Wednesday, 25 October 2017

Sách: NHỮNG LỜI PHẬT DẠY, Bình Anson dịch, phiên bản 2023-3

Tải sách Những Lời Phật Dạy dạng PDF để đọc trên máy vi tính, phiên bản tháng 3-2023 với nhiều chỉnh sửa, tại:

https://tinyurl.com/ju2p7k4p

* Giới thiệu sách Những Lời Phật Dạy, dàn bài & biểu đồ minh họa: http://budsas.net/dlpp/index.htm#nlpd

1) Đối với quý vị ở Việt Nam, xin hoan hỷ liên lạc đến xin sách tại:

   Chùa Giác Ngộ
   92 Nguyễn Chí Thanh, P.3, Q.10, Sài Gòn
   ĐT: +84 28 3830 9570

   Pháp viện Minh Đăng Quang
   505 Xa lộ Hà Nội, An Phú, Q. 2, Sài Gòn
   ĐT:  +84 91 827 27 78

2) Quý vị ở nước ngoài có thể liên hệ chùa Pháp Luân:

   Phap Luan Buddhist Cultural Center
   13913 S Post Oak Rd, Houston, TX 77045, USA
   Phone: +1 713-433-4364

3) Sách nói, do Trung Tâm Diệu Pháp Âm (Chùa Khuông Việt, 1355 Hoàng Sa, P.5, Q. Tân Bình, Sài Gòn) thực hiện:

   3a. Nghe online: http://dieuphapam.net/dpa/nhung-loi-phat-day.3899/

   3b. Nghe trên Youtube: https://www.youtube.com/playlist?list=PL8DgjWmX16apZQUyeanKymxZ6rtSTb_KI 

   3c. Tải về toàn bộ 49 tập tin âm thanh (MP3, audio files) :

   Chương 01-04: nlpd_audio_00-04.zip (dung lượng 462.4 MB)
   => https://mega.nz/#!CpRjBBjK!zOuINSNrMrZKLow1KlN7ssjs5ZL7Jzq2_sPYhkiJV1s

   Chương 05-08: nlpd_audio_05-08.zip (dung lượng 463.0 MB)
   => https://mega.nz/#!yxQn2KhK!oJbZ3ddbqamSGt7A-P_Ja5BknTWTXDsIxiRwXSNldww

   Chương 09-10: nlpd_audio_09-10.zip (dung lượng 361.9 MB, có kèm bản PDF của cuốn sách)
   => https://mega.nz/#!v1xWWABZ!oqIymVOEFl6v0GzpFwArOqN_NdqFUZszAF_lllV0m4c

   Đây là các files dạng nén ZIP. Giải nén để được các files âm thanh MP3.


*

Friday, 13 October 2017

Dự lưu: Nhập dòng thánh giải thoát

Bậc thánh Dự lưu là vị đã cắt đứt ba kiết sử đầu tiên, trói buộc chúng sinh trong vòng luân hồi: thân kiến, hoài nghi, giới lễ nghi thù.

Điều quan trọng cần ghi nhớ về quả vị DỰ LƯU:

1) Dự lưu hướng phần là bốn yếu tố hướng về (tạo điều kiện cho) quả vị nầy:
Thân cận bậc chân nhân.
Nghe diệu pháp.
Như lý tác ý.
Thực hành pháp và tùy pháp.

2) Dự lưu hạnh phần là bốn yếu tố tạo nên đức hạnh (tính chất) của một vị thánh Dự lưu:
Lòng tin vững chắc nơi Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng).
Giới đức trong sạch.
Tâm bố thí chia sẻ rộng rãi.
Có trí tuệ (thấy và biết sự sinh diệt của mọi hiện tượng).

Có hai hạng căn tánh của hành giả tiến đến quả vị Dự Lưu, dựa theo ngũ căn (tín, tấn, niệm, định, tuệ):

a) Tùy tín hành (Saddhānusāri): hành giả có TÍN căn nổi trội (tín căn mạnh hơn các căn khác).
b) Tùy pháp hành (Dhammānusāri): hành giả có TUỆ căn nổi trội (tuệ căn mạnh hơn các căn khác).

*


Saturday, 30 September 2017

Ảnh Đức Phật

Dưới đây là tấm ảnh nổi tiếng do bác Phạm Kim Khánh chụp tượng mẫu tại xưởng của nhà điêu khắc Phúc Điền vào năm 1961, dùng để đắp tượng Phật ở Thích Ca Phật Đài, Vũng Tàu.

Độ phân giải: 2635 x 3543 pixels, dung lượng 1.62 MB.

1) http://budsas.net/uni/u-dp&pp/phat_thichca1.jpg
2) http://budsas.net/uni/u-dp&pp/phat_thichca2.jpg

Đọc thêm: Nguồn gốc tấm hình Đức Phật nổi tiếng của bác Phạm Kim Khánh
http://budsas.blogspot.com/2017/02/nguon-goc-tam-hinh-uc-phat-noi-tieng.html

*




Wednesday, 27 September 2017

Nói có sách, mách có chứng

Nói có sách mách có chứng, nghĩa là nói điều gì đó xác thực, có chứng cứ rõ ràng, có thể kiểm chứng được. Nói có sách, mách có chứng có nghĩa là không nói vu vơ kiểu ăn ốc nói mò, không thêu dệt, không nói kiểu tung tin thất thiệt, bịa đặt dựng chuyện, vu oan giá hoạ để bóp méo, xuyên tạc sự thật hay đổ lỗi cho người khác.

Nhưng tại sao, để diễn đạt ý nghĩa đó người Việt Nam lại chọn cách nói như vậy? Có thể bắt đầu từ cấu trúc thành ngữ, sau đó cậy nhờ việc suy xét ý nghĩa dân gian của các từ sách, mách, chứng được dùng trong thành ngữ này để hiểu nội dung thành ngữ. Dễ thấy là, thành ngữ nói có sách, mách có chứng gồm 2 vế: Nói có sách và mách có chứng, được tạo thành trên hai cơ sở của phép đối và điệp. Nói đối với mách, sách đối với chứng. Trong thực tế sử dụng thành ngữ này có thêm một số biến thể khác như: nói phải có sách, mách phải có chứng hoặc nói chẳng có sách, mách chẳng có chứng gì cả. Do vậy, cấu trúc của mỗi vế nói trên cũng có các biến thể khác nhau như đã thấy.

Đối với loại thành ngữ được tạo ra theo kiểu này, khi nắm được ý nghĩa của một trong hai vế, thường là vế thứ nhất, là có thể hiểu được nội dung chính yếu của các thành ngữ. Sách trong quan niệm dân gian là kho báu, là nơi thâu góp được những điều hay, lẽ phải ở đời. Sách là nơi cho những điều tin cẩn, rõ ràng và sự sáng suốt. Sách là mực thước. Soi trong sách có thể nhận được điều chân xác và sự yên tâm ở lời nghe được và những lời nói ra. Nói có sách, mách có chứng mang được ý nghĩa trên, trước hết là nhờ vào ngữ nghĩa dân gian ấy của từ sách.

