Showing posts with label Buddhist Practice. Show all posts
Showing posts with label Buddhist Practice. Show all posts

Monday, 22 December 2025

Căn bản hành thiền - Tiến trình đọc sách

CĂN BẢN HÀNH THIỀN
Tiến trình đọc sách

Đây là tập sách đầu tiên của tôi được Tỳ-khưu Thiện Minh – đã viên tịch - tận tình hỗ trợ, giúp xuất bản tại Việt Nam hơn 20 năm trước. Trong những lần tái bản kế tiếp, tôi cảm thấy có vài bài dịch khác cần được thêm vào cho đầy đủ. Vì thế, tập sách tái bản năm 2018 gồm có 4 bài của Thiền sư Ajahn Brahm, bà Sarah Lim, Thiền sư Silananda và Tỳ-khưu Dhammika, theo thứ tự đó.

Sau khi sách xuất bản, tôi nhận được một số phản hồi và bình luận của bạn đọc, và cảm thấy để có nhiều lợi lạc, đề nghị độc giả nên đọc tập sách theo thứ tự sau đây:

1. Vấn đáp về hành thiền - Tỳ-khưu Dhammika
2. Bước đầu hành thiền - Sarah Lim
3. Căn bản pháp hành thiền - Thiền sư Ajahn Brahmavamso
4. Lợi ích của đi kinh hành - Thiền sư Silananda

Bài đầu của Sư Dhammika giúp có một cái nhìn tổng quát về hành thiền trong Phật giáo. Bài tiếp theo của bà Sarah Lim, chia sẻ những kinh nghiệm quý báu về hành thiền trong đời sống hằng ngày của một người cư sĩ tại gia, có gia đình và công ăn việc làm. Bài viết có những ý tưởng cụ thể và thực tế để áp dụng thực hành.

Sau đó, hai bài của Thiền Sư Ajahn Brahm và Silananda là dành cho những ai đã từng tham gia các khóa thiền và có nhiều kinh nghiệm về hành thiền.

Đọc online hay tải bản PDF về máy tại link:
https://tinyurl.com/2dj4x66w

*-----*




Tuesday, 2 December 2025

Ưu tư về hỏa táng, cách rải tro cốt và thờ cúng.

 Ưu tư về hỏa táng, cách rải tro cốt và thờ cúng
Giác Ngộ Online (25/09/2016)

HỎI: Cha tôi nay đã già nhưng còn rất minh mẫn. Tôi đã bàn bạc với cha cùng toàn thể gia đình thống nhất là, sau khi cha mất, đưa đi hỏa táng xong, tro cốt còn lại mang đi rải ở sông hoặc biển. Xin hỏi làm như vậy được không? Nếu được thì khi đi rải cốt có cần mời thầy với lễ nghi nào nữa hay con cháu tự làm là được. Còn nữa, khi đi rải cốt, phải bốc từng nắm thả xuống sông, biển hay thả luôn cả hũ? Rải cốt xong, về nhà thờ hình ảnh và cúng cơm như phong tục xưa nay hay phải gửi hình lên chùa và cúng cơm ở chùa?

ĐÁP: Bạn thân mến!

Nhân loại hiện nay có nhiều cách mai táng người chết như địa táng (chôn), hỏa táng (thiêu), thủy táng (thả sông biển), lâm táng (bỏ xác vào rừng), không táng (treo lên cây)… Theo Phật giáo, mai táng người chết theo cách nào cũng đều được. Bởi lẽ, sau khi chết thần thức sẽ theo nghiệp tái sinh, đây mới là phần quan trọng, còn xác thân tứ đại thì tùy duyên an táng theo phong tục. Gia đình bạn chọn cách hỏa táng, sau đó đem tro cốt rải sông hoặc biển (hoặc rừng cây) là giải pháp rất văn minh, tiết kiệm, phù hợp với xu thế chung của xã hội hiện nay.

Khi đi rải tro cốt, con cháu nên tự làm mà không cần mời thầy cũng như thực hiện bất cứ lễ nghi nào. Chọn một khúc sông hay bờ biển (khu rừng) nào sạch sẽ, kính cẩn bốc từng nắm tro cốt của người thân thả xuống. Trong khi rải tro cốt con cháu cần yên lặng, thành kính, nguyện cầu cho người thân được sinh về cõi lành. Khởi tâm quán tưởng thân tứ đại này vốn là cát bụi, nay trở về với cát bụi; ngày mai thân của mình cũng trở về với cát bụi. Rải cốt xong, “về nhà thờ hình ảnh và cúng cơm như phong tục xưa nay” hoặc “gửi hình lên chùa và cúng cơm ở chùa”, cách nào cũng được.

Quan trọng là, gia đình cần chăm làm các điều phước thiện trong khả năng có thể để hồi hướng phước đức cho người thân. Có thể cúng dường, bố thí, tụng kinh, niệm Phật, giữ giới v.v… rồi đem phước đức ấy hồi hướng cho người đã mất. Dù người thân tái sinh bất cứ nơi đâu, những phước đức mà bạn đã làm đem hồi hướng họ đều nhận được, sẽ trở nên tốt hơn trong cảnh giới hiện đang tái sinh.

Chúc bạn tinh tấn!

TỔ TƯ VẤN 
Nguồn: Giác Ngộ Online, 25/09/2016 

*



Monday, 24 November 2025

Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ - Di chúc Tang lễ

 Hòa thượng THÍCH TUỆ SỸ - Di chúc Tang lễ 

Kèm theo dưới đây là hình chụp bản Di chúc Tang lễ của Hòa thượng Tuệ Sỹ (1945-2023). Tóm tắt trong hai điểm chính:

- Tang lễ bình thường, không điếu văn, miễn phúng điếu, không tràng hoa, liễn đối.
- Sau khi hỏa táng, tro cốt đem rải ra biển.

Đây là một tấm gương sáng để chúng ta cùng suy ngẫm về cái chết và tang lễ của mình.

*



Thursday, 9 October 2025

Ý nghĩa Kinh Hộ trì (Paritta)

Ý nghĩa Kinh Hộ trì (Paritta) trong Kinh tụng Phật giáo Nam tông 
Tỳ-khưu Định Phúc Samādhipuñño 
Tạp chí Văn hóa Phật giáo (16/04/2021)

*

Phật giáo Nam tông Theravāda tuy không chú trọng về lễ nghi, cúng bái hoặc sám tụng nhưng trong các nghi lễ Phật giáo thì dĩ nhiên không thể thiếu phần nghi thức lễ bái. Nhất là đối với đời sống xuất gia, công phu hai buổi sáng – chiều chính là thời gian để các vị tu sĩ đọc tụng lại những bài kinh, những lời dạy của Đức Thế Tôn được lưu giữ trong Tam tạng Tipitaka. Kinh tụng của Phật giáo Nam tông đa phần được trích lại từ Tam tạng Tipitaka với mục đích trùng tụng lại Phật ngôn và còn giúp cho người tụng đọc phản tỉnh tự thân, được thêm phước báu hộ trì. Vì nhiều cơ duyên khác nhau, Thế Tôn đã thuyết những bài kinh này đến chư Tỳ kheo đệ tử và về sau, các vị trùng tụng lại những bài kinh này. Chính vì vậy, các vị trưởng lão đời sau chọn ra những bài kinh tiêu biểu như kinh Châu báu (Ratanasutta), kinh Lòng từ (Mettasutta), kinh Điềm lành (Mangalasutta)… để chư Tăng và các cư sĩ tụng đọc hằng ngày. Ở các nước theo Phật giáo Nam tông Theravāda như: Thái Lan, Campuchia, Myanmar,… những bài kinh hộ trì (paritta) được chư Tăng tụng đọc bằng tiếng Pāli và tiếng bản xứ trong những buổi công phu, nghi thức cầu phúc lành…

Phật giáo Nam tông Theravāda du nhập vào Việt Nam từ năm 1938 do chư vị Hòa thượng Hộ Tông, Hòa thượng Thiện Luật… là những vị sơ Tổ có công đầu trong việc truyền bá và hoằng pháp buổi sơ khai. Trong những ngày đầu, Hòa thượng Hộ Tông đã biên soạn quyển Kinh Nhật Hành [1] dành cho các vị cư sĩ và Kinh Tụng [2] dành cho chư Tăng. Đây chính là hai quyển kinh tụng đầu tiên của Phật giáo Nam tông Kinh tại Việt Nam. Về sau, Hòa thượng Tăng Định đã kế thừa, biên soạn, hiệu đính và xuất bản Kinh Nhật Tụng Cư Sĩ [3] dựa vào tác phẩm của Hòa thượng Hộ Tông. Cho đến ngày nay, kinh tụng Phật giáo Nam tông đều y cứ vào hai tác phẩm này để sinh hoạt trong các nghi lễ Phật giáo.

NGUỒN GỐC VÀ NHÂN DUYÊN NHỮNG BÀI KINH PARITTA

Paritta được hiểu là che chở, hộ trì, nên kinh Paritta được biết đến là những bài kinh hộ trì cho những người tụng đọc. Theo ngài Sayadaw U Sīlanandābhivamsa (Hiệu trưởng Đại học Quốc tế Hoằng pháp Phật giáo Theravāda – Myanmar), những ai tụng đọc hoặc lắng nghe kinh Hộ trì (Paritta) thì sẽ tránh xa những điều nguy hại, không bị đói khát… [4] Truyền thống tụng đọc kinh không phải mới bắt đầu sau này, mà từ thời Đức Thế Tôn đã được các vị tôn giả, chư vị trưởng lão hành trì. Xưa kia, Trưởng lão Sonakotikanna đã tụng lại những bài kinh trong phẩm Tám (Atthakavagga) thuộc bộ Kinh Tập (Suttanipāta) cho Đức Thế Tôn nghe [5], hoặc Đức Thế Tôn đã bảo vị thị giả là Trưởng lão Mahācunda đọc lại kinh Bojjhanga cho Ngài nghe, trong khi Ngài đang thọ bệnh [6]… Và từ những nhân duyên của các bài kinh được Đức Thế Tôn thuyết giảng, chư vị trưởng lão về sau đã phân loại và sắp xếp một số bài kinh tiêu biểu thành những bài kinh hộ trì (paritta) để chư Tăng và các cư sĩ trì tụng như là phương cách để hộ trì cho chính mình và người lắng nghe.

Chúng ta có thể tìm thấy trong Milinda vấn đạo (Milindapañha) và những bản Chú giải (Atthakathā) của ngài Luận sư Buddhaghosa có nhắc đến những bài kinh hộ trì gồm kinh Châu báu (Ratanasutta), kinh Các uẩn (Khandhasutta), kinh Khổng tước (Morasutta), kinh Đầu ngọn cờ (Dhajaggasutta), kinh Ātānātiya (Ātānātiyasutta), kinh Angulimāla (Angulimālasutta) [7]. Về sau, chư vị trưởng lão đã bổ sung thêm những bài kinh khác như là kinh Điềm lành (Mangalasutta), kinh Lòng từ (Mettasutta), kinh Chim cút (Vattasutta), kinh Giác chi (Bojjhangasutta), kinh Ban mai (Pubbanhasutta) [8]. Như vậy có tất cả mười một bài kinh Paritta được phổ biến trong các nghi lễ tụng đọc theo truyền thống Theravāda. Bài viết sẽ giới thiệu về nguồn gốc và ý nghĩa của những kinh Paritta này.

Kinh tụng Phật giáo không phải là những bài kệ chú để tụng suông mà là cả quá trình nhận thức và tu tập, vì lẽ đó, tụng đọc hay lắng nghe kinh Paritta là tự phản tỉnh chính mình, nỗ lực tu tập và thực hành những lời dạy trong bài kinh đó. Kinh tụng Phật giáo Theravāda không nặng tính cầu xin hay nương nhờ các vị thánh thần mà là những lời chân thật, những lời tán dương Tam bảo và rải tâm từ đến tất cả chúng sanh. Ở mỗi bài kinh, đều có những hoàn cảnh ra đời và nhân duyên đặc biệt khiến cho bài kinh có ý nghĩa sâu sắc và tạo nên oai lực riêng.

1. Kinh Điềm lành (Mangalasutta) [9]

Được Thế Tôn thuyết tại Tự viện Jetavana gần thành Sāvatthī đến vị Thiên tử, là sứ giả của Thiên chủ Sakka. Trước thời gian này mười hai năm, trong dân gian có sự tranh luận rộng rãi về vấn đề: Cái gì là điềm lành của nhân loại? Việc tranh cãi xôn xao từ cõi người cho đến cõi Phạm thiên, và không ai có thể đưa ra lời giải thích thỏa đáng. Và rồi, Thiên chủ Sakka sai một vị Thiên tử xuống đảnh lễ Thế Tôn và bạch hỏi Ngài về vấn đề này. Do nhân duyên đó, Thế Tôn đã thuyết giảng về ba mươi tám điều thiết thực được gọi là điềm lành ở thế gian này [10]. Ba mươi tám điềm lành này chính là những nguyên tắc thực hành trong đời sống như là không gần kẻ ngu (asevanā ca bālānam), thân cận người hiền trí (panditānam ca sevanā), cúng dường bậc đáng cúng dường (pūjā ca pūjanīyānam)… Những điềm lành này được Thế Tôn thuyết giảng cho nhân loại trong xã hội để phát triển tâm từ sơ cơ đến khi nào chứng đắc Thánh quả cao quý, tâm không còn sầu não (asoka), vô nhiễm (viraja) và an tịnh (khema), chính là điềm lành tối thượng nhất.

