Showing posts with label General. Show all posts
Showing posts with label General. Show all posts

Sunday, 20 September 2026

Những bệnh thông thường của người già

 NHỮNG BỆNH THÔNG THƯỜNG CỦA NGƯỜI GIÀ

Hỏi: Xin cho biết những bệnh thông thường của người già trên 70 tuổi.

Đáp (Meta AI): 
Những bệnh thường gặp sau 70 tuổi đa số là bệnh mạn tính, tiến triển từ từ và hay đi kèm với nhau. Biết trước để theo dõi và đi khám sớm sẽ giúp kiểm soát tốt hơn.

1. TIM MẠCH - HUYẾT ÁP
- Tăng huyết áp: rất phổ biến, thường không có triệu chứng nhưng làm tăng nguy cơ đột quỵ, suy tim.
- Bệnh mạch vành, suy tim, rối loạn nhịp (như rung nhĩ): biểu hiện mệt, khó thở khi gắng sức, hồi hộp, phù chân.
- Rối loạn mỡ máu: làm xơ vữa mạch máu.

2. CHUYỂN HÓA
- Đái tháo đường loại 2: dễ khát, đi tiểu nhiều, vết thương lâu lành.
- Suy thận mạn: thường là biến chứng của tăng huyết áp và đái tháo đường.

3. XƯƠNG KHỚP - VẬN ĐỘNG
- Thoái hóa khớp, đặc biệt gối, háng, cột sống: đau khi đi lại, cứng khớp buổi sáng.
- Loãng xương: xương giòn, dễ gãy dù chỉ té nhẹ, thường gặp hơn ở người gầy, ít vận động.
- Sarcopenia - mất khối cơ: yếu tay chân, dễ té ngã.

4. THẦN KINH - TRÍ NHỚ - TÂM TRẠNG
- Sa sút trí tuệ, Alzheimer: quên lẫn, lặp lại câu hỏi, khó định hướng.
- Parkinson: run tay khi nghỉ, đi chậm, cứng người.
- Trầm cảm, lo âu, mất ngủ ở người lớn tuổi: ít nói, mất hứng thú, ngủ chập chờn.
- Đột quỵ: méo miệng, yếu liệt một bên, nói khó - cần đi cấp cứu ngay.

5. MẮT, TAI, MŨI HỌNG
- Đục thủy tinh thể, thoái hóa hoàng điểm, tăng nhãn áp: nhìn mờ, chói sáng.
- Lãng tai, giảm thính lực: phải nói to mới nghe, dễ hiểu lầm.
- Chóng mặt do rối loạn tiền đình.

6. HÔ HẤP - TIÊU HÓA - TIẾT NIỆU
- Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính COPD, hen: nhất là người từng hút thuốc.
- Táo bón mạn, trào ngược dạ dày, viêm loét dạ dày.
- Tiểu đêm, phì đại tiền liệt tuyến ở nam giới, tiểu không tự chủ, nhiễm trùng tiểu.
- Ung thư: nguy cơ tăng theo tuổi - đại tràng, tiền liệt tuyến, phổi, da, vú. Khám tầm soát định kỳ rất quan trọng.

KHI NÀO NÊN ĐI KHÁM?
- Huyết áp thường xuyên trên 140/90, đường huyết đói trên 7 mmol/L
- Đau ngực, khó thở, hồi hộp, phù chân
- Té ngã lặp lại, gãy xương nhẹ
- Sụt cân nhanh không rõ lý do, quên lẫn tăng dần, buồn bã kéo dài
- Nhìn mờ đột ngột, nghe kém ảnh hưởng giao tiếp
- Đi tiểu ra máu, tiểu nhiều lần đau rát, táo bón hoặc tiêu chảy kéo dài

CÁCH LÀM CHẬM BỆNH
- Theo dõi đều: đo huyết áp, đường huyết tại nhà, ghi lại để mang đi gặp bác sĩ gia đình. Xét nghiệm định kỳ máu và nước tiểu, để kiểm tra thận, đường, mỡ máu, thiếu vitamin, đạm trong nước tiểu... tùy theo lời khuyên của bác sĩ.
- Vận động vừa sức: đi bộ 20-30 phút mỗi ngày, tập thăng bằng, tập tạ nhẹ để giữ cơ và xương.
- Ăn uống: ít muối, ít đường, đủ đạm, nhiều rau, uống đủ nước, hạn chế rượu bia. Không hút thuốc lá.
- Ngủ, tinh thần: giữ giờ ngủ đều, gặp gỡ bạn bè, tham gia hoạt động cộng đồng.
- Thuốc: uống đúng giờ, không tự ngưng, mang danh sách thuốc khi đi khám để tránh tương tác.
- Phòng té ngã: đủ ánh sáng trong nhà, dép có đế chống trượt, kiểm tra mắt và tai định kỳ.

*-----*



Wednesday, 26 August 2026

Hạnh bố thí trong Phật giáo - Bhikkhu Bodhi

 HẠNH BỐ THÍ TRONG PHẬT GIÁO 
Bhikkhu Bodhi (1995)

Hạnh bố thí (dāna) được nhìn nhận một cách phổ quát là một trong những đức tính căn bản nhất của con người, một phẩm chất biểu thị chiều sâu của nhân tính và khả năng vượt thoát khỏi cái ngã của chính mình. Trong giáo pháp của Đức Phật cũng vậy, hạnh bố thí giữ một địa vị đặc biệt quan trọng, đến mức, theo một nghĩa nào đó, có thể xem đây là nền tảng và hạt giống của sự phát triển tâm linh.

Trong kinh điển Pāli, chúng ta nhiều lần đọc thấy rằng “pháp thoại về bố thí” (dānakathā) luôn là đề tài đầu tiên được Đức Phật trình bày trong “pháp môn thuyết giảng theo thứ lớp” (anupubbikathā, tuần tự pháp) về Giáo pháp (Dhamma). Mỗi khi Đức Phật thuyết giảng cho một hội chúng gồm những người chưa xem Ngài là bậc Đạo sư của họ, Ngài thường khởi đầu bằng việc nhấn mạnh giá trị của hạnh bố thí. Chỉ sau khi thính chúng đã hiểu rõ và biết trân trọng đức tính này, Ngài mới trình bày những phương diện khác của giáo pháp, như giới hạnh, nghiệp luật (kamma), và những lợi ích của pháp xuất ly. Sau khi tất cả những nguyên lý ấy đã tác động sâu sắc đến tâm thức của người nghe, Ngài mới khai thị cho họ về khám phá độc đáo của các bậc Giác Ngộ: bốn Thánh đế.

Nói một cách nghiêm mật, hạnh bố thí không được kể riêng như một chi phần của Bát chi Thánh đạo, cũng không thuộc các pháp trợ duyên cho sự giác ngộ (bodhipakkhiyā dhammā, bồ-đề phần). Rất có thể sở dĩ bố thí không được bao gồm trong những nhóm pháp này là vì tự thân hạnh bố thí không trực tiếp và tức thời đưa đến sự phát sinh của tuệ quán và sự chứng ngộ bốn Thánh đế. Trong sự tu tập theo Phật giáo, bố thí đảm nhiệm một chức năng khác. Nó không đứng ở đỉnh cao của Thánh đạo với tư cách là một yếu tố cấu thành tiến trình giác ngộ; trái lại, nó giữ vai trò nền tảng và sự chuẩn bị, làm chỗ nương tựa và âm thầm nâng đỡ toàn bộ công phu nhằm giải thoát tâm khỏi các lậu hoặc và phiền não.

Tuy nhiên, mặc dù hạnh bố thí không được trực tiếp kể vào các chi phần của Thánh đạo, chúng ta không nên xem nhẹ hay đánh giá thấp sự đóng góp của nó đối với tiến trình trên con đường giải thoát. Tầm quan trọng của sự đóng góp này được thể hiện rõ qua vị trí mà Đức Phật dành cho hạnh bố thí trong nhiều hệ thống pháp tu mà Ngài thiết lập cho hàng đệ tử.

Ngoài việc được nêu lên như đề tài đầu tiên trong pháp môn thuyết giảng theo thứ lớp về Giáo pháp, hạnh bố thí còn được kể là đầu tiên trong ba nền tảng tạo phước (puññakiriyavatthu), là pháp đầu tiên trong bốn pháp nhiếp phục lòng người (saṅgahavatthu), và là hạnh đầu tiên trong mười ba-la-mật (pāramī, “những hạnh toàn thiện”). Mười ba-la-mật là những đức tính cao quý mà tất cả những người hướng đến giác ngộ đều cần phải tu tập, và được tu tập đến mức độ viên mãn nhất bởi những vị đi theo con đường của bồ-tát (bodhisatta), nhằm hướng đến sự giác ngộ tối thượng và quả vị Phật Chánh Đẳng Giác viên mãn.

Nhìn từ một phương diện khác, hạnh bố thí cũng có thể được đồng nhất với phẩm chất nội tâm của lòng xả thí hay tâm quảng đại (cāga). Cách nhìn này làm nổi bật bố thí không chỉ như một hành động biểu hiện ra bên ngoài, qua đó một vật được chuyển từ mình đến người khác, mà còn như một khuynh hướng nội tâm sẵn lòng cho đi. Khuynh hướng nội tâm ấy được củng cố nhờ những hành động bố thí bên ngoài; và ngược lại, chính nó làm phát sinh khả năng thực hiện những hành vi xả thân và hy sinh bản thân ngày càng cao hơn. Lòng quảng đại được kể vào những phẩm chất thiết yếu của bậc thiện nhân (sappurisa), tức người thiện lành hay bậc cao thượng, cùng với những phẩm chất khác như tín tâm, giới hạnh, đa văn và trí tuệ.

Khi được nhìn nhận như một phẩm chất của lòng quảng đại, hạnh bố thí có một mối liên hệ đặc biệt mật thiết với toàn bộ tiến trình của con đường do Đức Phật chỉ dạy. Đó là vì mục đích của con đường ấy là đoạn tận tham, sân và si, trong khi việc tu tập lòng quảng đại trực tiếp làm suy yếu tham ái và sân hận, đồng thời giúp tâm trở nên nhu nhuyến, linh hoạt và dễ tu tập, nhờ đó tạo điều kiện cho việc đoạn trừ vô minh, si mê.

– Bhikkhu Bodhi (1995)

*




Wednesday, 8 July 2026

Sài Gòn, cái tên chưa bao giờ mất

 SÀI GÒN, CÁI TÊN CHƯA BAO GIỜ MẤT
Hà Giang
BBC Tiếng Việt, 08/07/2026 

Năm nay, trong một quyết định rất bất ngờ, tôi mua vé về Việt Nam, nơi vì nhiều lý do, đã hơn 35 năm nay tôi chưa hề trở lại.

Về đến nơi, ngủ một đêm lấy lại sức sau chuyến bay dài, tôi mới gọi cho cô em gái. "Chị đang ở Sài Gòn." "Cái gì, chị có đùa không?" "Không. Chị đang ở Silverland Hotel trên đường Thi Sách, rảnh đến gặp chị."

Một phản xạ vô thức

Tôi không biết mình đã bắt đầu làm thế từ lúc nào.

Chỉ nhận ra khi em gái tôi – người chưa bao giờ rời Sài Gòn – bật cười hỏi: "Chị cứ chụp hình bảng hiệu mấy quán ăn làm gì vậy?"

Tôi nhìn lại cái bảng: Quán ăn Bác Hiển, phường Sài Gòn, TP HCM. Phía trên là logo Bia Saigon Special, con rồng xanh neon uốn quanh chữ S; phía dưới, vài chiếc bàn thấp kê sát mặt tiền sáng đèn.

Chân vừa bước, vừa lơ đãng nghe cô em hỏi, tôi chưa nhận ra mình đang chụp cái logo của hiệu bia quen thuộc, chụp quán, hay chụp hai chữ kia, nhưng lại nhanh tay chụp ngay thêm một mặt tiền nhỏ có ba chữ "Người Sài Gòn" trên bảng hiệu. Phía trước mặt tiền ấy là vỉa hè, xe máy, bóng nắng và những người bước qua rất nhanh.

Tôi nhớ mình đã khựng lại ở nơi đó lâu hơn. Không phải vì bảng hiệu ấy đẹp hơn những bảng khác, mà vì giữa một buổi sáng đầy tiếng xe, ba chữ Người Sài Gòn nghe như ai gọi tên mình.

Đó là buổi sáng đầu tiên tôi nhìn lại Sài Gòn sau nhiều năm xa cách. Cô em dẫn tôi tản bộ qua những nơi tôi từng sống: trường nữ trung học Gia Long, trường Đại học Văn Khoa, chợ Bến Thành... Em nói là để "cho chị thấy Sài Gòn bây giờ." Tôi đi bên em, nhưng mắt cứ nhìn ngang dọc: một mái hiên cũ, một logo quen, một cổng chủng viện, một dòng chữ còn sót lại trên bảng hiệu.

Đi một lúc, cô em mới nhận ra việc tôi đang làm, và thốt lên: "À, chị đang gom nhặt hai chữ Sài Gòn." Rồi thêm: "Sắp năm mươi năm rồi đó, chị biết không – từ ngày người ta đổi tên nó." Câu nói làm tôi giật mình. Đã năm mươi năm rồi sao? Sài Gòn đã mất tên lâu đến thế sao?

Trong tâm khảm tôi, Sài Gòn vẫn là Sài Gòn. Việc nó bị đổi tên thành TP Hồ Chí Minh, với tôi, hình như chỉ là một chú thích nhỏ trong lịch sử: ghi vào đó, tìm cách nhận cho nỗi đau chìm đi, rồi quên bẵng đi mất.

Tôi chưa kịp ngấm hết nỗi xót xa trong câu nói ấy thì lại bật cười khi thấy cô em lấy điện thoại ra chụp hình người đang chụp hình Sài Gòn.

Một tuần trước ngày 30, tôi lại thấy mình lên xe buýt hop-on hop-off dạo một vòng thành phố và lại bấm máy: SaigonCiti Hotel trên một mặt tiền sáng trắng; Saigon Coffee & Bread nép dưới mái hiên; Signature – Bia Saigon Chill chớp lên giữa đèn đêm; rồi một bảng Lamiu Saigon ở 48 Trần Hưng Đạo, Bến Thành, mà đến giờ tôi vẫn không chắc là quán gì.

Chỉ cần hai chữ Saigon hiện ra giữa phố – khi bằng chữ in hoa, khi viết thường, khi chen vào tên quán, khi nằm dưới một con rồng xanh neon – là tay tôi tự động đưa điện thoại lên.

Về đến khách sạn, tôi lướt lại cuộn ảnh: bảng quán ăn, bảng khách sạn, bảng cà phê, một dòng địa chỉ, một tấm biển nhỏ ghi Người Sài Gòn. Hóa ra tôi đã làm một phóng sự điều tra mà chính mình cũng chưa biết đang điều tra việc gì.

Sài Gòn của tôi

Sài Gòn là nơi tôi đi học, nơi tôi có mối tình đầu; là nơi có tiếng rao hàng buổi sáng vọng vào cửa sổ, có tiếng xe mì xực tắc đi qua trong đêm khuya, lúc đó thèm ăn mà không có tiền, và bây giờ chỉ cần nhắm mắt lại tôi vẫn còn nghe thấy.

Sài Gòn là chiếc áo dài trắng đầu tiên mặc đến trường. Là những buổi sáng cùng cô bạn thân cùng đạp xe trên đường Phan Thanh Giản đến trường nữ trung học Gia Long, với cành hoa tigôn buộc lên tay lái, ngông nghênh nghĩ là mình đang làm đẹp cho thành phố. Ngày ấy tôi chưa biết rằng sau này ở Mỹ, câu cô em viết trong thư "em vẫn đi học ở trường Gia Long, nay đã đổi tên là trường Nguyễn Thị Minh Khai" đã khiến tôi ngồi thừ người cả nửa ngày, nước mắt ráo hoảnh, nhưng lòng đau như cắt.

Sài Gòn còn là những lần trốn nhà vào quán cà phê nghe Khánh Ly hát. Hồi đó, chỉ riêng việc trốn đi nghe nhạc cũng đủ làm mình thấy như đã làm một việc tày trời.