Còn mách trong ý nghĩa nguyên sơ của nó, cũng có nghĩa là nói, nói cho biết, bảo cho biết. Mách trong mách bảo, mách nước cũng với nghĩa như thế. Chứng là chứng cứ. Mách có chứng nghĩa là nói cho ai đó điều gì đó phải có chứng cứ cụ thể, tức điều đem báo, đem mách cho ai đó là điều có thật, đã trông tận mắt, nghe tận tai. Mách có chứng cũng yêu cầu không được nói sai, nói không có căn cứ, nói những điều chưa biết chắc đúng, sai, thật, hư. Mách có chứng cũng có nghĩa là nói đàng hoàng, đúng đắn, công khai, chứ không theo lối mách lẻo hay thóc mách.

Nguồn: https://www.sachhayonline.com/tua-sach/giai-thich-thanh-ngu-tuc-ngu/noi-co-sach-mach-co-chung/1785

*

Saturday, 23 September 2017

Tủ kinh sách Tam Tạng tiếng Việt

Đây là tủ sách Tam Tạng tiếng Việt tôi sưu tập trong hơn 25 năm qua, trong các chuyến về thăm viếng VN. Ngoài ra, tôi còn có các bộ kinh khác in trong thập niên 1970 và 1980, màu giấy đã vàng úa nhưng tôi rất trân quý. Hiện nay tôi còn thiếu bộ Tương Ưng, in lần đầu tiên vào năm 1982. Có lẽ chưa đủ duyên.

Riêng cá nhân tôi, tôi vẫn thích đọc bản in trên giấy hơn là đọc trên máy vi tính. Mặc dù tôi có khá đầy đủ các bản vi tính -- dạng PDF và HTML, nhưng đa phần là dùng để biên soạn, sao chép, đối chiếu, trích dịch. Đối với tôi, thỉnh kinh sách về nhà là để đọc, tham khảo, tìm hiểu, ghi nhớ, không phải để thờ cúng hay để trang trí với bông hoa, nhang đèn.

Khi đọc, tôi không đánh dấu hay tô màu trên các bộ kinh. Tôi thường cắt ra nhiều mảnh giấy nhỏ có nhiều màu khác nhau để làm dấu các trang mình cần phải tham khảo nhiều lần. Thêm vào đó, tôi nhét vào đầu hay cuối cuốn kinh một tờ giấy A4 xếp lại, để viết ghi chú.

Sử dụng kinh sách như thế nào là tùy theo căn duyên và ý nguyện của mỗi cá nhân. Mỗi người có phương cách tu học riêng, không ai giống ai.
*

Wednesday, 20 September 2017

Tình bạn đạo

Một Nửa (Upaddha Sutta, SN 45:2)
(Hòa thượng Thích Minh Châu dịch)

Như vầy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn trú giữa các dân chúng Sakya, tại thị trấn của dân chúng Sakya tên là Nāgaraka. Rồi Tôn giả Ānanda đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn:

– Một nửa phạm hạnh này, bạch Thế Tôn, là thiện bạn hữu (kalyāṇamittatā), thiện bạn đãng (kalyāṇasahāyatā), thiện thân tình (kalyāṇasampavaṅkatā).

– Chớ có nói vậy, này Ānanda! Chớ có nói vậy, này Ānanda! Toàn bộ phạm hạnh này, này Ānanda, là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình. Với thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình, vị tỳ-khưu tu tập và làm cho viên mãn Bát Chi Thánh Đạo.

Và này Ānanda, thế nào là tỳ-khưu với thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình, tu tập và làm cho viên mãn Bát Chi Thánh Đạo? Ở đây, này Ānanda, tỳ-khưu tu tập chánh kiến liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Tỳ-khưu ấy tu tập chánh tư duy... chánh ngữ... chánh nghiệp... chánh mạng... chánh tinh tấn... chánh niệm... tu tập chánh định liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Như vậy, này Ānanda, là tỳ-khưu với thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình, tu tập và làm cho viên mãn Bát Chi Thánh Đạo.

Này Ānanda, chính với pháp môn này, ông cần phải hiểu thế nào toàn bộ phạm hạnh này là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình. Nhờ lấy Ta làm thiện bạn hữu, này Ānanda, nên các chúng sinh bị sinh được giải thoát khỏi sinh; các chúng sinh bị già được giải thoát khỏi già; các chúng sinh bị chết được giải thoát khỏi chết; các chúng sinh bị sầu, bi, khổ, ưu, não được giải thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não. Chính với pháp môn này, này Ānanda, ông cần phải hiểu thế nào toàn bộ phạm hạnh này là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình. (SN 45:2)

* * *

THIỆN TRI THỨC (SĀ 726)
Hòa thượng Thích Đức Thắng dịch (Tạp A-hàm, 2010)

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tinh xá Giáp cốc [1] thành Vương xá. Khi ấy Tôn giả A-nan cũng ở tại đó.
Bấy giờ, Tôn giả ở một mình nơi vắng, thiền tịnh tư duy và nghĩ như vầy: ‘Một nửa phạm hạnh tức là thiện tri thức, thiện bạn đảng, thiện tùy tùng, chẳng phải là ác tri thức, ác bạn đảng, ác tùy tùng.’
Rồi Tôn giả từ thiền tịnh tỉnh giấc, đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên, bạch Phật rằng:

“Bạch Thế Tôn, Con ở một mình nơi vắng, thiền định tư duy và nghĩ như vầy: ‘Một nửa phạm hạnh này là thiện tri thức, thiện bạn đảng, thiện tùy tùng, chẳng phải là ác tri thức, ác bạn đảng, ác tùy tùng’.”

Phật bảo A-nan:

“Chớ nghĩ như vầy: ‘Một nửa phạm hạnh này là thiện tri thức, thiện bạn đảng, thiện tùy tùng, chẳng phải là ác tri thức, ác bạn đảng, ác tùy tùng.’ Vì sao? Thuần nhất mãn tịnh, phạm hạnh thanh bạch [2], chính là thiện tri thức, thiện bạn đảng, thiện tùy tùng [3], chẳng phải là ác tri thức, ác bạn đảng, ác tùy tùng. Vì Ta là thiện tri thức nên có chúng sanh ở nơi Ta mà tiếp nhận Niệm giác phần, y viễn ly, y vô dục, y tịch diệt, hướng đến xả. Cũng vậy, Trạch giác phần, Tinh tấn giác phần, Hỷ, Khinh an, Định và Xả giác phần, y viễn ly, y vô dục, y tịch diệt, hướng đến xả. Vì vậy cho nên, A-nan, thuần nhất mãn tịnh, phạm hạnh thanh bạch chính là thiện tri thức, thiện bạn đảng, thiện tùy tùng, chẳng phải là ác tri thức, ác bạn đảng, ác tùy tùng.”