2. Kinh Châu báu (Ratanasutta) [11]

Được thuyết tại thành Vesāli trong chuyến du hành của Ngài theo lời thỉnh cầu của các Licchavī để giải trừ tai ương đang giáng xuống kinh thành này. Theo Chú giải, lúc bấy giờ thành Vesāli bị thất mùa, nạn đói phát sanh khiến dân chúng chết đói, bệnh dịch tràn lan và phi nhân quấy phá. Do lời thỉnh mời của các Licchavī, khi Thế Tôn ngự đến Vesāli, một cơn mưa lớn đổ xuống, nước dâng cao và cuốn trôi đi các tử thi, khiến cho toàn kinh thành không còn ô uế nữa. Sau đó, Đức Thế Tôn đã thuyết kinh Châu báu cho Đại đức Ānanda nghe và bảo Đại đức đi quanh ba vòng thành Vesāli, đọc tụng là bài kinh này. Đại đức Ānanda lấy bình bát bằng đá của Thế Tôn, đổ nước và suy niệm những công hạnh của Đức Thế Tôn từ khi Ngài bắt đầu thực hành mười pháp Ba-la-mật bờ kia (pāramī), mười pháp Ba-la-mật bờ trên (upapāramī), mười pháp Ba-la-mật bờ cao thượng (paramatthapāramī) [12], năm pháp đại thí [13], ba pháp hành [14], Bồ-tát giáng sanh vào lòng mẹ trong kiếp chót, Bồ-tát đản sanh, Bồ-tát xuất gia, Bồ-tát tu khổ hạnh, Bồ-tát cảm thắng Ma vương, chứng quả Chánh Biến Tri, chín pháp Thánh [15]. Suy tưởng như thế, Đại đức Ānanda đi vòng quanh ba vòng thành Vesāli và đọc tụng lại kinh Châu báu. Vừa đi vừa rải nước, những giọt nước vừa chạm vào các loài phi nhân, chúng đều biến mất; những người bệnh đều được thoát khỏi bệnh tật. Rồi, các vương tử dòng Licchavī cùng vô số chư thiên đã vân tập xung quanh Thế Tôn, Ngài đã thuyết lại kinh Châu báu một lần nữa. Bảy ngày tiếp theo, Thế Tôn cũng thuyết lại bài kinh này. Sau khi nhận thấy những tai ương tại thành Vesāli đã được giải trừ, Thế Tôn đã rời kinh thành Vesāli [16]. Kinh Châu báu gồm có mười bảy bài kệ: hai kệ đầu là lời thỉnh chư Thiên thọ hưởng vật thực cúng dường và hộ trì chúng sanh thoát khỏi mọi tai ương; mười hai kệ tiếp theo là lời tán thán ân đức Tam bảo; ba kệ cuối là lời của Thiên chủ Sakka thay mặt chư Thiên tán dương Tam bảo [17].

3. Kinh Lòng từ (Mettasutta hoặc Karanīyamettasutta) [18]

Đức Thế Tôn thuyết tại Sāvatthī, đến năm trăm vị Tỳ kheo. Khi ấy, có năm trăm vị Tỳ kheo nhận được đề mục thiền quán và đi vào một khu rừng nọ để tu tập. Chư thiên ngự ở trong rừng ấy không dám ở trên cao hơn các vị Tỳ kheo nên xuống dưới đất cư ngụ hết. Chư thiên nghĩ: các vị Tỳ kheo chắc chỉ ở qua đêm rồi sẽ đi nơi khác. Nhưng rồi, ngày này qua ngày nọ, chư Tỳ kheo vẫn ngụ tại đấy hành thiền khiến chư thiên cảm thấy không được an vui. Do đó, chư thiên hiện ra những hình ảnh ma quái để hù nhát các vị Tỳ kheo, khiến cho các vị mất ăn mất ngủ, tinh thần sa sút và không thể an trú trong đề mục của mình. Chư Tỳ kheo quay về đảnh lễ Đức Thế Tôn và trình bày sự kiện trên. Rồi Thế Tôn giảng kinh Lòng từ đến chư Tỳ kheo ấy và bảo chư vị Tỳ kheo hãy niệm tụng thường xuyên, từ lúc đến khu rừng đến lúc về tự viện sẽ được an lạc. Chư Tỳ kheo vâng lời, đi đến bìa rừng, đồng loạt tụng lại bài kinh và đi vào chỗ cư ngụ. Chư thiên tại khu rừng đều có cảm tình thân thiện với chư Tỳ kheo ấy nên họ đến nhận y bát, dâng nước rửa tay chân, bố trí canh gác bảo vệ khắp nơi. Do đó, năm trăm vị Tỳ kheo tiến tu trên đề mục của mình và chẳng bao lâu chứng đắc được Thánh quả A-la-hán cao thượng [19].

Nội dung kinh Lòng từ gồm mười bài kệ, và nhắc lại những đức tính cao quý của người sống với lòng từ (metta) như là: tinh cần, trực tánh, nhu hòa, không cao mạn, không tham ái, không nhỏ nhen vụn vặt, mong mọi chúng sanh an lạc, mong không ai lừa dối ai, mong không có ai giận hờn nhau, làm khổ cho nhau, mong làm như mẹ trọn đời lo che chở… Đức Thế Tôn đã giảng dạy cho chúng ta những lời khuyên rõ ràng để thanh tịnh hóa thân tâm, chỉ cho ta cách xếp đặt cuộc đời mình trong ngoài vẹn toàn. Nội dung bài kinh là những điều chúng ta cần làm để mang đến bình an cho chính bản thân mình. Và khi có được lòng từ, sự an lạc nơi tự thân thì mọi người xung quanh sẽ được hưởng phúc lợi từ lòng từ của chúng ta.

4. Kinh Uẩn (Khandhasutta) [20]

Đức Thế Tôn thuyết tại Tự viện Jetavana do nhân duyên có một vị Tỳ kheo bị rắn cắn. Do đó, Đức Thế Tôn cho phép chư Tỳ kheo hướng tâm từ đến bốn dòng tộc rắn chúa là Virūpakkha, Erāpatha, Chabyāputta và Kanhāgotamaka để hộ trì và bảo vệ bản thân. Nội dung kinh ngoài việc hướng tâm từ đến bốn dòng rắn chúa thì còn hướng tâm từ đến các loài chúng sanh từ không chân, hai chân, bốn chân và nhiều chân.

5. Kinh Khổng tước (Morasutta)

Trích từ chuyện tiền thân Con công vàng (Morajātaka) [21]. Thuở xưa, khi Bồ-tát sanh làm con công sắc vàng sống trên đồi vàng ở Dandaka. Con công thường đọc bài kệ tán thán mặt trời và chư Phật để hộ trì mình. Khi ấy, Hoàng hậu Khemā của vua trị vì Bārānasī nằm mộng thấy con công vàng thuyết pháp, nên muốn có được con công vàng ấy. Nhà vua ra lệnh cho người đi săn và bắt con công vàng nhưng không được. Hoàng hậu héo mòn và qua đời. Nhà vua cho khắc bảng vàng: ai ăn thịt công vàng sẽ bất tử. Sáu vị vua kế nghiệp về sau cũng ra lệnh săn con công vàng nhưng cũng đều thất bại. Vị vua thứ bảy thuê một người thợ săn biết được chỗ công vàng đang sống. Người thợ săn nghĩ: con công vàng này chắc phải có bùa chú chi đó nên đi qua bẫy mà bẫy không sập. Ông bắt một con công mái làm mồi nhử. Sáng ngày nọ, nghe tiếng con công mái kêu, con công vàng khởi lên dục vọng, không đọc bài kệ tán dương thường ngày, và cuối cùng bị sập bẫy. Công vàng bị bắt và đem trình đến đức vua. Con công ấy đã nói: ăn thịt công vàng không thể bất tử vì chính công vàng cũng không thể trường sanh; còn sắc vàng của công là do công đức giữ giới đã tạo trong tiền kiếp làm một Chuyển luân vương. Đức vua nghe vậy, khởi tâm tịnh tín và hoan hỷ đưa công vàng trở về Dandaka. Con công vàng chính là tiền thân của Đức Thế Tôn.

6. Kinh Chim cút (Vattasutta)

Trích từ bài kệ trong chuyện tiền thân Con chim cút (Vattakajātaka) [22]. Thuở xưa, khi Bồ-tát sanh làm con chim cút con. Một hôm, khu rừng nơi bị cháy, chim cút con không thể tự thoát thân nên đã phát nguyện lời chân thật và niệm tưởng các công đức đã được chư Phật quá khứ chứng đắc. Do đó, ngọn lửa lụi dần và tắt hẳn.

7. Kinh Đầu ngọn cờ (Dhajaggasutta) [23]

Đức Thế Tôn thuyết tại Jetavana. Nội dung bài kinh được Thế Tôn nhắc lại trận chiến giữa Thiên chủ Sakka và chúng Asūra. Thiên chủ Sakka đã bảo các thân hữu rằng: khi lâm chiến, nếu sợ hãi, hoảng hốt, hãy nhìn nơi đầu ngọn cờ của Thiên chủ thì sợ hãi, hoảng hốt sẽ tiêu tan. Hay là hãy nhìn nơi đầu ngọn cờ của các Thiên vương Pajāpati hay Varuna hay Īsāna cũng được. Sau đó, Thế Tôn dạy các Tỳ kheo rằng: khi các Tỳ kheo đi vào rừng, đi đến gốc cây hay đi đến nhà trống, nếu run sợ, hoảng hốt, hãy niệm nhớ đến ân đức Tam bảo thì sợ hãi hoảng hốt không bao giờ khởi lên.

8. Kinh A-sá-năng-chi (Ātānātiyasutta) [24]

Thuyết tại núi Gijjhakūta. Khi ấy, sau khi sắp đặt trấn giữ bốn phương, bốn vị Thiên vương đã đến đảnh lễ Thế Tôn. Thiên vương Vessavana bạch Thế Tôn cho rằng có nhiều dạ-xoa không tin tưởng lời Phật dạy phải giữ ngũ giới, và thỉnh Thế Tôn cho phép chư Tỳ kheo, Tỳ kheo ni và hàng cư sĩ tại gia học thuộc bài Hộ kinh Ātānātiya để tạo tín tâm cho các dạ-xoa chưa có tín tâm mong họ trở thành những người hộ trì, không làm hại các đệ tử Phật và che chở cho những ai hành trì Phật Pháp. Đức Thế Tôn cho phép: “Này các Tỳ kheo, hãy học Ātānātiya hộ kinh này, hãy thuộc lòng Ātānātiya hộ kinh này. Này các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ được che chở, được hộ trì, được ngăn khỏi ai làm hại, được sống thoải mái hạnh phúc” [25]. Phần đầu bài hộ kinh Ātānātiya tán thán và kính lễ bảy vị Phật quá khứ và hiện tại, bắt đầu bằng Đức Phật Vipassī, Đức Phật Sikhī, Đức Phật Vessabhū, Đức Phật Kakusandha, Đức Phật Konāgamana, Đức Phật Kassapa, Đức Phật Angirasa (tên tộc của Đức Phật Gotama). Phần kế đề cập đến các Thiên tử với bốn vị Đại Thiên vương đứng hàng đầu; phần sau cùng mô tả các vị Thiên tử khác bằng những vần kệ ngôn.

9. Kinh Angulimāla (Angulimālasutta) [26]

Trích từ lời chân ngôn của Tôn giả Angulimāla trong kinh Angulimāla. Một buổi sáng nọ, Tôn giả Angulimāla đi vào Sāvatthi để khất thực. Trong khi đi khất thực, Tôn giả nhìn thấy một thai phụ đang đau đớn quằn quại vì không sanh con ra được khởi tâm thương xót. Tôn giả trình bạch với Đức Thế Tôn và được Ngài dạy rằng: hãy đi đến người thai phụ đó và nói như sau: “Thưa bà chị, vì rằng tôi từ khi được Thánh sanh đến nay chưa bao giờ cố ý giết hại mạng sống của chúng sanh, mong rằng với sự thật ấy, bà được an toàn, và sanh đẻ được an toàn”. Do lời chân ngôn của Tôn giả, người thai phụ ấy được sanh nở an toàn. Vì nhân duyên này, lời nói của Tôn giả Angulimāla cũng được xem là một bài kinh Paritta hộ trì cho người đọc tụng và người lắng nghe.

10. Kinh Giác chi (Bojjhangasutta) [27]

Gồm ba bài kinh thuyết cho người bệnh nghe, trường hợp này là Tôn giả Mahākassapa, Tôn giả Mahāmoggallāna và Đức Thế Tôn. Sau khi hai vị trưởng lão nghe đọc bảy pháp giác chi thì các Ngài liền sanh tâm hoan hỷ, căn bệnh cũng được dứt trừ, không còn tái phát nữa.

11. Kinh Ban mai (Pubbanhasutta) [28]

Đức Thế Tôn dạy chúng sanh nào vào buổi sáng, buổi trưa hay buổi chiều, sống với tâm niệm lành, làm lành, nói lành thì được an lạc, tốt đẹp.

Đây là mười một bài hộ kinh Paritta thường được chư Tăng và cư sĩ tụng đọc thường xuyên tại các nước theo truyền thống Theravāda. Tuy chỉ là những đoạn kinh ngắn, những bài kinh trích ra từ những bộ kinh nhưng những bài kinh hộ trì này có oai lực hộ trì nếu như người tụng đọc hoặc lắng nghe một cách đúng đắn.

Ý NGHĨA VÀ LỢI ÍCH CỦA VIỆC TỤNG ĐỌC VÀ LẮNG NGHE KINH PARITTA

Kinh tụng không chỉ là đọc tụng suôn mà còn có giá trị thực tế là phải thực hành thì mới đem đến lợi ích thiết thực. Phật giáo không chủ trương việc cầu nguyện hay van xin tha lực nào đó ban phước hay cứu rỗi mà “tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một điều gì khác” [29]. Ngoài những bài kinh như kinh Châu báu, kinh Khổng tước, kinh Chim cút, kinh A-sá-năng-chi, kinh Angulimāla, kinh Ban mai chỉ để trì tụng thì những kinh còn lại như kinh Điềm lành, kinh Lòng từ, kinh Uẩn, kinh Đầu ngọn cờ đều có giá trị trì tụng và còn thực hành.

