăn Bò (Mahāgopālaka Sutta)

034. Tiểu Kinh Người Chăn Bò (Cūḷagopālaka Sutta)

035. Tiểu Kinh Saccaka (Cūḷasaccaka Sutta)

036. Ðại Kinh Saccaka (Mahāsaccaka Sutta)

037. Tiểu Kinh Ðoạn Tận Ái (Cūḷataṇhāsaṅkhaya Sutta)

038. Ðại Kinh Ðoạn Tận Ái (Mahātaṇhāsaṅkhaya Sutta)

039. Ðại Kinh Xóm Ngựa (Mahāassapura Sutta)

040. Tiểu Kinh Xóm Ngựa (Cūḷaassapura Sutta)

041. Kinh Sāleyyaka (Sāleyyaka Sutta)

042. Kinh Verañjaka (Verañjaka Sutta)

043. Ðại Kinh Phương Quảng (Mahāvedalla Sutta)

044. Tiểu Kinh Phương Quảng (Cūḷavedalla Sutta)

045. Tiểu Kinh Pháp Hành (Cūḷadhammasamādāna Sutta)

046. Ðại Kinh Pháp Hành (Mahādhammasamādāna Sutta)

047. Kinh Tư Sát (Vīmaṃsaka Sutta)

048. Kinh Kosambiya (Kosambiya Sutta)

049. Kinh Phạm Thiên Cầu Thỉnh (Brahmanimantanika Sutta)

050. Kinh Hàng Ma (Māratajjanīya Sutta)

051. Kinh Kandaraka (Kandaraka Sutta)

052. Kinh Bát Thành (Aṭṭhakanāgara Sutta)

053. Kinh Hữu Học (Sekha Sutta)

054. Kinh Potaliya (Potaliya Sutta)

055. Kinh Jīvaka (Jīvaka Sutta)

056. Kinh Ưu-ba-ly (Upāli Sutta)

057. Kinh Hạnh Con Chó (Kukkuravatika Sutta)

058. Kinh Vương Tử Vô Úy (Abhayarājakumāra Sutta)

059. Kinh Nhiều Cảm Thọ (Bahuvedanīya Sutta)

060. Kinh Không Gì Chuyển Hướng (Apaṇṇaka Sutta)

061. Kinh Giáo Giới La-hầu-la ở Rừng Am-bà-la (Ambalaṭṭhikārāhulovāda Sutta)

062. Ðại Kinh Giáo Giới La-hầu-la (Mahārāhulovāda Sutta)

063. Tiểu Kinh Māluṅkyā (Cūḷamāluṅkya Sutta)

064. Ðại Kinh Māluṅkyā (Mahāmāluṅkya Sutta)

065. Kinh Bhaddāli (Bhaddāli Sutta)

066. Kinh Ví Dụ Con Chim Cáy (Laṭukikopama Sutta)

067. Kinh Cātumā (Cātumā Sutta)

068. Kinh Naḷakapāna (Naḷakapāna Sutta)

069. Kinh Goliyāni (Guliyāni Sutta)

070. Kinh Kīṭāgiri (Kīṭāgiri Sutta)

071. Kinh Tam Minh Vacchagotta (Tevijjavacchagotta Sutta)

072. Kinh Aggivacchagotta (Aggivacchagotta Sutta)

073. Ðại Kinh Vaccaghotta (Mahāvacchagotta Sutta)

074. Kinh Trường Trảo (Dīghanakha Sutta)

075. Kinh Māgaṇḍiya Māgaṇḍiya Sutta)

076. Kinh Sandaka (Sandaka Sutta)

077. Ðại Kinh Sakuludāyi (Mahāsakuludāyi Sutta)