Sau khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.

[1] Giáp cốc tinh xá 夾谷精舍.
[2] Pāli: sakalam evidaṃ brahmacariyaṃ yadidṃ kalyaṇāmittā kalyāṇasahāyatā, chính toàn bộ đời sống phạm hạnh này là thiện tri thức, thiện đồng hành...
[3] 善知識 thiện tri thức, 善伴黨 thiện bạn đảng, 善隨從 thiện tùy tùng

*

THIỆN TRI THỨC (SĀ 779)
Hòa thượng Thích Đức Thắng dịch (Tạp A-hàm, 2010)

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

“Ở trong ngoại pháp, Ta không thấy một pháp nào có thể khiến cho pháp thiện chưa sanh, khiến sanh; pháp thiện đã sanh rồi, khiến tái sanh và làm tăng trưởng, như đã nói về thiện tri thức, thiện bạn đảng, thiện tùy tùng. Các Tỳ-kheo, thiện tri thức, thiện bạn đảng, thiện tùy tùng có thể khiến cho chánh kiến chưa sanh, sanh; chánh kiến đã sanh rồi khiến tái sanh và làm tăng trưởng. Cũng vậy, chánh chí, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm, chánh định chưa sanh, khiến sanh; đã sanh rồi khiến tái sanh và làm tăng trưởng.”

Sau khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.

* * *
Half the Holy Life (SN 45:2)
(Trans. Bhikkhu Bodhi)

Thus have I heard. On one occasion the Blessed One was dwelling among the Sakyans where there was a town of the Sakyans named Nāgaraka.[4] Then the Venerable Ānanda approached the Blessed One. Having approached, he paid homage to the Blessed One, sat down to one side, and said to him:

“Venerable sir, this is half of the holy life, that is, good friendship, good companionship, good comradeship.”[5]

“Not so, Ānanda! Not so, Ānanda! This is the entire holy life, Ānanda, that is, good friendship, good companionship, good comradeship. When a bhikkhu has a good friend, a good companion, a good comrade, it is to be expected that he will develop and cultivate the Noble Eightfold Path.[6]

“And how, Ānanda, does a bhikkhu who has a good friend, a good companion, a good comrade, develop and cultivate the Noble Eightfold Path? Here, Ānanda, a bhikkhu develops right view, which is based upon seclusion, dispassion, and cessation, maturing in release.[7] He develops right intention … right speech … right action … right livelihood … right effort … right mindfulness … right concentration, which is based upon seclusion, dispassion, and cessation, maturing in release. It is in this way, Ānanda, that a bhikkhu who has a good friend, a good companion, a good comrade, develops and cultivates the Noble Eightfold Path.

“By the following method too, Ānanda, it may be understood how the entire holy life is good friendship, good companionship, good comradeship: by relying upon me as a good friend, Ānanda, beings subject to birth are freed from birth; beings subject to aging are freed fromaging; beings subject to death are freed from death; beings subject to sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair are freed from sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair. By this method, Ānanda, it may be understood how the entire holy life is good friendship, good companionship, good comradeship.”

–Trans. Bhikkhu Bodhi

NOTES:
[4] This entire sutta is quoted by the Buddha at 3:18, in a conversation with King Pasenadi. Spk has commented on the text there and thus passes over it here. I draw the excerpts below from Spk’s exegesis of the earlier text. In Be and Ee the name of the town is Sakkara.

[5] Kalyāṇamittatā kalyāṇasahāyatā kalyāṇasampavaṅkatā. The three are synonymous. Spk: When he was in seclusion Ānanda thought, “This practice of an ascetic succeeds for one who relies on good friends and on his own manly effort, so half of it depends on good friends and half on one’s own manly effort.”

[6] C.Rh.D renders kalyāṇamitto bhikkhu “a bhikkhu who is a friend of righteousness” (KS 1:113); Woodward, “a monk who is a friend of what is lovely” (KS 5:2); Ireland, “a bhikkhu who is a friend of the good” (SN-Anth 1:75). These renderings all rest on a misunderstanding of the grammatical form of the expression. As an independent substantive, kalyāṇamitta means a good friend, i.e., a spiritual friend who gives advice, guidance, and encouragement. When used in apposition to bhikkhu, however, kalyāṇamitta becomes a bahubbbīhi compound, and the whole expression means “a bhikkhu who has a good friend.” To represent this formally: yassa bhikkhuno kalyāṇamittaṁ hoti (not yo bhikkhu kalyāṇassa mittaṁ hoti), so kalyāṇamitto bhikkhū ti vuccati (my own etymology). On the importance of the good friend, see below 45:49, 63, 77, and also AN IV 351–53 (= Ud 34–37).

Spk: With children, it isn’t possible to say, “So much comes from the mother, so much from the father”; the same is true in this case too. One cannot say, “So much of right view, etc., comes from good friends, so much from one’s own manly effort.” The Blessed One says in effect: “The four paths, the four fruits, etc., are all rooted in the good friend.”

[7] The vivekanissita formula is affixed to the path factors at Vibh 236. Spk explains seclusion (viveka) in the light of the commentarial notion of the fivefold seclusion: (i) “in a particular respect” (tadaṅga, temporarily, by the practice of insight); (ii) by suppression (vikkhambhana, temporarily, by attainment of jhāna); (iii) by eradication (samuccheda, permanently, by the supramundane path); (iv) by subsiding (paṭippassaddhi, permanently, in fruition); and (v) by escape (nissaraṇa, permanently, in Nibbāna). In the next two paragraphs I translate from Spk.

“He develops right view dependent on seclusion (vivekanissitaṁ): dependent on seclusion in a particular respect, dependent on seclusion by eradication, dependent on seclusion by escape. For at the moment of insight this meditator, devoted to the development of the noble path, develops right view dependent on seclusion in a particular respect by way of function and dependent on seclusion by escape as inclination (since he inclines to Nibbāna); at the time of the path, he develops it dependent on seclusion by eradication as function and dependent on seclusion by escape as object (since the path takes Nibbāna as object). The same method of explanation is also extended to the terms ‘dependent on dispassion’ (virāganissita) and ‘dependent on cessation’ (nirodhanissita).

Release (vossagga) is twofold, release as giving up (pariccāga) and release as entering into (pakkhandana). ‘Release as giving up’ is the abandoning (pahāna) of defilements: in a particular respect (tadaṅgavasena) on the occasion of insight, by eradication (samucchedavasena) at the moment of the supramundane path. ‘Release as entering into’ is the entering into Nibbāna: by way of inclination towards that (tadninnabhāvena) on the occasion of insight, and by making it the object (ārammaṇakaraṇena) at the moment of the path. Both methods are suitable in this exposition, which combines the mundane (insight) and the supramundane (the path). The path is maturing in release (vossaggapariṇāmi) because it is maturing towards or has matured in release, meaning that it is ripening towards or has ripened (in release). The bhikkhu engaged in developing the path is ‘ripening’ the path for the sake of giving up defilements and entering into Nibbāna, and he develops it so that it has ‘ripened’ thus.”