Ở các nước Thái Lan, Campuchia, Myanmar việc trì tụng những bài Kinh hộ trì đều có ý nghĩa với người trì tụng và người lắng nghe. Từ duyên sự của bài kinh mà chư vị trưởng lão đã phân loại ý nghĩa và lợi ích của việc tụng đọc những bài kinh như sau [30]:

1. Kinh Điềm lành: cầu mong sự an lạc, hạnh phúc.

2. Kinh Châu báu: tránh khỏi sự bệnh tật, đói khát và phi nhân quấy phá.

3. Kinh Lòng từ: rải tâm từ đến mọi chúng sanh, phi nhân.

4. Kinh Uẩn: rải tâm từ đến các loài côn trùng, bò sát,… không bị xâm hại.

5. Kinh Khổng tước: tránh xa những cạm bẫy, được sự an toàn.

6. Kinh Chim cút: tránh khỏi hỏa hoạn.

7. Kinh Đầu ngọn cờ: tránh khỏi sự kinh sợ, khiếp đảm.

8. Kinh A-sa-năng-chi: tránh sự quấy phá của phi nhân, được an lành.

9. Kinh Angulimāla: mong sản phụ được mẹ tròn con vuông.

10. Kinh Giác chi: tránh khỏi bệnh tật, ốm đau.

11. Kinh Ban mai: tránh khỏi những điều xấu, mong sự an lành cả ngày đêm.

Mặc dù kinh Paritta có vai trò hộ trì, che chở, bảo vệ những người tụng đọc và lắng nghe kinh, nhưng việc tụng đọc và lắng nghe phải được thực hiện đúng đắn thì kinh Paritta mới có giá trị và lợi ích thiết thực. Do đó, người tụng đọc phải hội đủ ba điều kiện sau thì khi đọc tụng kinh Paritta mới có thể nhận lãnh được giá trị, ý nghĩa và lợi ích: Vị ấy phải đọc tụng kinh Paritta một cách chính xác, đầy đủ; Vị ấy phải hiểu rõ ý nghĩa của kinh Paritta một cách trọn vẹn; Vị ấy phải đọc tụng với tâm thiện hợp trí tuệ.

Về phía người lắng nghe tụng đọc kinh Paritta, ngoài việc đủ ba điều kiện giống người đọc tụng ở trên, người lắng nghe còn phải có những điều kiện như là: Vị ấy không phải là người phạm vào năm trọng tội như giết mẹ cha, giết bậc A-la-hán, làm chảy máu Phật và chia rẽ Tăng; Vị ấy không phải là người tà kiến (micchāditthi), là người tin vào nghiệp và quả của nghiệp; Vị ấy lắng nghe với tâm hoan hỷ, tâm thiện hợp với trí tuệ. Khi hội đủ những điều kiện trên, người đọc tụng hay người lắng nghe đọc tụng kinh Paritta sẽ nhận được oai lực và lợi ích của kinh Paritta. Như vậy, cả người tụng đọc và người lắng nghe kinh Paritta đều có phước và những lợi ích, oai lực của kinh Paritta hộ trì. Hơn hết, việc người tụng đọc và người lắng nghe thực hành những lời dạy chứa đựng trong những bài kinh Paritta cũng chính là tự bảo vệ mình ngay trong hiện tại và sẽ ở những kiếp tương lai.

Có thể nói, Phật pháp là phương tiện để đưa đến bến bờ giải thoát cao thượng. Việc tụng đọc kinh Paritta cũng là một trong nhiều phương tiện hay cách thức hành trì. Hơn hết, người tụng đọc và người lắng nghe tụng đọc Paritta phải hiểu rõ từng câu chữ, ý nghĩa một cách trọn vẹn, đầy đủ rồi áp dụng vào trong đời sống thì chính là con đường tu tập đem đến lợi ích thiết thực hơn là cầu nguyện, van xin viển vông. Việc trì tụng kinh hộ trì là muốn để tâm được an lạc, nhưng dù có tụng bao nhiêu mà thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác thì không sao đạt được sự an lạc như ý muốn. Việc tụng đọc là phải thực hành, sống với những lời dạy đó thì tụng đọc mới có ý nghĩa. Như vậy, đó mới là “tự mình nương tựa chính mình”.

*

Chú thích:

[] Hộ Tông (1959), Lễ Bái Tam Bảo – Cư Sĩ Luật Tóm Tắt, Giáo hội Tăng-già Nguyên thủy Việt Nam.

[2] Tịnh Tâm (HT. Hộ Tông) (2000), Kinh Tụng Chư Tăng, Nxb TP HCM.

[3] Tăng Định (2004), Kinh Nhật Tụng Cư Sĩ, Nxb Tổng hợp TP HCM.

[4] Sayadaw U Sīlanandābhivamsa (2000), Paritta Pāli & Protective Verses, Ministry of Religious Affairs, p.1.

[5] Sayadaw Mingun (2019), Đại Phật Sử – Mahābuddhavamsa, Tỳ-khưu Minh Huệ (dịch), Nxb Hồng Đức, tr.192.

[6] S.v.81. Thích Minh Châu (dịch) (2014), Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền – Kinh Tương Ưng Bộ, Tập 2, Nxb Tôn giáo, tr.504.

[7] Mil.150. Indacanda (dịch) (2011), Milinda Vấn Đạo, Buddhist Cultural Centre, tr.277.

[8] Sayadaw U Sīlanandābhivamsa (2000), Paritta Pāli & Protective Verses, Ministry of Religious Affairs, Yangon, p.3.

[9] Kp.3. Thích Minh Châu (dịch) (2015), Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền – Kinh Tiểu Bộ, Tập 1, Nxb Tôn giáo, tr.22-24.

[10] SnA.i.118ff

[11] Kp.3ff. Thích Minh Châu (dịch) (2015), Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền – Kinh Tiểu Bộ, Tập 1, Nxb Tôn giáo, tr.24-30.

[12] Mười pháp Ba-la-mật (pāramī) gồm bố thí, trì giới, xuất gia, trí tuệ, tinh tấn, nhẫn nại, chân thật, chí nguyện, tâm từ và hành xả. Mỗi pháp Ba-la-mật được phân thành ba-la-mật bậc hạ (pāramī), ba-la-mật bậc trung (upapāramī), ba-la-mật bậc thượng (paramatthapāramī) nên có tất cả là ba mươi pháp ba-la-mật.

[13] Năm pháp đại thí là: bố thí của cải, ngôi vua, vợ con, bộ phận cơ thể và sinh mạng.

[14] Ba pháp hành: hành vì cá nhân, người khác, quả vị Chánh Đẳng Chánh Giác.

[15] Chín pháp Thánh là: bốn Đạo, bốn Quả và Niết-bàn.

[16] Pháp Minh (dịch) (2018), Chú Giải Kinh Pháp Cú, Tập 4, Nxb Hồng Đức, tr.75-79.

[17] KpA.195ff.

[18] Kp.8f. Thích Minh Châu (dịch) (2015), Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền – Kinh Tiểu Bộ, Tập 1, Nxb Tôn giáo, tr.35-37.

[19] KpA.232ff; DhA.i.313ff. Pháp Minh (dịch) (2018), Chú Giải Kinh Pháp Cú, Tập 4, Nxb Hồng Đức, tr.513-519.

[20] Vin.ii.110f; A.ii.72f; J.203; JA.ii.145ff. Indacanda (dịch) (2010), Tiểu Phẩm, Tập 2, Buddhist Cultural Centre, Sri Lanka, tr.15-17. Thích Minh Châu (dịch) (2015), Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền – Kinh Tăng Chi Bộ, Tập 1, Nxb Tôn giáo, tr.416-417. Thích Minh Châu và Nguyên Tâm Trần Phương Lan (dịch) (2015), Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền – Kinh Tiểu Bộ, Tập 3, Nxb Tôn giáo, tr.674-678.

[21] J.159; JA.ii.33ff. Thích Minh Châu và Nguyên Tâm Trần Phương Lan (dịch) (2015), Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền – Kinh Tiểu Bộ (2015), Tập 3, Nxb Tôn giáo, tr.548-553.

[22] J.35; JA.i.212ff. Thích Minh Châu và Nguyên Tâm Trần Phương Lan (dịch) (2015), Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền – Kinh Tiểu Bộ (2015), Tập 3, Nxb Tôn giáo, tr.150-154.

[23] S.i.218f. Thích Minh Châu (dịch) (2014), Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền – Kinh Tương Ưng Bộ, Tập 1, Nxb Tôn giáo, tr.336-339.

[24] D.iii.194ff. Thích Minh Châu (dịch) (2013), Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền – Kinh Trường Bộ, Nxb Tôn giáo, tr.634-640.

[25] Thích Minh Châu (dịch) (2013), Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền – Kinh Trường Bộ, Nxb Tôn giáo, tr.643.

[26] M.ii.103. Thích Minh Châu (dịch) (2012), Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền – Kinh Trung Bộ, Nxb Tôn giáo, tr.130.

[27] S.v.79ff. Thích Minh Châu (dịch) (2014), Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền – Kinh Tương Ưng Bộ, Tập 2, Nxb Tôn giáo, tr.503-504.

[28] A.i.294. Thích Minh Châu (dịch) (2015), Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền – Kinh Tăng Chi Bộ, Tập 1, Nxb Tôn giáo, tr.327.

[29] Thích Minh Châu (dịch) (2013), Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền – Kinh Trường Bộ, Nxb Tôn giáo, tr.298.

[30] Sayadaw U Sīlanandābhivamsa (2000), Paritta Pāli & Protective Verses, Ministry of Religious Affairs, Yangon, p.4.

* Nguồn: Tạp chí Văn hóa Phật giáo (16/04/2021), https://tapchivanhoaphatgiao.com/luu-tru/8965   

*-----*



Friday, 5 September 2025

Kinh Nhật hành Pali-Việt

KINH NHẬT HÀNH PALI-VIỆT 
Ni sư Liễu Pháp
Ni viện Viên Không, Bà Rịa Vũng Tàu

Tập kinh Nhật hành Pāli-Việt này gồm những bài kinh được tụng đọc hằng ngày trong các chùa Nam tông. Phần tiếng Việt của các bài kinh lễ bái Tam bảo là bản dịch của ngài Trưởng lão Sơ tổ Hộ Tông. Phần văn vần của các bài kinh dài là bản dịch của ngài Hòa thượng Viên Minh.

Tập kinh được soạn ra để giúp người đọc tiện theo dõi các bài kinh tụng bằng tiếng Pāli của Ni sư Liễu Pháp, Ni viện Viên Không, Bà Rịa Vũng Tàu. Ni sư đọc chậm, rõ ràng để giúp những vị nào đang tập học tụng Pāli có thể theo dõi, tụng theo dễ dàng. Độc giả có thể tham khảo các tập kinh tụng phổ biến tại các chùa Nam tông để biết thêm ý nghĩa và các chi tiết khác.

Bình Anson 
Perth, Tây Úc

Tải bản PDF về máy để đọc, phiên bản tháng 9-2025 (Pali-Việt):
https://tinyurl.com/3dy9rawn  [vn71_3.pdf, 725 KB]

* Tải tập tin âm thanh kinh tụng (MP3): 
https://tinyurl.com/y26gjnt6 (dung lượng: 118.7 MB)

* Tải tập tin video kinh tụng (MP4):
https://tinyurl.com/y5ossn5k (dung lượng: 106.1 MB)

* Xem/nghe qua YouTube:
https://www.youtube.com/watch?v=68aZpvsEACs

XIN LƯU Ý: 
Tôi soạn ra tập kinh tụng này là để giúp người đọc tiện theo dõi các bài kinh tụng tiếng Pāli của Ni sư Liễu Pháp, không phải để thay thế các tập sách kinh tụng hiện đang phổ biến tại các chùa Nam tông. Độc giả cần phải tham khảo các tập kinh tụng đó để biết thêm ý nghĩa và các chi tiết khác. 

*



Niệm chết để sống tốt

 NIỆM CHẾT ĐỂ SỐNG TỐT

Mấy hôm trước tôi nghe các bài giảng Tăng chi bộ, chương Bảy pháp của ngài Tỳ-khưu Bodhi, thu âm và quảng bá trên YouTube [*]. Khi giảng bài kinh về Tưởng (Saññā sutta, AN 7.48 & 7.49) – bảy pháp quán tưởng, trong đó có quán tưởng về chết, ngài cho biết niệm chết (maraṇasati) là một trong những pháp quán tưởng được ghi trong nhiều bài kinh và có hướng dẫn chi tiết trong cuốn Thanh tịnh đạo của Luận sư Buddhaghosa. Dựa theo kinh nghiệm bản thân, ngài nói có ba điều căn bản mà mỗi hành giả cần phải quán tưởng thường xuyên:

1) Tôi sẽ chết, không thể nào tránh khỏi.
2) Tôi sẽ chết bất cứ lúc nào, không thể biết trước được. 
3) Tôi sẽ bỏ lại tất cả khi chết, ngoại trừ Nghiệp của tôi.

Thông thường, khi nghe tin ai chết thì mình cảm thấy ngẩn ngơ, bất ngờ, buồn, rồi gửi thư chia buồn hay viết vài dòng cảm niệm về người vừa qua đời, nhưng rất ít khi nghĩ rằng rồi mình cũng chết như thế. Mình tránh, không muốn nghĩ đến, không muốn nói đến cái chết của mình, sợ bị xui xẻo hay sợ bị người khác cho rằng mình là người bi quan, tiêu cực. Dù rằng không cần thiết phải nói ra với ai, nhưng hành giả lúc nào cũng phải can đảm chấp nhận sự thật là rồi mình cũng sẽ chết như những người khác, để làm quen và có can đảm và nghị lực, không sợ sệt khi đối mặt với cái chết.

Kế đến, mặc dù chấp nhận rồi cũng chết, nhưng người ta thường lý luận tìm cách trì hoãn. Vâng, tôi sẽ chết nhưng không chết ngay bây giờ, mà sống thêm vài chục năm nữa rồi mới chết. Hành giả nên quán tưởng rằng mình có thể chết bất cứ lúc nào. Đức Phật có dạy rằng mạng sống chỉ kéo dài bằng một hơi thở. Thở vào mà không thở ra, hay thở ra mà không thở vào là chết. Mở cửa nhà bước ra đường, rồi có ai đó lái xe lơ đễnh tông trúng là chết ngay tại chỗ. Rất bất ngờ, không biết trước được. Quán tưởng như thế để mình trân quý từng giây phút sống trong hiện tại, không phí thì giờ vào những chuyện vô ích, tập trung tu tập khi mình vẫn còn sống tốt.

Cuối cùng, hành giả nên quán tưởng rằng khi chết, mình sẽ bỏ lại tất cả, chỉ mang theo được Nghiệp của mình vào kiếp sau. Tiền bạc, tài sản, địa vị, gia đình, thân quyến đều phải bỏ lại. Quán tưởng như thế để mình không bị ám ảnh, vướng mắc vào những ràng buộc của thế gian, và chú tâm thực hiện những thiện nghiệp để tạo phước báu cho đời sau.

Tóm lại, hành giả nên tập niệm chết để sống tốt. 