Sài Gòn từng được mệnh danh là "Hòn ngọc Viễn Đông". Nhưng trong tôi, ký ức Sài Gòn không lộng lẫy, mà chỉ là những buổi sáng rất thường, những đêm nghe tiếng xe mì xa dần, và câu hát Y Vân năm 1963 vẫn còn văng vẳng: "Sài Gòn đẹp lắm, Sài Gòn ơi, Sài Gòn ơi..."

Nhưng Sài Gòn của tôi cũng là thành phố bị ảnh hưởng bởi chiến tranh.

Chiến tranh nhiều khi chỉ hiện ra bằng một chiếc ghế trống trong lớp học, bằng tin một người bạn vừa mất cả bố lẫn hai anh trai trong cùng một trận giao tranh, bằng những gương mặt mười mấy tuổi nhìn nhau mà không biết phải nói gì trước những biến cố không hình dung được.

Đó cũng là nơi tôi chứng kiến thanh niên cùng tuổi cứ thưa dần – người vào lính, người ra trận, người đi không về. Là nơi tôi đọc những câu thơ chua chát, Rớt tú tài anh đi trung sĩ/ Em ở nhà lấy Mỹ nuôi con/ Khi nào xong việc nước non/ Trở về anh có Mỹ con anh bồng...

Với tôi vào đầu năm 1975, Việt Nam thu lại thành Sài Gòn: một thành phố vừa đẹp vừa đau, có những cô bé ban ngày mặc áo dài trắng đạp xe đến trường, đêm đến, nằm ôm gối nghe từ xa vọng về tiếng đại bác.

Tháng Tư và cái tên mang theo

Những ngày cuối cùng ở Sài Gòn là những ngày tôi nhớ nhất. Nhớ một cách ám ảnh.

Thành phố vắng người. Một không khí hoang mang phủ khắp nơi mà không ai gọi tên được. Tôi lê chân trên đường, nhìn những hàng sách thưa khách, và có một linh cảm – mơ hồ nhưng chắc chắn – rằng có điều gì rất lớn đang xảy ra.

Mấy tuần trước đó, tôi và người yêu đã chia tay nhau trong nước mắt. Anh sắp đi. Tôi nghĩ mình sẽ ở lại, vì bố tôi lúc đó chưa sẵn sàng cho gia đình ra đi.

Rồi tối 28 tháng Tư, anh chạy xuống nhà tôi, báo rằng ở Hải quân Công xưởng, ngày mai sẽ có tàu Hải quân rời bến.

Trưa hôm 29, tôi và đứa em trai ra bến Bạch Đằng, đứng chờ giữa dòng người cũng đang chờ như mình. Mãi đến khuya, chúng tôi mới thực sự được lên tàu – hình như ở bến sông Sài Gòn, vì lúc ấy người ta không còn nhớ rõ địa danh nữa. Chỉ nhớ dòng nước tối, tiếng máy tàu, và cảm giác của một người không biết mình sẽ trôi dạt đến đâu. Chỉ biết mang theo cái tên Sài Gòn và mớ ký ức lộn xộn trong lòng – những thứ không có trong hành lý, nhưng không bao giờ mất đi.

Không chỉ riêng tôi. Những ngày ấy, hình như cả thành phố đều sống trong tư thế chờ rời đi. Người ta truyền tai nhau tin tàu, tin máy bay, tin cửa biển, tin ai đã đi được, ai còn kẹt lại. Có nhà đóng cửa im lìm. Có người biến mất sau một đêm. Có người đốt giấy tờ, có người gói vàng, có người chỉ kịp xếp vài bộ quần áo vào một chiếc túi nhỏ. Trên gương mặt ai cũng có cùng một câu hỏi mà không ai dám nói ra: rồi mình sẽ đi đâu?

Giờ nhắc đến Sài Gòn thì không thể không nhắc đến những câu nhạc đã một thời đưa Sài Gòn vĩnh viễn dọn vào tâm khảm của biết bao người, cả trong nước lẫn hải ngoại.

Hơn một năm sau ngày tôi rời bến sông ấy, ngày 2 tháng 7 năm 1976, Sài Gòn chính thức bị đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh. Cái tên cũ bị gạt ra khỏi bản đồ hành chánh. Nhưng với những người đã ra đi, có lẽ chính từ khoảnh khắc ấy, Sài Gòn bắt đầu sống một đời sống khác – trong băng nhạc, trong báo chí, trong quán ăn, trong những tờ lịch Tết, trong những tấm bảng dựng lên giữa các thành phố xa lạ.

Trong âm nhạc hải ngoại, Sài Gòn không còn là địa danh nữa mà thành một người để gọi, để khóc, để hỏi có còn nhớ nhau không. "Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên," Nguyễn Đình Toàn viết mới đau đến thế, trong ca khúc sau này được biết đến rộng rãi dưới tên Sài Gòn niềm nhớ không tên. Chỉ một câu thôi mà đủ làm bật lên nỗi đau của một thành phố bị tước tên, và của những người mang cái tên ấy theo mình phiêu bạt đến khắp nơi trên thế giới.

Rồi còn Đêm nhớ về Sài Gòn của Trầm Tử Thiêng; Khi xa Sài Gòn, nhạc Lê Uyên Phương phổ từ thơ Kim Tuấn; Cho thành phố mất tên, nhạc Phạm Đình Chương, thơ Hoàng Ngọc Ẩn; Nắng Paris, nắng Sài Gòn, nhạc Ngô Thụy Miên phổ từ thơ Nguyên Sa; Mưa Sài Gòn còn buồn không em của Nguyệt Ánh, và còn bao nhiêu nữa. Chỉ cần đọc tên những bài hát ấy cũng đủ thấy một thành phố đã theo người ra đi như thế nào – không còn trên giấy tờ hành chánh nhưng vẫn ở lại trong giọng hát, trong băng cassette, trong những buổi tối người Việt xa xứ ngồi nghe nhau hát để khỏi quên, và trong những lần người trong nước ngồi lén nghe nhạc gửi về từ nước ngoài.

Rồi người Việt hải ngoại làm một việc còn cụ thể hơn: họ đem cái tên ấy đặt xuống những nơi mình sống. Little Saigon ở Westminster và Garden Grove, nơi cộng đồng người Việt sau 1975 biến những dãy phố Bolsa thành trung tâm văn hóa lớn nhất của người Việt ngoài Việt Nam; Little Saigon ở San Jose, Houston, Sacramento, Dallas-Fort Worth, Orlando, Falls Church, Seattle; rồi những khu Việt ở Paris, Cabramatta, Footscray, Toronto – dù không phải nơi nào cũng có tên chính thức như nhau – đều mang cùng một ý nghĩa: nếu Sài Gòn bị xóa khỏi bản đồ trong nước, người ta sẽ dựng nó lại trên bản đồ đời mình, dù bất cứ ở đâu.

Nhưng sao không ai đặt tên nơi mình ở là Little Vietnam, mà là Little Saigon?

Có lẽ vì với họ, đất nước đã thu lại thành một thành phố duy nhất – thành phố nơi họ rời đi lần cuối, mang theo cùng lúc quê hương và cả cái tên của nó.

Đó là một phản kháng rất mạnh mẽ, nhưng cũng rất người. Không phải ai cũng cầm biểu ngữ. Có người chỉ mở tiệm phở, tiệm vàng, tiệm băng nhạc; có người treo bảng Little Saigon trước một khu thương mại; có người dạy con gọi nơi mình sống là Sài Gòn Nhỏ. Họ không lấy lại được thành phố cũ, nhưng họ giữ được quyền gọi tên nó.

Lòng dân và chính sách nhà nước

Trước khi trở lại Việt Nam lần này, tôi cứ ngỡ cái tên Sài Gòn trong nước chắc đã biến mất rồi, chỉ còn được người Việt hải ngoại gìn giữ. Nhưng tôi đã sai. Hai chữ Sài Gòn vẫn được thấy ở khắp nơi, nó chỉ không được nhà nước chính thức dùng, nhưng lòng dân thì khác.

Trong hơn mười tấm ảnh tôi chụp chuyến đi đó, không tấm nào là bảng hiệu nhà nước. Tất cả đều là của dân gian, thương mại, tôn giáo: Bia Saigon, Hotel Continental Saigon, Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sài Gòn, mã sân bay SGN, những quán trẻ đặt tên Lamiu Saigon hay Saigon Chill.

Không ai ra lệnh cho quán bia phải giữ tên cũ. Họ giữ vì tên đó có giá trị – trong trí nhớ khách hàng, trong thói quen gọi tên, trong cách một thương hiệu đã ăn vào miệng người ta qua nhiều thế hệ.

Trong một bài viết trên RFA hồi năm 2021, nhạc sĩ Lê Việt, sống ở Bình Dương, nói: "Đó là một cái tên đã đi vào trong tiềm thức, đi vào trong đời sống người ta từ người già đến người trẻ. Nó là cái tên nhưng nó có cái linh hồn ở trong đó." Chính sách có thể đổi tên trên bản đồ hành chính, nhưng không đổi được cái tên đã có chỗ riêng trong đời sống bao người.

Một lần sinh hoạt cộng đồng, tôi có dịp nói chuyện với một thanh niên mới ngoài ba mươi tuổi. Hỏi quê cha mẹ em ở Việt Nam là đâu, em trả lời gọn: "À, ba má em người Sài Gòn..." Em không giải thích thêm, không cần giải thích thêm. Với em, đó không phải một cái tên phải bảo vệ – chỉ là một cái tên đúng như vậy.

Cũng trong bài viết của RFA, ông Đinh Kim Phúc, từng giảng dạy lịch sử Đông Nam Á, phân biệt rõ hơn: "Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là một đơn vị hành chánh của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, còn Sài Gòn là một địa danh đã được hình thành hơn 300 năm."

Một nghị quyết chỉ đổi được tên của một đơn vị hành chánh. Nó không đổi được tên của một địa danh đã hình thành từ trước khi có bất cứ nghị quyết nào.

Nhưng tầng sâu nhất, với tôi, không nằm ở quán bia hay ở văn bản. Nó nằm sâu trong tâm khảm con người. Với tôi, nó nằm ở bến sông khuya 29 tháng Tư năm ấy – nơi tôi mang theo cái tên này vì nó là thứ duy nhất không ai tịch thu được. Với biết bao nhiêu người đã ra đi, "Sài Gòn" không phải một địa danh trên bản đồ. Đó là tên của thứ họ đã mất, và vì đã mất, nên không thể để mất thêm lần nữa – kể cả trong lời ăn tiếng nói.

Phạm Duy, trong ca khúc 1954-1975 viết trong những ngày đầu tị nạn, đã hát: "Sài Gòn đã chết rồi, phải mang tên xác người." Một câu hát cay đắng – nhưng cũng là một câu hát còn sống, được hát đi hát lại suốt năm mươi năm qua. Cái tên xác người ấy, hóa ra, chưa bao giờ thật sự nằm yên.

Năm 2025 – gần năm mươi năm sau ngày khai tử cái tên Sài Gòn – nhà nước sắp xếp lại đơn vị hành chính, xóa bỏ cấp quận huyện, lập các phường mới. Và trong đợt đó, một phường trung tâm của thành phố được đặt tên: Phường Sài Gòn.

Người dân vừa bùi ngùi chia tay tên quận cũ, vừa hồ hởi khi thấy Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định – những địa danh từng bị xóa – chính thức trở lại trên bản đồ hành chính.

Năm mươi năm. Cái tên từng bị gạt ra khỏi bản đồ hành chính lại lặng lẽ trở về trên một bản đồ hành chính khác.

Hà Giang 
BBC Tiếng Việt, 08/07/2026

*-----*

Quán Bác Hiền, đường Hai Bà Trưng, Sài Gòn


Tuesday, 19 May 2026

Có cần phải kết bạn quá nhiều trên các mạng xã hội?

 CÓ CẦN PHẢI KẾT BẠN QUÁ NHIỀU TRÊN MẠNG XÃ HỘI?
Và Bí ẩn về Con số Dunbar 150
(Theo Gemini AI )

*

Có bao giờ bạn nhìn vào danh sách hàng ngàn bạn bè trên Facebook hay Instagram và tự hỏi: "Trong số này, có bao nhiêu người thực sự là bạn của mình?" hoặc "Tại sao càng nhiều bạn trên mạng, mình càng thấy mệt mỏi và loãng thông tin?". Hôm nay, mình muốn chia sẻ với các bạn một khái niệm rất hay trong nhân chủng học mang tên: ĐỊNH LUẬT DUNBAR, hay còn gọi là Con số Dunbar.

1) CON SỐ DUNBAR LÀ GÌ? 
Vào những năm 1990, nhà nhân chủng học người Anh - Robin Dunbar đã chứng minh được rằng: Não bộ của con người chỉ có đủ "dung lượng" để duy trì mối quan hệ xã hội ổn định với TỐI ĐA KHOẢNG 150 NGƯỜI.

"Ổn định" ở đây nghĩa là bạn biết rõ họ là ai, mối quan hệ giữa bạn và họ là gì, và nếu vô tình gặp họ ở quán cà phê, bạn sẽ không ngại ngùng bước đến ngồi cạnh trò chuyện. Có thể chúng ta nhớ được mặt của hàng ngàn người, nhưng để được gọi là "có kết nối xã hội", não chúng ta chỉ gánh vác được con số 150 mà thôi.

2) QUY TẮC SỐ 3 TRÊN CÁC VÒNG TRÒN QUAN HỆ 
Trong giới hạn 150 người này, cấu trúc quan hệ được chia nhỏ thành các vòng tròn thân sơ khác nhau.

- Vòng tròn cốt lõi gồm khoảng 5 người là gia đình hoặc bạn cực thân, những người bạn sẽ gọi đầu tiên khi gặp khủng hoảng.

- Tiếp theo là vòng tròn 15 người bạn thân, những người bạn thấu hiểu và thường xuyên chia sẻ sâu sắc.

- Rộng hơn là vòng tròn 50 người bạn xã giao như đồng nghiệp, bạn cũ, đối tác, v.v. nơi có sự tương tác nhưng không quá gắn bó tâm lý.

- Và cuối cùng là hạn mức 150 người cho các mối quan hệ chủ động.

3) MẠNG XÃ HỘI VÀ THỰC TẾ CHÚNG TA ĐANG CÓ 
Khi các mạng xã hội ra đời, chúng ta dễ dàng sở hữu danh sách 1.000, 2.000 hay 5.000 bạn bè. Nhiều người tưởng công nghệ giúp mình mở rộng thế giới, nhưng thực tế công nghệ chỉ giúp tích lũy người quen, chứ không thể mở rộng dung lượng xử lý của não bộ.

Các nghiên cứu trên người dùng Facebook cho thấy, dù bạn có hàng ngàn bạn bè trên mạng, thì số người thực sự tương tác qua lại, chúc mừng sinh nhật chân thành, hoặc sẵn sàng giúp đỡ bạn lúc khó khăn vẫn luôn rơi vào khoảng dưới 150 người.

4) VẬY CÓ CẦN KẾT BẠN NHIỀU KHÔNG? 
Việc có cần kết bạn nhiều hay không hoàn toàn phụ thuộc vào mục đích của bạn.

- Nếu bạn dùng mạng xã hội để kinh doanh, làm marketing hay xây dựng thương hiệu, hãy kết bạn càng nhiều càng tốt để tăng độ tiếp cận.

- Ngược lại, nếu bạn dùng mạng xã hội chỉ để chia sẻ cuộc sống cá nhân, hãy ưu tiên chất lượng hơn số lượng. Việc kết bạn đại trà chỉ khiến bản tin của bạn bị nhiễu bởi những thông tin không liên quan, dễ gây áp lực tâm lý và làm loãng đi các mối quan hệ chất lượng thực sự.

5) KẾT LUẬN
Danh sách bạn bè ít không có nghĩa là bạn cô đơn, mà là bạn đang chủ động chọn lọc để dành năng lượng cho những ai thực sự quan trọng. Thỉnh thoảng, dọn dẹp lại danh sách bạn bè cũng là một cách rất tốt để tìm lại sự bình yên cho tâm trí.