078. Kinh Samaṇamaṇḍika (Samaṇamaṇḍika Sutta)

079. Tiểu Kinh Sakuludāyi (Cūḷasakuludāyi Sutta)

080. Kinh Vekhanassa (Vekhanassa Sutta)

081. Kinh Ghaṭikāra (Ghaṭikāra Sutta)

082. Kinh Raṭṭhapāla (Raṭṭhapāla Sutta)

083. Kinh Makhādeva (Makhādeva Sutta)

084. Kinh Madhurā (Madhurā Sutta)

085. Kinh Vương Tử Bồ Đề (Bodhirājakumāra Sutta)

086. Kinh Aṅgulimāla (Aṅgulimāla Sutta)

087. Kinh Ái Sanh (Piyajātika Sutta)

088. Kinh Bāhitika (Bāhitika Sutta)

089. Kinh Pháp Trang Nghiêm (Dhammacetiya Sutta)

090. Kinh Kaṇṇakatthala (Kaṇṇakatthala Sutta)

091. Kinh Brahmāyu (Brahmāyu Sutta)

092. Kinh Sela (Sela Sutta)

093. Kinh Assalāyana (Assalāyana Sutta)

094. Kinh Ghoṭamukha (Ghoṭamukha Sutta)

095. Kinh Caṅkī (Caṅkī Sutta)

096. Kinh Esukārī (Esukārī Sutta)

097. Kinh Dhānañjāni (Dhānañjāni Sutta)

098. Kinh Vāseṭṭha (Vāseṭṭha Sutta)

099. Kinh Subha (Subha Sutta)

100. Kinh Saṅgārava (Saṅgārava Sutta)

101. Kinh Devadaha (Devadaha Sutta)

102. Kinh Năm và Ba (Pañcattaya Sutta)

103. Kinh Như Thế Nào (Kinti Sutta)

104. Kinh Làng Sāma (Sāmagāma Sutta)

105. Kinh Thiện Tinh (Sunakkhatta Sutta)

106. Kinh Bất Động Lợi Ích (Āneñjasappāya Sutta)

107. Kinh Gaṇaka Moggallāna (Gaṇakamoggallāna Sutta)

108. Kinh Gopaka Moggallāna (Gopakamoggallāna Sutta)

109. Ðại Kinh Mãn Nguyệt (Mahāpuṇṇama Sutta)

110. Tiểu Kinh Mãn Nguyệt (Cūḷapuṇṇama Sutta)

111. Kinh Bất Đoạn (Anupada Sutta)

112. Kinh Sáu Thanh Tịnh (Chabbisodhana Sutta)

113. Kinh Chân Nhân (Sappurisa Sutta)

114. Kinh Nên Hành Trì, Không Nên Hành Trì (Sevitabba-asevitabba Sutta)

115. Kinh Ða Giới (Bahudhātuka Sutta)

116. Kinh Thôn Tiên (Isigili Sutta)

117. Ðại Kinh Bốn Mươi (Mahācattārīsaka Sutta)

118. Kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm [Quán Niệm Hơi Thở] (Ānāpānasati Sutta)

119. Kinh Thân Hành Niệm (Kāyagatāsati Sutta)

120. Kinh Hành Sanh (Saṅkhārupapatti Sutta)

121. Kinh Tiểu Không (Cūḷasuññata Sutta)

122. Kinh Ðại Không (Mahāsuññata Sutta)

123. Kinh Hy Hữu, Vị Tằng Hữu Pháp (Acchariya-AbbhutaDhamma Sutta)

124. Kinh Bạc-câu-la (Bakkula Sutta)

125. Kinh Ðiều Ngự Địa (Dantabhūmi Sutta)

126. Kinh Phù-di (Bhūmija Sutta)

127. Kinh A-na-luật (Anuruddha Sutta)

128. Kinh Tùy Phiền Não (Upakkilesa Sutta)

129. Kinh Hiền Ngu (Bālapaṇḍita Sutta)

130. Kinh Thiên Sứ (Devadūta Sutta)

131. Kinh Nhất Dạ Hiền Giả (Bhaddekaratta Sutta)

132. Kinh A-nan Nhất Dạ Hiền Giả (Ānandabhaddekaratta Sutta)

133. Kinh Ðại Ca-chiên-diên Nhất Dạ Hiền Giả (Mahākaccānabhaddekaratta Sutta)

134. Kinh Lomasakaṅgiya Nhất Dạ Hiền Giả (Lomasakaṅgiyabhaddekaratta Sutta)

135. Tiểu Kinh Nghiệp Phân Biệt (Cūḷakammavibhaṅga Sutta)

136. Ðại Kinh Nghiệp Phân Biệt (Mahākammavibhaṅga Sutta)

137. Kinh Phân Biệt Sáu Xứ (Saḷāyatanavibhaṅga Sutta)

138. Kinh Tổng Thuyết và Biệt Thuyết (Uddesavibhaṅga Sutta)

139. Kinh Vô Tránh Phân Biệt (Araṇavibhaṅga Sutta)

140. Kinh Giới Phân Biệt (Dhātuvibhaṅga Sutta)

141. Kinh Phân Biệt về Sự Thật (Saccavibhaṅga Sutta)

142. Kinh Phân Biệt Cúng Dường (Dakkhiṇāvibhaṅga Sutta)

143. Kinh Giáo Giới Cấp Cô Ðộc (Anāthapiṇḍikovāda Sutta)

144. Kinh Giáo Giới Channa (Channovāda Sutta)

145. Kinh Giáo Giới Phú-lâu-na (Puṇṇovāda Sutta)

146. Kinh Giáo Giới Nandaka (Nandakovāda Sutta)

147. Tiểu Kinh Giáo Giới La-hầu-la (Cūḷarāhulovāda Sutta)

148. Kinh Sáu Sáu (Chachakka Sutta)

149. Ðại Kinh Sáu Xứ (Mahāsaḷāyatanika Sutta)

