Wednesday, 24 June 2009

Cần xác định một thái độ đối với thực trạng dịch thuật

Nguồn: http://vietnamnet.vn, 06/01/2006

Cần xác định một thái độ đối với thực trạng dịch thuật
Dịch giả Đoàn Tử Huyến

(VietNamNet) - Cần phải làm sao để dư luận xã hội - mà trước hết là báo chí, rồi các cơ quan ngôn luận chuyên ngành văn nghệ, các cá nhân và tổ chức học thuật có thẩm quyền và uy tín - đủ sức bắt những kẻ muốn hoặc có thể làm ra những sản phẩm khuyết tật phải xấu hổ (chắc là họ vẫn còn có năng lực xấu hổ?) và phải trả giá - cả tinh thần lẫn vật chất.

Cái ao dịch thuật văn học Việt Nam lâu lâu nghe tõm một hòn đá ai đó ném vào, vài đợt sóng dội lên chao đảo, người đi qua ngó lại thấy thấp thoáng ở đó cũng có cây đẹp vật lạ, nhưng nhiều rác rến... Rồi im chìm. Việc như vậy hình như một năm một hai lần hay vài ba năm một lần, chẳng thấy ai ghi nhớ.

Năm ngoái, nhân Hội nghị những người làm công việc dịch thuật toàn quốc lần thứ nhất tại Phú Yên cũng xôm rộn lên được dăm bữa nửa tháng, rồi phong cảnh lại về "số mo"! Không tạo nổi một vệt dài dư luận chứ chưa nói đến những thay đổi, chuyển biến gì. Vừa rồi, đến hơn một năm sau, có anh chàng bức xúc trẻ tuổi Trần Tiễn Cao Đăng vần tảng đá "Thảm họa dịch thuật" choang ủm một cái... Hình như cũng có vài kẻ bị té ướt áo, và cũng có cái gì đó hoặc con gì đó thu cổ rụt đầu. Nhưng rồi lại im chìm, đến nay...

Tại sao lại như vậy?

Theo tôi, một phần không nhỏ là tại vì thái độ của chúng ta đối với vấn đề. Thái độ của từng người chúng ta, từ người trong cuộc làm nghề, người quản lí, đến người đọc, người tiêu dùng; thái độ của cả xã hội, của các cơ quan hữu trách, đối với công việc dịch thuật, đối với nghề dịch, đối với cả nền dịch thuật Việt Nam.
Vậy thì, thực trạng nền dịch thuật Việt Nam hiện nay như thế nào?

Tôi biết rằng mấy nhiệm kì vừa rồi, hễ Hội đồng văn học dịch Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức được cái hội nghị chuyên môn nào đó là "người ta" chỉ đua nhau than thở, kể khổ kể tội "cả ngày không hết", đến mức phải kêu lên với nhau rằng "biết rồi, khổ lắm!.." Những chuyện đó không cần tốn giấy mực nữa, ai cần tìm hiểu xin lật chồng báo cũ, mọi điều đã nói bây giờ vẫn nguyên, thậm chí còn tồi tệ hơn.
Nguyên nhân của thực trạng đó, tôi tạm “khái quát” gồm có bốn: 1) Trình độ kém cỏi, thậm chí là dốt nát (của người dịch, người biên tập); 2) lòng tham (của các nhà kinh doanh); 3) thói ẩu tả (của tất cả những người trên); và 4) thái độ vô trách nhiệm, bàng quan của tất cả mọi người, mà trước hết của những người chịu trách nhiệm xuất bản, các cá nhân và tổ chức hữu quan, kể cả các cơ quan học thuật và ngôn luận truyền thông.

Ở đây tôi muốn nói về nguyên nhân và trách nhiệm từ phía những người làm nghề đối với thực trạng đó.

Chắc không ai phản đối nếu nói sách dịch kém là do người dịch kém. Tuy nhiên theo tôi phải nói rõ rằng, người dịch kém mới là nguyên nhân đầu tiên trong một dãy những nguyên nhân. Người dịch kém chỉ có thể làm ra một bản dịch kém nhưng chưa được “xã hội hóa” (tôi học đòi chữ đang thấy dùng nhan nhản trên báo chí, không hiểu có đúng không?) chứ chưa đủ làm ra một cuốn sách kém với tư cách là một sản phẩm hàng hóa có giá trị sử dụng để phán xét. Muốn một cuốn sách ra đời, kể cả tốt kể cả kém, theo luật pháp hiện hành ở Việt Nam, nhất thiết phải qua một nhà xuất bản. Vậy trách nhiệm chính trong việc “đỡ đẻ”, “khai sinh” cho những cuốn sách dịch kém thuộc về các cơ quan xã hội, nhà nước, mà trực tiếp và quyết định nhất là nhà xuất bản. Nhưng về việc này xin để dịp khác, bây giờ tôi đang nói về người dịch.

Hiện nay phải nói là rất phổ biến loại người dịch kém và dịch giả ẩu. Người dịch kém là người không biết mình dịch kém, hoặc tệ hơn nữa, biết mình kém mà vẫn dịch. Trong số họ, với những ai phải dịch vì sinh kế thì có lẽ còn ít nhiều thông cảm được(?) (nhưng tôi cho rằng hiện nay hiếm có loại người dịch như vậy, vì ít ai đi kiếm tiền bằng cái nghề rẻ mạt mà vất vả này!), còn chủ yếu thì là những kẻ kiếm danh, trực tiếp hoặc gián tiếp.

Có thể đó là mấy cán bộ nghiên cứu, giảng dạy ở các trường, viện nóng lòng có thêm đầu sách, công trình (để thêm trọng lượng cho việc bảo vệ, phong chức danh); có thể đó là những người đã về hưu, hoặc rỗi rãi, biết chút ít ngoại ngữ những năm xưa xửa được học, chính qui hoặc không chính qui, nay dùng kiếm thêm cái danh, cái thẻ Hội viên nhà văn - dịch giả. Cũng oai đấy chứ! Tất nhiên đó là khát vọng vô cùng chính đáng, nhưng ở đây cái tội, và cũng là cái khổ, là: họ dịch kém quá! (Xin nói rõ là tôi không phản đối những người kể trên dịch sách, họ đang là - tình trạng kiêm nhiệm không chuyên nghiệp này không hiểu nên vui hay nên buồn? - lực lượng dịch chính hiện nay, nhiều người trong số họ là bạn bè, cộng tác viên chí cốt của Trung Tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây chúng tôi. Ai cũng có thể dịch, nhưng cái quan trọng là phải dịch tốt, có trách nhiệm trước hết với sản phẩm và tên tuổi của mình).

Lại những vị có học hàm học vị cao, chức quyền hẳn hoi (cỡ trưởng phó vụ viện, tiến sĩ, giáo sư...), họ vẫn dịch (mà có khi kiếm được tiền dự án, tài trợ nữa), nhưng họ (“họ” là tôi nói khái quát, thật ra cái - vụ - cụ - thể sau đây chỉ có một người thôi, xin đừng bắt bẻ!), “họ” dịch tên tác phẩm khắp cả thế giới đọc Доктор Живаго (Doctor Zhivago) của nhà văn, nhà thơ Nga đoạt giải Nobel Boris Pasternak thành "Tiến sĩ Zhivago"! (Phải chăng do “họ” nghĩ vì người trước đây dịch tác phẩm này thành "Vĩnh biệt tình em" là quá sai, hay Bác sĩ Zhivago cũng chưa đúng, nên dịch lại như thế cho đúng?) Đây mới là "tuyệt tác", chứ cái vụ “Tống Giang gặp mưa" mà ông Lê Bầu hay kể đã ăn thua gì (*)!

Nhưng thật ra mà xét, tôi nghĩ loại dịch giả này không phải là vấn đề lớn lắm, vì “nhận diện” họ không khó và cũng dễ loại trừ họ. Chỉ cần người biên tập hoặc đọc duyệt, hoặc ai đó có liên quan đến việc ra sách, như đầu nậu chẳng hạn, cẩn thận một chút, có trách nhiệm một chút, và bớt nể sợ một chút (ở đây nhiều lúc cũng có cả yếu tố nể sợ đấy, thế mới lạ!)...

Loại dịch giả ẩu mới là vấn nạn! Như tôi quan sát trên thực tế, họ lại thường là những người được tiếng giỏi giang, cả giọng. Họ làm việc nhanh, năng nổ, tính lại xuề xòa dễ dãi, được lòng người. Trong đời biên tập mấy chục năm tôi cũng đã được tiếp xúc và chứng kiến cách làm việc của họ không ít. Giao việc gì họ cũng nhận, nhận là làm xong ngay. Bản dịch đọc trôi chảy, thậm chí có cá tính nữa là khác. Nhưng nếu đem đối chiếu thì... ôi thôi! Họ bất chấp chi tiết, bất chấp cấu trúc, văn phong nguyên tác, cứ làm sao bản tiếng việt có vẻ suôn sẻ là được. Họ sẵn sàng lược từ, bỏ đoạn (khó hiểu, không tra cứu được), bớt ý, bịa nghĩa. Thậm chí có người hứng chí còn thêm thắt, viết lại cả đoạn văn! Nếu phát hiện ra, cự họ, thì họ dễ dãi cười xòa, sẵn sàng nhờ mình chữa hộ. Sao cũng được, miễn là nhanh, miễn có sách ra! Với những người giỏi giang này, giá làm sao để họ không ẩu thì chắc là...sẽ tuyệt vời!

Hiện nay không ít những người dịch ẩu như vậy khá nổi danh, thành đạt, được báo chí ca ngợi, nào là…nào là…(thôi không nói cụ thể quá, kẻo đụng chạm!), được vào Hội Nhà văn, thậm chí được, hoặc thiếu chút nữa thì được giải/tặng thưởng này nọ. Sở dĩ khó “nhận biết”, đối phó với họ là vì, ngoài sự năng nổ, chạy chọt của họ và sự bao che của những người cùng phe đảng, nếu người đọc không tinh tường, không đọc kĩ bản dịch, đối chiếu “bắt quả tang” thì cũng không dễ phát hiện ra cái ẩu, cái sai của loại “siêu dịch giả” này. Đã từng có cuốn sách được những người am hiểu và có thẩm quyền khen, được báo chí ca ngợi, nhưng khi đem so với nguyên bản thì mới thấy sai nhiều, mặc dù...đọc tiếng Việt thấy hay!

Tình trạng như vậy cứ kéo dài, tại đâu?

‎Điều trước tiên tôi rất muốn nhấn mạnh, là chúng ta cần xác định ngay thái độ cần thiết đối với thực trạng nền dịch thuật Việt Nam hiện nay.

Qua dư luận xung quanh bản dịch cuốn Mật mã Da Vinci, và cụ thể được thể hiện trong cuộc tọa đàm do Hội đồng Văn học dịch Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức ngày 18 tháng 11 vừa rồi, có thể thấy nổi lên hai thái độ. Một là của anh chàng "ngựa non háu đá", như có người gọi Trần Tiễn Cao Đăng, tỏ ra búc xúc, phẫn nộ trước lối làm ăn cẩu thả, kém cỏi, tắc trách của một số cá nhân và Nhà xuất bản liên quan, kêu gọi "phải chấm dứt ngay, bằng bất cứ giá nào", tình trạng nguy hại đó. Lên tiếng ủng hộ có Đoàn Tử Huyến, Phạm Xuân Nguyên...