– Theo Gemini AI (19/05/2026)

*-----*



Monday, 18 May 2026

Nguồn gốc và lịch sử phát triển của tiếng Pali

 NGUỒN GỐC VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA TIẾNG PALI 
Gemini AI Assistant (17/05/2026)

*

1. Ý NGHĨA THẬT CỦA TỪ "PALI" 
Thời Đức Phật còn tại thế, hoàn toàn không có ngôn ngữ nào tên là tiếng Pali. Trong tiếng Ấn Độ cổ, từ "Pali" vốn chỉ là một từ bình thường có nghĩa là "hàng, lối, đường ranh" hoặc "dòng chữ".

Nhiều thế kỷ sau khi Đức Phật nhập diệt, các vị cao tăng bắt đầu biên soạn thêm các tập sách giải thích nghĩa kinh (gọi là sách Chú giải). Để người đọc không bị nhầm lẫn giữa lời gốc của Đức Phật và lời giảng giải của người đời sau, các vị đã dùng một mẹo trình bày văn bản: xếp lời gốc của Phật ở hàng phía trên và gọi là "Pali" (nghĩa là dòng Chánh văn hoặc văn bản gốc), còn phần giải thích thì xếp ở ngay phía dưới.

Theo thời gian, người ta cứ gọi tắt thứ tiếng dùng để chép dòng Chánh văn này là "tiếng Pali". Danh xưng này chính thức biến thành tên của một loại ngôn ngữ từ đó.

2. CÁC KỲ KẾT TẬP KINH ĐIỂN VÀ SỰ ĐỔI THAY CỦA NGÔN NGỮ 
Trước khi được ghi chép lại, kinh điển Phật giáo đã trải qua 3 cuộc hội họp lớn (gọi là Kết tập kinh điển) tại Ấn Độ để chư tăng cùng tụng đọc, kiểm tra và thống nhất lại lời Phật dạy. Qua mỗi kỳ, loại tiếng được dùng để đọc tụng cũng thay đổi theo sự phát triển của xã hội.

- Kỳ Kết tập thứ 1 (Khoảng 3 tháng sau khi Phật nhập diệt): Diễn ra tại vương quốc Ma-kiệt-đà. Chư tăng lúc này dùng "Tiếng Ma-kiệt-đà cổ". Đây chính là thứ tiếng địa phương vùng Đông Ấn mà Đức Phật và các đệ tử trực tiếp của Ngài đã dùng để giảng dạy hằng ngày.

- Kỳ Kết tập thứ 2 (Khoảng 100 năm sau khi Phật nhập diệt): Diễn ra tại thành Tỳ-xá-ly. Do Tăng đoàn lúc này đã mở rộng ra nhiều vùng miền, các vị cao tăng từ phương Đông và phương Tây nhóm họp lại đã dùng một thứ "Tiếng Ma-kiệt-đà có pha trộn phương ngôn các vùng". Đây là bước đầu của việc tạo ra một tiếng nói chung để chư tăng ở khắp nơi đều nghe hiểu được nhau.

- Kỳ Kết tập thứ 3 (Khoảng 218 năm sau khi Phật nhập diệt): Diễn ra dưới thời Vua Asoka (Vua A-dục). Lúc này, triều đình đã chuẩn hóa ngôn ngữ để làm tiếng nói chung cho toàn đất nước. Chư tăng đã mượn ngay thứ "Tiếng Ma-kiệt-đà hành chính" này để thống nhất lại toàn bộ kinh điển. Đây chính là cội nguồn của tiếng Pali ngày nay.

3. BẢN CHẤT TIẾNG PALI: THỨ TIẾNG NÓI THỜI VUA A-DỤC
Như vậy, dựa vào lịch sử các kỳ kết tập, chúng ta thấy rõ bản chất: Thứ tiếng dùng để chép dòng Chánh văn sau này thực chất chính là tiếng Ma-kiệt-đà hành chính của thời Vua Asoka.

Vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, khi Vua Asoka thống nhất đất nước Ấn Độ, thứ tiếng này được dùng phổ biến từ trong triều đình, ngoài xã hội cho đến các văn bản luật pháp khắc trên cột đá. Chư tăng lúc đó mượn thứ tiếng chung đang phổ biến này để đồng bộ hóa các bài kinh tụng nhằm truyền bá đạo Phật đi khắp nơi. Vì thế, tiếng Pali thời sơ khai và tiếng nói hằng ngày của triều đình Vua Asoka thực chất chính là một.

4. HÀNH TRÌNH GÌN GIỮ NGÔN NGỮ TẠI ĐẢO QUỐC SRI LANKA
Ngay sau cuộc họp thống nhất kinh điển thời Vua Asoka (Kỳ kết tập thứ 3), ngài Mahinda (con trai vua Asoka) đã dẫn đầu một phái đoàn gồm các vị cao tăng làu thông Tam tạng vượt biển sang nước Sri Lanka để truyền đạo. Lúc này, toàn bộ kinh điển vẫn được lưu giữ bằng cách học thuộc lòng và truyền khẩu chứ chưa được chép thành văn bản.

Khi sang Sri Lanka, thứ tiếng nói của thời Vua Asoka được chư tăng tại đây giữ gìn cực kỳ cẩn thận và nghiêm ngặt qua các thế hệ truyền khẩu. Họ tách biệt thứ tiếng này hoàn toàn khỏi đời sống xã hội hằng ngày. Người dân Sri Lanka nói tiếng bản địa của họ, còn trong chùa thì chư tăng chỉ dùng thứ tiếng Ấn Độ cổ kia để tụng kinh, không thay đổi dù chỉ một âm tiết.

Trong khi đó tại quê nhà Ấn Độ, theo dòng thời gian, người dân thay đổi cách nói chuyện, khiến thứ tiếng thời Vua Asoka biến đổi thành các thứ tiếng khác rồi mất đi. Nhưng tại Sri Lanka, nhờ truyền thống truyền khẩu nghiêm cẩn, thứ tiếng đó lại được bảo tồn vẹn nguyên, không thay đổi theo thời gian.

Đến thế kỷ thứ 1 trước Công nguyên (Kỳ kết tập thứ 4), trước nguy cơ chiến tranh và nạn đói có thể làm các vị cao tăng thuộc lòng kinh điển qua đời, chư tăng Sri Lanka quyết định đem thứ tiếng Ấn Độ cổ đó ra tụng đọc và chính thức ghi chép toàn bộ lên lá buông.

Chính nhờ hành động này, thứ tiếng nói thời Vua Asoka đã được lưu giữ cố định mãi mãi. Ngôn ngữ đó không biến đổi nữa và chính thức trở thành tiếng “Pali văn học" mà chúng ta thấy ngày nay.

5. SỰ THAY ĐỔI VỀ MẶT CHỮ VIẾT VÀ KÝ TỰ (MỘT NGÔN NGỮ KHÔNG CHỮ VIẾT) 
Có một sự thật thú vị là tiếng Pali hoàn toàn không có chữ viết riêng. Bản chất của nó chỉ là "âm thanh tiếng nói", còn việc ghi chép lại phải mượn chữ viết của các nước khác:

- Thời Kỳ kết tập thứ 4: Chư tăng tại Sri Lanka đã dùng chữ viết Sinhala cổ để ghi lại các âm đọc tiếng Pali khi khắc lên lá buông. Điều này giống như việc người Việt mượn ký tự Latin để viết tiếng Việt ngày nay.

- Thời hiện đại và ngày nay: Khi truyền sang các quốc gia khác nhau, tiếng Pali được chép bằng chính chữ viết của quốc gia đó. Chúng ta có thể đọc tiếng Pali qua chữ Thái, chữ Miến Điện, chữ Campuchia, hay chữ Lào. Riêng trên thế giới và tại các trường học ngày nay, người ta chủ yếu học tiếng Pali thông qua các ký tự Latin có thêm dấu phụ do Hiệp hội Văn bản Pali (Pali Text Society) ở Anh thiết lập vào thế kỷ 19. Dù dùng chữ viết của nước nào đi nữa, âm đọc và nghĩa lý của tiếng Pali vẫn giữ nguyên vẹn không đổi.

6. TẠI SAO NGÀY NAY PALI KHÔNG PHẢI LÀ TIẾNG NÓI KHẨU NGỮ? 
Ngày nay, các nhà ngữ học gọi tiếng Pali là "ngôn ngữ chết". Lý do đơn giản là vì hiện tại không còn bất kỳ người dân hay quốc gia nào dùng tiếng Pali để nói chuyện, trao đổi hay giao tiếp hằng ngày ngoài xã hội nữa.

Nhiều người lầm tưởng kinh Phật cổ nhất viết bằng tiếng Phạn (Sanskrit), nhưng thực tế tiếng Phạn hoàn toàn không được dùng trong các kỳ kết tập vì Đức Phật muốn dùng ngôn ngữ bình dân để đại chúng dễ hiểu.

Tiếng Pali có số phận giống như tiếng Latin của Ki-tô giáo ngày nay. Người ta chỉ học tiếng Pali trong trường học, tu viện để tụng kinh, làm nghi lễ tôn giáo hoặc nghiên cứu lịch sử. Tiếng Pali chúng ta học không còn là tiếng nói ngoài xã hội, nhưng cội nguồn của nó chính là thứ tiếng nói từng được sử dụng rộng rãi tại Ấn Độ thời Vua Asoka, được chư tăng Sri Lanka ghi nhớ và lưu lại trọn vẹn trên lá buông từ hơn 2000 năm trước.

GHI THÊM:
Nhận định của các học giả về nguồn gốc tiếng Pali:

1. Giáo sư K.R. Norman (Đại học Cambridge, cựu Chủ tịch PTS): Trong tác phẩm "Pali Literature" và loạt bài "Collected Papers", ông chứng minh bằng ngữ học đối chiếu rằng tiếng Pali là thứ ngôn ngữ chung (Lingua Franca) được đồng nhất và xuất khẩu trực tiếp từ thời đại Asoka.

2. Robert Caesar Childers (vị biên soạn từ điển Pali đầu tiên năm 1875): Trong cuốn "A Dictionary of the Pali Language", ông kết luận tên địa lý và bản chất thực sự của tiếng Pali chính là Magadhi Prakrit (tiếng Magadha bình dân) được triều đình Asoka sử dụng.

3. Giáo sư Richard Gombrich (Đại học Oxford, cựu Chủ tịch PTS): Trong cuốn "How Buddhism Began", ông khẳng định ngôn ngữ kinh điển Pali ngày nay là kết quả trực tiếp của chiến dịch chuẩn hóa hành chính văn bản có từ thời đại Vua Asoka.

4. Giáo sư Wilhelm Geiger (Đại học Erlangen, nhà ngữ học Pali): Trong tác phẩm "Pāli Literature and Language", ông đối chiếu các đặc tính ngữ pháp của văn bia đá Asoka tại Girnar (Tây Ấn) với tạng Kinh và khẳng định chúng có chung một gốc rễ ngôn ngữ hành chính khẩu ngữ trước khi bị đóng băng tại Sri Lanka.

*-----*



Friday, 1 May 2026

Lịch sử không thuộc về một phía, mà thuộc về nỗi đau của cả dân tộc - Gs Hoàng Dũng

 Lịch sử không thuộc về một phía, mà thuộc về nỗi đau của cả dân tộc
Phỏng vấn Gs Hoàng Dũng

SBS Tiếng Việt, 30/04/2026 

"Nếu chỉ giữ lại niềm tự hào chiến thắng, lịch sử sẽ trở nên một chiều. Nếu chỉ giữ lại nỗi đau mất mát, xã hội sẽ bị mắc kẹt trong quá khứ. Điều cần thiết là một cách nhìn bao dung hơn, nơi cả hai phía đều được thừa nhận như một phần của câu chuyện chung."

*

Tháng Tư trở lại, Việt Nam bước vào những ngày nghỉ lễ dài. Trên đường phố, cờ hoa rực rỡ, khẩu hiệu chào mừng xuất hiện khắp nơi, nhắc nhớ về một cột mốc lịch sử: ngày 30/4/1975. Nhưng đằng sau không khí kỷ niệm ấy là một thực tế không dễ nói thành lời: cùng một ngày, nhưng lại tồn tại nhiều cách gọi, nhiều cách nhớ, và nhiều cảm xúc khác nhau.

Trong cuộc phỏng vấn với SBS Việt Ngữ, nhà giáo, nhà ngôn ngữ học, PGS TS Hoàng Dũng từ Sài Gòn đã mở ra một cách nhìn sâu sắc về điều này.

Khi cách gọi trở thành lập trường

“Ngày giải phóng”, “ngày chiến thắng” đó là cách gọi quen thuộc trong diễn ngôn chính thống. Nhưng với nhiều người khác, đặc biệt là người Việt tị nạn, đó lại là “ngày quốc hận”, “Tháng Tư Đen”.

Theo nhà giáo Hoàng Dũng, những cách gọi này không chỉ là lựa chọn từ ngữ, mà phản ánh vị trí của mỗi người trong lịch sử:

“Ngày quốc hận hay là Tháng Tư Đen là đứng về phe thua cuộc… còn ngày chiến thắng, ngày giải phóng là đứng về bên thắng cuộc.”

Chính vì vậy, dù chiến tranh đã kết thúc hơn nửa thế kỷ, sự chia rẽ vẫn chưa thực sự khép lại: “Tiếng súng đã chấm dứt vào ngày 30 tháng 4 năm 1975… nhưng cuộc chiến đó nó chưa kết thúc trong lòng, nó vẫn chưa khép.”

Đó không còn là chiến tranh bằng vũ khí, mà là một cuộc chiến của ký ức, của cách nhìn, của những câu chuyện được kể lại qua từng thế hệ.

Việc nhìn nhận lại bản chất của cuộc chiến tranh Việt Nam thường bị né tránh: “Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, yếu tố nội chiến nó rất rõ.”

Dù khái niệm này không được khuyến khích sử dụng trong truyền thông chính thống, ông cho rằng không thể phủ nhận thực tế “anh em trong một nhà đánh nhau”.

Ký ức có thể phai, nhưng không thể xóa

Trước thực tế rằng thế hệ trẻ ngày nay ngày càng xa rời chiến tranh, câu hỏi đặt ra là: liệu những ký ức đối lập ấy có dần biến mất?

Hoàng Dũng cho rằng sự phai nhạt là điều tất yếu: “Ký ức theo một nghĩa nào đó thì bắt buộc phải mai một… con người không thể sống tiếp tục được vì nó đè nặng vào hiện tại.”

Nhưng điều quan trọng không phải là quên hay nhớ, mà là chọn lọc: “Vấn đề là cái gì còn lưu lại và cái gì cần phải quên đi.”

Nếu chỉ giữ lại niềm tự hào chiến thắng, lịch sử sẽ trở nên một chiều. Nếu chỉ giữ lại nỗi đau mất mát, xã hội sẽ bị mắc kẹt trong quá khứ. Điều cần thiết là một cách nhìn bao dung hơn, nơi cả hai phía đều được thừa nhận như một phần của câu chuyện chung.

Bài học từ quá khứ xa hơn

Để minh họa cho khả năng hàn gắn, nhà giáo Hoàng Dũng nhắc đến một giai đoạn khác trong lịch sử: cuộc phân tranh Trịnh – Nguyễn kéo dài gần hai thế kỷ.

Ông đặt ra một so sánh đáng suy ngẫm: cuộc chia cắt ấy kéo dài 159 năm – lâu hơn nhiều so với 20 năm chia cắt trước 1975. Nhưng sau khi thống nhất, cách ứng xử của bên thắng cuộc đã góp phần hàn gắn vết thương.

Ông dẫn chứng: “Ngay khi Gia Long lên ngôi… ông Nguyễn Du đã được làm quan, lên tới hàng Hữu thị lang Bộ Lễ, đi sứ nhà Thanh.”

Điều đó cho thấy một nguyên tắc quan trọng: hòa giải không chỉ là lời nói, mà là hành động cụ thể, là cách đối xử với những người thuộc “bên kia”.