150. Kinh Nói cho Dân Chúng Nagaravinda (Nagaravindeyya Sutta)

151. Kinh Khất Thực Thanh Tịnh (Piṇḍapātapārisuddhi Sutta)

152. Kinh Căn Tu Tập (Indriyabhāvanā Sutta)

Phụ Lục

----------

 

03. TƯƠNG ƯNG BỘ (127.4 MB) 
                                              

Phần Mở Đầu

01. Tương Ưng Chư Thiên (Devatā Saṃyutta)

02. Tương Ưng Thiên Tử (Devaputta Saṃyutta)

03. Tương Ưng Kosala (Kosala Saṃyutta)

04. Tương Ưng Ác Ma (Māra Saṃyutta)

05. Tương Ưng Tỷ-Kheo-Ni (Bhikkhunī Saṃyutta)

06. Tương Ưng Phạm Thiên (Brahma Saṃyutta)

07. Tương Ưng Bà-La-Môn (Brāhmaṇa Saṃyutta)

08. Tương Ưng Trưởng Lão Vaṅgīsa (Vaṅgīsa Saṃyutta)

09. Tương Ưng Rừng (Vana Saṃyutta)

10. Tương Ưng Dạ-Xoa (Yakkha Saṃyutta)

11. Tương Ưng Sakka (Sakka Saṃyutta)

12. Tương Ưng Nhân Duyên (Nidāna Saṃyutta)

13. Tương Ưng Minh Kiến (Abhisamaya Saṃyutta)

14. Tương Ưng Giới (Dhātu Saṃyutta)

15. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga Saṃyutta)

16. Tương Ưng Kassapa (Kassapa Saṃyutta)

17. Tương Ưng Lợi Ðắc, Cung Kính (Lābhasakkāra Saṃyutta)

18. Tương Ưng Rāhula (Rāhula Saṃyutta)

19. Tương Ưng Lakkhaṇa (Lakkhaṇa Saṃyutta)

20. Tương Ưng Thí Dụ (Opamma Saṃyutta)

21. Tương Ưng Tỷ-Kheo (Bhikkhu Saṃyutta)

22. Tương Ưng Uẩn (Khandha Saṃyutta)

23. Tương Ưng Rādha (Rādha Saṃyutta)

24. Tương Ưng Kiến (Diṭṭhi Saṃyutta)

25. Tương Ưng Nhập (Okkanta Saṃyutta)

26. Tương Ưng Sanh (Uppāda Saṃyutta)

27. Tương Ưng Phiền Não (Kilesa Saṃyutta)

28. Tương Ưng Sāriputta (Sāriputta Saṃyutta)

29. Tương Ưng Loài Rồng (Nāga Saṃyutta)

30. Tương Ưng Kim Sí Ðiểu (Supaṇṇa Saṃyutta)

31. Tương Ưng Càn-Thát-Bà (Gandhabbakāya Saṃyutta)

32. Tương Ưng Thần Mây (Valāhaka Saṃyutta)

33. Tương Ưng Vacchagota (Vacchagotta Saṃyutta)

34. Tương Ưng Thiền (Jhāna Saṃyutta)

35. Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatana Saṃyutta)

36. Tương Ưng Thọ (Vedanā Saṃyutta)

37. Tương Ưng Nữ Nhân (Mātugāma Saṃyutta)

38. Tương Ưng Jambukhādaka (Jambukhādaka Saṃyutta)

39. Tương Ưng Sāmaṇḍaka (Sāmaṇḍaka Saṃyutta)

40. Tương Ưng Moggalāna (Moggallāna Saṃyutta)

41. Tương Ưng Citta (Citta Saṃyutta)

42. Tương Ưng Thôn Trưởng (Gāmaṇi Sạṃyutta)

43. Tương Ưng Vô Vi (Asaṅkhata Saṃyutta)

44. Tương Ưng Không Thuyết (Abyākata Saṃyutta)

45. Tương Ưng Ðạo (Magga Saṃyutta)

46. Tương Ưng Giác Chi (Bojjhaṅga Saṃyutta)

47. Tương Ưng Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna Saṃyutta)

48. Tương Ưng Căn (Indriya Saṃyutta)

49. Tương Ưng Chánh Cần (Sammappadhāna Saṃyutta)

50. Tương Ưng Lực (Bala Saṃyutta)

51. Tương Ưng Như Ý Túc (Iddhipāda Saṃyutta)

52. Tương Ưng Anuruddha (Anuruddha Saṃyutta)

53. Tương Ưng Thiền (Jhāna Saṃyutta)

54. Tương Ưng Hơi Thở Vô, Hơi Thở Ra (Ānāpāna Saṃyutta)

55. Tương Ưng Dự Lưu (Sotāpatti Saṃyutta)

56. Tương Ưng Sự Thật (Sacca Saṃyutta)

Phụ Lục 

----------

 