When I translate vossagga as “release,” this should be understood as the act of releasing or the state of having released rather than as the experience of being released. Vossagga and paṭinissagga are closely related, both etymologically and in meaning, but as used in the Nikāyas a subtle difference seems to separate them. Paṭinissagga, here translated “relinquishment,” pertains primarily to the phase of insight and thus might be understood as the active elimination of defilements through insight into the impermanence of all conditioned things. Vossagga, as that in which the path matures, probably signifies the final state in which all attachment is utterly given up, and thus comes close in meaning to Nibbāna as the goal of the path. Paṭinissagga occurs as a distinct contemplation, the last, in the sixteen steps in the development of mindfulness of breathing (see 54:1). Though Spk glosses it in the same way as it does vossagga (see n. 293 below), in the suttas themselves the two terms are used with different nuances.

[293] “Contemplating impermanence” (aniccānupassī) is contemplation of the five aggregates as impermanent because they undergo rise and fall and change, or because they undergo momentary dissolution. This tetrad deals entirely with insight, unlike the other three, which can be interpreted by way of both serenity and insight. “Contemplating fading away” (virāgānupassī) and “contemplating cessation” (nirodhānupassī) can be understood both as the insight into the momentary destruction and cessation of phenomena and as the supramundane path, which realizes Nibbāna as the fading away of lust (virāga, dispassion) and the cessation of formations. “Contemplating relinquishment” (paṭinissaggānupassī) is the giving up (pariccāga) or abandoning (pahāna) of defilements through insight and the entering into (pakkhandana) Nibbāna by attainment of the path. See n. 7. 

*

Sunday, 10 September 2017

Tôi rất sợ làm người nổi tiếng

Tôi rất sợ làm người nổi tiếng.

Một ngày nào đó, khi tôi già yếu, tôi chỉ muốn được yên thân trong những năm tháng cuối cùng. Tôi chỉ thích lặng lẻ ngắm nhìn cuộc đời, không thích ai đến viếng thăm, ồn ào, rắc rối. Nhìn cảnh tượng người ta vây quanh những nhân vật nổi tiếng ngồi xe lăn được đưa đi chỗ nầy chỗ kia, tham dự lễ nầy lễ nọ, chụp ảnh quay phim, đưa vào các bản tin trên báo, bàn luận xôn xao trên các mạng xã hội, mà tôi thấy thương cảm, tội nghiệp cho những người già nua, bệnh hoạn đó.

Vâng, tôi rất sợ làm người nổi tiếng. Chỉ xin làm một người vô danh tiểu tốt, thảnh thơi thong thả trong giai đoạn cuối cùng của cuộc đời.


Tuesday, 29 August 2017

Nhạc Phật giáo: 10 bài Đạo Ca (Phạm Duy & Phạm Thiên Thư)

 Mười bài ĐẠO CA
Thơ: Phạm Thiên Thư - Nhạc: Phạm Duy 

Tải tập nhạc:
https://tinyurl.com/mtw8x3vs (2.7 MB)

Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được cáctập tin âm thanh, dạng MP3 - 320 kbps. 

1) Thái Thanh hát [npg05.zip]:
https://tinyurl.com/rzjc3pm
https://mega.nz/#!LwBTAbqB!ChVQp8nEqMmIvuCP8tsjSkK4jq1uHkS1_nfX7obZ8cI
 

2) Bích Liên hát (2017) [npg10.zip]:
https://tinyurl.com/rmfkafh
https://mega.nz/#!7sYVDTba!foCfRU5__1hxp3Rz2fs2d45ykSTr5hwhy1gpCIocxUc 

*

Đạo Ca 1 – PHÁP THÂN

 

Xưa em là kiếp chim, chết mục trên đường nhỏ

Anh làm cội băng mai, để tang em, chờ mấy thuở

Xưa em làm kiếp lá, rụng xuống lòng suối thu

Anh làm mưa tháng bẩy, đôi hàng lệ ướt tương tư

 

Xưa em làm kiếp hoa, chết rũ trong nội cỏ

Anh làm giọt sương sa, sầu thương em, lệ anh nhỏ

Xưa em làm kiếp gió hay có làm kiếp mây

Anh làm chim chích choè, trên đầu gậy, anh hát ca

 

A ha, ta tuy hai mà một! A ha, ta tuy một mà hai!

A ha, ta tuy hai mà một! A ha, ta tuy một mà hai!

 

Xưa em làm kiếp ao, ưu tư mùa cuối Hạ

Anh làm chim bói cá, đậu soi mấy mùa trăng

Xưa em là chữ biếc, nằm giữa lòng cuốn kinh

Anh là thiền sư buồn, ngồi tụng dưới ánh trăng

 

Xưa ta hẹn với nhau, tìm nhau giữa vô thường

Anh hoá thân làm mực, thấm vào cuốn kinh thơm

Mai sau chờ nhau nhé, đầu thai vào kiếp hoa

Chốn mây mờ phiêu bạt, chờ đợi ... chim hót ca

 

A ha, ta tuy hai mà một! A ha, ta tuy một mà hai!

A ha, ta tuy hai mà một! A ha, ta tuy một mà hai!

 

* * *

 

Đạo Ca 2 – ĐẠI NGUYỆN

 

Muôn loài như sương rơi, xin làm hoa trắng đỡ

Hoa yêu sương chẳng rời, hoa yêu sương tuyệt vời

Muôn loài như cát trắng, xin làm dòng nước trong

Ra trùng dương tím mát, cát sông vẫn nguyện lòng

 

Muôn loài như mây lam, xin làm trời bát ngát

Cho mây trôi bạt ngàn, như sương trong rừng trầm

Muôn loài như hoa thắm, xin làm một ánh dương

Cây cỏ mừng ánh nắng, tiếng chim hót dị thường.

 

Thương người như thương thân! Thương người như thương mình!

Thương người như thương thân! Thương người như thương mình!

Thương người như thương thân!

 

Muôn loài như hương thơm, xin làm cơn gió sớm

Ðưa hương đi thập phương, nuôi trăng sao tỏ tường

Muôn loài như con suối, xin làm biển khát khao

Khi buồn như kiếp núi, nước mưa sẽ gột sầu

Xin làm mầu hoa kia, hoa vàng trong kiếp sống

Xin xanh như cỏ dại, bao Thu Ðông thường tại

Xin làm hạt cây nhé, cho đời hiện hữu Xuân

Xin làm chim gõ mõ, gõ tan kiếp hồng trần.

 

Thương người như thương thân! Thương người như thương mình!