Thái độ thứ hai (đại diện có Thái Bá Tân, người được Hội đồng Văn học dịch uỷ quyền giám định bản dịch Mật mã Da Vinci, và tiếp đó là Vũ Thế Khôi, Lê Bầu... toàn những "chiến tướng" của nghề dịch) là tương đối bình thản; họ cũng thừa nhận rằng có nhiều sai sót, rằng không phải là không đáng phê phán, nhưng theo họ, "có gì đâu mà phải đao to búa lớn", "còn khối cái thảm họa hơn ấy chứ!" Họ cũng dẫn ra vô số những lỗi ngớ ngẩn ở trong các bản dịch đã in thành sách khiến mọi người cười thoải mái.

Và họ lấy đó làm trò vui! Thậm chí có người còn tỏ ra thương cả người dịch lẫn nhà xuất bản làm ra cuốn sách đó, họ bảo phê bình kiểu như vậy là hủy diệt, là “khai tử” người ta rồi còn gì! Người trong nghề phải thông cảm, thương nhau chứ! Ông Bùi Việt Bắc, nhà kinh doanh kiêm Giám đốc Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin, thì phân bua và thở than rằng "đau quá, bị đánh "hội đồng đau quá". Một năm nhà xuất bản phải làm những 700 đầu sách, nên không thể nào kiểm tra hết được, sai sót là không tránh khỏi. Chao ôi, thương thế!.. Chắc những người yêu sách, yêu văn chương chữ nghĩa nghe vậy đành thông cảm thôi, dù có mua và ăn phải trái đắng kiểu Mật mã Da Vinci hay 100 năm giải Nobel (**) (cũng do nhà Văn hoá - Thông tin sản xuất ra năm ngoái rồi bị thu hồi vì chất lượng quá...!) cũng ngậm - bồ - hòn mà - thông - cảm!

Tôi thấy, những người trung thực, có lương tâm nghề nghiệp, quý trọng nền văn học nước nhà, và nói không sợ "đao to búa lớn", những người quan tâm đến tương lai văn học, văn hóa dân tộc, phải xác định và tỏ rõ thái độ của mình trước những việc làm sai trái, tệ hại trong lĩnh vực dịch và xuất bản sách dịch, tìm ra nguyên do, quy kết trách nhiệm một cách cụ thể, tạo áp lực đối với xã hội và nhà nước, đối với các cá nhân và cơ quan hữu trách, để ngăn chặn, tiến tới chấm dứt, những việc làm đáng xấu hổ trong một xã hội kỷ cương.

Chính vì thái độ "Dĩ hoà vi quí" vốn đặc trưng cho lối nghĩ, lối ứng xử của chúng ta (trong đó có tôi) từ trước đến nay mà các cuốn sách dịch tồi tệ vẫn tồn tại và xuất hiện dày đặc như một sự tất yếu. Tôi cho là cần thiết vào lúc này (và tôi hoàn toàn ủng hộ) một thái độ như của anh Trần Tiễn Cao Đăng. "Ngựa non háu đá", nhưng mà đá hay, đá đích đáng thì rất rất tốt chứ sao!

Lớp dịch giả trên và ngang tuổi chúng tôi nay nhiều người đã đến tuổi lười, tuổi yếu, may ra còn mấy anh chị đáng tin cậy xông pha như Trần Đình Hiến, Lê Bầu, Phạm Tú Châu, Trịnh Lữ.., phần lớn thì đã “rửa tay gác kiếm” hoặc “lực bất tòng tâm”. Còn riêng ở thế hệ trẻ hơn thì chưa nhìn thấy một đội ngũ đủ cơ số để yên tâm và phấn khởi. Tuyệt đại đa số những người học và giỏi ngoại ngữ bây giờ quan tâm đến các công việc thương mại mang lại lợi nhuận kinh tế cao, không thích dịch sách văn học; mà có thích thì cũng nằm ngoài sự lựa chọn của họ, trừ trường hợp có tài trợ đủ để trả nhuận bút thỏa mãn họ.

Cho nên có được những người dịch mới (tôi không dám nói "trẻ" vì có người kể tên sau đây hình như cũng đã gần tuổi "tri thiên mệnh"), say mê và có trình độ như Ngô Tự Lập, Lí Lan, Cao Việt Dũng, Trần Tiễn Cao Đăng... (tôi rất muốn kể thêm, chưa đủ số trên đầu ngón một bàn tay, nhưng khó quá!) là rất nên mừng và ủng hộ. Và thật đáng trân trọng thái độ bất bình, thậm chí là phẫn nộ của các bạn trẻ trước cách làm việc rõ ràng là không thể chấp nhận và bào chữa được của những người làm ra những cuốn sách như Mật mã Da Vinci, Cha thánh (***) hay 100 năm giải Nobel và nhiều nhiều những phế phẩm cùng loại. Và tôi cho đây còn là một thái độ dũng cảm. Vì trong một chừng mực nào đấy thì đó là một hành động “hứng đạn”, là tiếng kêu báo động cho mọi người nhưng đồng thời cũng là lời ràng buộc chính mình – không được làm sai, làm ẩu! - và biến mìng thành mục tiêu. Hiện nay thật khó tìm ra những người trẻ, có lòng say mê và có tâm với nghề dịch thuật nước nhà như vậy, nên ủng hộ họ, ủng hộ những suy nghĩ, việc làm mạnh mẽ đó của họ là một trách nhiệm của những người đi trước.
Thế mà đáng buồn là một tiếng nói nhiệt tình như thế lại bị nhiều bậc đàn anh đáng kính tại Hội Nhà văn Việt Nam dội nước lạnh trong cuộc Hội thảo kể trên (Cao Đăng chưa phải là hội viên Hội Nhà văn!), bị coi là quá khích, là “không hiểu nổi”, vv…Thái độ nói thẳng ra là bảo thủ như vậy khiến nhiều người dịch trẻ nghiêm túc nhụt chí nản lòng. Mặt khác, chính sự dễ dãi, thậm chí là thờ ơ như vậy đã bao dung cho những cuốn sách dịch kém, những người dịch kém có đất tồn tại, thậm chí lên ngôi, dẫn chất lượng nền dịch thuật nước nhà rơi vào mặt bằng lổn nhổn tồi tệ.

Cũng có thể cho rằng gọi bản dịch Mật mã Da Vinci là "thảm hoạ" thì hơi quá. Nhưng theo tôi, đấy chỉ là cách nói, còn thực chất sự việc không hề thay đổi. Và có quá như vậy mới gây ra sự chú ý của dư luận, nếu không, biết đâu đến nay dịch phẩm "quái vật" ấy vẫn ngang nhiên tung hoành? - theo dự kiến ban đầu, nhà xuất bản sẽ phát hành cuốn sách này 20.000 bản! Mặt khác, cũng không phải lo những lời phê phán đó "khai tử", "huỷ diệt" ai.

Nếu quả chị Đỗ Thu Hà, người dịch cuốn sách này là giỏi, có bản lĩnh, và có trách nhiệm cá nhân (theo tôi, là thứ trách nhiệm tối cao trong sáng tạo nghệ thuật), nhưng phải chịu "đòn oan", thì chị Hà có thể tự mình sữa chữa sai lầm, làm lại cuốn sách, chứng minh với bạn đọc thực chất sự việc và trình độ của mình. Còn nếu người dịch không thể, hoặc không muốn làm chuyện đó, thì theo tôi, dù không có bài phê phán phũ phàng này, sớm muộn gì rồi cũng được "khai tử" trong lòng đọc giả. Tôi muốn nói thêm, nếu dịch giả Đỗ Thu Hà vì một lí do nào đó chưa làm ngay được việc như tôi vừa nói, với cuốn Mật mã Da Vinci, thì chị vẫn có thể chứng tỏ mình qua những cuốn sách khác, miễn là vẫn có lòng với dịch thuật. Tôi, với tư cách Trung Tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây, sẵn sàng hỗ trợ việc xuất bản những bản dịch tốt của chị, nếu chị thấy cần thiết.

* * *

Việc đánh giá thực trạng dịch thuật văn học nước ta không khó và có lẽ không phải là không thống nhất. Tôi muốn nhấn mạnh thêm rằng, cái thực trạng không lấy gì làm mát mặt đó không hề phủ nhận hoặc làm giảm nhỏ giá trị to lớn và đích thực mà nền văn học dịch Việt Nam đã, đang và sẽ đóng góp cho sự phát triển văn học, và văn hoá, văn minh dân tộc. Chỉ có điều, nếu cái thực trạng đó sáng sủa hơn, chất lượng và kỉ cương được quan tâm và nâng cao hơn, một cách thích đáng, đúng mức, thì những đóng góp của văn học dịch sẽ càng vĩ đại hơn nhiều.

Tôi nghĩ, việc xác định thái độ như tôi nói ở trên cũng không phải là khó. Cái khó hơn nhiều là làm sao "thực thi" được cái thái độ đó. Làm sao để mỗi người dịch thực sự tự mình "mang nặng đẻ đau", có thái độ trân trọng và trách nhiệm đối với đứa con tinh thần của mình và đối với xã hội. Làm sao để những người trong cùng nghề dịch thuật hiện nay không dễ dàng này có thái độ quan tâm, nghiêm khắc và trân trọng đối với nhau, với sản phẩm của nhau.

Làm sao để dư luận xã hội - mà trước hết là báo chí, rồi các cơ quan ngôn luận chuyên ngành văn nghệ, các cá nhân và tổ chức học thuật có thẩm quyền và uy tín - đủ sức bắt những kẻ muốn hoặc có thể làm ra những sản phẩm khuyết tật phải xấu hổ (chắc là họ vẫn còn có năng lực xấu hổ?) và phải trả giá - cả tinh thần lẫn vật chất. Đấy là tôi chỉ nói những điều mà các cá nhân nhỏ bé của chúng ta, mỗi người VỚI TƯ CÁCH CÔNG DÂN, đều có thể làm. Tôi chưa dám mơ đến những điều mà chỉ ông to NHÀ NƯỚC mới làm được, nếu muốn, là đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ những người dịch chuyên nghiệp tài giỏi; là tài trợ việc mua bản quyền, trả thù lao xứng đáng cho việc dịch và xuất bản những tác phẩm văn học sáng giá của nhân loại và cần thiết cho việc đọc, việc học của người dân Việt Nam thế kỉ XXI; là qui hoạch đội ngũ lãnh đạo và biên tập viên các nhà xuất bản đủ điều kiện thực hiện tốt nhiệm vụ đích thực của mình; là trừng phạt những cá nhân và tổ chức làm điều xằng bậy, bất kể đó là ai.


Đoàn Tử Huyến (dịch giả)

Chú thích:
(*) Một ví dụ về dịch ẩu mà dịch giả Lê Bầu thường đưa ra là tên một nhân vật trong tác phẩm Thủy Hử, “Tống Giang Cập Thời Vũ”, lẽ ra phải dịch là “Ông Tống Giang Mưa Thuận” hay “Tống Giang Mưa Kịp ThờI” mới đúng, thì lại được dịch là “Ông Tống Giang gặp mưa”. – VNN.
(**) Xin xem bài “Trăm lỗi sai trong 100 năm giải Nobel”,Tuổi trẻ,15/2/2004. – ĐTH.
(***) Năm 2003, nxb Văn hoá - Thông tin phát hành cuốn "Cha Thánh" do Giang Hà "biên dịch", thực chất đây là sự ăn cắp bản dịch tiểu thuyết "Bố già" của Mario Puzo. Chưa nói đây có thể còn có vấn đề bản quyền nữa. – ĐTH.