[*] Bhikkhu Bodhi, Perceptions Leading to the Deathless, Chuang Yen Monastery (23/08/2025) 
https://www.youtube.com/watch?v=b0MJX78YhB4  

*-----*

QUÁN TƯỞNG (Saññā, AN 7.49) – Lược trích

– Này các tỳ-khưu, có bảy quán tưởng nếu được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh. Đó là quán tưởng về bất tịnh, quán tưởng về chết, quán tưởng về nhàm chán đối với các món ăn, quán tưởng về không hoan hỷ đối với tất cả thế giới, quán tưởng về vô thường, quán tưởng về khổ trong vô thường, quán tưởng về vô ngã trong khổ.

(1) Khi một tỳ-khưu sống với quán tưởng về bất tịnh, tâm sẽ thối lui, tâm trở lưng, quay lưng để không đắm vào các tham dục; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán.

(2) Khi một tỳ-khưu sống với quán tưởng về chết, tâm sẽ thối lui, tâm trở lưng, quay lưng không thích thú sự sống; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán.

(3) Khi một tỳ-khưu sống với quán tưởng về nhàm chán đối với các món ăn, tâm sẽ thối lui, tâm trở lưng, quay lưng không thích thú với các vị nếm; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán.

(4) Khi một tỳ-khưu sống với quán tưởng về không hoan hỷ đối với tất cả thế giới, tâm sẽ thối lui, tâm trở lưng, quay lưng với các lòe loẹt của thế giới; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán.

(5) Khi một tỳ-khưu sống với quán tưởng về vô thường, tâm sẽ thối lui, tâm trở lưng, quay lưng với các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán.

(6) Khi một tỳ-khưu sống với quán tưởng về khổ trong vô thường, tâm sẽ nhận thức sắc bén sợ hãi về sự nguy hiểm của thụ động, biếng nhác, thả lỏng, phóng dật, không chú tâm, không quán sát; ví như phải đối mặt với một kẻ giết người giơ đao lên.

(7) Khi một tỳ-khưu sống với quán tưởng về vô ngã trong khổ, tâm sẽ thoát khỏi các tư tưởng về ngã, ngã sở, ngã mạn đối với cái thân có thức nầy và đối với tất cả tướng ở ngoài; vượt qua mọi so sánh phân biệt, được an tịnh, khéo giải thoát.

Này các tỳ-khưu, đó là bảy quán tưởng nếu được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh.  – (AN 7.49)

*-----*



Sunday, 6 July 2025

Tam quy, ngũ giới của cư sĩ Phật tử

 TAM QUY, NGŨ GIỚI CỦA NGƯỜI CƯ SĨ PHẬT TỬ
Bình Anson

Theo tôi biết, trong Chánh tạng (Kinh, Luật, Luận) không thấy ghi một nghi thức nào cho một cư sĩ trở thành đệ tử của Đức Phật – một Phật tử. Có những bài kinh ghi lại câu chuyện một cư sĩ tại gia (vua, quan, thương gia, nội trợ, nông dân, …) khi đủ duyên để gặp Đức Phật, được Ngài khuyến dạy; sau khi nghe, vị ấy phát tâm trong sạch xin nương nhờ nơi Đức Phật, Giáo pháp và Tăng đoàn, thường gọi là quy y Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng), và từ đó trở thành một cư sĩ Phật tử. Ba câu phát nguyện đó thường được cộng đồng Theravāda tụng đọc như sau:

Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi – Con xin quy y Phật
Dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi – Con xin quy y Pháp
Saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi – Con xin quy Tăng

Tăng (Saṅgha) ở đây theo định nghĩa trong câu kệ tán dương ân đức Tam Bảo (SN 11.3) và trong bài kinh Châu báu (Ratana sutta, Snp 2.1) là cộng đồng chư thánh tăng, gồm những vị đã nhập dòng thánh giải thoát.

Có những bài kinh Đức Phật khuyên các đệ tử cư sĩ nên gìn giữ năm học giới (DN 5, DN 33.5, AN 3.79, AN 9.20, …). Từ đó, có câu phát nguyện gìn giữ năm học giới như sau:

1) Pāṇātipātā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi (Con nguyện giữ điều học là không sát sinh)
2) Adinnādānā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi (Con nguyện giữ điều học là không trộm cắp)
3) Kāmesumicchācāra veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi (Con nguyện giữ điều học là không tà dâm)
4) Musāvādā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi (Con nguyện giữ điều học là không nói dối)
5) Surāmerayamajjapamādaṭṭhānā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi (Con nguyện giữ điều học là không uống rượu và dùng các chất say)

Đây là 5 học giới để người cư sĩ nguyện học tập, gìn giữ trong đời sống có đạo đức.

Trong các cộng đồng Theravāda - Nam tông (Thái Lan, Lào, Campuchia, Sri Lanka, Myanmar), các em học sinh được nhà trường dạy tụng đọc ba câu quy y Tam Bảo và thọ trì ngũ giới bằng tiếng Pāli ngay từ bậc tiểu học. Thêm vào đó, mỗi lần đi chùa dự lễ, hay nghe thuyết pháp, hoặc thỉnh mời chư Tăng đến nhà để cầu an, cầu siêu, chư Tăng đều đọc các câu quy y Tam Bảo và thọ trì ngũ giới đó để mọi người cùng đọc theo, như là một hình thức nhắc nhở. Do đó, hầu như các Phật tử Theravāda đều đọc thuộc các câu Pāli này, dù rằng cách phát âm của mỗi quốc độ có vài khác biệt.

Theo tôi biết, Phật tử cư sĩ tại các quốc gia Theravāda không có những buổi lễ xin quy y chính thức, mà cũng không có pháp danh đặc biệt nào. Pháp danh thường chỉ dành riêng cho các tu sĩ xuất gia trong các buổi lễ truyền giới của tu sĩ.

Ngay cả tại Việt Nam ngày xưa, trong truyền thống Bắc tông, cũng thế. Ba má, ông bà tôi đều là Phật tử, thường đi chùa vào ngày rằm và các dịp lễ lớn. Bà cố tôi đã từng hiến đất để cất chùa trong làng. Nhưng các vị đó không tham dự một lễ quy y Tam Bảo nào, cũng không có một pháp danh nào.

Thông lệ người cư sĩ tham dự một buổi lễ chính thức xin quy y tại chùa, rồi được ban cho một pháp danh có lẽ được áp dụng tại Việt Nam vào khoảng giữa thế kỷ 20, khi có phong trào canh tân Phật giáo. Về sau, khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất được thành lập vào năm 1964, lễ Quy y Tam bảo này được Giáo hội khuyến khích áp dụng rộng rãi hơn trong khắp các tỉnh thành của Việt Nam Cộng Hòa xưa.

Như tôi đã từng chia sẻ, tôi có tham dự buổi lể xin quy y Tam Bảo chính thức tại Viện Nhu đạo Quang Trung, Đa Kao, Sài Gòn, do ngài Hòa thượng Thích Tâm Giác chủ trì, và được ban cho một pháp danh và một tờ điệp quy y. Tôi không còn giữ tờ điệp này, nhưng hình thức tương tự như tờ điệp trong hình kèm theo. Bên trái tấm hình là ngài Hòa thượng Thích Tâm Giác. Đó là vào năm 1965, khi tôi học lớp đệ Ngũ (lớp 8 bây giờ) tại trường Trung học Petrus Trương Vĩnh Ký.

Tôi hầu như không bao giờ dùng pháp danh đó vì mình không chính thức tham gia một sinh hoạt Phật sự nào khác. Về sau này, khi tôi bắt đầu tìm hiểu truyền thống Theravāda trong thập niên 1980, tôi có gặp một vị sư Nam tông gốc Việt ở Bangkok. Vị sư ấy đọc các câu Tam quy và ngũ giới tiếng Pāli để tôi đọc theo, rồi tụng kinh cầu an chúc phúc cho tôi. Sau đó, sư cho tôi pháp danh là Sucitto (nghĩa là Thiện Tâm). Tôi dùng tên này trong vài bài viết về Phật giáo, rồi thôi, không còn dùng đến nữa.

Trong thời gian qua, tôi có góp ý với vài bạn đạo về việc tham dự lễ xin quy y Tam Bảo để trở thành một Phật tử cư sĩ. Nếu có cơ hội và thuận duyên, thì đăng ký tham dự một lễ chính thức như thế cũng tốt. Đó là một kỷ niệm đẹp, nhắc nhở mình là một Phật tử, phát tâm nguyện quy y Tam Bảo và thọ trì ngũ giới. Nếu không thuận duyên, hoặc ở những nơi xa xôi không tiếp cận được các chùa, thì chỉ cần mình có lòng thành thật, với tâm trong sạch phát nguyện trong lòng là mình tìm về quy y ở Phật, Pháp, Tăng và nguyện giữ 5 học giới là đủ. Nếu trong nhà có bàn thờ Phật thì đến trước bàn thờ, lễ lạy rồi thành tâm nói lên 3 câu quy y và nguyện thọ trì 5 giới bằng tiếng Việt cũng được. Như thế, mình trở thành một Phật tử cư sĩ. Đơn giản thế thôi. Quan trọng là ở nơi tâm nguyện chân thành của mình.

– Bình Anson
Nollamara, Tây Úc
05/07/2025

*-----*




Sunday, 15 June 2025

Các sách tiếng Anh của AJAHN BRAHM

 Các sách tiếng Anh của AJAHN BRAHM

Có thể tải các sách dưới đây về máy, dạng PDF:

1) Ajahn Brahm. Mindfulness, Bliss, and Beyond: A Meditator's Handbook (2006) [en55-eng.pdf]
https://tinyurl.com/4788ep5t

2) Ajahn Brahm. The Art of Disappearing (2011) [en56_eng.pdf]
https://tinyurl.com/4jz8cext  

3) Ajahn Brahm. Simply this Moment: A Collection of Talks on Buddhist Practice [en57.pdf]
https://tinyurl.com/57b2t6nb

4) Ajahn Brahm - All You Need Is Kindfulness (2014) [en100_eng.pdf]
https://tinyurl.com/yw4rw7uy

5) Ajahn Brahm. Kindfulness (2016) [en157.pdf]
https://tinyurl.com/bdzdys3z  

6) Ajahn Brahm. Karuna-Virus: 19 Original Stories about Ajahn Brahm (2020) [en186.pdf]
https://tinyurl.com/mpfa477s  

7) Ajahn Brahm. Soft as Cotton, Strong as Steel - Ajahn Brahm's 50th Bhikkhu Anniversary (2024). [en319.pdf] 
https://tinyurl.com/2p96tt2r  

8 ) Ajahn Brahm. Journey to the Heart of the Lotus, Unlearning “Buddhist” Meditation (2024). [en320.pdf]
https://tinyurl.com/3ne8u7hy  

9) Ajahn Brahm. The Word of the Buddha, An Outline of the Teachings of the Buddha in the Words of the Pāli Canon (2024). [en345.pdf]
https://tinyurl.com/2s35s52k  

10) Ajahn Brahm. Opening the door of your heart, Việt-Anh  [vn17.pdf] 
https://tinyurl.com/2s9438dt

11) Ajahn Brahm. The Basic Method of Meditation
https://tinyurl.com/54sm6snz  

12) Ajahn Brahm. Dependent Origination, Việt-Anh [vn115.pdf]
https://tinyurl.com/4hhcmfkw

13) Ajahn Brahm. Wisdom and wonders (2014). [en365.pdf]
https://tinyurl.com/436p72hm

* Trí tuệ và những điều kỳ diệu
https://tinyurl.com/26cjxep9 [vn31.pdf]

14) Ajahn Brahm. Opening up to Kindfulness (2021). [en366.pdf]
https://tinyurl.com/mt5c5efa

*-----*




Thursday, 12 June 2025

Hai vị ân sư của tôi

Hòa thượng THÍCH TÂM GIÁC và Phra KHANTIPALO 

Tôi luôn luôn ghi nhớ và tri ân hai vị ân sư đã đưa tôi đến với Đạo Phật. Ngài Hòa thượng Thích Tâm Giác là vị thầy đầu tiên khi tôi theo học võ Nhu đạo năm 14 tuổi tại Võ đường Quang Trung, Đa Kao (Quận 1, Sài Gòn). Hòa thượng kể cho chúng tôi nghe các câu chuyện ngắn về cuộc đời Đức Phật, dạy niệm Phật và hành thiền niệm hơi thở trước mỗi buổi tập. Sau đó, tôi chính thức xin quy y Tam Bảo với Hòa thượng.

Mười lăm năm sau, khi tôi đến định cư tại Perth, Tây Úc, qua sự giới thiệu của một người bạn, tôi gặp Phra Khantipalo, một vị sư gốc Anh đã từng tu học ở Thái Lan. Sau nhiều buổi đi nghe Pháp và dự các khóa thiền do Sư hướng dẫn, tôi biết thêm về giáo lý và pháp thiền nguyên thủy, và từ đó, tu học trong truyền thống Theravāda (Phật giáo Nam truyền).

Do phước duyên, tôi có được thêm sự chỉ dạy của nhiều vị ân sư khác, nhưng đây là hai vị ân sư đã khai mở cho tôi thấy được con đường phải đi cho cuộc đời của mình. Tôi thành kính tri ân quý Ngài.

Sadhu sadhu sadhu! 🙏 

*




Sunday, 8 June 2025

Chánh ngữ khi sử dụng mạng xã hội

 CHÁNH NGỮ KHI SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI
Frederick M. Ranallo-Higgins
Tâm Tuệ dịch 
Giác Ngộ Online, 08/06/2024

*

Chỉ cần những cú click chuột, tiếng lạch cạch của bàn phím và tiếng chuông thông báo của mạng xã hội, nghệ thuật trò chuyện và giao tiếp đã bị thu gọn thành những bình luận nhanh chóng, liều lĩnh, dẫn dắt dư luận và phong phú như một bữa chè chén toàn đồ ăn nhanh và cũng không kém phần sôi nổi như một cuộc trộm xe hơi đầy kịch tính.

Bàn phím và điện thoại thông minh trên tay mỗi chúng ta có thể tạo thành một bãi chiến trường, nơi sự kiềm chế bị đẩy lên đỉnh điểm, và hầu hết trong các trường hợp, lực đẩy này lại luôn là kẻ chiến thắng. Tuy nhiên, trong thời đại kỹ thuật số và các thông tin lan tràn trên mạng, thì con đường Bát chánh đạo của Phật giáo, đặc biệt là chánh ngữ, là một liều thuốc giải cho những nỗi ưu tư và phiền não như thế.