Trong bức tranh còn nhiều chia rẽ ấy, Hoàng Dũng nhận ra một tín hiệu nhỏ nhưng đáng chú ý: sự xuất hiện ngày càng nhiều của cách gọi 'ngày thống nhất đất nước'.

Ông xem đó như một dấu hiệu tích cực: “Cái tên đó… người Việt Nam ở bất kỳ góc độ chính trị nào họ cũng đều tìm thấy mình ở đó.”

So với những cách gọi mang tính đối kháng 'ngày giải phóng miền Nam', thì 'ngày thống nhất' là một từ trung tính hơn, bao trùm hơn. Nó không phủ nhận chiến thắng, nhưng cũng không loại trừ nỗi đau của bên kia. Và quan trọng hơn, nó mở ra khả năng đồng cảm.

Nỗi sợ và giới hạn của tự do biểu đạt

Tuy nhiên, để đi đến hòa giải thực sự, không thể bỏ qua một yếu tố then chốt: không gian cho đối thoại.

Nhà giáo Hoàng Dũng thẳng thắn nhìn nhận thực tế: “Nói ra mà không sợ… là điều không có.”

Và khi nỗi sợ tồn tại, việc bày tỏ quan điểm một cách trung thực trở nên khó khăn.

Theo ông, thay đổi nếu có cần bắt đầu từ phía nhà nước: “Điều kiện để người ta thay đổi phải là Chính phủ thay đổi.”

Bởi nếu không có một môi trường cho phép đa dạng quan điểm, thì những nỗ lực hòa giải sẽ chỉ dừng lại ở bề mặt.

Nhìn 30/4 như một vết thương chung

Nhà giáo Hoàng Dũng đưa ra một cách tiếp cận mang tính gợi mở, thậm chí có thể xem là một đề xuất:

“Ngày nào mình nói đó là giải phóng, ngày nào mình nói đó là quốc hận… thì ngày đó có mầm mống của chiến tranh mới.”

Thay vào đó, ông đề nghị nhìn nhận ngày 30/4 theo một cách khác: “Đó là vết thương của đất nước, của dân tộc… đó là bài học lịch sử.”

Cách nhìn này không phủ nhận lịch sử, cũng không buộc mọi người phải đồng ý với nhau. Nhưng nó đặt trọng tâm vào điều quan trọng hơn: làm sao để quá khứ không lặp lại.

Nhà giáo Hoàng Dũng kể lại một chi tiết từ lịch sử thời Trịnh – Nguyễn: khi một người chứng kiến binh sĩ hai bên ngã xuống đã bật khóc, bởi ông không còn thấy “kẻ địch”, mà chỉ thấy những con người cùng một dân tộc.

“Ông không thấy bên kia là địch nữa, mà thấy đó là một con người ngã xuống.”

Có lẽ, đó chính là điểm khởi đầu của mọi sự hòa giải: khi con người nhìn nhau không phải qua lăng kính thắng thua, mà qua sự đồng cảm. 

* Nguồn: 
https://www.sbs.com.au/language/vietnamese/vi/podcast-episode/lich-su-khong-thuoc-ve-mot-phia-ma-thuoc-ve-noi-dau-cua-ca-dan-toc/xp1i4slr5

*



Wednesday, 25 February 2026

Năm cấp độ hiểu biết

NĂM CẤP ĐỘ HIỂU BIẾT

Trong kinh điển Nikāya/A-hàm thường thấy đề cập đến năm cấp độ hiểu biết:

1/ Tưởng tri: sañjānati, 想知 - to perceive, to recognize 
2/ Thức tri: vijānāti, 識知 - to cognize, to be aware of, to discern
3/ Tuệ tri: pajānāti, 慧知 - to know clearly
4/ Thắng tri: abhijānāti, 勝知 - to directly know, know by experience
5/ Liễu tri: parijānāti, 了知 - to fully understand

(các từ Pāli ở trên là động từ, verb)

Khả năng hiểu biết (jānana, jānāti) của con người được phân thành nhiều cấp độ khác nhau, gồm tưởng tri (sañjānāti), thức tri (vijānāti), tuệ tri (pajānāti), thắng tri (abhijānāti), liễu tri (parijānāti), tương ứng với quá trình tu tập, chuyển hóa và thanh lọc tâm thức. Ở cấp độ hiểu biết thế gian của phàm nhân thì có tưởng tri, thức tri và tuệ tri. Ở cấp độ xuất thế của các vị đã nhập dòng thánh giải thoát thì có thắng tri và liễu tri.

. Tưởng tri là hiểu biết thông thường, nhận ra một sự vật hay hiện tượng nhờ ký ức hay do nhớ lại, hồi tưởng lại những gì mình đã trải nghiệm.

. Thức tri là hiểu biết khi sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) tiếp xúc với sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). 

. Tuệ tri là hiểu biết đúng như thật về bản chất của đối tượng, với trí tuệ (paññā) của một phàm nhân. Thí dụ: Thở vô dài, vị ấy tuệ tri “Tôi thở vô dài” (MN 10).

. Thắng tri là hiểu biết thù thắng, vượt lên trên sự hiểu biết thông thường của thế gian, hiểu biết mang tính trực nghiệm sâu sắc, vượt khỏi suy luận. Đây là hiểu biết thấu đáo của vị đã nhập dòng thánh giải thoát.

. Liễu tri là hiểu biết đầy đủ, rốt ráo, viên mãn, đoạn tận mọi chấp thủ. Đây là hiểu biết của chư Phật và các vị A-la-hán.

*-----*



Tuesday, 17 February 2026

Từ điển Bách khoa Phật giáo

 ENCYCLOPAEDIA OF BUDDHISM
Malalasekera, G.P., Dhirasekera, J. and Weeraratne, W.G. (Editors)
8 vols. Colombo, Sri Lanka (1961-2009)
(Từ điển Bách khoa Phật giáo)

Đây là một công trình biên tập đồ sộ kéo dài 50 năm, với sự đóng góp của hơn 150 học giả Phật giáo. Toàn bộ từ điển gồm 8 tập, có hơn 6 ngàn trang giấy. Tải về bản scan, dạng PDF:

Tập 1: A – Aoki, Bunkyo
https://tinyurl.com/3e4en26c [vn369-1.pdf]

Tập 2: Āpa – Bhārhut
https://tinyurl.com/mr2ypkm5 [vn369-2.pdf]

Tập 3: Bhārini-deva – Caura-vidhvamsana
https://tinyurl.com/5n6edx93 [vn369-3.pdf]

Tập 4: Causality – Dhammadhātu-Dvesa
https://tinyurl.com/49x4kdv6 [vn369-4.pdf]

Tập 5: Earth – Japan
https://tinyurl.com/43bw7k7u [vn369-5.pdf]

Tập 6: Jarā – Minayeff, J.P.
https://tinyurl.com/53hy8pty [vn369-6.pdf]

Tập 7: Mind – Sāsanavamsa
https://tinyurl.com/mwcd6dka [vn369-7.pdf]

Tập 8: Sātavāhana – Zhong a-han
https://tinyurl.com/4bf9axy8 [vn369-8.pdf]

*-----*



Friday, 28 November 2025

Duyên kỳ ngộ

 Duyên kỳ ngộ
Ông bà THAWI
(Quý, Thawi Swangpanyangkoon) 

Khi còn là sinh viên theo học chương trình Thạc sỹ (Master) tại AIT (Asian Institute of Technology, Pathum Thani, Thái Lan) từ năm 1973 đến 1975, tôi quen một sinh viên người Thái gốc Việt. Anh không nói được tiếng Việt, chúng tôi chỉ trao đổi bằng tiếng Thái và tiếng Anh. Dù học khác ngành nhưng thân nhau vì chúng tôi đều thích đàn hát nghêu ngao để thư giãn trong những ngày cuối tuần. 

Một lần nọ, anh mời tôi về nhà anh chơi, ở thành phố Chiang Mai miền bắc Thái Lan trong dịp nghỉ hè. Mẹ anh nói tiếng Việt giọng Quảng Bình như nhiều Việt kiều mà tôi đã từng gặp. Nhưng đặc biệt ba anh lại nói giọng Sài Gòn. Hỏi ra mới biết ông có tên Việt là Quý, sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn, theo học trường Trung học Petrus Trương Vĩnh Ký (nay là trường Lê Hồng Phong) trước khi sang Thái Lan lập nghiệp. Đặc biệt hơn nữa, sau khi hỏi thăm, tôi biết được nhà của ba má ông ở vùng Hòa Hưng, gần rạp hát Thanh Vân, Quận 3. Hồi nhỏ tôi có theo má tôi đến đó chơi, vì má tôi và má của ông là bạn đồng nghiệp, cùng là giáo viên trường tiểu học.

Từ đó mà trở thành chỗ thân tình. Sau biến động tháng 4-1975, tôi rất hoang mang hụt hẫng, tinh thần xuống thấp, không liên lạc được với gia đình, không biết tương lai mình sẽ ra sao. Ông viết thư khuyên nhủ động viên tôi. Tôi rất nhớ ơn ông về những lời khuyên đó. 

Khi sang định cư ở nước Úc, tôi mất liên lạc với ông, nhưng lúc nào cũng nhớ đến ơn này. Mỗi lần về viếng Thái Lan, tôi đều tìm cách hỏi thăm thông tin về gia đình ông nhưng không có kết quả. Vào tháng 4-2016, trước khi đi Thái Lan, qua trang Facebook, tôi quen được một chị Phật tử gốc Việt có nhiều thông tin về các chùa Việt trên đất Thái và tôi hẹn gặp chị ấy qua một bữa cơm trưa tại Bangkok.

Trong khi trò chuyện, chúng tôi có đề cập đến những sinh hoạt của Việt kiều, không hiểu tại sao tôi lại nhớ đến và đề cập đến người bạn Việt kiều và gia đình anh ấy ở Chiang Mai. Một điều bất ngờ là chị bạn Phật tử vừa quen cũng biết ông Thawi và cho biết ông bà nay đã dời về ở Bangkok. Nhờ đó, tôi gọi điện thoại liên lạc và đến thăm ông bà. Sau 40 năm, ông bà không còn nhớ đến tôi nữa. Nhưng khi trò chuyện, tôi nhắc lại chuyện xưa và dần dần có lẽ ông đã nhớ lại.

Trong đời tôi đã gặp những duyên kỳ ngộ thú vị như thế. Từ đó, tôi nghiệm ra một điều: Nếu mình có duyên với người nào, có thể trong những kiếp trước đã từng là bạn bè hay bà con thân quyến, mình sẽ gặp lại hay nhận được thông tin về người đó trong kiếp này. 

Ông Thawi qua đời vào cuối tháng 11, 2022. Nguyện cho ông sớm tái sinh về nhàn cảnh.

Bình Anson 
Perth, Western Australia

*

Ông bà Thawi, Bangkok, 2016



Sunday, 16 November 2025

Các vận hành đặc thù kỳ lạ của Nghiệp: Ảnh hưởng sâu sắc của Pháp sư Thích Giác Đức trong đời tôi

CÁC VẬN HÀNH ĐẶC THÙ KỲ LẠ CỦA NGHIỆP:
ẢNH HƯỞNG SÂU SẮC CỦA PHÁP SƯ THÍCH GIÁC ĐỨC TRONG ĐỜI TÔI 
(The strange workings of Karma: The influence of Thích Giác Đức on my life) 
Điếu văn của Bhikkhu Bodhi trong tang lễ Pháp sư Thích Giác Đức, ngày 9/11/2025 

Thích Trừng Sỹ dịch Việt

*  

Đôi khi, chỉ một cuộc gặp gỡ tình cờ với một người cũng có thể làm thay đổi toàn bộ hướng đi của cuộc đời ta theo những cách mà ta không thể nào lường trước được. Chẳng hạn, bạn có thể dự định học quản trị kinh doanh ở đại học, nhưng rồi bạn lại đăng ký một khóa học văn chương do một giáo sư tuyệt vời giảng dạy, người đã truyền cảm hứng cho bạn qua những bài giảng về Shakespeare và thơ hiện đại. Bạn quyết định chuyển ngành sang văn học thay vì quản trị kinh doanh, và cuối cùng trở thành một giáo viên dạy tiếng Anh thay vì một doanh nhân.

Trong trường hợp của tôi, người đã thay đổi hướng đi của cuộc đời tôi chính là Thầy Thích Giác Đức. Chuyện đã diễn ra thế này: Tôi nhập học chương trình tiến sĩ triết học tại Đại học Claremont Graduate University vào tháng 9 năm 1966. Lúc đó, tôi đã có mối quan tâm đến Phật giáo, điều mà tôi đã bắt đầu tìm hiểu từ thời còn là sinh viên đại học. Thậm chí tôi đã từng thử hành thiền một mình, nhưng rồi sớm bỏ cuộc vì không biết cách duy trì việc thiền tập khi không có người hướng dẫn chuyên môn.  

Vào đầu học kỳ hai của tôi tại Claremont, tháng 2 năm 1967, một hôm tôi thấy một người đàn ông mặc áo màu nâu đi ngang qua khu ký túc xá dành cho nghiên cứu sinh. Tôi nhận ra ông là một vị tăng sĩ Phật giáo, và có người nói với tôi rằng ông đến từ Việt Nam. Tôi chưa có dịp nói chuyện với ông, nhưng vài ngày sau, một nhóm bạn học cao học đã mời tôi đến một buổi họp mặt tại một nhà nghỉ trên núi Mount Baldy, một ngọn núi lớn gần Claremont. Khi đến nơi, tôi thấy vị sư người Việt Nam ấy cũng có mặt ở đó.  

Mặc dù trước đây tôi chưa từng nói chuyện với thầy, nhưng thầy bước đến chào tôi và nói rằng thầy cảm thấy chúng tôi có nhiều điểm tương đồng, và có một mối liên kết nào đó. Thầy còn nói rằng tôi có khả năng hiểu được đạo Phật. Điều đó khiến tôi khá ngạc nhiên, thậm chí là bối rối, vì thầy không thể nào biết tôi đã sẵn quan tâm đến Phật Pháp. Có khoảng hai mươi sinh viên có mặt hôm đó, nhưng bằng cách nào đó thầy đã chọn tôi để bắt chuyện. Tôi nói với thầy rằng tôi thật sự quan tâm đến Phật giáo, và đặc biệt là muốn học thiền. Thầy bảo rằng thầy có thể dạy tôi, và chúng tôi hẹn gặp nhau vào tuần sau.  

Vào một ngày trong tuần, tôi đến phòng của thầy trong khu ký túc xá, và thầy đã chỉ dẫn cho tôi bài học thiền đầu tiên – niệm hơi thở. Tôi bắt đầu hành thiền, ban đầu 30 phút buổi sáng và buổi tối, sau đó tăng lên 40 rồi 50 phút, hai lần một ngày. Thỉnh thoảng tôi đến gặp thầy để trình bày kết quả thực tập của mình, và vào những dịp ấy, thầy cũng giảng cho tôi thêm về đạo Phật. Khi tôi cảm nhận được lợi ích của thiền định, dần dần niềm tin của tôi vào giá trị của chánh Pháp càng ngày càng tăng trưởng.  

Một ngày nọ, khoảng hai tháng sau khi tôi bắt đầu thiền tập, ý nghĩ bất chợt xuất hiện trong tâm tôi: “Tôi muốn trở thành một tu sĩ Phật giáo.” Và thế là, trong lần gặp kế tiếp, tôi hỏi thầy liệu thầy có thể cho tôi xuất gia được không. Thầy nói rằng thầy sẽ viết thư xin phép chư Tăng tại Việt Nam để thỉnh ý.  

Bây giờ nhìn lại, tôi thấy ý nghĩ muốn xuất gia của mình khi đó thật điên rồ, không thể giải thích bằng lý trí. Lúc đó tôi mới 22 tuổi, chỉ thực hành thiền được hai tháng, và tôi hoàn toàn không biết việc trở thành một tu sĩ Phật giáo sẽ là như thế nào. Nhưng tôi nghĩ Thầy Giác Đức có tuệ giác đặc biệt về con người tôi, và có lẽ thầy đã thấy rằng giữa chúng tôi có một mối liên hệ nghiệp duyên sâu xa từ quá khứ. Thầy viết thư cho các vị Trưởng lão Tăng Đoàn ở Việt Nam và nhận được sự đồng ý của quý Ngài cho phép tôi xuất gia và truyền giới Sa-di cho tôi trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất.  