-ooOoo-

Dịch thuật cần gì?

Nguồn: http://vietnamnet.vn, 10/01/2006

Dịch thuật cần gì?
Dịch giả Lê Bầu


(VietNamNet) - Có một điều kiện rất quan trọng, nằm ngoài chuyện ngôn ngữ, đòi hỏi người làm công việc dịch thuật phải có, đó là tinh thần thái độ, cùng tư cách, đạo đức của một người đứng đắn, tử tế, có trách nhiệm trong công việc của mình.

Đã có nhiều bạn bè, kể cả bạn bè hành nghề văn chương, cũng như bạn bè hành nghề khoa học, thậm chí có cả một số phóng viên, nhà báo, hỏi tôi:

- Muốn có được một tác phẩm văn chương dịch, đúng và hay, thì người cầm bút dịch thuật, cần phải có những gì?

Tôi nói đùa, nhưng không hẳn đã là nói đùa:

- Cần phải học, và cần phải có những cuốn tự điển, từ điển, tử tế...

Còn như phải trả lời cho ‘thật đứng đắn’, nghiêm túc thì tôi nói:

- Trước hết là phải đến trường, đến lớp, hoặc ‘tầm sư học đạo’, cần cù học tập, nghiêm chỉnh học tập, để có lấy cái vốn thật cơ bản, rồi sau đó trau dồi thêm bằng sách báo, và đặc biệt là từ điển...để đủ sức mà ‘vật lộn’ với các con chữ của người ta. Không có một thứ ngoại ngữ nào được gọi là ‘dễ’ trên thế giới này, ngay cả những ngoại ngữ được gọi là ‘dễ học’, cũng không ‘dễ học’. Đến ngay tiếng Việt Nam, đối với người Việt Nam, là rất ‘dễ học’, - chứ sao nữa? -, nhưng người Việt Nam học được nó, cũng là ‘rất khó’...huống hồ là ‘tiếng của người ta’?

Bởi thế, tôi nghĩ rằng: Muốn có được một tác phẩm dịch đúng và hay, thì trước hết phải học tiếng của người ta, không học được tới mức ‘rất thông thạo’, thì cũng phải ở mức gọi là thông thạo. Tôi đã thấy có những người, học không đến nơi đến chốn, chỉ có được dăm ba chữ ‘lôm côm’, mà các cụ nhà Nho xưa gọi là ‘hay chữ lỏng’, cũng nhảy đại vào ‘chiến trường dịch thuật’, mà ‘múa bút làm càn’, rồi đến khi gặp phải những chỗ học ‘chưa tới’, những chỗ ‘không thông’, khó dịch, thì nhắm mắt bỏ qua, hoặc dịch liều, dịch bậy, bằng cái sự ‘ang áng’, sai đến cả trăm phần trăm của mình, rồi tự ‘vỗ yên’ mình bằng một sự lừa dối:

- Ôi dào, ai biết đấy là đâu, chỉ có những thằng điên, khi đọc sách, mới lọ mọ đi tìm bản gốc, mà so sánh, bới móc...vả lại, trong hàng vạn độc giả, chắc gì đã có người có bản gốc, hơn nữa, người đọc sách bây giờ, thường ‘đọc ào đi’, ‘cho xong chuyện’!

Đấy là những người dịch thuật còn có một chút lương tâm, bởi họ còn biết ‘nghĩ tới’ cái sai sót ‘đáng khả nghi’ của mình, nhưng rất tiếc là họ vẫn cứ ‘làm ẩu’, dễ dàng cho qua, mà không chịu tìm hiểu, tra cứu cho ra cái đúng! Nhưng cũng còn có nhiều người tệ hại hơn, ’luôn luôn cho mình là đúng’ như những vị lãnh tụ kém cỏi, chủ quan, tự hiểu lầm mình, ‘dịch đại đi’, ’dịch phứa đi’, bất cần phải trái, đúng sai, chỉ cần giao bản thảo cho nhà xuất bản thật nhanh... rồi...sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi. Họ cần lợi lộc hơn là cần danh dự, nghệ thuật. Với các ‘nhà dịch thuật’ vừa ngu dốt, vừa vô trách nhiệm này, có ghép họ vào tội hình sự: ‘Thiếu trách nhiệm, gây hậu quả nghiêm trọng’, cũng chẳng có gì gọi là quá đáng.

Tôi đã từng được một cán bộ phụ trách văn nghệ hỏi :

- Bản dịch của ông A thế nào ?

Tôi nói thẳng theo kiểu bỗ bã:

- Ông ấy dịch sai ‘bỏ mẹ’ đi...

- Nhưng tôi thấy ông ấy là người rất cẩn thận.

Một lần nữa, tôi lại nói thẳng:

- Cẩn thận không có nghĩa là kiến thức!

Vâng! Tôi công nhận, sự cẩn thận có thể nâng cao chất lượng bản dịch, có thể tránh được nhiều sai sót, lầm lẫn, nhưng rõ ràng không thể thay thế cho một kiến thức nông cạn.

Nói tới sự cần thiết về sự thông thạo tiếng của người ta, tôi muốn nói thêm một điều: Nếu người dịch thuật ‘thông thạo thêm được’ phong tục tập quán của nước ấy, bằng cách tra cứu, tìm hiểu, hoặc thực mục sở thị ‘tại trận’, thì sẽ rất bổ ích cho bản thân người dịch cũng như làm chú thích, giải thích cho độc giả, mỗi khi gặp phải những phong tục tập quán lạ mà ở nước ta không có, thí dụ chuyện về ‘chiếc giường’, đại khái trong bản gốc, tác giả viết: Cả vợ chồng bố, vợ chồng các con lớn, cùng các con nhỏ... đều ngủ chung trên chiếc giường ấy.

Sao mà kỳ thế? ‘Kỳ’ là bởi vì người Việt Nam ta không có khái niệm, tập tục: Tất cả mọi người trong gia đình ngủ chung trên một ‘chiếc giường’, mà ‘mỗi cặp’ phải ngủ trên những chiếc giường riêng, nhưng chuyện ‘ngủ chung’ này, trước đây, là có thật trong những gia đình nông dân ở vùng giá lạnh của Trung Quốc. Vả lại, dịch ra tiếng Việt là ‘giường’ chẳng qua chỉ là chuyển tải cái ý ‘nơi ngủ’ cho gọn, cho dễ hiểu mà thôi, thực ra phải dịch là ‘giường bục’, ‘giương bệ’. hay ‘giường sàn’, bởi lẽ, nó chỉ là một cái bục, hoặc một cái bệ được đắp bằng đất, hoặc xây bằng gạch, nhiều khi chạy hết chiều dọc, hoặc chiều ngang trong nhà, ở giữa để rỗng, bắt cho khói cùng nhiệt dư của nhà bếp chạy qua đó trước khi toả ra bên ngoài để làm cho ‘giường’ nóng lên, ngủ cho ấm... Nếu biết vậy, người dịch làm một cái chú thích, độc giả sẽ đỡ ngỡ ngàng, không nghi ngờ người dịch, dịch sai, dịch lầm nữa.

Lại như, trong số nhà cổ của Trung Quốc có một loại nhà, có tên là ‘nhà tứ diện’, hay ‘nhà bốn mặt’, một kiểu nhà hầu như Việt Nam ta không có, mà nếu có, nó cũng khác hẳn kiểu nhà của Trung Quốc, cho nên nếu ta cứ ‘trần trần’ mà dịch là ‘nhà bốn mặt’ e rằng độc giả sẽ phải hỏi: ‘Cái bốn mặt’ ấy nó ra thế nào ? Nếu người dịch biết, mà làm một chú thích nho nhỏ, người đọc sẽ hình dung ra kiểu nhà đó ngay lập tức: Đó là bốn ngôi nhà được xây quanh bốn bề một khu đất, đầu hồi sát nhau, nhìn ra một sân chung, nằm chính giữa dùng để sinh hoạt chung cho người sống trong cả bốn ngôi nhà. Kiểu nhà này rất tiện cho những đại gia đình ‘tam tứ đại đồng đường’ ngày xưa, mỗi gia đình sống riêng trong mỗi ngôi nhà, nhưng lại không bị chia cắt, vì có một sân chung cho ‘sinh hoạt tập thể’, cho nên vẫn rất gần gặn, thấy nhau hàng ngày, tiếp xúc với nhau hàng ngày...

Tất nhiên, sự thông thạo phong tục tập quán của người ta, không phải là điều kiện bắt buộc người dịch thuật phải có như sự thông thạo về ngôn ngữ, nhưng như đã nói, nếu có được, nó sẽ rất bổ ích cho việc dịch thuật.

Bên cạnh đó, theo tôi, còn có một điều kiện rất quan trọng, nằm ngoài chuyện ngôn ngữ, đòi hỏi người cầm bút làm công việc dịch thuật phải có, đó là tinh thần thái độ, cùng tư cách, đạo đức của một người đứng đắn, tử tế, có trách nhiệm trong công việc của mình.

Tôi đã từng được nghe nhiều biên tập viên của nhiều nhà xuất bản phàn nàn về cung cách làm ăn của một số ‘dịch giả’, thậm chí bản thân tôi cũng biết được rằng, có những nhà ‘dịch thật’, đã dịch được nhiều sách hay, và cũng có được tiếng tăm nhất định, cũng như sự tín nhiệm của một số nhà xuất bản ...nhưng rồi chẳng hiểu vì ‘cơn cớ gì’, người ấy ‘biến chất’ đi, trở thành ‘suy thoái’, chạy theo tiền mà làm ẩu. Cụ thể là thế này:

Bằng vào ‘uy tín’ của mình, người đó ký hợp đồng dịch với một nhà xuất bản, đem sách về, xé thành nhiều tập mỏng, đem thuê sinh viên đang học tại trường, hoặc đã tốt nghiệp nhưng chưa có việc làm, với giá rẻ, để ăn chặn, bóc lột sinh viên đang rất cần tiền để duy trì cuộc sống. Thôi thì trong cơ chế thị trường, chuyện cá lớn nuốt cá bé, cũng cứ coi như tạm chấp nhận được đi... Nhưng chất lượng bản dịch cuốn tiểu thuyết ấy ra sao, đó là vấn đề đáng nói. Trước hết, trong số sinh viên đi dịch thuê ấy, có người giỏi, người kém, hoặc tất cả đang còn ở dạng ‘ thoát nạn mù ngoại ngữ’, cho nên khi gặp phải những chỗ chưa học tới, khó dịch, thì họ cũng ‘bỏ thẳng cánh’, ‘không thèm dịch’, coi như bỏ sót hoặc bỏ quên, rồi đem nộp cho ông ‘đầu nậu’, lấy ‘tiền tươi’ rẻ mạt, và cũng không thèm báo cho ông ta biết chỗ mình đã bỏ qua không dịch, với một lý do rất ‘khoái trí’ trong đầu: ‘Tiền nào của ấy’... rất chi là sòng phẳng... Thế rồi cái nhà ông ‘đầu nậu’ kia, cũng cùng một giuộc, một phường làm ẩu, không thèm kiểm tra, đối chiếu gì hết, cứ đem từng tập đã thuê dịch ‘rẻ tiền’ ấy, ập lại, coi như một bản thảo đã được dịch hoàn chỉnh, nộp ngay cho nhà xuất bản, để làm sao lấy được tiền càng nhanh càng tốt... Sự bỏ trống, theo kiểu ‘không thành kế’ này, cũng đã từng thu được ‘thắng lợi’ như Khổng Minh Gia Cát Lượng, nhưng phần nhiều đã bị những biên tập viên sắc sảo, có kiến thức, ưa phân tích lô gích, phát hiện... Bản thảo bị trả về dịch... bổ sung...làm lại, rồi cũng từ đấy, nhà xuất bản ‘gút bai’ luôn ông ‘dịch giả’ này...Thế là tiếng tăm, uy tín, của ông ta đã tạo dựng được, đành đem đổ xuống sông, xuống biển, táng vào hàm cá mập... trắng!