Thương người như thương thân! Thương người như thương mình!

Thương người như thương thân!

 

* * *

 

Đạo Ca 3 - CHÀNG DŨNG SĨ VÀ CON NGỰA VÀNG

 

Một chàng dũng sĩ trên thớt ngựa vàng rong ruổi sa trường

Một chàng dũng sĩ trên thớt ngựa vàng rong suốt thời gian

Một chàng dũng sĩ đôi mắt u buồn như ánh trăng vàng

Lòng chàng nung nấu một mối u sầu tìm dấu người yêu

 

Một sớm mai chàng dừng nơi đỉnh núi

Mai trắng đôi hàng... mai trắng đôi hàng rơi rơi

Như mường tượng áo tơ người

Một chiều dừng cương nơi bờ sông vắng

Lớp lớp suôi dòng, sóng biếc mơ mòng

Như những nỗi buồn mênh mông

 

Rồi một đêm chàng ngừng nơi bãi núi

Chiến trường thoảng tiếng mưa rơi

Như vẳng gót hài xa xôi

Rồi một ngày nao dừng ngay bờ suối

Ngỡ tóc người xưa, mái tóc cài hoa, những làn tơ

 

Chàng tìm khắp cõi không thấy bóng người

Không thấy bóng người

Ðường dài soải bóng, trong gió ngựa vàng thay sắc đổi lông

Chàng còn đi mãi, đi mãi, đi hoài, đi mãi, đi hoài

Vào làn sương khói, chiếc áo tươi mầu nay đã nhạt phai

 

Rồi một hôm chàng trở lại

Ngựa dừng bên dòng nước mưa

Ngâm mình sâu trong suối biếc,

Bỗng thấy yêu thương vô bờ

 

Rồi một hôm chàng trở lại,

Cầy lại sa trường xác xơ

Ươm bầu, ươm dưa khắp lối

Lũ bướm bay quanh hoa vàng

Ngỡ bước chân xưa của nàng

Ngỡ bước chân xưa của nàng.

 

Chàng lên đỉnh núi, vun mai giữa trời

Mùa Ðông rồi tới, hoa bay trước đời

Rừng mai nở mãi, trông như nét cười của ai ... ai ơi

Ngoài sông gầm gió, trên sông bắc cầu

Cùng con ngựa quý, qua sông lúc nào

Chợt con ngựa cũ thân yêu hoá thành người yêu

 

Ngựa vàng đã hoá thân, hoá thân là người yêu muôn thuở

Ngựa vàng đã hoá thân, hoá thân là người vẫn hằng mơ

Rồi chàng dũng sĩ, đôi mắt sáng ngời như ánh mặt trời

Cùng người yêu quý đi suốt cuộc đời, tình ái nở hoa

 

Ngựa vàng đã hoá thân, hoá thân là người yêu muôn thuở

Ngựa vàng đã hoá thân, hoá thân là người vẫn hẵng mơ

Rồi chàng dũng sĩ, đôi mắt sáng ngời như ánh mặt trời

Cùng người yêu quý đi suốt cuộc đời, tình ái nở hoa

 

Viên thành đạo ca cho đời ca hát!

 

* * *

 

Đạo Ca 4 – QUÁN THẾ ÂM

 

Có bà mẹ đi tìm con trên đỉnh đồi lan trắng

Có bà mẹ đi tìm con trong động hang lan vàng

Có bà mẹ đi tìm con bên bờ sông lam tím

Có bà mẹ đi tìm con trong thung lũng cỏ hoang.

Trên đỉnh mùa Xuân, mẹ ta thương cả rừng hoa lá

Trong mùa Hạ, bên bờ lau, Mẹ yêu tiếng ve rầu rầu

Thu về nằm trong bụi cây, nhớ mây trời xanh ngát

Nuôi một đàn chim mồ côi, khi Ðông tuyết lạnh rơi

 

Bốn mùa hoa đua nở, bốn mùa Mẹ lang thang

Tìm con, loà đôi mắt, gọi con, lời đã khan

Khóc con, lệ đã cạn, thương con, lòng vắng hoang

Nhớ con, sầu đã ngất, đợi con, hồn đã tan.

Tay Mẹ đang quờ quạng, như một cành khô khan

Nhớ con tìm khắp chốn, rời rã cả thời gian

Khi còn là thiếu phụ, thơm như nhành ngọc lan

Ðến nay, già tóc trắng, tìm con đà mấy trăng.

 

Thế rồi, một hôm Mẹ chết, hơi Mẹ trong trời chưa hết

Ôm cả trần gian đầy vơi, nhân loại đeo tang người

Tim Mẹ thành ra trùng dương, máu Mẹ thành sông thành nước

Ôi đời trầm luân, Mẹ thương, chiếu ánh sáng từ quang.

Bây giờ Mẹ đã thành mơ, hơi Mẹ hoá thành hơi gió

Bốn mùa ngồi nghe mọi nơi, tiếng Mẹ ru bồi hồi

 

Xưa là Mẹ đi tìm con, tiếng Mẹ ru buồn khắp chốn

Bây giờ hiện thân Mẹ chung, tiếng Mẹ hát ru dịu dàng

Tiếng Mẹ hát ru dịu dàng

Tiếng Mẹ hát ru dịu dàng.

 

* * *


Đạo ca 5 – MỘT CÀNH MAI

 

Em bé khóc đòi cha, như mẹ khóc đòi con

Người chồng khóc người vợ, người yêu khóc người yêu

Nước mắt vẫn đầy vơi, sinh tử vẫn còn đây

Ðời này qua đời nọ, tử sinh vẫn còn kia

 

U ù u U u u u U u u U u …

 

Ôi máu đã thành sông, xương người đã thành non

Hận thù như trời bể, hờn căm vẫn còn nghe

Cái chết vẫn còn kia, sao cuộc sống còn mê

Ðòi thù, thì oán đời đời

Ðền nhau chỉ có chút lệ thôi

 

U ù u U u u u U u u U u …

 

Nước mắt bỗng ngừng trôi, khi người đã nguyện dâng

Thân mình làm đuốc hồng, cho đòng lúa trổ bông

Cuộc sống chết nào đây ? Ðau buồn sẽ đổi thay

Ðem mình vào kiếp người, thoát khỏi nỗi tử sinh.

 

Cành mai đã rụng rơi, rơi rụng xuống cuộc đời

Một cành mai rụng rời, làn hương vẫn chẳng phai

Người không riêng của ai, nhân loại vẫn của người

Ðặt mình trong dòng đời, tử sinh cũng là vui

 

Một cành mai, mai mãi, mãi mãi

Một cành mai, mai mãi, mãi mãi

Mãi mãi ...