04. TĂNG CHI BỘ (171.2 MB) 

Phần Mở Đầu

001. Một Pháp - I. Phẩm Sắc (Rūpādivagga)

002. Một Pháp - II. Phẩm Đoạn Trừ Triền Cái (Nīvaraṇappahānavagga)

003. Một Pháp - III. Phẩm Khó Sử Dụng (Akammaniyavagga)

004. Một Pháp - IV. Phẩm Không Điều Phục (Adantavagga)

005. Một Pháp - V. Phẩm Đặt Hướng và Trong Sáng (Paṇihitaacchavagga)

006. Một Pháp - VI. Phẩm Búng Ngón Tay (Accharāsaṅghātavagga)

007. Một Pháp - VII. Phẩm Phát Khởi Tinh Tấn (Vīriyārambhādivagga)

008. Một Pháp - VIII. Phẩm Làm Bạn với Thiện Hữu (Kalyāṇamittādivagga)

009. Một Pháp - IX. Phẩm Phóng Dật (Pamādādivagga)

010. Một Pháp - X. Phẩm Phóng Dật Thứ Hai (Dutiyapamādādivagga)

011. Một Pháp - Xl. Phẩm Phi Pháp (Adhammavagga)

012. Một Pháp - XII. Phẩm Không Phạm (Anāpattivagga)

013. Một Pháp - XIII. Phẩm Một Người (Ekapuggalavagga)

014. Một Pháp - XIV. Phẩm Người Tối Thắng (Etadaggavagga)

015. Một Pháp - XV. Phẩm Không Thể Có Được (Aṭṭhāna)

016. Một Pháp - XVI. Phẩm Một Pháp (Ekadhamma)

017. Một Pháp - XVII. Phẩm Pháp Tác Tịnh (Pasādakaradhammavagga)

018. Một Pháp - XVIII. Phẩm Búng Ngón Tay Khác (Aparaaccharāsaṅghātavagga)

019. Một Pháp - XIX. Phẩm Thân Hành Niệm (Kāyagatāsativagga)

020. Một Pháp - XX. Phẩm Bất Tử (Amatavagga)

021. Hai Pháp - I. Phẩm Hình Phạt (Kammakaraṇavagga)

022. Hai Pháp - II. Phẩm Tranh Luận (Adhikaraṇavagga)

023. Hai Pháp - III. Phẩm Người Ngu (Bālavagga)

024. Hai Pháp - IV. Phẩm Tâm Thăng Bằng (Samacittavagga)

025. Hai Pháp - V. Phẩm Hội Chúng (Parisavagga)

026. Hai Pháp - VI. Phẩm Người (Puggalavagga)

027. Hai Pháp - VII. Phẩm Lạc (Sukhavagga)

028. Hai Pháp - VIII. Phẩm Tướng (Sanimittavagga)

029. Hai Pháp - IX. Phẩm Các Pháp (Dhammavagga)

030. Hai Pháp - X. Phẩm Kẻ Ngu (Bālavagga)

031. Hai Pháp - XI. Phẩm Hy Vọng Khó Từ Bỏ (Āsāduppajahavagga)

032. Hai Pháp - XII. Phẩm Hy Cầu (Āyācanavagga)

033. Hai Pháp - XIII. Phẩm Bố Thí (Dānavagga)

034. Hai Pháp - XIV. Phẩm Đón Chào (Santhāravagga)

035. Hai Pháp - XV. Phẩm Nhập Định (Samāpattivagga)

036. Hai Pháp - XVI. Phẩm Phẫn Nộ Lược Thuyết (Kodhapeyyāla)

037. Hai Pháp - XVII. Phẩm Bất Thiện Lược Thuyết (Akusalapeyyāla)

038. Hai Pháp - XVIII. Phẩm Giới Luật Lược Thuyết (Vinayapeyyāla)

039. Hai Pháp - XIX. Phẩm Tham Lược Thuyết (Rāgapeyyāla)

040. Ba Pháp - I. Phẩm Người Ngu (Bālavagga)

041. Ba Pháp - II. Phẩm Người Đóng Xe (Rathakāravagga)

042. Ba Pháp - III. Phẩm Người (Puggalavagga)

043. Ba Pháp - IV. Phẩm Thiên Sứ (Pevadūtavagga)

044. Ba Pháp - V. Phẩm Nhỏ (Cūḷavagga)

045. Ba Pháp - VI. Phẩm Các Bà-La-Môn (Brāhmaṇavagga)

046. Ba Pháp - VII. Phẩm Lớn (Mahāvagga)

047. Ba Pháp - VIII. Phẩm Ānanda (Ānandavagga)