Nói đi cũng cần phải nói lại, tôi lại nói giả dụ như: Những tập bản thảo ‘rời rạc’ thuê dịch rẻ tiền kia, đã được những sinh viên giỏi, có tài năng, có trách nhiệm, tuy biết bị bóc lột, trả giá rẻ mạt, nhưng vẫn bảo đảm chất lượng bản dịch, đến mức ‘không sai một chữ’ - điều này, thật khó đạt được, bởi không một nhà dịch thuật nào dám cả gan tuyên bố mình dịch không sai một chữ, thế nào cũng có sai sót, sai không nhiều thì ít, đó là cái chắc! - Nhưng dù được tới mức như vậy đi chăng nữa, thì ở đây ta lại phải nói tới chuyện ‘ văn phong‘.

Trong văn học nghệ thuật, những người cầm bút, mỗi người đều có văn phong riêng của mình, nếu văn phong của ai cũng như ai, thì làm gì còn cái gọi là ‘cá nhân chủ nghĩa’ nữa? Mà trong văn chương nghệ thuật lại đòi hỏi, mỗi tác giả, phải có cái ‘cá nhân chủ nghĩa’ của mình, cũng như trong số mười mấy chú lính chì của Anđecsen đều giống hệt như nhau, duy chỉ có chú lính chẳng may bị thiếu mất một chút chì khi đổ khuôn, làm chú bị cụt mất một chân, và chính cái đặc điểm ‘cụt chân’ này, mới khiến chú có ‘sự tích’, ‘hành trạng’ riêng của mình, nghĩa là mới thành chuyện, nên chuyện...Với cả chục cái văn phong - giả dụ như tập tiểu thuyết đó có chục người dịch chung - đem ập vào với nhau, thì tập tiểu thuyết của người ta sẽ mang một thứ văn phong ‘hổ lốn’, như thế là ‘phản’ sách của người ta, chứ đâu còn phải là ‘dịch’ sách của người ta nữa? Cho nên, nhân đây, tôi xin nói thêm một điều rằng: Tôi phản đối việc hai ba bốn người dịch chung một cuốn tiểu thuyết, dù đó toàn là những người dịch giỏi giang, vì văn phong không thể nào ‘thống nhất’ được.

Dịch thuật, tôi nghĩ, còn đòi hỏi ở người dịch một sự cẩn thận, chu đáo, cẩn thận chu đáo đến tỷ mỷ... Như trên tôi đã nói, ‘Cẩn thận không phải là kiến thức’, nhưng sự cẩn thận, chu đáo, có thể bổ sung cho cái khiếm khuyết về kiến thức của mình rất nhiều. Bởi chỉ do thiếu kiến thức, có người đã dịch chữ ‘Tử viết’, mà xưa nay, người ta đã vẫn dịch đúng là: ‘Không Tử nói rằng’ thành: ‘Đữa trẻ nói rằng’, vì người đó mới chỉ học được, ‘viết ‘ là ‘nói’, ‘tử’ là ‘đứa trẻ’, nên dịch thế. Lại như dịch tên một nhân vật trong truyện Thuỷ Hử, xưa nay vẫn dịch là ‘Tống Giang, Cập Thời Vũ’, thành ‘Ông Tống Giang gặp mưa’, chữ ‘cập thời vũ’ mà dịch là ‘gặp mưa’ là sai hoàn toàn, nếu muốn dịch cái tên gọi đó theo nghĩa đen trong tiếng Việt, như kiểu ‘Hắc Tiểu Tử’ (truyện của Mạc Ngôn) thành ‘Thằng Cu Đen’, thì phải dịch là ‘Ông Tống Giang Mưa thuận’ hay “Mưa Kịp Thời’ mới là đúng.

Về sự cẩn thận, chu đáo, tôi xin đưa một thí dụ rất nhỏ sau đây:

Có một lần, trong khi ngồi dịch, tôi vớ phải tên một con côn trùng, mà theo như tác giả nói, thì nó sống ở nơi ẩm thấp trong nhà. Tôi tra mấy cuốn từ điển thường dùng, đều không thấy ghi chữ ấy, nên không tìm được ‘tên thật’ của nó. Tôi gọi điện thoại hỏi mấy anh bạn làm giáo sư, rất giỏi cả bạch thoại lẫn Hán văn, nhưng họ đều không biết đó là con gì. Tôi lại đi hỏi một anh bạn, chữ nghĩa Trung Quốc cũng vào hạng rất khá, lại sống ở Trung Quốc rất lâu, và anh đã trả lời tôi ‘ngay tắp lự’:

- Nó là con sâu đo anh ạ!

Tôi ‘khả nghi’ cái nghĩa ấy, bởi tôi ‘lý luận cùn’ rằng: Sâu đo nó đâu sống ở nơi ẩm thấp trong nhà - như trong bản gốc tác giả đã viết - mà nó phải sống ở ngoài vườn, trên lá trên cây kia chứ! Tôi ‘cẩn thận’ kiểm tra ngược lại bằng cách tra từ ‘con sâu đo’ tiếng Việt sang tiếng Trung Quốc, và tôi đã tìm ra ba chữ ‘tiểu kiều trùng’ - con côn trùng di chuyển bằng cách (co mình lại) bắc cầu - Thế là tên con côn trùng tôi cần tìm vẫn còn nguyên là ‘một bí mật’, một ‘thách thức’.Tôi lại phải đành mầy mò, ‘tự lực cánh sinh’, đi tìm ở những cuốn từ điển khác mà trong nhà tôi không có...Cuối cùng, đúng là ‘Hoàng Thiên bất phụ hữu tâm nhân’, tôi đã lôi được tên cái ‘con phải gió’ ấy ra, nó là ‘ con cuốn chiếu’. Thực ra, tên cái con côn trùng ‘dớ dẩn’ đó, tôi cứ dịch đại thành ‘ con rết’, ‘con bọ mát’ gì đó, miễn là có tên một con côn trùng cũng ‘ chẳng ai biết đó là đâu’, mà vạch vòi, trách tôi là dịch sai. Nhưng tôi cứ nghĩ, cẩn thận, chu đáo, dịch cho đúng, thì vẫn hơn...Bởi tôi đã gặp bản dịch chỉ vì không cẩn thận chu đáo một ‘tý tỳ tỵ’ thôi, mà đã dịch sai đến hai chỗ, trong một câu vỏn vẹn có 7 chữ: Bẩy chữ đó trong bài tuỳ bút có tên ‘ Nụ cừơi thường trực’, (‘Khai khẩu thường tiếu’ - Tên bài tôi dịch không giống với tên của người dịch trước), của Giả Bình Ao là: ’Đại học tốt nghiệp, tam thập giới..’ mà người dịch đã dịch thành: ‘Tốt nghiệp đại học khoá mười ba...’ Cái sai quá đơn giản đầu tiên là ‘tam thập’ đáng lẽ phải dịch là ‘ba mươi’ lại dịch thành ‘mười ba’... Còn chữ ‘giới’, thì quả là có ‘rắc rối’ hơn một chút, bởi vì hiện nay trên báo chí Trung Quốc, người ta dùng chữ ‘giới’ đúng là để chỉ chữ ‘khoá’ thật, ví dụ như ‘Đại hội khoá 10’. ‘Quốc Hội khoá 9’ vân vân, nhưng người dịch không biết rằng chữ ‘giới’ còn có một nghĩa cổ, được người ta dùng như chữ ‘niên’, chữ ‘tuế’, nghĩa là ‘tuổi’, cho nên khi dịch mấy chữ này, còn cần phải căn cứ thêm vào mấy chữ tiếp đó, mà dịch thành: ‘Tốt nghiệp đại học, tuổi đã 30, còn ế vợ, nên phải nhờ bè bạn mối lái...’ mới đúng, chứ còn dịch là: ‘Tốt nghiệp đại học khoá 13, còn ế vợ...’ là sai bét. (Dịch văn của ông Giả Bình Ao, cần phải nhớ một đặc điểm của ông nhà văn này là, thỉnh thoảng ông lại đá cổ văn vào trong văn chương của mình, nếu không, sẽ ‘hiểu lầm’ ông ấy ngay lập tức).

Sự cẩn thận, chu đáo của biên tập viên trong nhà xuất bản, trong toà báo, cũng là điều vô cùng cần thiết, bởi như đã nói ở trên, chính do sự cẩn thận, chu đáo mà biên tập viên đã phát hiện ra cái bản dịch lôm côm, với nhiều chỗ ‘nộp quyển trắng’, vì khó, không dịch nổi, và thứ ‘văn phong hỗn loạn’ do nhiều người dịch kia. Nhưng ngược lại, do sự thiếu cẩn thận chu đáo, mà báo Tiền Phong (Số chủ nhật, 42, năm 2005) đã để có một sai sót nhỏ, đáng tiếc:

Một cuốn tiểu thuyết của một tác giả người Trung Quốc với cái tên nguyên văn bằng chữ Hán là ‘Lang đồ đằng’, nhưng khi được giới thiệu bằng hai bài báo của hai tác giả, in trong cùng một số báo này đã khiến người đọc tưởng nó là hai cuốn tiểu thuyết khác nhau, do hai tác giả Trung Quốc viết:

Một cuốn mang tên: Lang Đồ Đằng (Sùng bái Sói) của Khương Tuất.

Một cuốn mang tên: Tô-tem Sói của Khương Nhung.

Cách giới thiệu thế này, theo tôi, có hai thiếu sót. Thiếu sót thứ nhất là: Trong cùng một tờ báo, đặc biệt là trong cùng một số báo, thì biên tập nên ‘quy về’ một tên cho có sự thống nhất trên báo của mình, bởi vì chữ ‘Lang đồ đằng’ dịch là ‘Tô tem Sói’ hay ‘Sùng bái Sói’ đều đúng cả, nhưng chỉ nên dùng một tên trên tờ báo của mình. Đáng lý ra, tên tác giả là Khương Tuất hay Khương Nhung người biên tập càng cần phải hỏi ‘cho ra nhẽ’, để thống nhất lại .Bởi vì trong chữ Hán có nhiều chữ có hai âm mà âm nào cũng đúng, ví dụ như Mao Thuẫn hay Mâu Thuẫn, vẫn như nhau, hay sông Châu, sông Chu cũng vẫn là một... Song trong trường hợp này, tuy tôi chưa được chính mắt nhìn thấy tên tác giả bằng chữ Hán, nhưng tôi dám khẳng định một trong hai người đã dịch sai, bởi vì trong chữ Hán có ba chữ có thể nói là viết gần như nhau, nhưng vẫn có cái khác nhau ở một nét nhỏ trên cùng một vị trí của mỗi con chữ. Nếu không cẩn thận nhận mặt chữ, chỉ đọc lướt đi, rồi dịch thì rất dễ sai, chữ nọ dịch thành chữ kia ngay lập tức. Đó là ba chữ: Tuất, (ngọ, mùi, tuất), Nhung, (binh nhung), và Thú, (đồn thú), cho nên rất có thể có người dịch tên tác giả là Khương Thú có khi mà lại đúng cũng nên, biết đâu đấy? Nhưng sai một ly đi một dặm là vậy.