 

* * *

 

Đạo Ca 6 - LỜI RU, BÚ MỚM, NÂNG NIU

 

Ru con bằng vòng tay ấm, cho con yêu tiếng dịu dàng

Ru con bằng bầu sữa nóng, cho con ơn mãi tình nồng

Ru con bằng bài ca ngắn, cho con mến Nhạc và Thơ

Ru con còn nhờ mây gió, tim con chẳng có vực bờ

Ru con bằng rừng trên núi, con ơi, mưa nắng còn dài

Ru con bằng đồi ven suối, cho con không oán thù người

Ru con bằng cỏ hoa mới, trăng sao kết lại thành đôi

Yêu muôn loại và muôn tánh, mai sau chẳng sống một mình.

 

Ù ơ Mẹ ru con biết:

Yêu thương như câu đầu lòng

Nghìn năm còn đây thắm thiết

Câu ru mạch máu Ðông Phương.

 

Tim em là bình minh mới, cho con tia máu đỏ ngờị

Ru con bằng làn hương mới, cho con thơm ngát lòng đời

Ôm con nhìn vào con nhé! Cho con lẽ đạo thường chân

Môi em là nụ hoa thánh, cho con ngợp ánh chiêu dương

Con ơi! Mẹ là Thượng Ðế, cho con tâm lý nguyên sơ

Câu ru và dòng sữa quý, cho con nguyên lý diệu vời

Ru con rằng: Ðời muôn lối, như mây kết hợp, rồi tan

Thân con là Trời cao vói, tim con là cõi địa đàng.

 

Ù ơ Mẹ ru con biết:

Yêu thương như câu đầu lòng

Nghìn năm còn đây thắm thiết

Câu ru mạch máu Ðông Phương.

 

* * *

 

Đạo Ca 7 – QUA SUỐI MÂY HỒNG

 

Một sớm mai tuyệt vời

Mỵ Nương về đỉnh núi

Làn suối mây lưng trời

Ðưa Nàng lên chơi vơi

Bầy hạc vàng lượn múa

Hoà sáo trúc vô thanh

Núi quấn lụa trời xanh

Hoa dâng hương trên cành.

 

Sáo tơ làm mưa nhẹ

Nghiêng lầu các Thủy Vương

Giật mình trên nệm ngọc

Thét quan quân lên đường

Người yêu đà mất rồi!

Suối mây hồng phơi phới

Ðem Nàng lên đỉnh núi

Thành cũ hoa còn rơi

 

Này hồng ngọc lưu ly

Không được gì đôi mắt

Này bốn bể quyền uy

Không nghiêng được lòng người ...

 

Thề quyết không một trời

Thủy Vương vùng kiếm thét

Trả đoá hoa hồng ngời

Thủy Vương vùng kiếm thét

Nhưng trên ngọn đỉnh núi

Chẳng được ai trả lời

Thủy Vương căm giận điếng

Xua quan quân thẳng tiến!

Sơn Vương ngồi trên núi

Cùng Mỵ Nương mỉm cười

Thủy Vương căm thổ máu

Xua quan quân tràn đồi …

 

Sóng ầm ầm, sóng ầm ầm nổi dậy!

Gió ào, gió ào ào nghiêng trời!

Mây ùn ùn, mây ùn ùn kéo tới!

Sét ầm ỳ, sét ầm ỳ ra oai Nước bừng bừng, nước bừng bừng tràn ngập!

Ðất dồn dập, đất dồn dập lên trời!

Mây dần dà, mây dần dà ra nước!

Núi vùn vụt, núi vùn vụt lên cao!

 

Cuộc chiến tranh thầm lặng, cuộc chiến tranh thầm lặng

Cuộc chiến tranh thầm lặng, cuộc chiến tranh thầm lặng.

 

Thủy Vương vung kiếm hét

Núi tịch liêu không lời

Thủy Vương xua sóng tới

Sóng tan nhành hoa suôi

Thủy Vương kêu thét mãi

Núi mù khơi thêm mù

Thủy Vương hộc thêm máu

Lui quân về biển khơi

 

Một sớm, hoa rụng nhài

Mỵ Nương và Thần Núi

Làn suối mây lưng trời

Ðưa về nơi mãi mãi

Còn lại siêu hùng ca

Thiên Thư không cần chữ

Sáo Thần không cần lỗ

Vi vu trong lòng người

Một khúc ca giục người

Vượt muôn trùng ảo huyễn

Về chốn không lụy phiền

Suối mây này dẫn đến ...

 

* * *

 

Đạo Ca 8 - GIỌT CHUÔNG CAM LỘ

 

Bóng đêm qua rồi, bóng đêm qua rồi

Tiếng chuông vang hồi, tiếng chuông vang hồi

Thấy trong nhân loại tiếng chuông vang hồi

Ngọt lành thơm mát, từng giọt chuông rơi

Nụ hoa đang ngủ, giấc êm giữa nội

Giọt sương trên lá đón đưa ánh trời

Ðể cho con suối vươn vai trở mình

Chùa rêu lơ lửng giữa lưng núi mờ

Ðại hồng, chuông lớn đã khua tiếng ròn

Nụ cười yên tĩnh ngát hương khói trầm

Lời kinh cao ngất A Di Ðà Phật

Ngọt lành thơm mát, từng giọt chuông vang ...

 

Tiếng chuông đầu ngày cho bừng giấc ngủ

Tiếng chuông mơ hồ cho Thái Dương hồng

Tiếng chuông lẫy lừng cho cội đá mừng

Xóm thôn tưng bừng, chim chóc xôn xao

Tiếng chuông lên núi, làm trái mật say

Xuống trên luống cầy, cho đòng lúa trổ

Tiếng chuông Cam Lộ cho biển trầm tư

Cho đời người hết ưu tư ...

 

Một nụ mai nở giữa cơn gió rừng

Thiền Sư lững thững xuống non, chống gậy

Lòng tay nắm lấy tiết Ðông giá lạnh

Giọt mưa lóng lánh, lắng trên gậy vàng

Gậy Thiền đưa xuống không gian vô tận

Gậy Thiền đưa xuống thế gian cõi thường

Thời gian mãi mãi, tiếng chuông sáng ngời

Thiền Sư xuống núi, cứu nguy cho đời

Ngọt lành thơm mát, từng giọt chuông vang ...

 

* * *

 

Đạo Ca 9 – CHẤP TAY HOA

 

Chắp tay lạy Người, cho xin nụ cười

Chắp tay lạy Trời, cho đám mưa rơi

Chắp tay lạy Ðất, cho mầm cây tươi

Chắp tay lạy Nước, cho mát cõi đời

Chắp tay lạy rồi, lạy mãi không thôi

Chắp tay lạy nữa

 

Tôi lạy mây bay cho trời cao rộng

Tôi lạy sông trôi cho sạch sầu đời

Tôi lạy tất cả hiện hữu diệu vời

Ðâu không là Phật? Ðâu chẳng là Trời?