048. Ba Pháp - IX. Phẩm Sa-Môn (Samaṇavagga)

049. Ba Pháp - X. Phẩm Hạt Muối (Loṇakapallavagga)

050. Ba Pháp - XI. Phẩm Chánh Giác (Sambodhavagga)

051. Ba Pháp - XII. Phẩm Rơi Vào Đọa Xứ (Āpāyikavagga)

052. Ba Pháp - XIII. Phẩm Kusināra (Kusināravagga)

053. Ba Pháp - XIV. Phẩm Người Chiến Sĩ (Yodhājīvavagga)

054. Ba Pháp - XV. Phẩm Cát Tường (Maṅgalavagga)

055. Ba Pháp - XVI. Phẩm Lõa Thể (Acelakavagga)

056. Ba Pháp - XVII. Phẩm Hành Nghiệp Lược Thuyết (Kammapathapeyyāla)

057. Ba Pháp - XVIII. Phẩm Tham Lược Thuyết (Rāgapeyyāla)

058. Bốn Pháp - I. Phẩm Bhaṇḍagāma (Bhaṇḍagāmavagga)

059. Bốn Pháp - II. Phẩm Hành (Caravagga)

060. Bốn Pháp - III. Phẩm Uruvelā (Uruvelavagga)

061. Bốn Pháp - IV. Phẩm Bánh Xe (Cakkavagga)

062. Bốn Pháp - V. Phẩm Rohitassa (Rohitassavagga)

063. Bốn Pháp - VI. Phẩm Nguồn Sanh Phước (Puññābhisandavagga)

064. Bốn Pháp - VII. Phẩm Nghiệp Công Đức (Pattakammavagga)

065. Bốn Pháp - VIII. Phẩm Không Hý Luận (Apaṇṇakavagga)

066. Bốn Pháp - IX. Phẩm Không Có Rung Động (Macalavagga)

067. Bốn Pháp - X. Phẩm A-Tu-La (Asuravagga)

068. Bốn Pháp - XI. Phẩm Mây Mưa (Valāhakavagga)

069. Bốn Pháp - XII. Phẩm Kesi (Kesivagga)

070. Bốn Pháp - XIII. Phẩm Sợ Hãi (Bhayavagga)

071. Bốn Pháp - XIV. Phẩm Loài Người (Puggalavagga)

072. Bốn Pháp - XV. Phẩm Hào Quang (Ābhāvagga)

073. Bốn Pháp - XVI. Phẩm Các Căn (Indriyavagga)

074. Bốn Pháp - XVII. Phẩm Đạo Hành (Paṭipadāvagga)

075. Bốn Pháp - XVIII. Phẩm Tư Tâm Sở (Sañcetaniyavagga)

076. Bốn Pháp - XIX. Phẩm Bà-La-Môn (Brāhmaṇavagga)

077. Bốn Pháp - XX. Phẩm Lớn (Mahāvagga)

078. Bốn Pháp - XXI. Phẩm Bậc Chân Nhân (Sappurisavagga)

079. Bốn Pháp - XXII. Phẩm Hội Chúng (Parisāvagga)

080. Bốn Pháp - XXIII. Phẩm Ác Hạnh (Puccaritavagga)

081. Bốn Pháp - XXIV. Phẩm Nghiệp (Kammavagga)

082. Bốn Pháp - XXV. Phẩm Sợ Hãi Phạm Tội (Āpattibhavavagga)

083. Bốn Pháp - XXVI. Phẩm Thắng Trí (Abhiññavagga)

084. Bốn Pháp - XXVII. Phẩm Nghiệp Đạo (Kammapathavagga)

085. Bốn Pháp - XXVIII. Phẩm Tham Lược Thuyết (Rāgapeyyāla)

086. Năm Pháp - I. Phẩm Sức Mạnh Hữu Học (Sekhabalavagga)

087. Năm Pháp - II. Phẩm Sức Mạnh (Balavagga)

088. Năm Pháp - III. Phẩm Năm Phần (Pañcaṅgikavagga)

089. Năm Pháp - IV. Phẩm Sumanā (Sumanāvagga)

090. Năm Pháp - V. Phẩm Vua Muṇḍa (Muṇḍarājavagga)

091. Năm Pháp - VI. Phẩm Triền Cái (Nīvaraṇavagga)

092. Năm Pháp - VII. Phẩm Tưởng (Saññāvagga)

093. Năm Pháp - VIII. Phẩm Người Chiến Sĩ (Yodhājīvavagga)

094. Năm Pháp - IX. Phẩm Trưởng Lão (Theravagga)

095. Năm Pháp - X. Phẩm Kakudha (Kakudhavagga)

096. Năm Pháp - XI. Phẩm An Ổn Trú (Phāsuvihāravagga)