Chánh ngữ, một trong những phẩm chất đạo đức của Phật giáo, không phải là sự kiểm duyệt sau khi đã thốt ra lời nói, mà là ý định, nhận thức và những gì gợn sóng trong tâm trí của chúng ta trước khi sắp sửa cất lời. Hãy tưởng tượng nếu trước khi đưa ra một câu bình luận nửa vời đối với một tiêu đề nào đó trên màn hình vừa thoáng lướt qua, chúng ta hãy thử dừng lại, hít thở thật sâu và cân nhắc sức nặng của lời nói cũng như những bình luận mà chúng ta sắp sửa phun ra một cách vô tâm từ chiếc điện thoại thông minh của mình.

Chánh ngữ cũng không phải là một cái rọ mõm ngày xưa mà là một ý niệm mang tính cách mạng, phải thoát khỏi sự cám dỗ để không trở thành một phần của tiếng ồn náo ngoài kia, kiềm chế bản thân để có thể nói không với việc thảy đồng xu duy nhất của mình vào một đài phun nước với đầy ắp những đồng xu khác.

Khi cuộn qua bất kỳ phần bình luận nào, bạn sẽ chứng kiến một bãi chiến trường hỗn độn do những cái lưỡi không được kiểm soát gây ra (có thể là những ngón tay trong trường hợp này). Mỗi bình luận thể hiện sự háo hức “mắc nói” của những người phía sau màn hình điện thoại hơn là sự tương tác có ý nghĩa đối với bài viết, và thường bày tỏ cho thiên hạ biết về bản thân họ hơn là những gì họ hiểu và nhận ra.

Những dòng bình luận ngắn gọn nhưng vô tận hầu hết chỉ là những cuộc nói chuyện phiếm vô ích. Hành động bình luận đó tự nó đã bị chìm nghỉm trong một căn phòng ồn ào, nơi mà việc lắng nghe và thấu hiểu bị chính sự vội vã chà đạp đến mức thương vong. Hãy để mạng xã hội thực sự hoạt động bình thường như một nơi kết nối chúng ta với gia đình và bạn bè đang sống rải rác đâu đó trong một thế giới bận rộn, ồn ào và khắc nghiệt như hiện nay.

Như những gì đã nói ở trên, sự thúc đẩy phải nói lên quan điểm cá nhân của mình về những chuyện viển vông, ngay cả khi nó chỉ mới hình thành được nửa vời, cũng đã trái với truyền thống thiền tập của Phật giáo, bởi mọi hành động và lời nói đều xuất phát từ suy nghĩ. Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta xem mỗi bình luận là một viên sỏi thả vào nước, những gợn sóng của nó sẽ lan ra và rộng khắp. Điều tương tự cũng có thể xảy ra với một bài đăng trên mạng xã hội, nó thực sự có thể tạo ra một hố sâu tâm lý bên trong mỗi người.

Giới luật về khẩu nghiệp được xây dựng dựa trên nền tảng của chánh ngữ không chỉ đơn thuần là một phương tiện để kiềm thúc tâm thức loạn động mà còn là một cách để giải thoát bản thân ra khỏi những hành nghiệp xấu ác một cách căn bản nhất. Thông qua sự kết nối với phẩm chất đạo đức này, chúng ta học cách chọn lọc những ngôn từ có tính khai mở, khuyến khích, và chân thành nhất.

Lời nói của chúng ta thậm chí có thể khơi dậy cảm xúc trong tâm người khác, nhưng nói chung, tất cả đều phải xuất phát từ nhận thức và ý định rõ ràng. Đây không phải là kiểm soát, mà là sự giải phóng - một phương pháp dẫn đến sự tương tác tỉnh thức có thể biến căn phòng bình luận lố bịch với những phản ứng có điều kiện theo kiểu Páp-lốp trở thành một không gian dành cho một cuộc đối thoại nội tâm nhằm đưa ra những giải pháp cho chính bản thân mình.

Đối với những bộ óc sẵn sàng dũng cảm bơi ngược lại những thác ghềnh dữ dội của sự vội vã và xem các loại bình luận là vô ích, thì đây là một đề xuất cấp tiến: hãy đọc các bài báo phản ánh đầy đủ các sự kiện. Sau đó, nếu được, bạn hãy để lại nhận xét mang tính đóng góp trên tinh thần tôn trọng việc trao đổi ý tưởng. Đây là chánh ngữ trong thời đại kỹ thuật số: kiềm chế là nổi loạn và chú tâm tỉnh giác là thái độ mang tính cách mạng.

Phần bình luận là mô hình thu nhỏ của thế giới. Nó có thể là vùng đất hoang vu nơi sản sinh ra những lời nói vô giá trị, nhưng cũng có thể là nơi ẩn náu của những trao đổi sâu sắc. Bằng cách áp dụng chánh ngữ, chúng ta có thể lựa chọn một trong hai điều sau. Chúng ta có thể chọn tôn trọng sự im lặng cũng như việc lên tiếng, coi trọng sự góp ý xây dựng hơn là phản ứng và cố chấp vào sự hiểu biết của bản thân, xem đó là trung tâm của sự giao tiếp. Hoặc chúng ta thả trôi tư tưởng của mình vào vùng đất hoang vu của ngạ quỷ lang thang trong trạng thái vô minh tự mình chuốc lấy. Ở đây, sự lựa chọn là chìa khóa quan trọng!

Vì vậy, lần tiếp theo khi sắp sửa bình luận một điều gì đó, hãy tạm dừng lại, suy nghĩ thật sâu rồi mới lên tiếng. Hãy sử dụng lời nói của chúng ta dưới sự soi sáng của chánh niệm và trí tuệ. Và hãy thực tập lời nói đúng đắn. Mỗi khoảnh khắc, mỗi hành động, mỗi suy nghĩ đều là những câu kinh tuyệt vời mở ra trước mắt ta và dạy cho chúng ta rất nhiều điều nếu biết quan sát và suy xét. Vậy nên hãy cẩn thận!

* Nguyên tác: Frederick M. Ranallo-Higgins. “Read Me! Right speech meets the comments section”. Tricycle, November 10, 2023.

*-----*



Monday, 26 May 2025

Thần chú "Tóc lông móng răng da"

 Thần chú “TÓC LÔNG MÓNG RĂNG DA”

Nhiều năm trước, khi đến tham dự một buổi lễ xuất gia Sa-di cho các vị giới tử, tôi nghe ngài Ajahn Brahm đọc câu "Kesā Lomā Nakhā Dantā Taco" (Tóc Lông Móng Răng Da), đọc xuôi rồi đọc ngược cho các vị tân sa-di đọc theo, rồi ngài nói các vị ấy phải học thuộc nằm lòng câu này. Mỗi khi tiếp xúc với người khác phái là phải niệm câu ấy để giúp kiểm soát lòng ái dục. Đó là những gì thật sự cấu tạo nên dung mạo bên ngoài của một người mà mình thấy được. Nếu nghĩ sâu xa hơn nữa, năm thứ đó chỉ là những tế bào chết, lộ ra bên ngoài cơ thể rồi từ từ bị đào thải. Không có gì là hấp dẫn, lôi cuốn.

Tôi thấy ý tưởng đó rất hay, thử đem ra áp dụng cho mình. Lúc ấy, tôi còn đi làm việc ở khu trung tâm thành phố. Mỗi ngày lái xe đến trạm xe điện gần nhà. Rồi đón xe điện vào thành phố. Trong xe điện, tôi bắt đầu quán sát những người chung quanh mình, thầm niệm trong tâm câu chú “Tóc Lông Móng Răng Da”. Tôi thấy câu tiếng Việt nhớ nhanh, dễ hiểu, dễ thấm hơn là câu Pāli nguyên thủy. Trong xe có đủ mọi hạng người, từ già đến trẻ, nam lẫn nữ, Âu lẫn Á, ăn mặc trang sức đủ kiểu, từ nghiêm trang đến hở hang khêu gợi. Mình chỉ lặng lẽ quán sát và ghi nhận năm phần tử đó.

Sau một thời gian thử nghiệm, tôi thấy thật sự có ích lợi. Nhìn mọi người một cách bình đẳng, không còn có tâm phân biệt, không còn bị xao động bởi vẻ bên ngoài của người khác. Tất cả đều như nhau, cấu tạo bởi năm phần tử của các tế bào chết. Còn những chuyện mơ mộng rắc rối khác đều là do tác động của tưởng uẩn.

Bình Anson, Tây Úc
Tháng 5, 2019 

*




Sunday, 6 April 2025

Green Burial - Lục táng

 GREEN BURIAL - LỤC TÁNG (綠葬)

Nhân khi tìm đọc các thông tin về chôn cất và hỏa thiêu ở Hong Kong, tôi học được thêm một từ mới trong tiếng Anh là “Green Burial” – An táng Xanh (Lục táng, 綠葬)  mà chính quyền Hong Kong dùng trong các thông tin khuyến khích người dân hỏa thiêu thân nhân sau khi qua đời rồi rải tro cốt xuống các vườn hoa ở nghĩa trang hay xuống cửa biển. Xanh (Green, Lục) ở đây là từ ngữ ngày nay thường được dùng trong các công tác, chương trình liên quan đến bảo vệ và làm sạch môi trường.

Rồi tôi nghĩ đến Thầy Nhất Hạnh và Thầy Tuệ Sỹ, hai cây đại thụ của Phật giáo Việt Nam trong thời đại của chúng ta. Cả hai ngài, sau khi viên tịch, đều được hỏa thiêu. Sau đó, tro cốt của Thầy Nhất Hạnh được rải vào các khu vườn của hệ thống Làng Mai, còn tro cốt của Thầy Tuệ Sỹ được rải xuống cửa biển Vũng Tàu.

Theo tôi, đó là những tấm gương sáng để chúng ta có quyết định thích hợp về đám tang của mình và của những người thân trong gia đình.

*



Friday, 24 January 2025

Liệt kê Tiểu bộ (KN - Khuddaka Nikāya)

 TIỂU BỘ
(KN - Khuddaka Nikāya) 

Liệt kê:

1. Kp - Khuddakapāṭha - Tiểu Tụng 
2. Dhp - Dhammapada - Pháp Cú 
3. Ud - Udāna - Phật Tự Thuyết 
4. Iti - Itivuttaka - Phật Thuyết Như Vậy 
5. Snp - Suttanipāta - Kinh Tập 
6. Vv - Vimānavatthu - Chuyện Thiên Cung 
7. Pv - Petavatthu - Chuyện Ngạ Quỷ 
8. Thag - Theragathā - Trưởng Lão Kệ 
9. Thig - Therīgāthā - Trưởng Lão Ni Kệ
10. Ja - Jātaka - Bổn Sanh
11. Niddesa - Diễn Giải 
.    11a. Mnd - Mahāniddesa - Đại diễn giải
.    11b. Cnd - Cullaniddesa - Tiểu diễn giải 

12. Ps - Paṭisambhidāmagga - Phân Tích Đạo 
13. Apadāna - Thánh Nhân Ký Sự
.    13a. Tha Ap - Therāpadāna - Trưởng lão ký sự
.    13b. Thi Ap - Therī-apadāna - Trưởng lão ni ký sự

14. Bv - Buddhavaṃsa - Phật Sử 
15. Cp - Cariyāpiṭaka - Hạnh Tạng 
16. Ne - Nettipakaraṇa - Cẩm Nang Học Phật 
17. Pe - Peṭakopadesa - Tam Tạng Chỉ Nam 
18. Mil - Milindapañha - Milinda Vấn Đạo 

15 tập đầu của Tiểu Bộ là sưu tập chung cho các ấn bản Pali của Tam tạng Phật giáo Thái Lan, Phật giáo Myanmar, Phật giáo Sri Lanka và Hội Kinh văn Pali (Pali Text Society, PTS). Tiểu Bộ của Sri Lanka và Myanmar có thêm tập 16 và 17. Ngoài ra, Tiểu Bộ Myanmar có thêm tập 18 – Milinda Vấn Đạo. 

Tiểu Bộ trong Tam tạng Thánh điển Phật giáo Việt Nam do Viện Nghiên cứu Phật học ấn hành năm 2021 có 16 tập, gồm 15 tập đầu và tập 18 – Milinda Vấn Đạo:

a) Tập 1-5, 8, 9 do Hòa thượng Thích Minh Châu dịch.
b) Tập 6, 7, 10 do Giáo sư Trần Phương Lan dịch.
c) Tập 11-15 và tập 18 do Tỳ-khưu Indacanda dịch.

* Ghi thêm: Tỳ-khưu Indacanda dịch đã dịch toàn bộ 18 tập của Tiểu Bộ liệt kê như trên. Có thể đến đọc hoặc tải bản PDF về máy tính tại trang web TAM TẠNG PĀLI - VIỆT:
https://tamtangpaliviet.net/VHoc/VHoc_CBDM.htm

* Đọc thêm:
Tổng quan kinh Tiểu bộ. Thích Nhật Từ (2021). 
https://tinyurl.com/2reab64j

*-----*



Giới thiệu Tăng chi bộ (Aṅguttara Nikāya)

 GIỚI THIỆU TĂNG CHI BỘ 
(AṄGUTTARA NIKĀYA)

Tăng chi bộ là bộ kinh thứ tư của tạng Kinh Pāli, sau Trường bộ, Trung bộ và Tương ưng bộ. Bhikkhu Bodhi trong bản Anh dịch cho biết có tổng cộng 8.122 kinh. Trong số đó có 4.250 kinh bị trùng lặp, chỉ khác nhau một thuật ngữ hay một khóa từ, cho nên trên thực tế chỉ có 3.872 kinh.

Trong bản dịch tiếng Việt Tăng chi bộ của Hòa thượng Thích Minh Châu, Thượng tọa Thích Minh Thành đếm được 7.231 kinh. Trên thực tế chỉ có 2.202 kinh, còn lại là những kinh giống như kinh trước nhưng chỉ khác một thuật ngữ hoặc một khái niệm nhỏ.

Các kinh trong bộ này được sắp xếp theo pháp số, từ chương Một pháp gồm các bài kinh có một yếu tố, rồi tăng dần lên Hai pháp, Ba pháp, … cho đến Mười một pháp. Như thế toàn bộ có 11 Chương hay Phần (nipāta). Mỗi chương lại chia thành những nhóm nhỏ, gọi là Phẩm (vagga).