 

Dù bông hoa cỏ, dù hạt bụi rơi

Như suối suôi non, như mây lên ngàn

Như sông vượt trùng, như ánh trăng vàng

Xin mở lòng ra cho trời đất hiện.

Tâm là đảo quý giữa biển luân hồi

Thần thánh đi rồi, chỉ có lòng thôi

Hiện hữu đây rồi, không ý không lời

Tôi không là Tôi, Người không là Người

 

Mười phương mây nổi như cánh hoa trôi

Như sóng ra khơi, như hơi gió thổi

Như mây xa vời, như bóng hạc trời

Tôi không là Tôi, Người không là Người

 

Chắp tay lạy Người, xin cho nụ cười

Chắp tay lạy Trời, cho đám mưa rơi

Chắp tay lạy Ðất, cho mầm cây tươi

Chắp tay lạy Nước, cho mát cõi đời

Chắp tay lạy Người, chắp tay lạy Trời

Chắp tay lạy rồi, lạy mãi không thôi

Lạy mãi không thôi!

Lạy mãi không thôi!

 

* * *

 

Đạo Ca 10 – TÂM XUÂN

 

Xuân về trong gió, hoa lay lững lờ

Xuân về đám mây, bướm vàng nhụy bay

Xuân về lòng đất, mầm tươi nhựa trào

Xuân về non cao, chim mừng suối reo ...

 

Xuân về biển mát, suôi nhanh cánh buồm

Xuân về suối xanh, cá hồng lượn quanh

Xuân về trầm ngát, Di Lạc hiền lành

Em về thiên nhiên, ngâm mình suối tiên.

 

Em về thôn trang, tiếng hò giao duyên

Em về khơi hương, thơm ngôi từ đường

Em về quê nhà, lễ đình làng ta

Nhớ cội, nhớ nguồn, đất tổ, quê cha

Em về siêu nhiên, hành hương chùa chiền

Dâng hoa cúng Phật, ưu phiền sẽ tan

Em mở lòng ra, vui cùng cỏ hoa

Xuân về vũ trụ! Ta về lòng Ta!

 

Có thiên nhiên mới, an vui hiền hoà

Có lò hương đợi, nối liền ngày qua

Mái đình diệu vợi, nặng tình quốc gia

Chuông chuà siêu thoát, Ta vượt lòng Ta

Bao dung độ lượng như bốn mùa hoa

 

Mùa Xuân có không? Hay là cõi Tâm?

Mùa Xuân có không? Hay là cõi không?

Về nguồn về cội! Về nguồn về cội!

Ðể rồi vươn tới, với lòng mênh mông ...

 