097. Năm Pháp - XII. Phẩm Andhakavinda (Andhakavindavagga)

098. Năm Pháp - XIII. Phẩm Bệnh (Gilānavagga)

099. Năm Pháp - XIV. Phẩm Vua (Rājavagga)

100. Năm Pháp - XV. Phẩm Tikaṇḍakī (Tikaṇḍakīvagga)

101. Năm Pháp - XVI. Phẩm Diệu Pháp (Saddhammavagga)

102. Năm Pháp - XVII. Phẩm Hiềm Hận (Āghātavagga) - ok

103. Năm Pháp - XVIII. Phẩm Nam Cư Sĩ (Upāsakavagga)

104. Năm Pháp - XIX. Phẩm Sống ở Rừng (Āraññavagga)

105. Năm Pháp - XX. Phẩm Bà-La-Môn (Brāhmaṇavagga)

106. Năm Pháp - XXI. Phẩm Kimbila (Kimilavagga)

107. Năm Pháp - XXII. Phẩm Mắng Nhiếc (Akkosakavagga)

108. Năm Pháp - XXIII. Phẩm Du Hành Dài (Dīghacārikavagga)

109. Năm Pháp - XXIV. Phẩm Trú Tại Chỗ (Āvāsikavagga)

110. Năm Pháp - XXV. Phẩm Ác Hành (Duccaritavagga)

111. Năm Pháp - XXVI. Phẩm Cụ Túc Giới (Upasampadāvagga)

112. Năm Pháp - XXVII. Phẩm Lựa Chọn Lược Thuyết (Sammutipeyyāla)

113. Năm Pháp - XXVIII. Phẩm Học Giới Lược Thuyết (Sikkhāpadapeyyāla)

114. Năm Pháp - XXIX. Phẩm Tham Lược Thuyết (Rāgapeyyāla)

115. Sáu Pháp - I. Phẩm Đáng Được Cung Kính Cúng Dường (Āhuneyyavagga)

116. Sáu Pháp - II. Phẩm Cần Phải Nhớ (Sāraṇīyavagga)

117. Sáu Pháp - III. Phẩm Trên Tất Cả (Anuttariyavagga)

118. Sáu Pháp - IV. Phẩm Chư Thiên (Devatāvagga)

119. Sáu Pháp - V. Phẩm Dhammika (Dhammikavagga)

120. Sáu Pháp - VI. Phẩm Lớn (Mahāvagga)

121. Sáu Pháp - VII. Phẩm Chư Thiên (Devatāvagga)

122. Sáu Pháp - VIII. Phẩm A-La-Hán (Arahattavagga)

123. Sáu Pháp - IX. Phẩm Mát Lạnh (Sītivagga)

124. Sáu Pháp - X. Phẩm Lợi Ích (Ānisaṃsavagga)

125. Sáu Pháp - XI. Phẩm Ba Pháp (Tikavagga)

126. Sáu Pháp - XII. Phẩm Sa-Môn (Sāmaññavagga)

127. Sáu Pháp - XIII. Phẩm Tham Lược Thuyết (Rāgapeyyāla)

128. Bảy Pháp - I. Phẩm Tài Sản (Dhanavagga)

129. Bảy Pháp - II. Phẩm Tùy Miên (Anusayavagga)

130. Bảy Pháp - III. Phẩm Vajjī (Vajjisattakavagga)

131. Bảy Pháp - IV. Phẩm Chư Thiên (Devatāvagga)

132. Bảy Pháp - V. Phẩm Đại Tế Đàn (Mahāyaññavagga)

133. Bảy Pháp - VI. Phẩm Không Tuyên Bố (Abyākatavagga)

134. Bảy Pháp - VII. Phẩm Lớn (Mahāvagga)

135. Bảy Pháp - VIII. Phẩm về Luật (Vinayavagga)

136. Bảy Pháp - IX. Phẩm Sa-Môn (Sāmaṇavagga)

137. Bảy Pháp - X. Phẩm Đáng Được Cung Kính Cúng Dường (Āhuneyyavagga)

138. Bảy Pháp - XI. Phẩm Tham Lược Thuyết (Rāgapeyyāla)

139. Tám Pháp - I. Phẩm Từ Tâm (Mettāvagga)

140. Tám Pháp - II. Phẩm Lớn (Mahāvagga)

141. Tám Pháp - III. Phẩm Gia Chủ (Gahapativagga)

142. Tám Pháp - IV. Phẩm Bố Thí (Pānavagga)

143. Tám Pháp - V. Phẩm Ngày Trai Giới Uposathavagga)

144. Tám Pháp - VI. Phẩm Gotamī (Gotamīvagga)

145. Tám Pháp - VII. Phẩm Đất Rúng Động (Bhūmicālavagga)