Nói đến ‘thông thạo’ chữ nghĩa của người ta, lại không thể không nói đến ‘thông thạo tiếng mẹ đẻ’ của mình, - nói chung là hai ‘cái sự thông thạo’ đó phải ngang nhau -, để mình có thể tuỳ ý, chọn lựa, sàng lọc, moi móc được trong tiếng Việt mình ra những chữ những nghĩa thật ‘môn đăng hộ đối’, không chê vào đâu được, mà làm ‘sính lễ’, làm ‘của hồi môn’ xứng đáng với tác giả. Ta không thể chấp nhận những người dịch không chịu tìm tòi trong tiếng Việt ra những chữ tương xứng, thậm chí là rất hay để dịch, mà lại lười biếng, ‘ăn không’, ‘bê nguyên đai nguyên kiện’, tiếng của người ta, âm của người ta vào, ‘làm nghèo’ tiếng của nước mình đi, thí dụ như trước đây ta đã thấy nhan nhản những tiếng ‘A ka’, ‘lách cách’, (hoàng tử, công chúa), trong phim truyền hình, trong thể thao tiếng võ thuật (vũ thuật) có sẵn (như côn, quyền, đao. kiếm...) lại bỏ đi không dùng, mà đi bê chữ u xu hay ủ xu chỉ là âm Trung Quốc của hai chữ võ thuật vào thay thế. Hay như gần đây, trên báo chí thấy xuất hiện một từ Trung Quốc mới: ‘linglei’. Nhiều người đã hỏi tôi ‘linhlây’ là gì ? Trời đất ạ, nguyên nghĩa của nó là loại khác, kiểu khác,mà Việt Nam có một từ ‘tuyệt vời’ để dịch từ này là ‘khác người’, hoặc ‘khác đời’, sao không dịch, mà lại cứ đi tỏ vẻ ‘thông thái’, ‘nhân danh cái mới’ làm khổ người đọc? Tôi cũng phản đối cái lối dịch, mà khi đọc lên, cứ như nghe người Tầu nói tiếng ta, đại khái như một câu thế này: “... Chúng tôi đã điều nghiên, phối kết hợp, thanh kiẻm tra, bám chặt mọi di biến động của đối tượng hêrôin, để phá án phi vụ này...”

Thông thạo tiếng Việt, để khỏi nói như ông đại biểu Quốc Hội, phát biểu giữa nghị trường: ‘Danh có chính thì ngôn mới...luận’, như có tờ báo đã đưa tin...

Nói tóm lại, người dịch thuật văn chương, ngoài việc cần phải thông thạo cả tiếng nước mình lẫn tiếng nước người, còn cần phải có một tư cách đứng đắn, và lòng say mê nghề nghiêp. Chính lòng say mê nghề nghiệp sẽ đem lại cho mình tinh thần trách nhiệm và lối làm việc cẩn thận, chu đáo, rồi ‘hậu quả’ của điều này sẽ nâng cao được sự ‘giỏi giang’ cả hai thứ tiếng, làm phong phú thêm kiến thức của mình...

Lê Bầu (dịch giả)

-ooOoo-

Hãi hùng sách dịch

Nguồn: Báo Người Lao Động, http://www.nld.com.vn, tháng 11-2005
Hãi hùng sách dịch
Phương Quyên

Bài 1: Tôi đi dịch sách
Thời gian gần đây, người đọc Việt Nam đang phải chịu đựng cái gọi là “thảm họa dịch thuật” khi tiếp xúc các tác phẩm nước ngoài chuyển ngữ kém chất lượng. Dư luận đã mạnh dạn vạch trần những lỗi dịch thuật sơ đẳng trong một số tác phẩm được người đọc chờ đợi.

Người dịch tiếng Anh chưa rành tiếng Anh
Một bộ phận tôn giáo được dịch thành Tổng giáo mục; Tình dục trước hôn nhân lại dịch thành Giới tính nguyên thủy; Biểu hiện trên nét mặt có thể thay cho Việc lộ diện hay Thời đó giống với Ngày nay... là một trong những lỗi dịch sai điển hình nhất của Mật Mã Da Vinci - một tác phẩm văn học thuộc hàng bán chạy nhất thế giới hiện nay. Một người bạn tôi cho biết, bản dịch đó do một giảng viên chuyên ngành ngoại ngữ mà còn như thế, huống gì những cuốn sách do “tập thể sinh viên” dịch. Và anh bảo tôi cứ đi chung với em anh ta vài ngày tôi sẽ có câu trả lời.

Cậu em bạn tôi là sinh viên năm thứ ba khoa ngữ văn Anh một trường ĐH. Tôi theo anh ta tham dự giờ học ngoại ngữ chuyên ngành. Cuối giờ học, giáo viên hỏi lớp có ai muốn dịch sách để test (kiểm tra) trình độ của mình và kiếm tiền không? Cả lớp nhanh nhảu đồng ý. Giáo viên giao cho chúng tôi một tập tài liệu Anh ngữ dày 300 trang sách. Tranh thủ lúc anh bạn lớp trưởng ghi danh người đăng ký dịch, tôi liếc sơ nội dung tập tài liệu. Thì ra, bộ tài liệu không đồng nhất với nhau về nội dung và có số trang cách quãng. Từ trang 153 đến 160 đề cập đến các ứng dụng công nghệ viễn thông, trang 229 đến 246 trình bày các mạng thương mại của các quốc gia, từ trang 263 đến 289 lại có nội dung lịch sử chính trị, tuyển cử các nước châu Mỹ... Tôi thắc mắc và hỏi 2 cô sinh viên cùng bàn. Hai cô bé cười, khuyên tôi đừng bận tâm vì những lần nhận dịch tài liệu trước nay vẫn vậy. Tôi hỏi, thế làm sao biết được đây là cuốn sách nào và toàn bộ cuốn sách tập trung vào vấn đề gì? Hai cô bé trả lời: “Biết để làm gì? Biết phần nào mình nhận thôi chứ! Mà chưa chắc mình hiểu hết phần mình nhận dịch” .

“Berlin là nước nào” (?!)
Khuôn viên sảnh trường ĐH lúc này trở thành nơi họp nhóm lý tưởng cho những đôi dịch sách như chúng tôi. Chọn được một bàn trống, chúng tôi bắt đầu chú tâm vào trang sách photocopy đặc chữ. Nội dung chính phần dịch của chúng tôi là các ứng dụng Internet từ năm 2000 của các nước phát triển. Để dịch sát nghĩa, ngoài từ vựng, người dịch còn cần đến các kiến thức chuyên ngành. Đa số các từ mới đều là những thuật ngữ “bí hiểm” thuộc chuyên ngành công nghệ thông tin. Việc đầu tiên của chúng tôi là tra từ điển, có bao nhiêu từ dịch ra bấy nhiêu. Quyển từ điển Anh Việt “siêu dày” của Viện Ngôn ngữ học biên soạn không làm chúng tôi thỏa mãn. Gặp những từ ghép, không có trong từ điển, chúng tôi phải đoán theo cảm tính như Telemedicine (từ ghép giữa Tele -hệ thống thông tin, tư vấn trực tuyến và medicine- y học); Touch-screen (màn hình và tiếp xúc trực tiếp bằng tay). Gặp phải những câu đề mục kiểu chơi chữ như Let Them Eat Cybercake (nguyên văn: Hãy để họ ăn bánh thông tin); Virtual city hall (nguyên văn: Thành phố tòa thị chính ảo); Infrastructure, environment, and attitude (nguyên văn: Cơ sở hạ tầng, môi trường và thái độ)... thật không làm sao đoán được nghĩa chính xác của chúng. Còn những từ hoàn toàn mới như Portal, hay các cụm từ Smart community, Value-added services... không có trong từ điển, chúng tôi đành phải ghi từ nguyên mẫu, đặt trong ngoặc kép. Bên cạnh tôi, nhóm 3 sinh viên chung lớp cũng đang tranh cãi khá gay gắt về một câu nào đó. Chẳng ai nhường ai, cuối cùng, họ chọn giải pháp tổng hợp cả 3 ý kiến đó lại thành câu dịch hoàn chỉnh. Một anh bạn khác chạy đến chỗ chúng tôi, hỏi bằng một giọng khá nghiêm trọng: “Berlin là nước nào; Hague là tỉnh hay thành phố?!”. Vừa trả lời xong thì một cô bé, cũng học cùng lớp, phàn nàn: “Anh xem thằng Y.A có dốt không, con bọ máy tính và virus máy tính nó dám bảo là khác nhau. Đó chẳng qua chỉ là cách chơi chữ thôi phải không anh (Bug con bọ- nghĩa lóng: lỗi kỹ thuật trong phần mềm)? Ghét quá, em cho nó muốn dịch ra sao thì dịch”. Anh bạn nhận phần dịch nhiều nhất vò đầu, than khó, dịch không xuể nên đã chia bớt cho một cậu năm 2 dịch phụ. Không biết, cậu ta sẽ làm ăn ra sao nữa.

Vất vả 3 ngày tra từ, dịch nghĩa và... cãi nhau, chúng tôi cũng hoàn thành 14 trang sách và đem nộp dù biết chắc rằng nội dung trang dịch chưa hoàn chỉnh.

-ooOoo-

Bài 2: Phải giáo sư, tiến sĩ đâu mà đòi chính xác!

Anh bạn lớp trưởng của tôi tập hợp tất cả bản dịch lại và kiêm nhiệm luôn công việc liên kết những tài liệu rời đó lại thành một bản hoàn chỉnh và “tút” lại cho bản dịch rõ nghĩa, liền mạch. Xem các bản dịch khác mới biết bài dịch của chúng tôi so với mặt bằng chung là tươm tất nhất. Điểm sơ qua 2 trang đầu, chúng tôi đã thấy nhiều lỗi rất phổ thông.

Không dịch được là cho qua
Điển hình là cách dùng từ không chính xác. “The Torah” (kinh thánh Do Thái) được dịch thành Kinh thánh Hồi giáo. “Social security” được dịch là “Bộ an ninh xã hội” dù đây là “bảo hiểm xã hội”… Những lỗi như thế này rất phổ biến trong các trang bản dịch mà chúng tôi nhận từ những sinh viên. Có những từ khó, không dịch được, các bạn bỏ hẳn dù đó là từ chính trong câu. Câu văn dịch trở nên cụt và tối nghĩa. Thấy tôi thở dài, anh bạn tôi cười: “Sinh viên mà, đâu phải giáo sư, tiến sĩ mà đòi bản dịch phải chính xác! ”.

Nộp lại bản dịch cho giáo viên, chúng tôi được khen là bản dịch “sạch” và nộp bài đúng tiến độ. Cũng chẳng cần xem xét thêm, thầy nhờ chúng tôi mang đến giao cho một người khác (?!).