Lễ xuất gia diễn ra vào ngày 23 tháng 5 năm 1967, đúng ngày rằm tháng Tư – Đại Lễ Phật Đản năm ấy. Thầy có một người bạn ở Los Angeles là Thầy Thích Thiên Ân, một vị giáo sư thỉnh giảng tại Đại học California, Los Angeles (UCLA). Thầy Thiên Ân đã sắp xếp cho chúng tôi tổ chức buổi lễ xuất gia tại một ngôi chùa Phật giáo Nhật Bản ở Los Angeles, và nơi đó tôi chính thức xuất gia và thọ giới Sa-di. Thầy Giác Đức đặt cho tôi pháp danh tiếng Việt là Giác Tuệ, tương ứng với tiếng Nam Phạn Pali hay Bắc Phạn Sanskrit là Bodhi [*].  

Mùa thu năm 1967, Thầy và tôi chuyển đến một căn nhà nhỏ ở thị trấn Claremont. Một người bạn chung, Conn Hickey, và một nghiên cứu sinh khác tên là Tatsuo Muneto, một vị sư Phật giáo người Nhật đến từ Hawaii cùng đến dùng bữa với chúng tôi mỗi ngày. Trong ba năm sau đó ở Claremont, bốn chúng tôi thường cùng nhau ăn cơm mỗi buổi tối, thay phiên nhau nấu ăn, và Thầy là người nấu rất giỏi. Tôi sống cùng Thầy ở đó ba năm, cho đến khi Thầy học xong tiến sĩ và trở về Việt Nam vào mùa xuân năm 1970.  

Qua Thầy, tôi không chỉ học được lý thuyết và thực hành Phật giáo, mà còn hiểu rõ về những cuộc đấu tranh của những người Phật tử Việt Nam. Tôi được biết Phật giáo Việt Nam đã từng bị chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp tàn nhẫn; bản thân Thầy đã bị giam giữ, đánh đập, và tra tấn trong tù; và các Tăng Ni đã tự thiêu để bảo vệ chánh Pháp. Tôi cũng hiểu thêm về tình cảnh Phật giáo Việt Nam bị kẹt giữa hai thế lực: một bên là cộng sản, bên kia là các chính quyền độc tài được Hoa Kỳ hậu thuẫn. Thầy đã trình bày cho tôi thấy tầm nhìn về một Phật giáo dấn thân, không chỉ hướng đến giác ngộ cá nhân, mà còn nhằm chuyển hóa xã hội dựa trên các giá trị Phật giáo về lòng từ bi và bình đẳng của con người.  

Trong thời gian chúng tôi sống chung, Thầy thường thảo luận với tôi về những kế hoạch con đường tu tập tương lai của tôi. Vì lúc bấy giờ, ở Hoa Kỳ chưa có tu viện đào tạo tu sĩ Phật giáo, nên thầy xác định rằng tôi cần sang châu Á để tu học và thọ giới Tỳ-kheo. Thầy nhận biết do chiến tranh nên tôi không thể về Việt Nam tu học. Ban đầu Thầy định cho tôi đến Ấn Độ, học tại Học viện Phật giáo Nalanda. Tuy nhiên, sau đó, Thầy nghĩ rằng nếu tôi sống ở một quốc gia Phật giáo truyền thống thì tốt hơn và đề nghị tôi nên đến Tích Lan (Sri Lanka) tiếp tục con đường tu học Phật Pháp. Điều này có nghĩa là tôi chuyển từ Đại thừa (Mahayana) Phật giáo Việt Nam sang Nguyên Thủy (Theravāda) Phật giáo Tích Lan. Thầy rất tôn trọng truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy và kinh điển Pali. Ngay tại Claremont, chúng tôi đã đặt mua toàn bộ bản dịch tiếng Anh của các bộ Nikāya do Hội Pali Text Society xuất bản, và thường tham khảo và đối chiếu các bộ này với các bộ A-hàm trong Hán tạng.  

Sau khi Thầy trở về Việt Nam, tôi gặp một số chư Tăng Tích Lan đi qua Los Angeles, trong đó có Trưởng lão Piyadassi Thera ở chùa Vajirarama, Colombo. Ngài đã giới thiệu tôi đến vị Trưởng lão Ananda Maitreya, vị Tăng thống của hệ phái Amarapura, người sau này trở thành thầy giáo thọ truyền giới cho tôi. Khi tôi hoàn tất luận án tiến sĩ tại Claremont, tôi rời Hoa Kỳ sang Tích Lan, nhưng trên đường đi, tôi dừng lại ở Việt Nam hai tháng, phần lớn ở Chùa Giác Minh, nơi Thầy Giác Đức trụ trì tại Sài Gòn. Lúc ấy, Conn Hickey cũng đang ở Sài Gòn để nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam.  

Tôi rời Việt Nam vào tháng 10 năm 1972, và khi đến Tích Lan, tôi thọ giới lại theo truyền thống Theravāda, trước tiên là sa-di, rồi sáu tháng sau là tỳ-kheo. Sau ba năm tu học ở Tích Lan, tôi dự định quay lại Việt Nam để thăm Thầy lần nữa. Tháng 3 năm 1975, tôi đến Ấn Độ, dự định an cư mùa mưa, hành hương các thánh tích Phật giáo, và cuối năm sẽ về thăm Việt Nam. Tuy nhiên, vào tháng 4 năm 1975, chính quyền Cộng sản cai quản Việt Nam, và Thầy phải rời Việt Nam sang Hoa Kỳ. Vì vậy, khi kết thúc thời gian thăm viếng ở Ấn Độ, tôi trở lại Tích Lan tu học hai năm nữa, đến 1977 thì tôi trở về Mỹ. Sau đó, tôi quay trở lại Tích Lan năm 1982, và ở đó 20 năm tu học và nghiên cứu Phật Pháp bằng tiếng Pali cho đến khi trở về Hoa Kỳ vào năm 2002.  

Suốt những năm tháng ấy, tôi luôn biết ơn Thầy Giác Đức, người đã dẫn tôi trở thành vị tu sĩ Phật giáo. Nếu không gặp Thầy, cuộc đời tôi hoàn toàn khác hẳn. Có thể tôi đã trở thành giáo sư triết học ở một Đại học nào đó, hay đi theo một ngành nghề nào khác. Nhưng thật là đại phúc cho tôi khi tôi sống đời sống xuất gia suốt 58 năm cho tới nay năm 2025, và chính nhờ duyên lành gặp Pháp Sư Thích Giác Đức hướng dẫn tôi đã đi theo con đường xuất gia tu học Phật Pháp ngay thuở ban đầu.  

Tôi đến thăm Thầy tại nhà riêng ở thành phố Newton vào năm 2015 và 2017, nhưng từ đó tôi không gặp lại Thầy. Đầu năm nay, tôi có dịp sang Việt Nam ba tuần, lần đầu tiên kể từ năm 1972. Tôi ghé thăm lại chùa Giác Minh một lát, nhưng vì chư Tăng đi vắng nên tôi chỉ có thể nhìn Chùa từ bên ngoài. Chuyến thăm ấy khơi dậy trong tôi biết bao kỷ niệm sâu sắc trước đây giữa tôi với Thầy. Khi các Phật tử Bangladesh mời tôi làm diễn giả chính cho buổi lễ hằng năm tại Cambridge vào ngày 31 tháng 8, tôi vui vẻ nhận lời và biết rằng nhân dịp đó tôi có thể gặp lại Thầy. 

Ngày 30 tháng 8, tôi đến thăm Thầy và Cô Dung tại nhà riêng ở Newton. Cuộc gặp thật vui mừng. Tôi thấy Thầy, người vừa tròn 90 tuổi vào trung tuần tháng 8, vẫn còn khỏe mạnh và tinh thần sáng suốt. Cả hai chúng tôi đều vô cùng xúc động và vui mừng khi gặp lại nhau. Thầy kể rằng cuộc viếng thăm của tôi khiến Thầy rơi nước mắt. Tôi hối tiếc vì đã không đến viếng thăm Thầy thường xuyên hơn, nhưng nghĩ rằng chúng tôi sẽ có cơ hội gặp nhau nhiều lần nữa.  

Tuy nhiên, điều đó đã không thành hiện thực. Giữa tháng 10, Conn Hickey báo tin Thầy bị đau tim và đang điều trị tại bệnh viện ở Boston. Khi vừa sắp xếp xong công việc tại Chùa Trang Nghiêm (Chuang Yen), nơi tôi đang sống, tôi lập tức đến Boston thăm Thầy. Thật là một phước lớn lao cho tôi khi được ở bên Thầy trong tuần cuối cùng của đời Thầy trên thế gian này. Conn cũng kịp lúc bay từ California đến để cùng túc trực bên Thầy. Mặc dù Thầy không mở mắt hay nói được, nhưng tôi tin rằng Thầy vẫn nghe và hiểu khi tôi bày tỏ lòng tri ân sâu sắc với Thầy vì tình bạn, tình đồng tu, và sự hướng dẫn của Thầy đã ảnh hưởng rất lớn trong đời sống xuất gia của tôi. 

Tuần cuối ấy, Conn, Thầy, và tôi cùng ở bên nhau trong phòng chăm sóc đặc biệt, như thể khép lại vòng tròn khởi đầu 58 năm trước ở thành phố Claremont. Từ 1967 đến 1970, ba chúng tôi dành thời gian quây quần mỗi tối, bàn luận về Phật pháp, chiến tranh Việt Nam, và những vấn đề lớn lao của thời đại. Giờ đây, chúng tôi dành thời gian cả tuần ngồi lại bên nhau trong phòng bệnh của Thầy, nhưng lần này là sự tĩnh lặng tràn đầy lòng thương yêu, thay vì những cuộc trò chuyện sôi nổi ngày xưa. 

Tôi chắc chắn không nghĩ rằng sự viên tịch của Thầy đánh dấu sự kết thúc mối liên hệ giữa chúng tôi. Thầy vẫn sống mãi trong tâm trí và trái tim tôi. Thầy đã truyền cảm hứng cho tôi ý tưởng rằng mục đích đi theo con đường Phật giáo không chỉ là tìm kiếm giải thoát cho riêng mình, mà còn là nỗ lực tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn – thế giới của hòa bình, công lý, và phẩm giá cho tất cả mọi người. Thầy luôn nhấn mạnh rằng ta phải đặt người khác lên trước bản thân, và chính Thầy đã làm được như vậy, và thầy là hiện thân của Bồ-tát hạnh và Bồ-tát đạo.  

Tấm gương của Thầy tiếp tục là nguồn cảm hứng cho đời sống tu sĩ của tôi, nhất là trong thời điểm hiện nay, khi mọi người khắp nơi trên thế giới đang phải đối mặt với quá nhiều khổ đau, kể cả tại Hoa Kỳ. 

Dù tôi không có bất cứ ký ức nào về các đời sống quá khứ, nhưng tôi cảm nhận sâu sắc rằng giữa Thầy và tôi đã gặp nhau qua một mối liên hệ nhân duyên mật thiết từ nhiều kiếp trước. Tôi cũng tin chắc rằng khi bánh xe luân hồi tiếp tục quay, chúng ta sẽ gặp lại nhau để cùng nhau đi trên con đường giác ngộ của Đức Thế Tôn, tay trong tay.  

– Bhikkhu Bodhi, 
Boston, Massachusetts, USA 
(Thích Trừng Sỹ dịch Việt)

[*] Giác Tuệ dịch sang Pāli là "Bodhipañño" (Bình Anson)

* Nguồn: https://phapnhan.org/tv/cac-van-hanh-dac-thu-ky-la-cua-nghiep-su-anh-huong-cua-phap-su-thich-giac-duc-trong-doi-toi/ 

*-----*

Bhikkhu Bodhi trong tang lễ Pháp sư Thích Giác Đức, ngày 9/11/2025

Bhikkhu Bodhi và Pháp sư Thích Giác Đức, 30/08/2025

Bhikkhu Bodhi và Thượng tọa Thích Trừng Sỹ, 09/11/2025


Saturday, 4 October 2025

Không sợ chết, chỉ sợ đau

 KHÔNG SỢ CHẾT, CHỈ SỢ ĐAU

Hôm nay tôi có hẹn đến gặp bác sĩ lão khoa (geriatrician) tại một bệnh viện công lập gần nhà. Khi tôi được 70 tuổi, bà bác sĩ gia đình làm giấy giới thiệu gửi tôi đến bệnh viện đó để khám tổng quát, thử trí nhớ, và nhận những hướng dẫn về chế độ ăn uống, luyện tập trí nhớ, các động tác tập thể dục tại nhà.

Mọi chuyện đều ổn, cho nên trong 3 năm qua, tôi chỉ được gọi đến tái khám mỗi năm một lần. Hôm nay, sau khi khám nghiệm, bác sĩ cho biết tình trạng sức khỏe và trí nhớ của tôi cũng bình thường trong tuổi 74, nghĩa là cũng có suy yếu theo tuổi già nhưng không có gì đáng quan ngại.

Cô bác sĩ trẻ hỏi tôi có lo lắng, bực bội gì không. Tôi nói tôi cố gắng sống an vui từng ngày. Dĩ nhiên đôi lúc cũng có bực bội, nóng giận khi có chuyện xảy ra ngoài ý muốn, nhưng rồi kiểm soát được ngay, không kéo dài. Là một người theo đạo Phật, tôi không sợ chết, chấp nhận cái chết là một hiện tượng bình thường của con người. Lý tưởng nhất là được chết nhanh chóng. Bởi vì thú thật, tôi sợ đau đớn trên thân xác. Tôi đã từng thấy cảnh những người thân lăn lộn trên giường bệnh, sống lây lất nhiều năm rồi mới chết. Đó là điều tôi sợ, nhưng chấp nhận vì không thể nào biết được chuyện gì sẽ xảy đến cho mình trong tương lai. Cho nên tôi hành thiền mỗi ngày, quán các cảm thọ, để sửa soạn tâm lý và tăng cường khả năng chịu đựng các cơn đau của thân xác.

Cô bác sĩ cười, thông cảm, đồng ý, và hẹn gặp lại năm sau.

– Geriatric Ward (Khu Chăm sóc người Cao niên)
Osborne Park Hospital, Western Australia
30/09/2025

*



Sunday, 28 September 2025

Diễu binh hay Diễn binh? (2)

Diễn binh và Diễu binh 
Đà Nẵng Online (08/01/2022)

Hỏi: 

- Cùng một sự việc nhưng tôi thấy báo giới có hai cách viết khác nhau: có báo viết diễn hành, diễn binh; cũng có báo viết diễu hành, diễu binh. Xin cho biết từ nào đúng, diễn hay diễu?
(Trần Quang An, Quận Sơn Trà, Tp. Đà Nẵng)

Đáp:

- Diễn [演] (trong diễn hành, diễn binh) là từ Hán Việt, động từ, có nghĩa là “diễn ra”. Diễu [繞] (trong diễu hành, diễu binh) là từ Nôm, thuần Việt [*]; Từ điển Trần Văn Kiệm giảng: diễu binh; diễu hành; diễu phố.

Đại Nam Quấc âm Tự vị của Huình-Tịnh Paulus Của có mục từ Diễn và một số từ Hán Việt liên quan trong đó có diễn binh nghĩa là “tập luyện quân binh”. Từ điển này cũng đồng thời có từ Diễu và một số từ ghép liên quan, trong đó có diễu binh nghĩa là “trần binh cho thiên hạ coi, cũng là cuộc tập binh”.

Việt Nam Tự điển (Lê Văn Đức - Lê Ngọc Trụ, Khai Trí, Sài Gòn, 1971) giải thích diễn binh (động từ) là “phô bày lực lượng binh đội và vũ khí trong một cuộc lễ”. Ví dụ: Đi coi diễn binh.