146. Tám Pháp - VIII. Phẩm Song Đôi (Yamakavagga)

147. Tám Pháp - IX. Phẩm Niệm (Sativagga)

148. Tám Pháp - X. Phẩm Tương Tự (Sāmaññavagga)

149. Tám Pháp - XI. Phẩm Tham Lược Thuyết (Rāgapeyyāla)

150. Chín Pháp - I. Phẩm Chánh Giác (Sambodhivagga)

151. Chín Pháp - II. Phẩm Tiếng Rống Sư Tử (Sīhanādavagga)

152. Chín Pháp - III. Phẩm Chỗ Cư Trú của Hữu Tình (Sattāvāsavagga)

153. Chín Pháp - IV. Phẩm Lớn (Mahāvagga)

154. Chín Pháp - V. Phẩm Tương Tự (Sāmaññavagga)

155. Chín Pháp - VI. Phẩm An Ổn (Khemavagga)

156. Chín Pháp - VII. Phẩm Niệm Xứ (Satipaṭṭhānavagga)

157. Chín Pháp - VIII. Phẩm Chánh Cần (Sammappadhānavagga)

158. Chín Pháp - IX. Phẩm Bốn Như Ý Túc (Iddhipādavagga)

159. Chín Pháp - X. Phẩm Tham Lược Thuyết (Rāgapeyyāla)

160. Mười Pháp - I. Phẩm Lợi Ích (Ānisaṃsavagga)

161. Mười Pháp - II. Phẩm Hộ Trì (Nāthavagga)

162. Mười Pháp - III. Phẩm Lớn (Mahāvagga)

163. Mười Pháp - IV. Phẩm Upāli (Upālivagga)

164. Mười Pháp - V. Phẩm Mắng Nhiếc (Akkosavagga)

165. Mười Pháp - VI. Phẩm Tâm của Mình (Sacittavagga)

166. Mười Pháp - VII. Phẩm Song Đôi (Yamakavagga)

167. Mười Pháp - VIII. Phẩm Ước Nguyện (Ākaṅkhavagga)

168. Mười Pháp - IX. Phẩm Trưởng Lão (Theravagga)

169. Mười Pháp - X. Phẩm Upāli (Upālivagga)

170. Mười Pháp - XI. Phẩm Sa-Môn Tưởng (Samaṇasaññāvagga)

171. Mười Pháp - XII. Phẩm Đi Xuống (Paccorohaṇivagga)

172. Mười Pháp - XIII. Phẩm Thanh Tịnh (Parisuddhavagga)

173. Mười Pháp - XIV. Phẩm Tốt Lành (Sādhuvagga)

174. Mười Pháp - XV. Phẩm Thánh Đạo (Ariyavagga)

175. Mười Pháp - XVI. Phẩm Người (Puggalavagga)

176. Mười Pháp - XVII. Phẩm Jāṇussoṇi (Jāṇussoṇivagga)

177. Mười Pháp - XVIII. Phẩm Tốt Lành (Sādhuvagga)

178. Mười Pháp - XIX. Phẩm Thánh Đạo (Ariyamaggavagga)

179. Mười Pháp - XX. Phẩm Các Hạng Người (Aparapuggalavagga)

180. Mười Pháp - XXI. Phẩm Thân Do Nghiệp Sanh (Karajakāyavagga)

181. Mười Pháp - XXII. Phẩm Tương Tự (Sāmaññavagga)

182. Mười Pháp - XXIII. Phẩm Tham Lược Thuyết (Rāgapeyyāla)

183. Mười Một Pháp - I. Phẩm Y Chỉ (Nissayavagga)

184. Mười Một Pháp - II. Phẩm Tùy Niệm (Anussativagga)

185. Mười Một Pháp - III. Phẩm Tương Tự (Sāmaññavagga)

186. Mười Một Pháp - IV. Phẩm Tham Lược Thuyết (Rāgapeyyāla)

Phụ Lục

----------

 

05. TIỂU BỘ KINH I (94.6 MB)

Phần Mở Đầu

01. Tiểu Tụng (Khuddakapāṭha)

02. Pháp Cú (Dhammapada)

03. Kinh Phật Tự Thuyết (Udāna)

04. Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka)

05. Kinh Tập (Suttanipāta)

06. Chuyện Thiên Cung (Vimānavatthu)

07. Chuyện Ngạ Quỷ (Petavatthu)

08. Trưởng Lão Tăng Kệ (Theragāthā)

09. Trưởng Lão Ni Kệ (Therīgāthā)

Phụ Lục

----------

 