*-----*



Sunday, 27 August 2017

Frank Lee Woodward, erudite Pali scholar and translator

Frank Lee Woodward, erudite Pali scholar and translator
Rohan L. Jayetilleke

During the British rulership of Sri Lanka, there were many civil servants from England who arrived to serve in the British establishment. Some of them, besides their official duties, were keenly  engrossed  in  the  study and research on Theravada Buddhism, and wrote numerous works, which remain as benchmarks on Buddhism, even to date.
Frank Lee Woodward, born in England (1871-1952) and trained as a schoolmaster arrived in Sri Lanka and assumed duties as the Principal  of  Mahinda  College,
Galle. Within ten years of his arrival he perfected his knowledge of Pali, so much so that stanzas of the Anguttara Nikaya were rendered by him into English. Woodward was a serious student of Buddhism and Pali and took meaningful steps to popularise Buddhism with translations of the sections of the Tipitaka. He collaborated with Mrs. Rhys Davids, (the wife of the founder of the Pali Text Society), com- mencing in 1915 and continued his association with the Pali Text Society.
Woodward wading through the entire Tipitaka, made critical edi- tions of a volume in Pali text and rendered them into English. As regards his scholarship the most eloquent tribute came from Mrs. Rhys Davids who recorded as follows; “In the dark days following the completion of Part One, the translation of the Samyutta Nikaya during the World War years, and when others were blocking the way F. L. Woodward wrote from Tasmania (Australia) his home, offering services, with purity, disinterested kindness of heart. He consented to write us a draft translation of Part two. Joyous and swift in his wisdom, like Sariputta’s, in a few months the typescript was done, completed even with footnotes. We cannot sufficiently thank him for his brotherly hand that has helped us to keep walking. Not many would have spent well-earned leisure hours in rendering service from across the world like that”.
In 1927 Mrs Davids commenting on Woodward’s translation of fur- ther parts of Samyutta Nikaya noted; “I did it both accurate and alive. Great is our debt to the labourer’s gift, genial, patient, accurate, trust- worthy, who has placed here within our reach, more knowledge of the world movement, concerning which many knowing very little have written much.”
“Woodward’s’ some sayings of the Buddha”, according to the Pali Canon, first published in 1925, endeared him to the Buddhists world over and naturally and genuinely gained a place of honour and wide acceptance, as a translator very faithful in rendering every word in Pali to English, with no change in the meaning to be conveyed to the reader.
This was a rare and signal achievement as there was an economic depression in the wake of the cessation of the World War I. This was a time when soup queues were lengthening in England and everybody was in the quest of food for survival after the divesting war. Six million people had lost their lives in the war and Englishmen accounted nearly half of it.
During these days of bread and butter survival there was only a handful of dedicated workers. The high quality of Woodward’s work,” Some Sayings of the Buddha according to the Pali Canon” was soon recognized by the Oxford University Press, London, which republished it in 1942, 1945 and 1949. All editions carried an introduction by Sir Francis Yiunghusband of Tibetan fame. Woodward’s Preface just ran into four paragraphs manifesting his self-effacing character.
The rendering of the stanzas in the Anguttara Nikaya into English was of the highest order. The stanzas were included in the translation of the Anguttara Nikaya by Edmund Roland Jayetilleke Gooneratne, who along with Louise Corneille Wijesinha, being inspired by the translations of Buddhist Scriptures into English and their language Pali, were led to take the oriental path, to give up their adherence to Christianity and to espouse Buddhism. They then put their shoulders to promote the Buddhist Theosophical Society too.   Edmund Rowland Jayetilleke Gooneratne was the First Mudliyar of the Governor’s Gate and was a resident at Atapattu Walauwa, Walawwatte, Galle, a scholar and an Orientalist. The English rendering of the Anguttara Nikaya by Woodward was included in the Gooneratne’s translation of the Anguttara Nikaya and published by the Pali Text Society in 1913.
In 1915 Woodward began the translation of the Dhammapada which was published under the title ‘The Buddha’s Path of Virtue’. He too was the editor of the magazine ‘The Buddhist’ inaugurated by the Buddhist Theosophical Society in 1890 and later taken over by the YMBA. Colombo. When Woodward came out with his work, Some Sayings of the Buddha according to the Pali Canon,’ there were popular works in circulation by other writers such as Light of Asia by Sir Edwin Arnold, Buddhist Catechism, The Gospel of the Buddha, Buddhism in Translations.
Woodward’s ‘Some Sayings of the Buddha according to the Pali Canon’ eclipsed, as his work was most faithful to Theravada Buddhism as recorded in the Pali Canon. The other works were osten- sibly an amalgam of Theravada and Mahayana traditions.
Still another work ‘Buddhism in Translations’ by Henry Clarke Warren though containing authentic extracts from the Pali canon and the relevant Pali literature, it was a massive volume of over 500 pages. The work of Woodward was not large and faithfully based on the Pali Canon. Christmas Humphreys, who was a live wire in the Buddhist movement in England observed, “It has lived in the pockets of thousands of English Buddhists from that day (i.e. 1925) to this (i.e. 1973).
This magnum opus of an anthology of Frank Lee Woodward was more readable, in that it had a technique of preserving the spirit of the original Pali, in a very lucid, direct and dynamic English rendition.
Even in log sentences Woodward had his own prose style as is mir- rored in the following extract from the Samyutta Nikaya translation: “Non monks, if a long does not ground on this bank or the further bank, does not sink in mid-stream, does not stick fast on a shoal, does not fall into human and non-human hand, is not caught in an eddy, does not fall inwardly, that log, monks, will float down to ocean, will slide down to ocean, will bend towards ocean. And why? Because, monks, Ganges’ stream flows down to ocean, slides down to ocean, bends waves of ocean”.
In revising his edition for the World classics Series Woodward, replaced the words “brother” and “sister” with “monk” and “nun” and “Thatagatha” with “Way-Farer”. In this work chapters like, ‘The Tongue,’ The Stabilizer of societies, Charity, Happiness in the World, advice mainly to the laity, are even relevant to modern conspicuous consumption and open-market riddled modern times. The other chapters on the life of the Buddha, of the teaching of Buddha and the evolution of the Sangha manifest an effort to educate facts and the way of life the Buddha advocated.
Although at the time there were several anthologies, like Dwight Goddard’s,  ‘A  Buddhist  Bible’  (1938),  Clarence  Hamilton’s ‘Buddhism-a  Religion  of  Infinite  Compassion’  (1952)  Edward Conze’s ‘Buddhist Texts Through the Ages’ (1954), E. A. Burtts’ ‘The  Teaching  of  the  Compassionate  Buddha’  (1952),  Christmas Humphrey’s, ‘The Wisdom of the Buddha’ (1960), all these works were an amalgam of Pali,  Sanskrit, Chinese, Tibetan, Japanese versions of Buddhism, more towards Mahayana and Woodward’s works were most outstanding, as they were faithful to the Pali Canon. As regards Pali it has a unique feature, which has not been revealed to the student as well as to the general readers. Bhikkhu Nanamoli (Englishman - Osbert Moore, graduate of Exter College, Oxford, who came to Sri Lanka in 1948 and was ordained by the founder of the Island Hermitage, Dodanduwa, German national Ven. Nyanatiloka (a violin-virtuso) in 1949 under the name Nanamoli) in his preface to his work, ‘The Life of the Buddha’ (published by Buddhist Publication Society, Kandy, Sri Lanka, (1972) says, “Pali is a language reserved entirely to one subject, namely, the Buddha’s teaching. With that it is unlike Buddhist Sanskrit or Church latin; a fact that lends it a pecu- liar clarity of its own without a counterpart in Europe. It is one of the Indo-European group and is closely allied to Sanskrit, though of a different flavour. The style in the Suttas (Discourses) has an economic simplicity, coupled with a richness of idioms.
Woodward, as principal of Mahinda College, Galle, with his own resources had erected a building for the school. He had a plaque as regards the donor as ‘Vanapala’. It was later known ‘Vanapala’ was translated from of his name in Sinhala word for Wood.
-------------------------
Woodward, Frank Lee (1871–1952)
by Nigel Heyward
* This article was published in Australian Dictionary of Biography, Volume 12, (MUP), 1990
Frank Lee Woodward (1871-1952), headmaster and Buddhist scholar, was born on 13 April 1871 at Saham Toney, Norfolk, England, third son of William Woodward, a country parson, and his wife Elizabeth Mary Ann, née Lee. Educated by his father, Frank entered Christ's Hospital (the Bluecoat School), London. After winning distinction as a classical scholar, sportsman and organist at Sidney Sussex College, Cambridge (B.A., 1893; M.A., 1902), he taught in several English public schools and regarded his profession as 'the noblest of them all', as 'a means of learning' and as 'a means of service'.
While at Stamford School, Lincolnshire, Woodward began studying Western and Eastern philosophy. In 1902 he joined the Theosophical Society, 'the most important event' in his life. Inspired to accept Buddha's teachings, he became a friend of Colonel H. S. Olcott, co-founder and president of the society and a pioneer of Buddhist education in Ceylon (Sri Lanka). In 1903 Woodward was invited to become principal of Mahinda Buddhist College, Galle, on the south-western coast of the island.
There Woodward set 'a very high tone'. A strict disciplinarian, he knew every pupil in the school, each of whom he nicknamed after a character in Shakespeare's plays. He lived frugally, like a Buddhist monk, and was respected for his experience, academic ability and lack of ostentation. The school grew rapidly and had to be relocated. He contributed generously from his monetary inheritance, and designed, supervised and assisted with new buildings which included a science laboratory. The teaching of the Buddha dharma and Sinhalese language and history were important in the school: Woodward had Sinhalese accepted as a subject for the Cambridge local examinations. He advised the director of education in Ceylon and was actively associated with the movement for establishing a university.
By 1919 he was looking for peace and seclusion in which to continue his translations of the Buddhist scriptures for the Pali Text Society. Woodward settled near Launceston, Tasmania, and about 1927 bought a house in a neglected orchard in the Rowella district on the western bank of the Tamar River. A vegetarian, a mystic and a man of whimsy, he practised yoga, wore a turban and lived alone, surrounded by Buddhist scriptures on thousands of palm-leaves. Maintaining an extensive correspondence, he recorded the scores in every match played by the Bluecoat School's Old Blues Rugby XV.
Among scholars, Woodward is revered for translating eighteen of the forty-two volumes of the Pali texts into English and for compiling the vast concordance of the Pali canon which occupied the last fifteen years of his life. At the popular level, his volume, Some Sayings of the Buddha (Oxford, 1925, 1939), has contributed to a wider understanding of Buddhism. Reduced to near poverty, Woodward died on 27 May 1952 at Beaconsfield Hospital, West Tamar, and was buried in Carr Villa cemetery, Launceston. A former associate Sir Ponnambalam Arunachalam viewed him as a great apostle of Buddhism who had 'combined in a rare degree ... the active spirit of the West with the mysticism of the East'.



 Photograph of Frank Lee Woodward. This photograph was taken when he was the principal of Mahinda College (1903-1919), Galle, Sri Lanka.