Từ điển Việt Hán (NXB Khoa học - Xã hội, 1977) có mục từ diễn binh (động từ) và giải thích tương tự: “phô bày lực lượng binh đội và vũ khí trong một cuộc lễ”.

Từ điển Tiếng Việt cũng do NXB Khoa học - Xã hội ấn hành các năm 1977 và 1988 có những nét khác biệt đối với các từ đang xét.

Ấn bản năm 1977 (Văn Tân, Nguyễn Văn Đạm chủ biên) không có mục từ diễn binh, nhưng lại có mục từ duyệt binh với giải thích “điểm những binh chủng nhân một dịp lễ”. Ấn bản này cũng không có các mục từ diễu hành, diễu binh, mà chỉ có mục từ diễu (động từ) với 3 nghĩa khác nhau : “1. Chạy chung quanh: Sư diễu đàn. 2. Nói một đám rước, đám biểu tình đi rải ra ở dọc đường. 3. Bao bọc: Bức tường hoa diễu quanh vườn”.

Ấn bản năm 1988 (Hoàng Phê chủ biên) giải thích từ diễu chỉ còn một nét nghĩa là “đi qua trước mặt nhằm để cho nhìn thấy”. Ở bản in này mới có thêm mục từ diễu binh, diễu hành.

Hiện nay, một số các từ điển chính tả tiếng Việt, chẳng hạn Từ điển chính tả tiếng Việt thông dụng do Nguyễn Đức Tịnh biên soạn (NXB Thuận Hóa, 2003) đều có các mục từ diễn binh, diễu binh, diễu hành.

Tóm lại, tuy diễn binh là từ Hán-Việt, diễu binh là từ Nôm ghép với một từ gốc Hán, nhưng cả hai đều có nghĩa tương đương. Dùng từ này (diễn binh) hay từ kia (diễu binh) chỉ là thói quen trong cách dùng từ. Gần đây, nhiều tác giả dùng từ duyệt binh để thay thế cho hai từ này.

Một trong những nhiệm vụ của các nhà biên soạn từ điển là thu thập những từ ngữ thường dùng trên sách báo và trong đời sống hằng ngày. Trong phạm trù chúng ta đang xem xét, diễn hay diễu là tùy mỗi tác giả, như nhận định của NXB Khoa học - Xã hội trong Lời nói đầu của Từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1988 (Hoàng Phê chủ biên): Đối với mỗi một cuốn từ điển cụ thể, mỗi một tác giả đều có thể có những quan điểm và cách thức xử lý khác nhau, nhất là đối với những vấn đề tiếng Việt mà giới ngôn ngữ học còn đang tranh luận.

----------

[*] Diễu [繞] không phải là từ Nôm, mà là từ Hán Việt. Thông thường, 繞 đọc là "nhiễu", nghĩa là đi vòng quanh. 繞 đọc theo âm Nôm là "diễu". Ngày nay, cách phát âm 繞  là "nhiễu" vẫn còn được dùng, như cụm từ "đi nhiễu Phật" nghĩa là đi vòng quanh tháp Phật, tượng Phật. - (Bình Anson)

*-----*



Saturday, 27 September 2025

Quan sát, ghi nhận rồi buông bỏ.

 QUAN SÁT, GHI NHẬN, RỒI BUÔNG BỎ

Mỗi buổi sáng, tôi thường tìm đến trang web của vài cơ quan truyền thông quốc tế để xem tin tức về các nơi mình quan tâm. Chỉ đọc qua tựa đề và các dòng chữ đầu tiên, rồi chọn bản tin nào mà mình thấy quan trọng để đọc thêm chi tiết. Rồi thôi, chuyển sang làm việc khác. Nhìn lại, cuộc đời lúc nào cũng thế. Vui buồn, tốt xấu lẫn lộn trong thế giới ta-bà này.

Nhưng để câu khách, các phóng viên thường chọn những bản tin hấp dẫn, thu hút, thường là các mặt xấu, buồn rầu, tai họa, ... nhiều hơn các mặt tốt, vui tươi, thiện lành. Đó là theo luật cung cầu. Đa số người đọc cũng thích tìm đọc những bản tin tiêu cực, bi quan như thế, rồi bình luận, quảng bá khắp nơi, nhất là trong các mạng xã hội.

Bình tâm ghi nhận thông tin khắp nơi trên thế giới là một phương cách tu tập. Ghi nhận để biết, rồi buông xả, không đeo đuổi bình luận. Chỉ để giúp mình thấy rõ thêm bản chất của thế gian này là Vô thường –  thay đổi luôn luôn, và Khổ não –  lúc nào cũng có chiến tranh, chết chóc, tàn phá, tai họa do thiên nhiên và do con người gây ra.

Rồi thấy rằng mình vẫn còn có phước duyên, được sống trong một môi trường xã hội tương đối bình yên, và có sức khỏe tương đối ổn định. Cho nên mình phải biết tận dụng những điều kiện tốt đẹp đó để tu tập, không nên phí thì giờ bàn luận, dính mắc vào những chuyện xa xôi, ngoài tầm tay của mình. LIS –  life is short, đời sống ngắn ngủi, tạm bợ. Sống nay chết mai, không thể biết trước được. 

* Các trang web tôi thường đến xem tin tức mỗi ngày:

1) ABC (Australian Broadcasting Corporation)
https://www.abc.net.au/news 
2) BBC Tiếng Việt (British Broadcasting Corporation)
https://www.bbc.com/vietnamese 
3) Tin nhanh VnExpress
https://vnexpress.net/  
4) Perth Now (The West Australian Newspaper), Tây Úc
https://www.perthnow.com.au/
5) Bangkok Post, Thái Lan 
https://www.bangkokpost.com/

*-----*



Tuesday, 2 September 2025

Diễu võ hay Diễn võ, Diệu võ?

 DIỄU VÕ HAY DIỄN VÕ, DIỆU VÕ?

Nhân khi bàn luận về từ “diễu binh” và “diễn binh”, một người bạn trẻ có đề cập đến thành ngữ “diễu võ dương oai” để minh chứng cho cách dùng từ “diễu”. Quả thật là bây giờ khi dùng Google để tìm thì thấy rất nhiều các bài viết trên mạng dùng thành ngữ này với từ “diễu”. Nhưng nếu truy tìm với thành ngữ “diễn võ dương oai” thì thấy vẫn có một số bài viết dùng với từ "diễn". Tôi nhớ khi còn ở Sài Gòn trước 1975, tôi chỉ biết câu “dương oai diễn võ” viết với từ “diễn”.

Tìm tòi trên mạng qua Google, tôi biết thêm là thành ngữ trên bắt nguồn từ câu tiếng Hán là 耀武揚威 - Diệu vũ dương uy, trong đó, 耀 Diệu (bộ Vũ) là làm cho chói sáng, phô trương, khoe khoang.

Như thế, trong trường hợp này, "Diễu" và "Diễn" là cách phát âm vùng miền của từ "Diệu 耀". Có lẽ chúng ta nên viết câu đó là “diệu võ dương oai” với từ "diệu võ" thì chính xác hơn. Việt Nam Tự Điển của Nguyễn Văn Đức, xuất bản ở Sài Gòn năm 1970, có ghi câu "Diệu võ dương oai" và định nghĩa là "làm tàn, làm ra bộ nghênh ngang, khoe khoang sức mạnh". Dùng Google để truy tìm với thành ngữ "diệu võ dương oai" thì cũng sẽ thấy nhiều bài viết và vài tự điển trực tuyến đề cập đến từ "diệu võ".

*




Saturday, 30 August 2025

Diễu binh hay Diễn binh?

 DIỄU BINH HAY DIỄN BINH?

Gần tới ngày lễ lớn ở Việt Nam, tôi thấy bạn bè, báo chí dùng rất nhiều từ "Diễu binh". Tôi cảm thấy hơi buồn cười vì khi đọc từ "diễu", tôi lại liên tưởng đến từ "giễu" trong "chế giễu, giễu cợt". 

Sinh ra và lớn lên ở miền Nam trước 1975, tôi chỉ quen thuộc với từ "Diễn binh". Diễn ở đây có liên quan đến các từ: trình diễn, biểu diễn, thao diễn, diễn dịch. Tiếng Hán là 演, thuộc bộ Thủy. Tra Google với từ 演兵 (diễn binh), tôi thấy dịch ra tiếng Anh là Military Parade. Tôi không tìm thấy tiếng Hán của từ "Diễu" trong Hán Việt Từ Điển Trích Dẫn trực tuyến [*] mà tôi thường truy cập để tham khảo. Ngay cả Từ điển Hán Việt của Thiều Chửu xuất bản năm 1942 ở Hà Nội cũng không thấy ghi từ “Diễu” – viết với dấu ngã, chỉ có từ “Diễn”.

Việt Nam Tự Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức xuất bản năm 1931 có đề cập đến từ “Diễu” là chung quanh. Người miền Nam đọc là “Nhiễu” 繞 , trong đó “nhiễu hành” 繞行 là đi vòng chung quanh. Ngày nay từ này vẫn còn được dùng trong sinh hoạt Phật giáo: đi nhiễu Phật là đi vòng quanh tượng Phật hay vòng quanh chánh điện.

Từ điển Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của, xuất bản ở Sài Gòn năm 1895, có đề cập đến cả 2 từ “Diễn binh” và “Diễu binh”: 

- Diễn binh: Tập luyện quân binh, và 
- Diễu binh: Trần binh cho thiên hạ coi, cũng là cuộc tập binh. Trong đó, có ghi thêm từ “chạy diễu” đồng nghĩa với “chạy rểu” – chạy rông vát qua lại (rểu: 繞 còn đọc là diễu, nhiễu). 

Việt Nam Tự Điển của Lê Văn Đức, xuất bản ở Sài Gòn năm 1970, có ghi cả hai từ "diễn binh" và "diểu binh" và cho là có nghĩa giống nhau. "Diễu" là đồng nghĩa với "rểu", có nghĩa là lượn quanh, qua lại, đi nhởn nhơ.

Ngày nay, các báo Việt ở nước ngoài (Người Việt ở Mỹ, Việt Báo ở Mỹ, Thời Báo ở Canada, Việt Luận ở Úc, Thời Báo ở Đức) vẫn dùng các từ “diễn binh, diễn hành” theo người miền Nam xưa. Theo tôi, “Diễn binh” là viết đúng, chính xác hơn là "Diễu binh".

[*] http://nguyendu.com.free.fr/hanviet/  

– Bình Anson 
Perth, Tây Úc 
31/08/2025
(cập nhật & hiệu đính: 05/09/2025)

*



Friday, 1 August 2025

Đoạn trường ai có qua cầu mới hay ...

 ĐOẠN TRƯỜNG AI CÓ QUA CẦU MỚI HAY ... 

Sau khi tốt nghiệp Kỹ sư Hóa học ở Sài Gòn năm 1973, tôi được cấp học bổng sang Thái Lan học chương trình Thạc sĩ (Master) tại Viện Công nghệ Châu Á (Asian Institute of Technology - AIT). Trong thời gian đó tôi có quen một người bạn đến từ nước Afghanistan. Tôi và anh ấy cùng học một ngành, cùng học bài, làm bài tập với nhau, cùng làm các thí nghiệm phân chất hóa học với nhau, cùng đi chơi với nhau, nên rất thân thiết. Dù gia đình anh ấy theo đạo Hồi, cũng như gia đình tôi theo đạo Phật, lúc ấy, 2 đứa chúng tôi không quan tâm đến tôn giáo.

Sau khi tốt nghiệp Thạc sĩ, anh ấy trở về làm việc ở Afghanistan, còn tôi bị kẹt lại tại Thái Lan sau biến cố tháng 4-1975. Chúng tôi vẫn giữ liên lạc qua thư từ bưu điện. Một lần nọ, tôi viết thư tâm tình, than thở tôi buồn, nhớ quê hương, nhớ gia đình. Anh ấy viết thư khuyên tôi nên vui sống trong hoàn cảnh hiện tại, và viết: “Nơi nào mình sống an vui, nơi ấy là quê hương của mình”.

Mấy năm sau, có đảo chính ở Afghanistan, gia đình anh ấy chạy tị nạn sang Iran, rồi sang Đức, cuối cùng định cư tại Mỹ. Lúc đó tôi đã sang định cư tại Úc. Sau khi lập liên lạc, từ Mỹ, anh ấy viết thư, than thở anh buồn, nhớ quê hương. Tôi viết thư trả lời: “Anh còn nhớ lời khuyên anh gửi cho tôi lúc trước không? Nơi nào mình sống an vui, nơi ấy là quê hương của mình.”  

Từ đó, không thấy anh viết thư than buồn nữa.

- Bình Anson

*




Thursday, 31 July 2025

Sống & Chết

 Sống & Chết

Sáng nay đọc tâm tình của một bạn trong Facebook, có đề cập đến câu "Triệu người quen có mấy người thân, khi lìa đời có mấy người đưa?" trong bài hát "Không Tên Số 4" của Vũ Thành An, tôi có đóng góp vài dòng cảm nghĩ. Xin chia sẻ ở đây.

Mình vào đời một mình với hai bàn tay trắng thì mình lìa đời cũng trắng tay, không đem theo được gì ngoại trừ cái nghiệp do mình tạo ra.

Khi mình còn sống, nếu may mắn có được MỘT người thân thôi cũng đủ rồi. Càng nhiều người thân càng thêm phiền não. Nếu không tìm được người thân nào, thì mình nói chuyện với đầu gối. Cũng tốt thôi. Cụm từ "nói chuyện với đầu gối" là của người miền Nam xưa, không biết bây giờ còn dùng không?

Còn khi mình nằm xuống rồi thì mình đi tái sinh với nghiệp duyên của mình. Thân xác còn lại chỉ là cát bụi tứ đại, sẽ trở về với cát bụi. Người ta đem quăng vào hố rác để làm phân cũng được, hay xây tháp với cả ngàn người khóc thương đưa tiễn cũng không sao. Đó là chuyện của người còn ở lại, không phải chuyện của người đã ra đi.

- Bình Anson

*



An Interview with Ven. Bhikkhu Bodhi (2001)

 An Interview with Ven. Bhikkhu Bodhi

Venerable Kantasilo conducted this interview at the Palelai Meditation Center, Singapore, on Sunday, June 20, 2001.

-ooOoo-

Thank you Bhante for talking to us. Could you tell us about your early years, where you were born, your lay name, your parents' names?

- I was born in NYC in 1944, my civilian name was Jeffrey Block, and my parents were a middle class Jewish family living in Brooklyn.

Could you tell us where you went to school, your primary education?

- I went to a public elementary school quite close to the family house, also to junior high school, high school in the neighborhood, which is Borough Park, in Brooklyn. And then I went to Brooklyn College…

And you got your bachelors degree?

- I got a BA degree in Philosophy.

What year would that be?

- I completed my BA degree in 1966.

And then after that?

- And then I went to Claremont Graduate School. This is in Claremont, California.

Southern California?

- Yeah. Again I specialized in Philosophy and completed my doctorate degree in 1972.

You were telling me earlier that you had met a Vietnamese Buddhist monk which was probably your first introduction to Buddhism?

- Actually I had become interested in Buddhism in my junior year in college, mainly just by strolling in bookshops and looking at book titles and then somehow I became interested in a few books on Buddhism that I could find there. I think this interest in Buddhism arose from the kind of surge or quest for some deeper understanding of human existance that was offered by the materialistic philosophy of modern American civilization, and I wasn't satisfied with my ancestral Jewish religion, and also I didn't find much long term value in Christianity. But I was drawn at an early period, say during my junior year of collage to the religions of the east.

I began reading some of the Upanishads, Bhagavadgita, then I found in the bookshops some books on Buddhism. These were by D.T. Suzuki and Alan Watts so they were mainly on Zen Buddhism and Mahayana Buddhism. Then when I went to Claremont Graduate School my interest in Buddhism continued and I felt increasingly a deeper need to lead a spiritual life. At the same time I always had an underlying doubt or skepticism about any type of spiritual philosophy.