Để trích dẫn các bài kinh, SuttaCentral dùng ký hiệu “AN xx.yy”, trong đó, AN: Aṅguttara Nikāya, xx: số chương, yy: số bài kinh trong chương. Thí dụ:

AN 3.14 - Kinh Chuyển luân vương. Đây là bài kinh số 14 trong chương Ba pháp.

*

Trong bài Dẫn luận Tăng chi bộ, Thượng tọa Thích Minh Thành tóm tắt nội dung của Tăng chi bộ như sau: 

1. CHƯƠNG MỘT PHÁP (Ekakanipāta) gồm những chủ đề: Sức mạnh và tai hại của ngũ dục; Các trạng thái thiền định; Bản chất và sức mạnh của tâm khi được tu tập cũng như xác định đúng hướng và ngược lại; Những thành tựu đúng nghĩa và những mất mát vô nghĩa; Những lợi ích và bất lợi; Những bậc Thánh tiêu biểu trong giáo pháp, từ đức Phật đến Thánh chúng và các vị cư sĩ tại gia; Những sự kiện không xảy ra và có xảy ra; Sự đặc thù của chánh kiến và tà kiến; Sức mạnh của không phóng đật, tinh tấn và thiền định.

“Tâm này, này các Tỳ-khưu, là sáng chói, nhưng tâm này bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngoài vào” (AN 1.49).

2. CHƯƠNG HAI PHÁP (Dukanipāta) gồm những chủ đề: Nhân quả và tội báo; Nền tảng đạo đức; Hai loại sức mạnh; Hai cách thuyết pháp; Vai trò của văn cú và nội dung ý nghĩa; Tri ân và báo ân; Định danh Trưởng lão; Các loại hội chúng; Các loại hỷ lạc; Các loại hy vọng; Các loại bố thí; Bậc Thánh và sự giác ngộ; Thanh tịnh thì không sợ hãi; Hiền trí và kẻ ngu; Thiền định và các tâm hộ trì; Phẫn nộ và hiềm hận; Nguyên nhân chế giới.

“Hai pháp trắng này, này các Tỳ-khưu, che chở cho thế giới. Thế nào là hai? Tàm và quý” (AN 2.9).

3. CHƯƠNG BA PHÁP (Tikanipāta) gồm những chủ đề: Kẻ ngu và người trí; Ba thời điểm cần ghi nhớ; Bài học từ người đóng bánh xe; Bài học từ người buôn bán; Những loại người xuất hiện trên đời, những loại người nên và không nên gần gũi; Nghệ thuật giao tiếp; Con cái tôn kính cha mẹ như Phạm thiên; Thế nào gọi là an lạc; Gia đình hiền thiện; Điều kiện sống của đức Phật trước khi xuất gia; Ba minh của Bà-la-môn và Ba minh của bậc Thánh; Ba loại thần thông; Biện minh về tạo hóa; Sư tử và dã can; Tự biết rõ rồi hãy tin; Sơ khởi về Nhân minh luận; Các loại trai giới; Các loại hương; Tăng thượng tam học; Vải thô và lụa là; Nắm muối và chén nước; Lọc tâm như lọc vàng; Ba hạng Đạo sư; Tự ngã thối nát; Ba loại chữ viết; Chiến sĩ và Tỳ-khưu; Tam pháp ấn; Thuần hóa ngựa rừng; Các loại đạo lộ.

“Như vậy, này Ānanda, nghiệp là thửa ruộng, thức là hạt giống, ái là sự nhuận ướt" (AN 3.77).

4. CHƯƠNG BỐN PHÁP (Catukkanipāta) gồm những chủ đề: Giới, Định, Tuệ và Giải thoát, Bậc trí tuệ và đa văn như vàng ròng ở cõi Diêm-phù; Bốn vô sở úy; Bốn chánh cần; Tôn trọng và nương tựa pháp; Bốn pháp tác thành bậc Trưởng lão; Mục đích của Phạm hạnh; Bốn Thánh chủng; Bốn nhiếp pháp; Đức Phật là ai; Bốn cách trả lời; Nguồn cội của phước đức; Bốn cách sống chung; Bốn pháp bố thí; Bổn phận của cư sĩ; Pháp rải tâm từ; Sự vi diệu của Như Lai; Cách thức thuyết pháp; Đạo lộ tu hành; Cơ sở xác định giáo pháp; Lắng nghe, tụng đọc, suy gẫm cách thức để thể nhập pháp; Hiểu rồi hãy nên tin; Nguyên nhân đẹp và xấu; Bốn loại nghiệp; Bốn quả Sa-môn.

“Cũng vậy, này Bà-la-môn, sanh ra trong đời, lớn lên trong đời, Ta sống chinh phục đời, không bị đời thấm ướt. Này Bà-la-môn, Ta là Phật, hãy như vậy thọ trì” (AN 4.36).

5. CHƯƠNG NĂM PHÁP (Pañcakanipāta) gồm những chủ đề: Năm sức mạnh; Dạy bảo cứng rắn; Biết sống hòa hợp; Uế nhiễm của tâm; Năm xứ giải thoát; Lợi ích của kinh hành; Công đức bố thí; Pháp của nàng dâu; Ý nghĩa sinh con trai; Phương cách gầy đựng tài sản; Bố thí vật khả ý; Năm loại Thánh tài; Mũi tên sầu muộn; Năm chướng ngại bao phủ tâm; Xuất gia khi tuổi xế chiều; Sống theo pháp; Năm hạng chiến sĩ; Sống ở trong rừng; Trưởng lão kỳ cựu; Mất thần thông vì danh lợi; Phương thức của kẻ trộm; Sống theo Giới bổn; Chăm sóc bệnh; Phương pháp gia tăng tuổi thọ; Tội ngũ nghịch; Tổn thất và thành tựu; Bậc Chuyển Luân Vương; Con voi của nhà vua; Bố thí của bậc Chân nhân; Diệu pháp hỗn loạn; Cách thức thuyết pháp; Trừ khử hiềm hận; Kẻ bị vất bỏ; Năm việc không kinh doanh; Hạng người sống ở rừng; Cựu pháp của Bà-la-môn; Các hạng Bà-la-môn; Bà-la-môn và chú thuật; Giấc mộng của Bồ-tát; Năm tính chất của lời nói; Lợi ích của cháo; Lợi ích của tăm xỉa răng; Thuyết pháp với giọng ca; Tham luyến trú xứ.

“Nói đúng thời, nói đúng sự thật, nói lời nhu hòa, nói lời liên hệ đến lợi ích, nói với lời từ tâm” (AN 5.198).

6. CHƯƠNG SÁU PHÁP (Chakkanipāta) gồm những chủ đề: Cung kính bậc đáng cung kính; Các căn và các lực; Con ngựa của nhà vua; Sáu nguyên tắc sống chung; Giáo giới khi lâm chung cho hàng cư sĩ, Tỳ-khưu; Nghề nghiệp và ác nghiệp; Tu tập niệm chết; Thời gian thích hợp để tu hành; Sáu chỗ tùy niệm; Sáu pháp minh phần; Vô nhân luận của Bà-la-môn; Nguyên nhân để Diệu pháp tồn tại; Trú xứ mà Phật hoan hỷ; Xác tín về quả Dự lưu; Đau khổ của kẻ nghèo khổ; Bình đẳng tư duy; Phòng hộ các căn; Không phóng dật; Đồng Phạm hạnh phải kính trọng nhau; Tiếng đàn của Sona; Đoạn trừ lậu hoặc; Hoàn tục và xuất gia; Con đường đi đến bờ kia; Pháp môn quyết trạch; Sáu lực của Như Lai; Điều kiện để chứng quả Bất lai và A-la-hán; Điều kiện để an trú Sơ thiền; Thành tựu sự thanh lương; Quyết định tánh của sự nghe pháp; Hành động của người có chánh kiến; Chứng quả Dự lưu.

“Khi tinh cần tinh tấn quả căng thẳng, thời đưa đến dao động; khi tinh cần tinh tấn quá thụ động, thời đưa đến biếng nhác” (AN 6.55).

7. CHƯƠNG BẢY PHÁP (Sattakanipāta) gồm những chủ đề: Bảy tài sản của bậc Thánh; Phiền não tiềm phục; Điều kiện trở thành gia đình thuần lương; Ví dụ người và nước; Bảy pháp bất thối của một quốc gia và của vị Tỳ-khưu; Bảy  giác chi; Lời nói vắn tắt nhưng ý nghĩa rộng lớn; Những điều kiện để trở thành bạn tốt; Điều kiện đạt được bốn vô ngại giải; Thiện xảo trong thiền định; Bảy chỗ thức trú; Bảy loại lửa và lợi ích của chúng; Bảy loại tưởng; Thế nào là sống Phạm hạnh; Pháp môn hệ lụy và ly hệ lụy; Bố thí với ý nghĩa lớn; Nguồn gốc của sự hồi hướng công đức; Những sự kiện Như Lai không trả lời; Bảy sanh thú của loài người; Kết quả hiện tại của sự bố thí; Như Lai không che đậy và không phạm lỗi; Những phương pháp ngăn ngừa buồn ngủ; Bảy hạng vợ; Ước muốn của kẻ thù địch; Tàm quý và cơ sở để chế ngự các căn; Bảy mặt trời; Phòng hộ vững chãi như thành trì ngoài biên ải; Bảy pháp cần thắng tri; Cây Trú Độ của chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba; Tỳ-khưu phải kính trọng ai; Tùy thuận tu tập; Sự nguy hiểm của cung kính và lợi đưỡng; Ngoại đạo ly tham Araka dạy đệ tử; Để xứng đáng là bậc trì Luật; Bảy pháp diệt trừ sự tranh cãi; Người xứng đáng được cung kính.

“Như giọt sương là đời sống loài người, nhỏ bé, không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não” (AN 7.74).

8. CHƯƠNG TÁM PHÁP (Aṭṭhakanipāta) gồm những chủ đề: Lợi ích của lòng từ; Tám nhân duyên thành tựu Phạm hạnh; Tám pháp xoay chuyển thế gian; Khi tâm bị chinh phục; Những phẩm. hạnh của Tôn giả Nanda; Tỳ-khưu giả dạng; Các triết phái công kích đức Thế Tôn; Tướng quân Siha quy y với Thế Tôn; Con ngựa thuần phục, con ngựa chưa được điều phục và các hạng Tỳ-khưu; Vô minh và cấu uế; Điều kiện để trở thành sứ giả; Sự trói buộc giữa nam và nữ; Tám tính chất của biển và giáo pháp; Điều kiện để Bố-tát; Ugga và Hatthaka, những cư sĩ lý tưởng; Định nghĩa về cư sĩ; Tám sự kiện phi thời cho đời sống Phạm hạnh; Tư niệm về pháp của Tôn giả Anuruddha; Những lý do phải bố thí và làm phước; Thửa ruộng và vị Tỳ-khưu; Tám nguồn nước công đức; Quả dị thục của hành động ác; Tám chi trai giới và công đức thực hành; Tám pháp để nữ nhân sanh thiên; Các pháp giúp người phụ nữ sống tự chủ; Sự thành lập Ni đoàn và tám pháp trọng yếu; Những điều kiện để người cư sĩ sống hạnh phúc, an lạc ngay trong hiện tại và tương lai; Đạo và Quả của bậc Thánh; Điều kiện cần của vị giảng sư; Giao thiệp với chư thiên; Tám thắng xứ; Tám giải thoát; Tám Thánh ngôn; Hội chúng của đức Phật; Lời hứa của đức Phật; Lòng tin; Tu tập niệm chết; Chỗ dựa của biếng nhác và tinh tấn; Cội rễ của sự vật; Pháp của kẻ trộm; Các tên gọi khác của Như Lai; Trú xứ được đức Phật khen ngợi; Pháp trách phạt cư sĩ; Pháp yết-ma cử tội; Các nữ cư sĩ tiêu biểu.

“Trong Pháp và Luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình” (AN 8.19).

9. CHƯƠNG CHÍN PHÁP (Navakanipāta) gồm những chủ đề: Chín pháp y cứ đề thành tựu Chánh giác phần; Các pháp đưa đến tâm giải thoát; Nghe pháp đúng thời và đàm luận pháp đúng thời; Thành tựu bốn sức mạnh; Pháp cần phải thân cận và không cần phải thân cận; Bậc A-la-hán không còn lỗi lầm; Chín hạng người; Phẩm hạnh của Tôn giả Sāriputta; Những lý do để sống Phạm hạnh; Hỏi đáp với Tôn giả Samiddhi; Thân thể như ung nhọt; Chín loại tưởng; Những gia đình vị Tỳ-khưu nên đến và không nên đến; Tám pháp trai giới và bốn tâm vô lượng; Sự hối hận của chư thiên; Phân biệt bố thí; Chín chỗ cư trú của loài hữu tình; Tâm vững chãi như trụ đá; Chín cách nghĩ gây xung đột và cách điều phục; Đoạn điệt và an trú tuần tự; Niết-bàn là an lạc; Trí tuệ thể nhập và khởi xuất thiền chứng; Đúng sai và hý luận; Trận chiến giữa chư thiên và a-tu-la; Hạnh sống độc cư thiền tịnh của vị Ty-kheo; Thế nào là an tịnh; Trói buộc và giải thoát; Thế nào gọi là thân chứng, tuệ giải thoát và giải thoát cả hai phần; Năm hạ phần kiết sử và năm thượng phần kiết sử; Năm tâm hoang vu và bốn niệm xứ.

“Pháp là chính thực mình thấy, pháp là thiết thực hiện tại" (AN 9.46).

10. CHƯƠNG MƯỜI PHÁP (Dasakanipāta) gồm những chủ đề: Sự phát triển tuần tự của thiện pháp; Hữu diệt là Niết-bàn; Trú xứ lý tưởng; Năm tâm hoang vu và năm tâm triền phược; Không phóng đật là chỗ quy tụ của thiện pháp; Mười bậc xứng đáng được cúng dường; Mười chỗ cư trú của bậc Thánh; Mười lực và mười trí như thật của Như Lai; Mười đề mục (biến xứ) để tu thiền; Tối thượng và hạ liệt; Vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) tán thán đức Thế Tôn; Mười lý do chế giới; Người hòa giải; Tư cách làm Thầy; Phá hòa hợp Tăng; Cội gốc của tranh luận; Quán sát kỹ rồi hãy buộc tội; Nguy hiểm khi thân cận vương quyền; Tự soi sáng tâm mình; Các pháp lấy Niết-bàn làm cứu cánh; Mười tưởng và việc trị bệnh; Thức ăn của vô minh và minh; Giải thích thêm về bốn bậc Thánh; Ước nguyện đúng pháp; Tiếng ồn là cây gai của thiền định; Hạnh nghiệp và nơi tái sinh; Con quạ và vị Tỳ-khưu; Mười hạng người hưởng dục; Chấp thủ của ngoại đạo; Rừng núi làm loạn tâm vị Tỳ-khưu chưa chứng thiền định; Định nghĩa về tẩy trần; Thuốc xổ của bậc Thánh; Ngày xuất ly của Bà-la-môn và của bậc Thánh; Tịnh hạnh và bất tịnh hạnh; Cúng cho người chết; Pháp môn quanh co và pháp môn Chánh pháp.