Rời trường ĐH, tôi cùng bạn cũ đến nhà sách Xuân Thu, kiếm ít sách ngoại ngữ. Một phụ nữ trung niên xuất hiện. Cô ta giới thiệu tên Th.H, đang làm cho một công ty dịch thuật và liên kết với các nhà xuất bản. Chẳng cần biết khả năng của bạn tôi thế nào, cô ta đề nghị bạn tôi dịch giúp những tác phẩm bày trên kệ sách vì đang cần gấp bản dịch để kịp xuất bản những đầu sách đó.

Chỉ cần suôn sẻ là được
Đang chưa có việc làm, cô bạn tôi cũng nhận dịch, kiếm thêm thu nhập. Người phụ nữ quay sang hỏi tôi có dịch không? Thấy tôi bảo mình học ngữ văn, không biết tiếng Hoa, cô lại đề nghị tôi chỉnh lý giúp những bản dịch. Theo lời cô ta là chỉ cần “cho suôn sẻ và văn vẻ một tí”. Muốn biết những bản dịch của cô ta ra sao nên tôi nhận lời. Hôm sau, tôi nhận được một tập dày những bài dịch. Nhiệm vụ của tôi là chỉnh lại những lỗi về câu từ, ngữ pháp và liên kết các phần lại để thành một cuốn sách hoàn chỉnh. Ấn tượng đầu tiên của tôi là một bản dịch hổ lốn từ Việt- Hán. Dù đã một lần dịch sách thuê nhưng tôi vẫn không khỏi bất ngờ trước những lỗi dịch nghiêm trọng đến thế. Tên các yếu nhân, địa danh lẫn lộn đến buồn cười. Khổng Tử tên thật là Trọng Ni, tự là Khâu. Không biết người dịch thế nào lại thành Khổng Tử tên thật là Trọng Khâu. Trương Lương thành Trương Thực, Vương Mãn ra Vương Bôn. Buồn cười nhất là “đem râu ông nọ cắm cằm bà kia” trong tên những nhân vật nổi tiếng của phương Tây. Montesquieu (nhà tư tưởng) trong bản gốc được phiên âm tiếng Hán thành Mạnh Đức Tư Cưu, người dịch phán luôn là Đôn-ki-hô-tê (nhân vật trong tiểu thuyết Tây Ban Nha). Chắc là do không biết những nhân vật này nên người dịch đoán âm bừa và cho ra kết quả ngộ nghĩnh như thế. Dịch sách Trung Quốc nhưng dường như người dịch hoàn toàn mù tịt về văn hóa, văn học Trung Quốc. “Lưu Bị tiến cử Gia Cát Lượng cho Tư Mã Đức Thao và Từ Thứ”; (đúng là Lưu Bị mời Từ Thứ làm quân sư, ông ta từ chối và tiến cử Gia Cát Lượng cho Lưu Bị), “Khổng Tử đã từng chỉnh lý những sách cổ gồm Thi, Thư, Lễ, Dị. Ngoài ra còn có sách sử Xuân Thu” (chính xác ngũ kinh phải là Thi, Thư, Lễ, Nhạc và Xuân Thu. Xuân Thu là một kinh trong ngũ kinh. Nếu thêm kinh Dịch là lục kinh. Kinh Dịch không phải do Khổng Tử chỉnh lý mà những nhà nho đời sau thêm vào), là kiểu câu sai phổ biến trong hơn 500 trang bản dịch. Mắc những lỗi như vậy, chắc chắn người dịch phải là người thiếu kiến thức trầm trọng.

Làm sách phải “thoáng”
Đến gặp người phụ nữ tự xưng là nhân viên liên kết xuất bản, tôi trả lại bản thảo và thú thật bản dịch rất tệ, không thể nào chỉnh lý được và khuyên nên cho dịch lại. Cô ta sầm mặt, bảo tôi khờ, câu nệ quá mức. Và khuyên ngược lại tôi làm sách phải “thoáng” một chút vì hai ngôn ngữ phải có sự khác biệt (?!). Tôi biết, mình không thể “thoáng” để nhận 200.000 đồng tiền công cho việc chỉnh lý bản dịch khủng khiếp này. Quay sang cô bạn tôi, cô ta bảo xấp bản thảo của bạn tôi dịch bỏ nhiều câu - đoạn quá, phải đánh máy lại và trừ bớt tiền công. Một trang A4 dịch hoàn chỉnh, đánh máy bằng co chữ 11, bạn tôi được trả 10.000 đồng. Tôi hiểu, với cách tính công đếm chữ trả tiền như thế, sự ra đời của những bản dịch kém đến vậy là điều tất nhiên.
Ai cũng có thể dịch sách. Làm sách dịch theo kiểu gia công, “thoáng” và đếm chữ trả tiền. Đó là tất cả những gì tôi nhận được sau một thời gian tiếp xúc với nghề dịch sách thuê. Những đầu sách kém chất lượng mà báo chí lên án chỉ là một trong những điển hình bị mổ xẻ. Nếu tiến hành một cuộc “đại phẫu thuật” cho các đầu sách dịch hiện nay, chắc chắn còn rất nhiều đầu sách kém chất lượng bị lột trần. Chỉ xót xa cho người đọc, phải bỏ tiền để mua lấy những bán thành phẩm của kiểu làm sách tay ngang, vô trách nhiệm.

-ooOoo-

Bài 3: “Thảm họa dịch thuật” có mặt khắp nơi

Dịch giả Ngân Xuyên (Phạm Xuân Nguyên) cho rằng: Thị trường sách dịch hiện nay rơi vào khủng hoảng và đã báo động từ rất lâu. Số lượng sách dịch trên thị trường có thể phong phú về số lượng, cập nhật thời sự rất nhanh, nhưng số lượng thì chưa đi đôi với chất lượng, nhất là đối với những tác phẩm văn học lớn, tác phẩm best seller.

Đội ngũ dịch thuật không chuyên nghiệp
Rất nhiều cuốn sách dịch sai be bét, không hiểu thuật ngữ chuyên ngành, thậm chí còn bị coi là “thảm họa dịch thuật” như Mật mã Da Vinci. Nhưng Mật mã Da Vinci ít ra còn suôn sẻ về mặt tiếng Việt, cuốn Chiến tranh và hòa bình (tái bản) dịch ẩu hơn nhiều và chi chít lỗi đánh máy. Cuốn Mỹ học của Hegel (dịch giả Phan Ngọc) bị dịch giả Hoàng Hưng “tố” là “sai gần hết”. Còn Bonjour Tristesse (Buồn ơi chào nhé) rất nổi tiếng của Francois Sagan thì lại được dịch thành Nỗi buồn muôn năm... Nhưng bản dịch sai sót còn là bản dịch dễ chữa, theo dịch giả Vũ Thế Khôi, bản dịch thật sự thảm họa là những bản dịch mờ mờ nhạt nhạt, chẳng tìm thấy bóng dáng nhà văn đang có mặt nhan nhản khắp nơi. Và đó là hậu quả của một nền dịch thuật thiếu chuyên nghiệp kéo dài hàng chục năm nay với một đội ngũ dịch giả mày mò tự học, thay vì được đào tạo bài bản trường lớp.

Dịch giả thứ thiệt chưa được coi trọng
Đi tìm nguyên nhân cho thực trạng đáng buồn này, dịch giả Đoàn Tử Huyến cho rằng có tới 4 nguyên nhân dẫn đến tình trạng loạn sách dịch. Đầu tiên, đó là sự kém cỏi của người dịch. Thứ hai, là sự tham lam của cả dịch giả, NXB lẫn đầu nậu, tìm mọi cách để có lợi nhuận cao. Thứ ba, là sự cẩu thả và cuối cùng là thái độ thờ ơ của những người có trách nhiệm. Dịch giả Ngân Xuyên lại cho rằng chúng ta đang đứng trước mâu thuẫn, người biết ngoại ngữ thì nhiều nhưng dịch giả thì ít. Không phải cứ biết ngoại ngữ là có thể dịch được, mà chúng ta thì lại chưa có một trường dạy dịch, chưa có lý thuyết dịch. Dịch văn học rất khó, không ít người giỏi ngoại ngữ, ham mê dịch, nhưng vì không xác định được đối tượng dịch của mình là ai nên bản dịch rất nhạt nhẽo. Đó là chưa kể đến người dịch sách không được coi trọng, nói theo cách của dịch giả Phạm Tú Châu, họ không được hưởng thù lao xứng đáng cho công sức bỏ ra cho một cuốn sách. Dịch giả Ngân Xuyên tính toán, một trang sách dịch thông thường được trả 40.000 đồng, nhưng dịch một trang dự án thì được tới 5 USD, lại chẳng mất thời gian suy nghĩ về phong cách, giọng điệu của nhà văn, quá nhàn.

Biên tập sách dịch: Hầu hết không biết ngoại ngữ
Một lý do nữa cũng được nhiều dịch giả nêu lên, đó là sự lúng túng của các nhà xuất bản (NXB) khi tham gia Công ước Berne. Muốn dịch nhanh, có sách ra thị trường sớm, thu lợi nhuận cao nhưng các NXB lại không biết cách tổ chức thế nào để vừa bảo đảm chất lượng, vừa bảo đảm tốc độ bản dịch mà Mật mã Da Vinci là một ví dụ. Dịch giả Ngân Xuyên cũng dẫn ra một nguyên nhân nữa, đó là sự buông lơi 2 khâu chính là biên tập và phê bình. Cùng với sự xuống cấp của phê bình và biên tập nói chung, việc biên tập, phê bình sách dịch còn “thảm” hơn nữa. Biên tập viên Cao Giang của NXB Thanh Niên, cho biết hầu hết các biên tập viên mảng văn học của các NXB hiện nay đều không biết ngoại ngữ, trình độ không theo kịp thời cuộc. Và vì thế, tệ làm sách cẩu thả càng có đất để hoành hành, bất chấp dư luận lên tiếng.

Cải thiện tình hình, bằng cách nào?
Dịch giả Thúy Toàn, Chủ tịch Hội đồng Văn học dịch của Hội Nhà văn Việt Nam, cho rằng cũng như sáng tác văn học, việc dịch sách là công việc của các cá nhân, của trình độ và lòng tự trọng nghề nghiệp của dịch giả. Cũng đồng tình với quan điểm này, dịch giả Ngân Xuyên cho rằng chẳng ai muốn “mua danh ba vạn, bán danh ba đồng”, các dịch giả luôn luôn muốn giữ uy tín cho mình, nhưng để có được những cuốn sách hay, các NXB phải tập hợp đội ngũ các dịch giả tin cậy. Mỗi NXB cần nắm vững đội ngũ người dịch chí cốt của mình, tùy theo từng ngôn ngữ và thể loại sách khác nhau, đặt hàng để họ dịch những cuốn sách có giá trị và trả thù lao xứng đáng.

Một giải pháp nữa cũng rất quan trọng, đó là nâng cao trình độ của người biên tập.