But finally when I was in graduate school I met a Buddhist monk from Vietnam who was attending the same school and living in the same residence hall in which I was living. I became friends with him, and I approached him as a teacher and from him I received my first instructions in Buddhism and meditation.

Do you remember his name?

- His name is Thích Giác Đức. I have not heard from him in many, many years, so I'm not sure whether he is still alive. In fact, when I was still living in Washington D.C. at the Washington Buddhist Vihara he was in the Vietnamese temple, which was a few blocks right up the street, and he was the monk in charge of that temple.

Is that the temple that's on the same street as the Washington Buddhist Vihara?

- The one on the same street as the Washington Buddhist Vihara, not the Jetavana temple.

No, no, but there is a Vietnamese temple just right down the street from the [Washington Buddhist] Vihara and has a very big Kuan Yin [image located] in the precincts there. Is that the same temple?

- It must be the same temple. It was called…something like… the Vietnamese Buddhist Church of America, or something like that.

Yes, that's probably it.

- Yeah, he was in charge of that at the same time that I was in the Washington Buddhist Vihara, just by pure coincidence that we wound up on the same street after several years of separation. But he was getting into an increasingly antagonistic relationship with the Vietnamese community. I think mainly because of the different political affiliations… because Vietnamese monks had very strong political affiliations.

And this was at the time the United States was involved in the…

- No, this was years after the Vietnam War - this was 1981, perhaps early 82. He came to the United States in 1975 just at the very time that Saigon collapsed and fell to the Viet Cong. And that he was educated in the United States and he had somewhat pro-western sympathies compared to those monks who took a more radical stance against the United States. His life was in danger because once the Viet Cong took power they would have singled out or weeded out those monks who were known to be sympathetic to the west, or to the United States, and [would have] eliminated him physically and so he had to escape Vietnam immediately.

Were you practicing any type of Vietnamese meditations [at this time]?

- He started me off with Anapanasati. What is interesting is Vietnamese Buddhism is Mahayana but I think because of the proximity to Cambodia, or perhaps because they've also received a stream of transmission from Indian Mahayana, not only Chinese Mahayana coming down from south China to Vietnam, Vietnamese Mahayana Buddhism tends to have a stronger strain of classical Indian Buddhism within it. So the meditations he taught me were basically mindfulness of breathing, the meditation on loving kindness, and a meditation based on the Four Foundations of Mindfulness which is… its sort of a line, each foundation of mindfulness links up with a particular one of the four perversions or distortions. To contemplate the body as being essentially impure - asubha, to contemplate all feelings as being suffering, to contemplate every state of mind as being anicca - impermanent, and to contemplate all dhammas as being without self.

And you were ordained as a samanera?

- Yeah, after I became friends with him and I began the practice of meditation, through the practice my skepticism and doubts about Buddhism or the spiritual life dissipated. I became convinced that this is the proper path for me to follow. And so then I asked my friend, teacher, if he could give me ordination as a monk. Also, I have to confess that there was an underlying pragmatic motive as well. I wouldn't say that was the main reason why I wanted ordination, but this was a period when America decided it had to beef up its armed forces and it was expanding its roll-call of people subject to the draft. And so I also thought it might be an extra security measure to have a formal ordination as a monk in order to be able to submit some kind of document to receive exoneration from the obligation to serve in the armed forces.

Conscientious objector?

- It wouldn't have been conscientious objector, it would have been a ministerial deferment.

And you were ordained for about two months before you went to South Vietnam?

- No, I was ordained by him only as a samanera in May 1967, five years before I left for Asia.

Where?

- In the United States.

And then…?

- And I remained as a samanera for five years in the United States.

I see. And then you traveled straight to Vietnam?

- I was planning to go to Asia all along, from the time that I received ordination. It was not exactly certain where I would go for ordination or training, though my teacher, my Vietnamese teacher, had some contact with Sri Lankan Buddhists…with Ven. Narada - famous monk Venerable Narada. And he was always constantly advising me to go to Sri Lanka to ordain and to receive training.

But as a Vietnamese monk…or?

- At that time it was unclear but I think he thought I should take reordination as a Theravada monk but then eventually I should come back to Vietnam and then ordain again in the Mahayana Order as a Bhikshu.

So how long were you in South Vietnam?

- Okay, so this is after I completed my graduate studies and then I had to teach for two years… this was while I was working on my dissertation, I was teaching in order to earn money to pay back debts that I had incurred from loans to support my education.

So you were already a samanera, and you were working, and you were still working on your dissertation…

- Yeah, yeah, I was completing my dissertation. Then when I completed it… I completed it in February 1972 and I continued to work through the end of that academic year, then I was ready to leave for Asia. And by this time I had also come into contact several times with Sri Lankan Buddhist monks who were passing through Los Angels. After my first Vietnamese teacher left the United States he had a friend, another Vietnamese monk who was living in Los Angeles. He had originally gone to teach Buddhism at U.C.L.A. and then he established a Buddhist meditation center in Los Angeles.

Do you recall his name?

- His name is Dr. Thích Thiên Ân. He died from cancer in 1980. In 1971 I went to stay and live at that meditation center (IBMC) with Dr. Thích Thiên Ân. And while I was staying there I got to know a Buddhist monk from Sri Lanka who was passing through Los Angeles and we invited him to come to stay at our meditation center and to give a series of talks over a period of a week. This was Venerable Piyadassi of Vajirarama in Columbo.

I became friendly with Venerable Piyadassi and I drove him around Los Angeles. I introduced him at talks and I brought him to my classes at the university to teach, to give lectures. And then when we parted at the Los Angeles airport he suggested to me that some time I should come to Sri Lanka and he could arrange for me to stay at a Buddhist monastery.

And then some time later I met another monk named Venerable Ananda Mangala who is actually a Sri Lankan monk but he was stationed in Singapore. Then I became friendly with him, he stayed with us also for about a week. Then there was Dikwella Piyananda who was at the time chief monk at the Washington Buddhist Vihara, he also came to stay with us for a few days and I became friendly with him. And so it seems I have some deep underlying karmic connection with Sri Lanka, which was getting reinforced by these visiting monks.

And so then when I decided to go to Sri Lanka, I wrote to Venerable Piyadassi and told him about my intention and asked him if he could recommend a place I could go to ordain and study. Then he recommended to me a monk, Venerable Balangoda Ananda Maitreya,

Who later became the Sangha Nayaka…?

- Actually, at that time he was the Mahanayaka of the United Amarapura Nikaya. He had become already the Mahanayaka Thera of the Amarapura Nikaya, this would have been in early 1972. I think he received that appointment…it must have been 1969 or 1970. Because I remember he was the holder for a five-year period and then he relinquished… that period came to an end in 1976. So he might have had the appointment in 1971.

I was under the impression that after you gained samanera ordination in the Vietnamese tradition you left California to visit your monk friend in Vietnam.

- Actually I hadn't reached that point yet in my narrative. I had written to Venerable Piyadassi and he gave me the name of Venerable Balangoda Ananda Maitreya. I wrote to Venerable Ananda Maitreya asking if I could come and stay with him to ordain and to study and he wrote back saying I was welcome. So then in August 1972, I left the United States and my plane came first to Thailand and so I spent one week in Thailand at Wat Pleng Vipassana. From there I went to Vietnam in order to visit my friend, the first Buddhist monk that I had contact with. This was Venerable Thích Giác Đức.

Then I stayed in Vietnam for two months, mostly in Saigon, a few weeks I went up to Hue in central Vietnam.

Were there any meditation centers in Hue or were you just sight-seeing?

- It was more sight-seeing. There were monasteries in Hue but everything was in a rather hectic and chaotic state at that time because of the Vietnam War. The monks were very uncertain about the future of Buddhism and the future of the country itself.

So from Vietnam you…?

- Then from Vietnam I went to Sri Lanka.

But at this point, I want to make it clear you were a Mahayana samanera.

- I was a Mahayana samanera still and I arrived in Sri Lanka wearing my Vietnamese style robe. My teacher wanted me to wear the yellow robe when I came to Sri Lanka since with the brown robe I might not have been recognized as a Buddhist monk. So I wore this flowing yellow robe. Then, after a week or so in Colombo I went out to Balangoda to stay at the monastery of my ordination teacher - Venerable Balangoda Ananda Maitreya. Then a few weeks later I took a new ordination into the Theravada Order as a samanera.

How long did you remain a samanera in the Theravada tradition?

- The samanera ordination took place in November 1972, then I took the Upasampada ordination in May, 1973. So it was six months.

Can you give us you preceptor's name?

- My preceptor was Venerable Bibile Sumangala Nayaka Thero. He was a prominent monk in the upcountry Amarapura Nikaya. But he was not known outside of the upcountry Amarapura Nikaya. He did not have an international reputation.

Did you have a relationship with him?

- No, no. No relationship at all. His function as the upajjhaya at the upasampada ceremony was purely ceremonial or a formal function. My real close relationship was with Venerable Ananda Mettreya.

Can you tell us about that relationship?

- Well, I came to him because he had a great reputation as a scholar and also as an outstanding monk. When I first came to him and found out that he was 77 years old I was a little apprehensive because I was coming here as a young monk and I thought that I would have to spend five years of study with him and I was worried that at the age of 77 he might die at any time. But he wound up going on to live till the age of almost 102 and he was very strong and vigorous.

And while I was staying with him I found out one of the secrets of his excellent health was going for long walks several times a week, about twice a week. His temple was located about two miles in one direction from the town of Balangoda itself, in a village, in one direction and he also had a pirivena, a monastic school, two miles in the other direction, on the other side of Balangoda. But by that time he had retired from his function as the principle of the monastic school and he left it in the charge of his pupils.

But he kept his library there. He was a very avid reader, always doing research on different subjects. And so twice a week he would walk from his temple to the pirivena, the monastic school, with a bunch of books under his arm. And quite often he would ask me to go along with him and so we would walk about four miles in one direction - four miles going and then we would rest and have a cup of tea, then walk back another four miles. And he was quite fit and vigorous I was quite surprised.

So he was a very influential person in your life?

- I would say so, definitely so. And it was with him I began my study of Pali and Buddhism. Though I have said pretty much I learned Pali on my own, he didn't give me formal lessons in the grammer. But I'd work with some textbooks and he would check my exercises. Then once I'd learned enough Pali to start going through the texts…we went through certain texts together.

Such as…?

- We started with the first part of the Samyutta Nikaya, the collection with verses, then we went through some suttas in the Majjhima Nikaya, then he took me through the Abhidhammatthasamgaha.

And you would translate what was already Pali into English or vise-versa?

- I would just translate it to myself. At that time I was not yet doing written translations.

So you were reading the Romanized Pali?

- Actually, he wanted me to learn the Burmese script, which I did, because he had the entire Burmese Sixth Council Edition in his library. He was one of the monks who participated…in fact, he was like the leader of the Sri Lankan delegation during the Sixth Buddhist Council. And so he urged me to learn the Burmese script, which I did and then we worked through texts… those texts in the Burmese script.

I think I remember reading somewhere that you had a very close relationship with Venerable Nyanaponika?

- Venerable Nyanaponika each year would go to Europe for a month or two, he started making these trips in the late 1960s up till 1980. I had met Venerable Nyanaponika first when I made a visit to Island Hermitage. This was shortly after my ordination. Just by coincidence he happened to come down there. He was staying in Kandy, at Forest Hermitage, but each year at the time when the Island Hermitage held its Kathina ceremony, he would go down to Island Hermitage. And so just at the time I made my visit to Island Hermitage he was visiting there and so I had some talks with him.

Then occasionally when I had questions about points on Dhamma, I would write to him to get his views. Then in 1974 when he was going to Europe, he asked if I would come and look after the Forest Hermitage in his absence. And I agreed to do that, and in this way I became friendly with him. And then in 1975 I left Sri Lank and I went to India, to Bangalore, and stayed in Bangalore for ten months at the Maha Bodhi Society there, which was under Acariya Buddharakkhita.

It happened that while I was staying with Venerable Ananda Mettreyya in Balangoda, an Indian monk came to stay at the same monastery. His name was Saddharakkhita and I became friendly with him and he told me that his home monastery was the Mahabodhi Society in Bangalore. And so when he had completed his studies in Sri Lanka, and decided to go back to Bangalore, he suggested that I go along with him. And also I wanted to go to India because I wanted to make a pilgrimage to the Buddhist Holy sites.

And so I came along with him to Bangalore and I stayed altogether for ten months at the Mahabodhi Society there which I found quite inspiring because his teacher, Venerable Acariya Buddharakkhita spoke English very fluently, had very good understanding and knowledge of Dhamma, and each week he would give very very good Dhamma talks. At that time there were three western monks staying with him... er... I'm sorry, actually there were five or six monks there. One of them received ordination only toward the end of my stay there under the name Sangharatana. But later he came to Thailand and became reordained as Silaratana, staying with Ajaan Maha Bua. I think you know him. They call him Phra Dick now - Richard Byrd.

Yes, I know him very well.

- So he was there, and then there were two young Indian monks, and a Sweedish monk who was even senior to myself named Lakkhana. And Venerable Buddharakkhita… Actually, at that time Venerable Lakkhana was very into Abhidhamma, and I was into the study of suttas. And so he had Venerable Lakkhana teach the Abhidhamma to all the monks and he had me teach the suttas to all the monks, even though I didn't have much knowledge at the time, but it really forced me to prepare talks on the suttas and to study the suttas carefully and learn how to explain them. And then occasionally Acariya Buddharakkhita would ask us to give the Sunday public Dhamma talk in place of himself, and that forced us to learn how to give public discourses.

While I was staying in Bangalore, it became clear that our visas would not be renewed another year so I had to find another place to go. And meanwhile the Venerable Nyanaponika wrote to me and told me that if I decided to come back to Sri Lanka I would be welcome to stay with him, and so I decided to do so. So then I came back at the very end of 1975, I came back to Sri Lanka and went to stay with venerable Nyanaponika. Actually in the place right next to… there are two places about 100 meters apart within the same precincts. One is the Forest Hermitage where venerable Nyanaponika stays, the other is called Senanayakarama, where Venerable Piyadasi would stay when he came to Kandy.

And so I was staying in Senanayakarama since Venerable Nyanaponika had only one guest room, and he was expecting to come within a few months none other than, Venerable Phra Khantipalo. And so then I stayed… Anyway, I stayed all together close to two years with Venerable Nyanaponika in that place. And Venerable Khantipalo stayed with us for about a year.

When I took ordination, my parents were extremely upset with this. And they would write to me frequently, sometimes angry letters, sometimes letters of grief and sorrow, sometimes letters critical of Buddhism and of myself, sometimes letters pleading with me to go back. And so I actually decided that I wouldn't be able to continue as a monk and that I would disrobe and go back to the United States. And I told this decision to Venerable Nyanaponika and he regretted it very much. But he thought that I had to make my own decisions so he didn't try to compel me, though he felt that I would have been justified in continuing as a monk rather than conceding to my parent's wishes. But I felt that maybe this was necessary to do. I actually fixed the date that I would disrobe. I was already making arrangements with my parents to get the ticket for the trip back to the United States.

It was about two or three weeks away from the time I was scheduled to disrobe and one day I was sitting up in my room… at this point I was living in the Forest Hermitage with Venerable Nyanaponika - this was after Venerable Khantipalo left Sri Lanka. Then I was just thinking that the whole purpose of my life was to live as a Buddhist monk and if I were to disrobe just to satisfy my parent's wishes it would be like nullifying all that was of value and of meaning, of significance in my own life, just to fulfill their expectations. So I told this to Venerable Nyanaponika and he said 'in that case go back but go back as a monk', and I thought 'why not'.

So then I went back, this was in August 1977, then I went back to the United States as a monk. And when my parents, who were expecting me to come down in lay clothes, saw me coming in my saffron robes with an alms bowl on my back and the monk's umbrella in my hand… this is what my father told me later, they had seen me before I saw them. My mother said to my father, 'that's not our son, let's go' and she actually started to walk away from the airport but my father held her back and they took me...

So they took you home?

- Yeah, yeah. But of course they were very unhappy with this.

And this was in NY or this was in…?