“Với người sống Phạm hạnh, thân cận với phụ nữ là cây gai. Với người chứng thiền thứ nhất, tiếng ồn là cây gai. Với người chứng thiền thứ hai, tầm tứ là cây gai. Với người chứng thiền thứ ba, hỷ là cây gai. Với người chứng thiền thứ tư, hơi thở là cây gai. Với người đã đạt được diệt thọ tưởng định, tưởng và thọ là cây gai. Tham là cây gai. Sân là cây gai. Si là cây gai” (AN 10.72).

11. CHƯƠNG MƯỜI MỘT PHÁP (Ekādasakanipāta) gồm những chủ đề: Sự sinh khởi tuần tự các thiện pháp; Những tai họa khi xúc phạm bậc Thánh; Tác ý và không tác ý; Thiền tư thuần thục; Bậc Minh Hạnh Tròn Đầy; Các pháp tùy niệm; An trú với lòng tin và những pháp liên hệ; Những lợi ích khi tu tập lòng từ; Cánh cửa bất tử; Pháp của người chăn bò; Các trạng thái thiền định; Thắng tri tham ái.

“Sát-lỵ, chúng tối thắng,
Với người tin chủng tánh,
Bậc Minh Hạnh Đầy Đủ,
Tối thắng giữa nhân, thiên”
(AN 11.10).

* Đọc thêm:
Dẫn luận kinh Tăng chi bộ. Thích Minh Thành (2020).
https://tinyurl.com/mty3zbe5

*-----*




Mục lục tổng quát Tương ưng bộ (Saṃyutta Nikāya)

 MỤC LỤC TỔNG QUÁT TƯƠNG ƯNG BỘ 
(SAṂYUTTA NIKĀYA)

Tương ưng bộ là bộ tập hợp các bài kinh ngắn, sắp xếp theo chủ đề, gọi là Tương ưng (Saṃyutta), có thể xem như tương đương với Chương. Có tất cả 56 Tương ưng hay 56 Chương. Mỗi chương được phân chia thành nhiều nhóm, gọi là Phẩm (Vagga). Theo Bhikkhu Bodhi, dịch giả bản Anh dịch, Tương ưng bộ trong tạng Pāli ngày nay có tổng cộng 2.904 bài kinh.

Qyu ước trích dẫn kinh dùng trong bản Anh dịch và trong trang web SuttaCentral là: “SN xx.yy”, trong đó, SN: Saṃyutta Nikāya, xx: số Tương ưng (số Chương), yy: số bài kinh trong Tương ưng đó.

Thí dụ:
SN 56.11, Kinh Chuyển Pháp Luân. Đây là bài kinh số 11 trong Chương 56 (Tương ưng Sự Thật) của Tương ưng bộ.

*

SN 1 - Devatāsaṃyutta - Connected Discourses with Devatās - Tương ưng Chư Thiên
SN 2 - Devaputtasaṃyutta - Connected Discourses with Young Devas - Tương ưng Thiên Tử
SN 3 - Kosalasaṃyutta - Connected Discourses with the Kosalan - Tương ưng Kosala
SN 4 - Mārasaṃyutta - Connected Discourses with Māra - Tương ưng Ác Ma
SN 5 - Bhikkhunīsaṃyutta - Connected Discourses with Bhikkhunīs - Tương ưng Tỳ-Khưu-Ni
SN 6 - Brahmasaṃyutta - Connected Discourses with Brahmās - Tương ưng Phạm Thiên
SN 7 - Brāhmaṇasaṃyutta - Connected Discourses with Brahmins - Tương ưng Bà-La-Môn
SN 8 - Vaṅgīsasaṃyutta - Connected Discourses with Vaṅgīsa - Tương ưng Tôn Giá Vaṅgīsa
SN 9 - Vanasaṃyutta - Connected Discourses in the Woods - Tương ưng Rừng
SN 10 - Yakkhasaṃyutta - Connected Discourses with Yakkhas - Tương ưng Dạ - Xoa
SN 11 - Sakkasaṃyutta - Connected Discourses with Sakka - Tương ưng Sakka
SN 12 - Nidānasaṃyutta - Connected Discourses on Causation - Tương ưng Nhân Duyên
SN 13 - Abhisamayasaṃyutta - Connected Discourses on the Breakthrough - Tương ưng Minh Kiến
SN 14 - Dhātusaṃyutta - Connected Discourses on Elements - Tương ưng Giới
SN 15 - Anamataggasaṃyutta - Connected Discourses on Without Discoverable Beginning - Tương ưng Vô Thỉ
SN 16 - Kassapasaṃyutta - Connected Discourses with Kassapa - Tương ưng Kassapa
SN 17 - Lābhasakkārasaṃyutta - Connected Discourses on Gains and Honour - Tương ưng Lợi Đắc, Cung Kỉính
SN 18 - Rāhulasaṃyutta - Connected Discourses with Rāhula - Tương ưng Rāhula
SN 19 - Lakkhaṇasaṃyutta - Connected Discourses with Lakkhaṇa - Tương ưng Lakkhaṇa
SN 20 - Opammasaṃyutta - Connected Discourses with Similes - Tương ưng Thí Dụ
SN 21 - Bhikkhusaṃyutta - Connected Discourses with Bhikkhus - Tương ưng Tỳ-Khưu
SN 22 - Khandhasaṃyutta - Connected Discourses on the Aggregates - Tương ưng Uấn
SN 23 - Rādhasaṃyutta - Connected Discourses with Rādha - Tương ưng Rādha
SN 24 - Diṭṭhisaṃyutta - Connected Discourses on Views - Tương ưng Kiến
SN 25 - Okkantisaṃyutta - Connected Discourses on Entering - Tương ưng Nhập
SN 26 - Uppādasaṃyutta - Connected Discourses on Arising - Tương ưng Sanh
SN 27 - Kilesasaṃyutta - Connected Discourses on Defilements - Tương ưng Phiên Não
SN 28 - Sāriputtasaṃyutta - Connected Discourses with Sāriputta - Tương ưng Sāriputta
SN 29 - Nāgasaṃyutta - Connected Discourses on Nāgas - Tương ưng Loài Rồng
SN 30 - Supaṇṇasaṃyutta - Connected Discourses on Supaṇṇas - Tương ưng Kim Sí Điểu
SN 31 - Gandhabbasaṃyutta - Connected Discourses on Gandhabbas - Tương ưng Càn-Thát-Bà
SN 32 - Valāhakasaṃyutta - Connected Discourses on Cloud Devas - Tương ưng Thần Mây
SN 33 - Vacchagottasaṃyutta - Connected Discourses with Vacchagotta - Tương ưng Vacchagotta
SN 34 - Jhānasaṃyutta - Connected Discourses on Meditation - Tương ưng Thiên
SN 35 - Saḷāyatanasaṃyutta - Connected Discourses on the Six Sense Bases - Tương ưng Sáu Xứ
SN 36 - Vedanāsaṃyutta - Connected Discourses on Feeling - Tương ưng Thọ
SN 37 - Mātugāmasaṃyutta - Connected Discourses on Women - Tương ưng Nữ Nhân
SN 38 - Jambukhādakasaṃyutta - Connected Discourses with Jambukhādaka - Tương ưng Jambukhādaka
SN 39 - Sāmaṇḍakasaṃyutta - Connected Discourses with Sāmaṇḍaka - Tương ưng Sāmaṇḍaka
SN 40 - Moggallānasaṃyutta - Connected Discourses with Moggallāna - Tương ưng Moggallāna
SN 41 - Cittasaṃyutta - Connected Discourses with Citta - Tương ưng Citta
SN 42 - Gāmaṇisaṃyutta - Connected Discourses with Headmen - Tương ưng Thôn Trưởng
SN 43 - Asaṅkhatasaṃyutta - Connected Discourses on the Unconditioned - Tương ưng Vô Vi
SN 44 - Abyākatasaṃyutta - Connected Discourses on the Undeclared - Tương ưng Không Thuyét
SN 45 - Maggasaṃyutta - Connected Discourses on the Path - Tương ưng Đạo
SN 46 - Bojjhaṅgasaṃyutta - Connected Discourses on the Factors of Enlightenment - Tương ưng Giác Chi
SN 47 - Satipaṭṭhānasaṃyutta - Connected Discourses on the Establishments of Mindfulness - Tương ưng Niệm Xứ
SN 48 - Indriyasaṃyutta - Connected Discourses on the Faculties - Tương ưng Căn
SN 49 - Sammappadhānasaṃyutta - Connected Discourses on the Right Strivings - Tương ưng Chánh Cần
SN 50 - Balasaṃyutta - Connected Discourses on the Powers - Tương ưng Lực
SN 51 - Iddhipādasaṃyutta - Connected Discourses on the Bases for Spiritual Power - Tương ưng Như Ý Túc
SN 52 - Anuruddhasaṃyutta - Connected Discourses with Anuruddha - Tương ưng Anuruddha
SN 53 - Jhānasaṃyutta - Connected Discourses on the Jhānas - Tương ưng Thiên
SN 54 - Ānāpānasaṃyutta - Connected Discourses on Breathing - Tương ưng Hơi Thở Vô, Hơi Thở Ra
SN 55 - Sotāpattisaṃyutta - Connected Discourses on Stream - Entry - Tương ưng Dự Lưu
SN 56 - Saccasaṃyutta - Connected Discourses on the Truths - Tương ưng Sự Thật

* Đọc thêm:
Dẫn luận kinh Tương ưng bộ. Thích Minh Thành (2019).
 

*-----*



Thursday, 23 January 2025

Mục lục Trung Bộ (Majjhima Nikāya)

 MỤC LỤC TRUNG BỘ
(MAJJHIMA NIKĀYA)

SuttaCentral dùng ký hiệu "MN xx" để trích dẫn các bài kinh của Trung bộ (MN: Majjhima Nikāya). Tựa bài kinh tiếng Việt dựa theo bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu, tựa bài kinh tiếng Anh dựa theo bản dịch của Bhikkhu Bodhi.

PHẦN I
MN 1 - Mūlapariyāya Sutta - The Root of All Things - Kinh Pháp Môn Căn Bản
MN 2 - Sabbāsava Sutta - All the Taints - Kinh Tất Cả Lậu Hoặc
MN 3 - Dhammadāyāda Sutta - Heirs in Dhamma - Kinh Thừa Tự Pháp
MN 4 - Bhayabherava Sutta - Fear and Dread - Kinh Sợ Hãi Và Khiếp Đảm
MN 5 - Anangaṇa Sutta - Without Blemishes - Kinh Không Uế Nhiễm
MN 6 - Ākankheyya Sutta - Īf a Bhikkhu Should Wish - Kinh Ước Nguyện
MN 7 - Vatthūpama Sutta - The Simile of the Cloth - Kinh Ví Dụ Tầm Vải
MN 8 - Sallekha Sutta - Effacement - Kinh Đoạn Giảm
MN 9 - Sammādiṭṭhi Sutta - Right View - Kinh Chánh Tri Kiến
MN 10 - Satipaṭṭhāna Sutta - The Foundations of Mindfulness - Kinh Niệm Xứ
MN 11 - Cūḷasīhanāda Sutta - The Shorter Discourse on the Lion’s Roar - Tiểu Kinh Sư Tử Hống
MN 12 - Mahāsīhanāda Sutta - The Greater Discourse on the Lion’s Roar - Đại Kinh Sư Tử Hống
MN 13 - Mahādukkhakkhandha Sutta - The Greater Discourse on the Mass of Suffering - Đại Kinh Khổ Uẩn
MN 14 - Cūḷadukkhakkhandha Sutta - The Shorter Discourse on the Mass of Suffering - Tiểu Kinh Khổ Uẩn
MN 15 - Anumāna Sutta - Īnference - Kinh Tư Lượng
MN 16 - Cetokhila Sutta - The Wilderness in the Heart - Kinh Tâm Hoang Vu
MN 17 - Vanapattha Sutta - Jungle Thickets - Kinh Khu Rừng
MN 18 - Madhupiṇḍika Sutta - The Honeyball - Kinh Mật Hoàn
MN 19 - Dvedhāvitakka Sutta - Two Kinds of Thought - Kinh Song Tầm
MN 20 - Vitakkasaṇṭhāna Sutta - The Removal of Distracting Thoughts - Kinh An Trú Tầm
MN 21 - Kakacūpama Sutta - The Simile of the Saw - Kinh Ví Dụ Cái Cưa
MN 22 - Alagaddūpama Sutta - The Simile of the Snake - Kinh Ví Dụ Con Rắn
MN 23 - Vammika Sutta - The Ant-hill - Kinh Gò Mối
MN 24 - Rathavinīta Sutta - The Relay Chariots - Kinh Trạm Xe
MN 25 - Nivāpa Sutta - The Bait - Kinh Bẫy Mồi
MN 26 - Ariyapariyesanā Sutta - The Noble Search - Kinh Thánh Cầu
MN 27 - Cūḷahatthipadopama Sutta - The Shorter Discourse on the Simile of the Elephant’s Footprint - Tiểu Kinh Dụ Dấu Chân Voi
MN 28 - Mahāhatthipadopama Sutta - The Greater Discourse on the Simile of the Elephant’s Footprint - Đại Kinh Dụ Dấu Chân Voi
MN 29 - Mahāsāropama Sutta - The Greater Discourse on the Simile of the Heartwood - Đại Kinh Thí Dụ Lõi Cây
MN 30 - Cūḷasāropama Sutta - The Shorter Discourse on the Simile of the Heartwood - Tiểu Kinh Thí Dụ Lõi Cây
MN 31 - Cūḷagosinga Sutta - The Shorter Discourse in Gosinga - Tiểu Kinh Rừng Sừng Rò
MN 32 - Mahāgosinga Sutta - The Greater Discourse in Gosinga - Đại Kinh Rừng Sừng Bò
MN 33 - Mahāgopālaka Sutta - The Greater Discourse on the Cowherd - Đại Kinh Người Chăn Bò
MN 34 - Cūḷagopālaka Sutta - The Shorter Discourse on the Cowherd - Tiểu Kinh Người Chăn Bò
MN 35 - Cūḷasaccaka Sutta - The Shorter Discourse to Saccaka - Tiểu Kinh Saccaka
MN 36 - Mahāsaccaka Sutta - The Greater Discourse to Saccaka - Đại Kinh Saccaka
MN 37 - Cūḷataṇhāsankhaya Sutta - The Shorter Discourse on the Destruction of Craving - Tiểu Kinh Đoạn Tận Ái
MN 38 - Mahātaṇhāsankhaya Sutta - The Greater Discourse on the Destruction of Craving - Đại Kinh Đoạn Tận Ái
MN 39 - Mahā-Assapura Sutta - The Greater Discourse at Assapura - Đại Kinh Xóm Ngựa
MN 40 - Cūḷa-Assapura Sutta - The Shorter Discourse at Assapura - Tiểu Kinh Xóm Ngựa
MN 41 - Sāleyyaka Sutta - The Brahmins of Sālā - Kinh Sāleyyaka
MN 42 - Verañjaka Sutta - The Brahmins of Veraṇja - Kinh Verañjaka
MN 43 - Mahāvedalla Sutta - The Greater Series of Questions and Answers - Đại Kinh Phương Quảng
MN 44 - Cūḷavedalla Sutta - The Shorter Series of Questions and Answers - Tiểu Kinh Phương Quảng
MN 45 - Cūḷadhammasamādāna Sutta - The Shorter Discourse on Ways of Undertaking Things - Tiễu Kinh Pháp Hành
MN 46 - Mahādhammasamādāna Sutta - The Greater Discourse on Ways of Undertaking Things - Đại Kinh Pháp Hành
MN 47 - Vīmaṁsaka Sutta - The Īnquirer - Kinh Tư Sát
MN 48 - Kosambiya Sutta - The Kosambians - Kinh Kosambiya
MN 49 - Brahmanimantanika Sutta - The Īnvitation of a Brahmā - Kinh Phạm Thiên Cầu Thỉnh
MN 50 - Māratajjanīya Sutta - The Rebuke to Māra - Kinh Hàng Ma