06. TIỂU BỘ KINH II (111.6 MB)

Phần Mở Đầu

10.1 Chuyện Tiền Thân (Jātaka) Một Kệ (Ekanipāta) - (1-150)

10.2 Chuyện Tiền Thân (Jātaka) Hai Kệ (Dukanipāta) - (151-250)

10.3 Chuyện Tiền Thân (Jātaka) Ba Kệ (Tikanipāta) - (251-300)

10.4 Chuyện Tiền Thân (Jātaka) Bốn Kệ (Catukkanipāta) - (301-350)

10.5 Chuyện Tiền Thân (Jātaka) Năm Kệ (Pañcanipāta) - (351-375)

10.6 Chuyện Tiền Thân (Jātaka) Sáu Kệ (Chanipāta) - (375-395)

10.7 Chuyện Tiền Thân (Jātaka) - Chương Vii -Bảy Kệ (Sattanipāta) (396-416)

10.8 Chuyện Tiền Thân (Jātaka) Tám Kệ (Aṭṭhanipāta) - (417-426)

10.9 Chuyện Tiền Thân (Jātaka) Chín Kệ (Navanipāta) - (427-438)

Phụ Lục

----------

 

07. TIỂU BỘ KINH III (118.7 MB)

Phần Mở Đầu

10.10 Chuyện Tiền Thân (Jātaka) Mười Kệ (Dasanipāta) - (439-454)

10.11 Chuyện Tiền Thân (Jātaka) Mười Một Kệ (Ekādasanipāta) - (455-463)

10.12 Chuyện Tiền Thân (Jātaka) Mười Hai Kệ (Dvādasanipāta) - (464-473)

10.13 Chuyện Tiền Thân (Jātaka) Mười Ba Kệ (Terasanipāta) - (474-483)

10.14 Chuyện Tiền Thân (Jātaka) Tạp Kệ (Pakiṇṇakanipāta) - (484-496)

10.15 Chuyện Tiền Thân (Jātaka) Hai Mươi Kệ (Vīsatinipāta) - (497-510)

10.16 Chuyện Tiền Thân (Jātaka) Ba Mươi Kệ (Tiṁsanipāta) - (511-520)

10.17 Chuyện Tiền Thân (Jātaka) Bốn Mươi Kệ (Cattālīsanipāta) - (521-525)

10.18 Chuyện Tiền Thân (Jātaka) Năm Mươi Kệ (Paṇṇāsanipāta) - (526-528)

10.19 Chuyện Tiền Thân (Jātaka) Sáu Mươi Kệ (Chaṭṭhinipāta) - (529-530)

10.20 Chuyện Tiền Thân (Jātaka) Bảy Mươi Kệ (Sattatinipāta) - (531-532)

10.21 Chuyện Tiền Thân (Jātaka) Tám Mươi Kệ (Asītinipāta) - (533-537)

10.22 Chuyện Tiền Thân (Jātaka) Đại Phẩm (Mahānipāta) - (538-547)

Phụ Lục

----------

 

08. TIỂU BỘ KINH IV (125.3 MB)

Phần Mở Đầu

11.A Đại Diễn Giải (Mahāniddesapāḷi)

11.B Tiểu Diễn Giải (Cullaniddesapāḷi)

12. Phân Tích Đạo (Paṭisambhidāmagga)

Phụ Lục

----------

 

09. TIỂU BỘ KINH V (115.0 MB)

Phần Mở Đầu

13. Thánh Nhân Ký Sự (Apadāna)

14. Phật Sử (Buddhavaṃsa)

15. Hạnh Tạng (Cariyāpiṭaka)

16. Milinda Vấn Đạo (Milindapañha)

Phụ Lục

----------

 

10. LUẬT TẠNG - PHÂN TÍCH GIỚI BỔN (84.6 MB)

Phần Mở Đầu

1. Tạng Luật (Vinayapiṭaka) - Phân Tích Giới Tỳ-Khưu (Bhikkhuvibhaṅgo)

2. Tạng Luật (Vinayapiṭaka) - Phân Tích Giới Tỳ-Khưu-Ni (Bhikkhunīvibhaṅgo)

Phụ Lục

---------

 

11. LUẬT TẠNG - HỢP PHẦN, TẬP YẾU (140.4 MB)

Phần Mở Đầu

3. Tạng Luật (Vinayapiṭaka) - Đại Phẩm (Mahāvagga) 

4. Tạng Luật (Vinayapiṭaka) - Tiểu Phẩm (Cullavagga)

5. Tạng Luật (Vinayapiṭaka) - Tập Yếu (Parivāra)

Phụ Lục

 

*----------*