- At this time they were living in Long Island, outside NYC.

But you went to stay for some time at the Sri Lankan Buddhist Vihara, so was this at the very beginning of that stay?

- No. You see the first place I stayed when I went back to the United States was called the Lamaist Buddhist Monastery of America.

In?

- It's in New Jersey. In a place called Washington, New Jersey. It was established by a Kalmuk lama named Geshe Wangyal who was one of the first… You see there was a Kalmuk community which had come to the United States, I think during the period when Stalin was persecuting the Kalmuk Mongolians, or it could even have been immediately after the Bolshevik revolution - I'm not sure when. But they had come to the United States and settled in southern New Jersey.

..and set up a center?

- The Buddhist centers would have come some time later. And Geshe Wangyal he was a Kalmuk Mongolian. He had studied in Tibet and China then they had set up a monastery for him and he attracted to himself some of the first Americans who studied Tibetan Buddhism. Later they became quite prominent scholars of Tibetan Buddhism, like Robert Thurman, Jeffrey Hopkins - they were originally students of Geshe Wangyal.

So how long did you visit your parents?

- Well, I stayed with my parents a couple of weeks then I went to stay at this Lamaist Buddhist monastery. And I wanted also to study some aspects of Indian Mahayana Buddhism through the Tibetan. So actually I studied Sanskrit and Tibetan there - to some extent. But then I visited Washington D.C., this would have been Vesak 1978, and I visited the Washington Buddhist Vihara and met monks there.

Some of the lay followers, the American lay followers of the Washington Buddhist Vihara, then requested me to come and take up residence at the Washington Buddhist Vihara. And so then I left New Jersey and I came to settle in Washington D.C. This would be in May 1979. Then I stayed at the Washington Buddhist Vihara for three years till 1982.

Then I felt that I wanted to go back to Asia in order to do more intensive training and meditation. My original plan was to go to Burma and to practice meditation with Mahasi Sayadaw. And I started to make plans to go to Burma. Several years earlier, Burma started to loosen up its visa policy and they were giving long term residence visas to foreigners who would come and stay at Buddhist monasteries and meditation centers just for the purpose of practicing meditation, or studying Buddhism. And so I was hoping to ride in on that wave. But just when I started to make the application, then Burma went through one of these paranoid phases and threw all the foreigners out of the country and was refusing to give any long term visas.

Yes, I remember that. They ordered all foreigners to leave the country within 48 hours.

- Yeah, yeah.

Yes, I remember that very clearly.

- I think that there were some Americans who said that they had planned to come to Burma for the purpose of meditation and then after they would do a period of meditation then without permits, without the approval of the authorities they would just on their own started to travel about. And then the Burmese government became afraid that these were spies going about disguised as monks. And they started to… the safest policy was to just get them all out of the country. Okay, so then I had to reroute my trip and so I decided to come back to Sri Lanka. It was in May 1982, that I arrived back in Sri Lanka.

When were you made head of the B.P.S.?

- Well, I became the editor of the B.P.S. in 1984. When I first came back to Sri Lanka, I spent my first Vassa together with Venerable Nyanaponika. But after the Vassa I went to a different monastery. This was a meditation monastery called Nissarana Vanaya, Mitirigula Nissarana Vannaya … and I stayed.

Is that Mitirigula?

- That's Mitiri… yeah. A place called Mitirigula. But now there are two monasteries in Mitirigula.

So Mitirigula is the name of an area?

- Mitirigula is a village, and the monastery itself is called Nissarana Vanaya - Nissarana Vana, the Grove, or Forest, of Deliverance. But then on the hill just beyond Nissarana Vanaya, another monastery was started. Originally, that was to be a study monastery but the study program never worked out there… never worked out successfully. Then the Burmese monk, the pupil of Pa Auk Sayadaw named U Agganya was invited to go there and give meditation training to Sri Lankan monks. And he was very popular, quite successful. Because now this other monastery that was originally set up as the study center turned into an intensive meditation center teaching the Pa Auk system of meditation.

The other monastery still functions more or less as a meditation monastery but after the death of Venerable Nyanarama the quality of meditation training there has declined. It is virtually turning into an old-age home for monks, rather than a place for younger monks who are really keen on intensive practice.

During Venerable Nyanaponika's last years you were…he was living with you... or?

- Well, I'd say that I was living with him. While I was at Nissarana Vanaya I stayed with him on and off for about two years… close to two years. Then in 1984 Venerable Nyanaponika was already was in his 80s, getting quite weak, and I felt that I should go to stay with him to look after him.

And then about a month after I came to stay with him he told me that he would like to pass on the editorship of the BPS to me. I wasn't quite prepared to take it but I agreed to do so. And so he retired as editor but he remained president for another four years till 1988 then he decided to retire from the presidency and he asked me to succeed him as president, which I did. But he continued to live on till 1994, he was 93 at the time of his death.

So you've brought us up to 1984… can you bring us up to the present? Any other interesting anecdotes or events in your life?

- Okay, well in 1984 then I took over as editor for the Buddhist Publications Society. In 1988 I became president then I lived on constantly there with Venerable Nyanaponika, very rarely leaving the Forest Hermitage, in looking after him quite diligently. He remained in quite good health up till the last few weeks of his life, because he was getting weaker and his eyesight had deteriorated. His eyesight really started to go in 1988 and by about late 1989 he was not able to read anymore. So each evening we would have our evening tea and I would read to him for about one hour from various books and I would also record what I read so that later he could listen again. And I tried to obtain tapes from various teachers for him to listen to. My own life I think is rather flat.

I don't think so! I think its event packed.

- No, if I were to write a biography from that period on it might be difficult to fill two or three pages.

So you've completed several very important translations from the Pali Canon…being the Majjhimanikaya and the two volume set of the Samyuttanikaya.

- Yeah, yeah.

So that's quite…and some other editions that I haven't mentioned, some smaller booklets, and you do the very important…uh..is it the B.P.S. newsletter?

- Yeah.

Is that four times a year?

- Well, now it comes out three times a year.

That I wouldn't call flat…

- How the edition of the Majjhimanikaya came about… Well actually the proposal for the Samyuttanikaya came out even earlier than the Majjhimanikaya. And it was none other than Phra Khantipalo, who initiated that. He felt that there was an urgent need for a new translation of the Samyuttanikaya, and I had already started this practice of translating Canonical suttas from the Canon and attaching to them translations of large portions of the commentary and sub-commentary.

The first work in this genre that I did was the Brahmajala Sutta together with its commentary and sub-commentary. I did this on the urging of Venerable Nyanaponika, he was very keen to have this done. And many years earlier he had translated large portions of the commentary and sub-commentary to the Brahmajala Sutta, which he had kept in a notebook. So I really learned very much, to read and understand the commentaries and sub-commentaries from these notebooks of Venerable Nyanaponika.

The style of the commentaries and sub-commentaries, particularly the Tikas can be quite difficult… because the sub-commentator writes in the style of the classical Sanskrit commentator. You know, like Shankhara, well he preceded Shankharacariya, but its in a similar style, very terse, using very complex sentences with a lot of abstract nouns linked together by various indirect cases. So it's quite a project to translate the sub-commentary sentence by sentence… I really learned to understand the sub-commentarial style from these notebooks of Venerable Nyanaponika. And then I put together this Brahmajala Sutta with the commentary and sub-commentary.

And that was printed by itself once.

- It is, it still is printed by itself. It's called the Discourse on the All Embracing Net of Views. Then after that I did the first Discourse of the Majjhimanikaya, this is the Mulapariyaya Sutta and its commentary and sub-commentary, then the Mahanidana Sutta, that's the Great Discourse on Causation, and the Samannaphala Sutta, the second discourse in the Dighanikaya -- The Discourse on the Fruits of Recluseship.

So Venerable Khantipalo liked my translations and he proposed to me that I do a new translation of the Samyuttanikaya for the Pali Text Society. But I was somewhat doubtful that the Pali Text Society was interested in taking on new translations. Bhikkhu Khantipalo wrote to Richard Gombrich who was then the secretary of the P.T.S. asking him to write to me to assure me that they would be interested in new translations. And Gombrich did so. This was in 1985. But just about that same time Wisdom Publications had written to Venerable Nyanaponika… you see, Venerable Khantipalo had put together 90 suttas from the Majjhimanikaya that were translated by Bhikkhu Nyanamoli and these were published in Bangkok in three volumes by Mahamakut Press called A Treasury of the Buddha's Words.

Nick Ribush of Wisdom Publications found out about those three books, these three volumes, and he had the idea to have an entire translation of the Majjhimanikaya published. He asked Venerable Nyanaponika if he would be able to edit the remaining 32 discourses of the Majjhimanikaya that Venerable Nyanamoli had translated. But Venerable Nyanaponika, at this point, was in his mid-eighties already and he thought it was just too much for himself to take on. And he asked me if I would be willing to do it and I said okay.

And so I started doing this in 1985 and as I went through then I felt that some of Venerable Nyanamoli's terminology had to be altered. He was using a rather experimental terminology, which would not have been so readily comprehensible to an ordinary reader in English. I made these alterations with the approval of Venerable Nyanaponika who totally endorsed them. So I worked on that from 1985 till about early 1989 because I wasn't able to do this full time. I also had to do the editing for the Buddhist Publications Society. It was April 1989 that I sent the completed manuscript off to Wisdom Publications and it remained in limbo with them for about three years since they couldn't find anybody to oversee the project. This was the age before computers had come into general usage, at least in Sri Lanka. And so what I submitted to Wisdom was a typed script, typed on a manual typewriter. And so, they had various people enter the text into computer format using different computers and different editorial styles. And then they needed someone to oversee the whole project but they couldn't find anybody for several years and it remained in limbo till one person named John Bullitt came along and he took the responsibility for overseeing the text preparation, copy editing of the whole work. So finally it came out in 1995.

After I finished the Majjhima, several months later I started translating the Samyuttanikaya… this would have been about June 1989. I started doing the Samyuttanikaya not with the first volume, which is the collection of verses, since the verses can be very difficult and I thought that if I started doing the verses first I would quickly get discouraged and give up on the project. And so I started with volume two, the first of the prose volumes and so I did volume two and three pretty quickly but then I got involved in other projects, books at the B.P.S. had to be edited, also various things came, even for several years I couldn't return to the Samyuttanikaya for so many years. Then I would return to it for periods then back to other things. Not that I was wasting my time or throwing my time away on trifling enjoyments, but various other projects called for my attention and deflected it away from the Samyutta. So I couldn't return to that, sometimes for several years, then I would work on it.

I must have finished the first draft in 1993. Then I had to prepare the notes and the verse collection was very, very difficult I went through it several times making drastic alterations, as I compiled the notes then I saw places where I interpreted certain verses wrongly and I had to retranslate the verses. And the preparation of the notes was very time consuming, a year was spent on the notes alone. And so it was completed… I was… diddling on again accepting invitations to various projects, to various engagements, and so on.

So finally, Wisdom Publications gave me a deadline, which was in a way a lifesaver, in that it forced me to put my attention wholeheartedly on the Samyutta and complete it. I think the deadline was something like September 21st, 1999, and I completed all of the work… you know, everthing that had to be done… and put everything on disks and sent the disks off to them by courrier on September 17 so that the disks arrived at their office on September 21.

That's what we call a close call.

- Yeah, but nothing would have happened if I missed the deadline. They wanted to enter it into their catalogue for a particular release date. So if I missed the deadline then it wouldn't have gotten into the catalogue and so their release would have been postponed for another season. Their releases are done three times a year, so that it would have had to have been postponed from I think a spring or summer release to a fall or winter release. It wouldn't have meant that I would have been killed [laugh]… for missing the deadline.

So you've brought us up to the present…

- But one thing I didn't mention is the problem with the headache. This seems to be some type of karmic destiny that I've had which is… I've repeated this story so often to different doctors it gets boring to repeat it in detail over and over. But starting in 1976 early 77 I started to get this headache condition which gradually grew worse, and I consulted various doctors.

First, the problem developed around the eyes so I thought something might be wrong with the eyes so I saw optometrists and they led me on to EMT specialists who thought that there could have been inflammation in the sinuses and they passed me on to neurologists thinking that something could have been wrong with the nerves. But none of these doctors could find anything organically wrong. Then I tried different types of medical treatment, not only western medicine but Ayurvedic medicine, traditional Sri Lankan herbal medicine, Chinese acupuncture, homeopathic medicine, Tibetan medicine. Now here in Singapore, along with western medicine I'm also trying Chinese herbal medicine and massage therapy. So this headache has been quite a major obstruction to my work and other activities through the years.

So hopefully through the power of your punna these will soon come to an end.

- It seems that it will take a lot of punna [laugh].

One of the reasons that I wanted you to tell us your story is that in the past there have been many western monks, this is not a new thing, and with the passing of Venerable Nyanaponika…I think that we lose a lot without asking pertinent questions at the right time. So I'm very glad that you've agreed to tell us your story. And he [Suchao Ploychum] wanted me to ask you about your views of Buddhism in Sri Lanka…what are your impressions, do you think it will remain a vital place for westerners to seek ordination and training there?

- Okay, well rather sadly I have to say that my impression of Buddhism in Sri Lanka is that to a large extent it has deteriorated. In the older generation you could find monks who were quite good scholars and sincere practitioners. Now, because of various changes, political changes in the country, economic changes the large impact of westernization I would say that the quality of the monastic life has declined a lot.

There are still pockets of monks who are very good, very earnest, very dedicated. Particularly within this community or organization called the Sri Kalyani Yogashrama Sanstava which is a distant cousin of the Dhammayut nikaya in Thailand.

Could you repeat that name clearly?

- Okay, Sri Kalyani Yogashrama Sanstava. Sanstava is something like association of the Yogashramas… meditation monasteries. Sri kalyani… I think its name comes from the Kalyani river in Burma in which the ordinations were performed by the monastic community which is the parent of the Ramanyanikaya… it must be in the Ramanyadesa of Burma. This was a kind of association of monasteries established by one Venerable Jinavamsa who is still alive today at the age of… could be 95, 96, and Venerable Sri Nyanarama who was the meditation master at Mitirigula Nissarana Vanaya monastery.

The original motivation for the starting of this organization was to revive the true monastic life in Sri Lankan monastic Buddhism based on close adherence to the Vinaya, study of the texts… very precise and careful study of the text, and the practice of meditation. And this particular monastic community has been in rather close contact in recent years with Pa Awk Sayadaw in Burma and some of the monks from this organization have gone to Burma to practice with Pa Auk Sayadaw, and others are studying in Sri Lanka under Pa Auk Sayadaw's disciple U Agganya. So I'd say that this is a quite healthy stream within the Sri Lanka sangha.

Otherwise,… outside of this organization there are other good monks here and there. But by and large I have to say that monasteries have become rather depressing places. Many of the younger monks get ordained solely for the purpose of pursuing their education, if they are capable they go to the universities, get their degrees, then disrobe. Others remain as monks but they work at salaried jobs as teachers, which I would say is not so condemnable in itself but other monks who are rather clever and enterprising become involved in various activities which go quite against the whole grain of the monastic life, involvement in business, finance, politics.

So for westerners who wish to ordain and receive proper training I find it rather difficult to recommend Sri Lanka. Though there are a few places I could suggest, like Nissarana Vanaya, if a monk is capable of taking care of himself with a little outside guidance, then its still a suitable place. The other place connected with the strict meditative training… I say that its too narrow in its focus for a new monk who needs a broader base of training, some guidance in the monastic rules, a general introduction to the teaching, the Dhamma, in a place like that one doesn't find the training, one finds only the exclusive teaching of meditation according to a particular technique. A place like that is suitable for a monk who has already completed his basic training and wants some intensive practice in meditation.

So the opportunities for a foreigner coming to Sri Lanka… there are opportunities to ordain… often monks will have no hesitation to give the formal ordination to a candidate but once they get ordained they largely have to make out on their own to get proper instruction in the Dhamma.

Are there any closing statements you would like to offer?

- I think I've covered everything.

Thank you, Bhante.

* Source: Urbandharma.org, https://tinyurl.com/3r6yyp65 

*