PHẦN II
MN 51 - Kandaraka Sutta - To Kandaraka - Kinh Kandaraka
MN 52 - Aṭṭhakanāgara Sutta - The Man from Aṭṭhakanāgara - Kinh Bát Thành
MN 53 - Sekha Sutta - The Disciple in Higher Training - Kinh Hữu Học
MN 54 - Potaliya Sutta - To Potaliya - Kinh Potaliya
MN 55 - Jīvaka Sutta - To Jīvaka - Kinh Jivaka
MN 56 - Upāli Sutta - To Upāli - Kinh Ưu-Ba-Ly
MN 57 - Kukkuravatika Sutta - The Dog-Duty Ascetic - Kinh Hạnh Con Chó
MN 58 - Abhayarājakumāra Sutta - To Prince Abhaya - Kinh Vương Tử Vô Úy
MN 59 - Bahuvedanīya Sutta - The Many Kinds of Feeling - Kinh Nhiều Cảm Thọ
MN 60 - Apaṇṇaka Sutta - The Īncontrovertible Teaching - Kinh Không Gì Chuyển Hướng
MN 61 - Ambalaṭṭhikārāhulovāda Sutta - Advice to Rāhula at Ambalaṭṭhikā - Kinh Giáo Giới La-Hầu-La Ở Rừng Am-Bà-La
MN 62 - Mahārāhulovāda Sutta - The Greater Discourse of Advice to Rāhula - Đại Kinh Giáo Giới La-Hầu-La
MN 63 - Cūḷamālunkya Sutta - The Shorter Discourse to Mālunkyāputta - Tiểu Kinh Mālunkyā
MN 64 - Mahāmālunkya Sutta - The Greater Discourse to Mālunkyāputta - Đại Kinh Mālunkyā
MN 65 - Bhaddāli Sutta - To Bhaddāli - Kinh Bhaddāli
MN 66 - Laṭukikopama Sutta - The Simile of the Quail - Kinh Ví Dụ Con Chim Cáy
MN 67 - Cātumā Sutta - At Cātumā - Kinhcātumā
MN 68 - Naḷakapāna Sutta - At Naḷakapāna - Kinh Naḷakapāna
MN 69 - Gulissāni Sutta - Gulissāni - Kinh Gulissāni
MN 70 - Kīṭāgiri Sutta - At Kīṭāgiri - Kinh Kīṭāgiri
MN 71 - Tevijjavacchagotta Sutta - To Vacchagotta on the Threefold True Knowledge - Kinh Ba Minh Vacchagotta
MN 72 - Aggivacchagotta Sutta - To Vacchagotta on Fire - Kinh Vacchagotta
MN 73 - Mahāvacchagotta Sutta - The Greater Discourse to Vacchagotta - Đại Kinh Vacchagotta
MN 74 - Dīghanakha Sutta - To Dīghanakha - Kinh Trường Trảo
MN 75 - Māgandiya Sutta - To Māgandiya - Kinh Māgandiya
MN 76 - Sandaka Sutta - To Sandaka - Kinh Sandaka
MN 77 - Mahāsakuludāyi Sutta - The Greater Discourse to Sakuludāyi - Đại Kinh Sakuludāyi
MN 78 - Samaṇamaṇḍikā Sutta - Samaṇamaṇḍikāputta - Kinh Samaṇamaṇḍikā
MN 79 - Cūḷasakuludāyi Sutta - The Shorter Discourse to Sakuludāyi - Tiểu Kinh Sakuludāyi
MN 80 - Vekhanassa Sutta - To Vekhanassa - Kinh Vekhanassa
MN 81 - Ghaṭīkāra Sutta - Ghaṭīkāra the Potter - Kinh Ghaṭīkāra
MN 82 - Raṭṭhapāla Sutta - On Raṭṭhapāla - Kinh Raṭṭhapāla
MN 83 - Makhādeva Sutta - King Makhādeva - Kinh Makhādeva
MN 84 - Madhurā Sutta - At Madhurā - Kinh Madhurā
MN 85 - Bodhirājakumāra Sutta - To Prince Bodhi - Kinh Vương Tử Bồ-Đề
MN 86 - Angulimāla Sutta - On Angulimāla - Kinh Angulimāla
MN 87 - Piyajātika Sutta - Born from Those Who Are Dear - Kinh Ái Sanh
MN 88 - Bāhitika Sutta - The Cloak - Kinh Bāhitika
MN 89 - Dhammacetiya Sutta - Monuments to the Dhamma - Kinh Pháp Trang Nghiêm
MN 90 - Kaṇṇakatthala Sutta - At Kaṇṇakatthala - Kinh Kaṇṇakatthala
MN 91 - Brahmāyu Sutta - Brahmāyu - Kinh Brahmāyu
MN 92 - Sela Sutta - To Sela - Kinh Sela
MN 93 - Assalāyana Sutta - To Assalāyana - Kinh Assalāyana
MN 94 - Ghoṭamukha Sutta - To Ghoṭamukha - Kinh Ghoṭamukha
MN 95 - Cankī Sutta - With Cankī - Kinh Cankī
MN 96 - Esukārī Sutta - To Esukārī - Kinh Esukārī
MN 97 - Dhānañjāni Sutta - To Dhānañjāni - Kinh Dhānañjāni
MN 98 - Vāseṭṭha Sutta - To Vāseṭṭha - Kinh Vāseṭṭha
MN 99 - Subha Sutta - To Subha - Kinh Subha
MN 100 - Sangārava Sutta - To Sangārava - Kinh Sangārava

PHẦN III
MN 101 - Devadaha Sutta - At Devadaha - Kinh Devadaha
MN 102 - Paṇcattaya Sutta - The Five and Three - Kinh Năm Và Ba
MN 103 - Kinti Sutta - What Do You Think About Me? - Kinh Như Thế Nào
MN 104 - Sāmagāma Sutta - At Sāmagāma - Kinh Làng Sāma
MN 105 - Sunakkhatta Sutta - To Sunakkhatta - Kinh Thiện Tinh
MN 106 - Āneṇjasappāya Sutta - The Way to the Imperturbable - Kinh Bất Động Lợi Ích
MN 107 - Gaṇakamoggallāna Sutta - To Gaṇaka Moggallāna - Kinh Gaṇaka Moggallāna
MN 108 - Gopakamoggallāna Sutta - With Gopaka Moggallāna - Kinh Gopaka Moggallāna
MN 109 - Mahāpuṇṇama Sutta - The Greater Discourse on the Full-moon Night - Đại Kinh Mãn Nguyệt
MN 110 - Cūḷapuṇṇama Sutta - The Shorter Discourse on the Full-Moon Night - Tiểu Kinh Mãn Nguyệt
MN 111 - Anupada Sutta - One by One As They Occurred - Kinh Bất Đoạn
MN 112 - Chabbisodhana Sutta - The Sixfold Purity - Kinh Sáu Thanh Tịnh
MN 113 - Sappurisa Sutta - The True Man - Kinh Chân Nhân
MN 114 - Sevitabbāsevitabba Sutta - To Be Cultivated and Not to Be Cultivated - Kinh Nên Hành Trì, Không Nên Hành Trì
MN 115 - Bahudhātuka Sutta - The Many Kinds of Elements - Kinh Đa Giới
MN 116 - Īsigili Sutta - Īsigili - The Gullet of the Seers - Kinh Thôn Tiên
MN 117 - Mahācattārīsaka Sutta - The Great Forty - Đại Kinh Bốn Mươi
MN 118 - Ānāpānasati Sutta - Mindfulness of Breathing - Kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm
MN 119 - Kāyagatāsati Sutta - Mindfulness of the Body - Kinh Thân Hành Niệm
MN 120 - Sankhārupapatti Sutta - Reappearance by Aspiration - Kinh Hành Sanh
MN 121 - Cūḷasuññata Sutta - The Shorter Discourse on Voidness - Tiểu Kinh Về Tánh Không
MN 122 - Mahāsuññata Sutta - The Greater Discourse on Voidness - Đại Kinh Về Tánh Không
MN 123 - Acchariya-abbhūta Sutta - Wonderful and Marvellous - Kinh Hy Hữu, Vị Tằng Hữu Pháp
MN 124 - Bakkula Sutta - Bakkula - Kinh Bạc-Câu-La
MN 125 - Dantabhūmi Sutta - The Grade of the Tamed - Kinh Điều Ngự Địa
MN 126 - Bhūmija Sutta - Bhūmija - Kinh Phù-Di
MN 127 - Anuruddha Sutta - Anuruddha - Kinh A-Na-Luật
MN 128 - Upakkilesa Sutta - Īmperfections - Kinh Tùy Phiền Não
MN 129 - Bālapaṇḍita Sutta - Fools and Wise Men - Kinh Hiền Ngu
MN 130 - Devadūta Sutta - The Divine Messengers - Kinh Thiên Sứ
MN 131 - Bhaddekaratta Sutta - A Single Excellent Night - Kinh Nhất Dạ Hiền Giả
MN 132 - Ānandabhaddekaratta Sutta - Ānanda and A Single Excellent Night - Kinh A-Nan Nhất Dạ Hiền Giả
MN 133 - Mahākaccānabhaddekaratta Sutta - Mahā Kaccāna and A Single Excellent Night - Kinh Đại Ca-Chiên-Diên Nhất Dạ Hiền Giả
MN 134 - Lomasakangiyabhaddekaratta Sutta - Lomasakangiya and A Single Excellent Night - Kinh Lomasakangiya Nhất Dạ Hiền Giả
MN 135 - Cūḷakammavibhanga Sutta - The Shorter Exposition of Action - Tiều Kinh Nghiệp Phân Biệt
MN 136 - Mahākammavibhanga Sutta - The Greater Exposition of Action - Đại Kinh Nghiệp Phân Biệt
MN 137 - Saḷāyatanavibhanga Sutta - The Exposition of the Sixfold Base - Kinh Phân Biệt Sáu Xứ
MN 138 - Uddesavibhanga Sutta - The Exposition of a Summary - Kinh Tổng Thuyết Và Biệt Thuyết
MN 139 - Araṇavibhanga Sutta - The Exposition of Non-conflict - Kinh Vô Tranh Phân Biệt
MN 140 - Dhātuvibhanga Sutta - The Exposition of the Elements - Kinh Giới Phân Biệt
MN 141 - Saccavibhanga Sutta - The Exposition of the Truths - Kinh Phân Biệt Về Sự Thật
MN 142 - Dakkhiṇāvibhanga Sutta - The Exposition of Offerings - Kinh Phân Biệt Cúng Dường
MN 143 - Anāthapiṇḍikovāda Sutta - Advice to Anāthapiṇḍika - Kinh Giáo Giới Cấp Cô Độc
MN 144 - Channovāda Sutta - Advice to Channa - Kinh Giáo Giới Channa
MN 145 - Puṇṇovāda Sutta - Advice to Puṇṇa - Kinh Giáo Giới Phú-Lâu-Na
MN 146 - Nandakovāda Sutta - Advice from Nandaka - Kinh Giáo Giới Nandaka
MN 147 - Cūḷarāhulovāda Sutta - The Shorter Discourse of Advice to Rāhula - Tiểu Kinh Giáo Giới La-Hầu-La
MN 148 - Chachakka Sutta - The Six Sets of Six - Kinh Sáu Sáu
MN 149 - Mahāsaḷāyatanika Sutta - The Great Sixfold Base - Đại Kinh Sáu Xứ
MN 150 - Nagaravindeyya Sutta - To the Nagaravindans - Kinh Nói Cho Dân Chúng Nagaravinda
MN 151 - Piṇḍapātapārisuddhi Sutta - The Purification of Almsfood - Kinh Khất Thực Thanh Tịnh
MN 152 - Īndriyabhāvanā Sutta - The Development of the Faculties - Kinh Căn Tu Tập 

* Đọc thêm:
Dẫn luận kinh Trung bộ. Thích Nhật Từ (2019).
https://tinyurl.com/5n8a2rap

*-----*