-ooOoo-

Thursday, 18 June 2009

Trái tim của Hòa thượng Thích Quảng Đức

http://www.thanhnien.com.vn, 16/06/2009

... Đó là Bồ tát Thích Quảng Đức, tự thiêu tại Sài Gòn (ở vị trí ngã tư đường Cách Mạng Tháng Tám và đường Nguyễn Đình Chiểu, quận 3, TP.HCM hiện nay) ngày 11.6.1963, để phản đối và cảnh tỉnh chế độ Ngô Đình Diệm đang đàn áp, bắt bớ, đánh đập, thủ tiêu và bắn giết tăng ni Phật tử miền Nam. Rất nhiều phóng viên trong và ngoài nước như ký giả David Halberstam của tờ New York Times tường thuật: “...lửa phủ khắp người, thân ngài Thích Quảng Đức từ từ thâu nhỏ lại, đầu cháy nám, cả người chìm trong lửa đỏ. Sau lưng tôi vọng lên tiếng khóc, tôi cũng quá xúc động không khóc nên lời được khi nhìn thấy thân hình của ngài chìm trong biển lửa nhưng ngài không một tiếng rên la, trầm tĩnh bất động, khác hẳn với những phật tử đang òa khóc ngày càng lớn tiếng chung quanh”. Một tường thuật khác của mục sư Donald Harrington (Mỹ): “…khi chiếc áo cà sa của ngài đã tẩm đầy xăng, tất cả tăng ni sợ hãi lùi lại kính cẩn và chăm chú nhìn ngài. Ngài vẫn yên lặng và bình thản niệm Phật, rồi bật một que diêm để ngọn lửa phừng phực bốc lên phủ kín thân ngài. Ngài vẫn ngồi thẳng nhiều phút trong lửa đỏ cho đến khi lửa tàn và nằm xuống bất động”.

Bấy giờ nhiều linh mục như Nguyễn Ngọc Lan, Nguyễn Quang Oánh, lên tiếng đồng tình với ngọn lửa đấu tranh Thích Quảng Đức. Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình đã từ chối không để ông Ngô Đình Thục dùng nhà thờ Đức Bà ở trung tâm Sài Gòn để “cải chính” về sự việc. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tổ chức lễ cầu siêu Bồ tát Thích Quảng Đức trong hai ngày 12 và 13.6.1963. Tại miền Bắc, hơn 80.000 người tập trung ở thủ đô Hà Nội mít tinh và diễu hành ủng hộ phật tử Sài Gòn, kéo đến chùa Quán Sứ cầu siêu cho ngài. Ở nước ngoài, làn sóng phản đối chế độ Sài Gòn dâng cao ở nhiều quốc gia, ảnh chụp Bồ tát Thích Quảng Đức ngồi trong lửa đỏ đặt suốt cả tháng trên bàn làm việc của tổng thống Mỹ. Khi nhục thân của ngài đưa đi làm lễ trà tỳ tại lò thiêu An dưỡng địa Phú Lâm để lấy tro thờ, tất cả mọi người đều kinh ngạc thấy trái tim của ngài không bị cháy. Sự kiện này không những gây chấn động trong phật tử Việt Nam mà còn đặc biệt thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu khoa học trên thế giới suốt gần nửa thế kỷ qua. Người ta tự hỏi tại sao dưới sức nóng của hàng nghìn độ mà trái tim của ngài không cháy?

Hòa thượng Thích Thông Bửu, trụ trì chùa Quán Thế Âm - TP.HCM, trong hội thảo chuyên đề về Bồ tát Thích Quảng Đức vị pháp thiêu thân do Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam tổ chức năm 2005 đã kể lại:

- “Sau một ngày lửa nung cả ngàn độ, mà trái tim vẫn không cháy, nên phải quyết định đưa vào nung thêm lần nữa. Lúc bấy giờ ngoài trời đã gần tối mà lực lượng cảnh sát của Ngô triều càng đông thêm. Có tiếng xầm xì rằng nhà cầm quyền muốn dùng bạo lực để cướp trái tim, vì thế bộ phận phụ trách trả tỳ liền ngưng đốt và đem trái tim ra. Trái tim vẫn còn nguyên trong khi xương thịt đã cháy thành tro trắng. Tin lan truyền từ lò thiêu: “Trái tim bất diệt” khiến Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu hoảng sợ. Khi trái tim được tôn trí tại chùa Xá Lợi thì toàn bộ gia quyến họ Ngô họp khẩn và lệnh cho Bác sĩ Trần Kim Tuyến, trùm mật vụ của chế độ, đến chùa Xá Lợi để khám nghiệm quả tim và xem thực hư thế nào. Bằng những chất hóa học và phương tiện khoa học hiện đại thời ấy, bác sĩ giám đốc kiêm tình báo của Ngô triều đã sử dụng hết khả năng để đốt cháy quả tim, nhưng cuối cùng ông thở dài và đành chắp tay vái lạy rồi rút lui. Về đến dinh ông trình bày: “Chúng ta nên hòa với Phật giáo là hơn, vì họ có quả tim bất diệt”. Bà Ngô Đình Nhu phản đối và họp với chồng tổ chức chiến dịch “Nước lũ”, bố ráp hết các chùa chiền vùng Sài Gòn - Gia Định để bắt thêm tăng ni đem về nhốt tại vùng Rạch Cát, quận 8. Khi biết được tin này, Ủy ban Liên phái bảo vệ Phật giáo âm thầm đưa quả tim vào tủ sắt và gửi trong trụ sở của chi nhánh Ngân hàng Thụy Điển tại Việt Nam. Do vậy mật vụ và lực lượng cảnh sát đặc biệt trong chiến dịch “Nước lũ” do nhà Ngô tung ra suốt mấy ngày đêm cũng chỉ thu về một quả tim giả làm bằng… thạch cao hong khói!”.

Đến nay, quả tim bất tử của Bồ tát Thích Quảng Đức, một báu vật quốc gia, một trân châu xá lợi của phật tử Việt Nam, vẫn còn đó và đang được lưu giữ nơi nào? Bạn có thể tìm đọc câu trả lời chính xác trong mục này trên số báo ra ngày mai. (còn tiếp).

http://www.thanhnien.com.vn, 17/06/2009

... Cố Hòa thượng Thích Thông Bửu (tịch năm 2007 - là một trong những đệ tử thân cận của ngài) đã kể cách đây bốn năm (2005):

- Bồ tát ngã xuống mà tay vẫn còn bắt ấn tam muội và khi ngọn lửa trà tỳ với sức nóng 4.000 độ đã tắt, trái tim của ngài vẫn không cháy, kết lại thành một khối rắn chắc như ngọc, được đưa vào giữ trong tủ sắt của chi nhánh Ngân hàng Thụy Điển tại Sài Gòn. Đến sau ngày 30.4.1975, vào một dịp thích hợp, tủ sắt đã được mở ra và thấy quả tim bất diệt của ngài vẫn nằm trong một cái hộp được niêm phong cẩn thận bởi những sợi dây dẹp bằng đồng và được khằn theo đường hình chữ thập. Bên trên hộp ghi rõ lệnh niêm phong của đức Tăng thống Giáo hội Phật giáo nước ta, với dòng chữ: “Nghiêm cấm không ai được mở khi chưa có lệnh”.

Cũng theo hòa thượng Thích Thông Bửu, sau này khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập, đã bàn bạc hết sức nghiêm túc về biện pháp bảo vệ quả tim sao cho tốt nhất và đã đi đến quyết định gửi vào Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bảo quản. Thủ tục ký kết việc gửi và nhận tiến hành lúc 11 giờ trưa ngày 26.4.1991, với văn bản số 03/BB-TG.

Theo tài liệu phổ biến trước đông đảo đại biểu dự hội thảo về Bồ tát Thích Quảng Đức do Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam mở tại TP.HCM năm 2005, thì những vị có trọng trách trong việc gửi và nhận quả tim bất diệt ấy gồm:

Về bên gửi, có 3 vị đại diện cao nhất là: 1. Hòa thượng Thích Thiện Hào, Phó chủ tịch Hội đồng trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam. 2. Hòa thượng Thích Từ Nhơn, Phó trưởng ban Tăng sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam. 3. Hòa thượng Thích Giác Toàn, Ủy viên kiểm soát Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Về bên nhận, có 6 vị đại diện: 1. Ông Trịnh Thanh Tùng, Vụ phó Vụ Phát hành kho quỹ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. 2. Ông Bùi Văn Hàn, đại diện Bộ Nội vụ. 3. Bà Trần Thị Kim Liên, kế toán Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. 4. Ông Nguyễn Văn Ngọc, Vụ phó Vụ Tôn giáo trung ương. 5. Ông Đỗ Quốc Dân, Phó ban Tôn giáo TP.HCM. 6. Ông Phạm Văn Hùng, đại diện Bảo tàng Cách mạng TP.HCM.

Như vậy, từ năm 1991 đến nay, quả tim Bồ tát Thích Quảng Đức vẫn do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam lưu giữ. Đó là bảo vật quốc gia, là một dạng xá lợi độc đáo của Việt Nam.

* * *

Thursday, 26 March 2009

Năm điều quán tưởng hằng ngày

NĂM ĐIỀU QUÁN TƯỞNG

Thế Tôn lời dạy tỏ tường
Năm điều quán tưởng phải thường xét ra
Ta đây phải có sự già
Thế nào tránh thoát lúc qua canh tàn.
Ta đây bệnh tật phải mang
Thế nào tránh thoát đặng an mạnh lành
Ta đây sự chết sẳn dành
Thế nào tránh thoát tử sanh đến kỳ.
Ta đây phải chịu phân ly
Nhân vật quí mến ta đi biệt mà
Ta đi với nghiệp của ta
Dầu cho tốt xấu tạo ra tự mình.
Theo ta như bóng theo hình
Ta thọ quả báo phân minh kết thành .
*
AN 5.57
Upajjhatthana Sutta

Subjects for Contemplation

Translated from the Pali by Thanissaro Bhikkhu

"There are these five facts that one should reflect on often, whether one is a woman or a man, lay or ordained. Which five?

"'I am subject to aging, have not gone beyond aging.' This is the first fact that one should reflect on often, whether one is a woman or a man, lay or ordained.

"'I am subject to illness, have not gone beyond illness.' ...

"'I am subject to death, have not gone beyond death.' ...

"'I will grow different, separate from all that is dear and appealing to me.' ...

"'I am the owner of my actions, heir to my actions, born of my actions, related through my actions, and have my actions as my arbitrator. Whatever I do, for good or for evil, to that will I fall heir.' ...

"These are the five facts that one should reflect on often, whether one is a woman or a man, lay or ordained.

"Now, based on what line of reasoning should one often reflect... that 'I am subject to aging, have not gone beyond aging'? There are beings who are intoxicated with a [typical] youth's intoxication with youth. Because of that intoxication with youth, they conduct themselves in a bad way in body... in speech... and in mind. But when they often reflect on that fact, that youth's intoxication with youth will either be entirely abandoned or grow weaker...

"Now, based on what line of reasoning should one often reflect... that 'I am subject to illness, have not gone beyond illness'? There are beings who are intoxicated with a [typical] healthy person's intoxication with health. Because of that intoxication with health, they conduct themselves in a bad way in body... in speech... and in mind. But when they often reflect on that fact, that healthy person's intoxication with health will either be entirely abandoned or grow weaker...

"Now, based on what line of reasoning should one often reflect... that 'I am subject to death, have not gone beyond death'? There are beings who are intoxicated with a [typical] living person's intoxication with life. Because of that intoxication with life, they conduct themselves in a bad way in body... in speech... and in mind. But when they often reflect on that fact, that living person's intoxication with life will either be entirely abandoned or grow weaker...

"Now, based on what line of reasoning should one often reflect... that 'I will grow different, separate from all that is dear and appealing to me'? There are beings who feel desire and passion for the things they find dear and appealing. Because of that passion, they conduct themselves in a bad way in body... in speech... and in mind. But when they often reflect on that fact, that desire and passion for the things they find dear and appealing will either be entirely abandoned or grow weaker...

"Now, based on what line of reasoning should one often reflect... that 'I am the owner of my actions, heir to my actions, born of my actions, related through my actions, and have my actions as my arbitrator. Whatever I do, for good or for evil, to that will I fall heir'? There are beings who conduct themselves in a bad way in body... in speech... and in mind. But when they often reflect on that fact, that bad conduct in body, speech, and mind will either be entirely abandoned or grow weaker...

"Now, a disciple of the noble ones considers this: 'I am not the only one subject to aging, who has not gone beyond aging. To the extent that there are beings — past and future, passing away and re-arising — all beings are subject to aging, have not gone beyond aging.' When he/she often reflects on this, the [factors of the] path take birth. He/she sticks with that path, develops it, cultivates it. As he/she sticks with that path, develops it and cultivates it, the fetters are abandoned, the obsessions destroyed.

"Further, a disciple of the noble ones considers this: 'I am not the only one subject to illness, who has not gone beyond illness.'... 'I am not the only one subject to death, who has not gone beyond death.'... 'I am not the only one who will grow different, separate from all that is dear and appealing to me.'...

"A disciple of the noble ones considers this: 'I am not the only one who is owner of my actions, heir to my actions, born of my actions, related through my actions, and have my actions as my arbitrator; who — whatever I do, for good or for evil, to that will I fall heir. To the extent that there are beings — past and future, passing away and re-arising — all beings are the owner of their actions, heir to their actions, born of their actions, related through their actions, and have their actions as their arbitrator. Whatever they do, for good or for evil, to that will they fall heir.' When he/she often reflects on this, the [factors of the] path take birth. He/she sticks with that path, develops it, cultivates it. As he/she sticks with that path, develops it and cultivates it, the fetters are abandoned, the obsessions destroyed."

Subject to birth, subject to aging,
subject to death,
run-of-the-mill people
are repelled by those who suffer
from that to which they are subject.
And if I were to be repelled
by beings subject to these things,
it would not be fitting for me,
living as they do.

As I maintained this attitude —
knowing the Dhamma
without paraphernalia —
I overcame all intoxication
with health, youth, & life
as one who sees
renunciation as rest.

For me, energy arose,
Unbinding was clearly seen.
There's now no way
I could partake of sensual pleasures.
Having followed the holy life,
I will not return.



* * *
Tăng Chi 5.57
Sự Kiện Cần Phải Quan Sát

HT Thích Minh Châu dịch

1.- Có năm sự kiện này, này các Tỷ-kheo, cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. Thế nào là năm?

2. "Ta phải bị già, không thoát khỏi già" là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. "Ta phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh" là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. "Ta phải bị chết, không thoát khỏi chết" là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. "Tất cả pháp khả ái, khả ý đối với ta sẽ phải đổi khác, sẽ phải biến diệt", là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. "Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy" là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia.

*

3. Do duyên lợi ích như thế nào, này các Tỷ-kheo, "Ta phải bị già, không thoát khỏi già", là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia?

Có những loài hữu tình, này các Tỷ-kheo, đang còn trẻ, kiêu mạn trong tuổi trẻ, say đắm trong kiêu mạn ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện này, sự kiêu mạn tuổi trẻ trong tuổi trẻ được hoàn toàn đoạn tận hay được giảm thiểu.

Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, "Ta phải bị già, không thoát khỏi già", cần phải thường xuyên quán sát như vậy bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia.

4. Do duyên lợi ích như thế nào, này các Tỷ-kheo, "Ta phải bị bệnh, ta không thoát khỏi bệnh" là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia?

Có những loài hữu tình khỏe mạnh, này các Tỷ-kheo, kiêu mạn trong khỏe mạnh. Do say đắm trong kiêu mạn ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện này, sự kiêu mạn khỏe mạnh trong khỏe mạnh được hoàn toàn đoạn tận hay được giảm thiểu.

Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, "Ta phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh" cần phải thường xuyên quán sát như vậy bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia.

5. Do duyên lợi ích như thế nào, này các Tỷ-kheo, "Ta phải bị chết, ta không thoát khỏi chết", là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia?

Có những loài hữu tình đang sống, này các Tỷ-kheo, kiêu mạn trong sự sống. Do say đắm trong kiêu mạn ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện này, sự kiêu mạn sự sống trong sự sống được hoàn toàn đoạn tận hay được giảm thiểu.

Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, "Ta phải bị chết, không thoát khỏi chết", cần phải thường xuyên quán sát như vậy bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia.

6. Do duyên lợi ích như thế nào, này các Tỷ-kheo, "Tất cả pháp khả ái, khả hỷ đối với ta sẽ phải đổi khác, sẽ phải biến diệt" là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia?

Có những loài hữu tình, này các Tỷ-kheo, có lòng tham dục đối với các vật khả ái. Do say đắm với lòng tham dục ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện ấy, nên tham dục đối với các vật khả ái được đoạn tận hoàn toàn hay được giảm thiểu.

Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, "Tất cả pháp khả ái, khả hỷ đối với ta sẽ phải đổi khác, phải biến diệt" là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia.

7. Do duyên lợi ích như thế nào, này các Tỷ-kheo, "Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy" là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia?

Có những loài hữu tình, này các Tỷ-kheo, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do vị ấy thường xuyên quán sát như vậy, ác hạnh được hoàn toàn đoạn tận hay được giảm thiểu. Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, "Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy" là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia.

*

8. Nếu vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, suy tư như sau: "Không phải chỉ một mình ta già, không thoát khỏi già, nhưng phàm có những loài hữu tình nào có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả loài hữu tình ấy phải bị già, không thoát khỏi già". Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện ấy, con đường được sanh khởi. Vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn nên các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.

"Không phải chỉ một mình ta bị bệnh, không thoát khỏi bệnh, nhưng phàm có những loài hữu tình nào có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả loài hữu tình ấy phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh". Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện ấy, con đường được sanh khởi. Vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn, nên các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.

"Không phải chỉ một mình ta bị chết, không thoát khỏi chết, nhưng phàm có những loài hữu tình nào, có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả các loài hữu tình ấy phải bị chết, không thoát khỏi chết". Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện ấy, con đường được sanh khởi. Vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn, nên các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.

"Không phải chỉ có các pháp khả ái, khả ý của riêng một mình ta sẽ phải đổi khác, sẽ phải biến diệt. Phàm có các loài hữu tình nào có đến, có đi, có diệt, có sanh, các pháp khả ái, khả ý của tất cả loài hữu tình ấy sẽ phải đổi khác, sẽ phải biến diệt". Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện ấy, con đường được sanh khởi. Vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn, nên các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.

"Không phải chỉ có một mình ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm, thiện hay ác ta sẽ thừa tự nghiệp ấy". Phàm có các loài hữu tình nào có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả các loài hữu tình ấy là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào họ sẽ làm thiện hay ác, họ sẽ thừa tự nghiệp ấy. Do vị ấy thường xuyên quán sát dự kiện ấy, nên con đường được sanh khởi. Vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn, nên các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.

Bị bệnh và bị già,
Lại thêm phải bị chết,
Pháp yếu là như vậy,
Hữu tình là như vậy.
Phàm phu sanh nhàm chán,
Thật không hợp cho Ta,
Nếu Ta cũng nhàm chán,
Ðối với các chúng sanh,
Cùng chung một số phận.
Trong khi đời sống Ta,
Không khác gì đời họ.

Ta được sống như vậy,
Biết pháp không sanh y,
Kiêu mạn trong không bệnh,
Trong tuổi trẻ sinh mạng,
Tất cả Ta nhiếp phục
Phát xuất từ an ổn,
Ta thấy hạnh viễn ly,
Ta phát tâm dõng mãnh,
Thấy được cảnh Niết-bàn.

Nay Ta không có thể,
Hưởng thọ các dục vọng,
Ta sẽ không thối đọa,
Chứng cứu cánh Phạm hạnh.


* * *

Saturday, 21 March 2009

Ngài Huyền Trang viết về Đảo quốc Tích Lan

Hiuen Tsiang On Sri Lanka
Ven Dhammika, Singapore
http://www.sdhammika.blogspot.com/

*

Between the years 629 and 645 AD the famous Chinese monk Hiuen Tsiang traveled through Central Asia and India to visit Buddhist sacred places, learn from Indian teachers and to collect copies of Buddhist scriptures. On his return to China, his extraordinary journey made him famous and the Emperor himself asked him to write an account of his adventures. The result was a book called ‘A Record of the West Compiled During the Tang Dynasty’ (Ta Tang Si Yu Ki).The ancient Chinese called India ‘the West’ because they thought it lay in that direction from their country. Later, Hiuen Tsiang’s disciple Hwui Li, wrote a biography of his beloved teacher in which was included some supplementary information that Hiuen Tsiang had given him. Together, these two books tell us a lot about the most famous Chinese monk of ancient times. To undertake such a long journey, alone, with neither money, knowledge of the language or even a clear idea of where India was, must have required immense courage and commitment. At the same time, Hiuen Tsiang’s own words give the impression that he was something of a prig, certain of his own importance and very sectarian in outlook.

More than once we see him oblivious to the fact that his pride and argumentativeness are irritating others. However, it is not biographical data that makes A Record of the West and the biography so interesting and important but the detailed information they gives about that lands that Hiuen Tsiang traveled through, in particular India. Hiuen Tsiang was not just a brave traveler and fine scholar, he was also a careful observer, curious about and interested in all he saw. His book tells the historian more about lndia - its legends and customs, art and architecture, the literature of Buddhism, the location of famous monasteries, how many monks resided in each and what school they adhered to, the politics, religion and every day life of the people - than any single document until modern times. And this information is not just extensive, it is also quite accurate. For the most part, despite all his sectarian biases, Hiuen Tsiang simply recorded what he was told and what he himself saw. This of course is well-known and few are books on ancient India that do not have at least one or two quotes from Hiuen Tsiang. It is less well-known that the books contain a great deal of information about Sri Lanka as well. As a source of facts about ancient Sri Lanka Hiuen Tsiang’s travelogue and biography have probably been neglected because he did not actually visit the island. But making up for this, the Chinese pilgrim spoke to people who had been there and met many Sri Lankan monks staying in India.

Even while still in north India Huien Tsiang heard a lot about Sri Lanka. When he was in Bodh Gaya he saw the famous Mahabodhi Vihara which had been built by King Megavana. His impressions of the Sri Lankan monks at Bodh Gaya was thus. "The monks of this monastery number more than a thousand...They carefully observe the Dhamma Vinaya and their conduct is pure and correct". The details he gives about the founding of this monastery are too well known to be repeated here. However, another Buddhist establishment that he visited and which had also been built by a Sri Lankan king is less well known. Concerning this place he wrote, "To the south (of the Kapotika Vihara near Rajagaha, i.e. modern Rajgir) is a solitary hill which is of great height and which is covered with forest and jungle. Beautiful flowers and springs of pure water cover its sides and flow through its hollows. On the hill are many viharas and shrines, sculptured with the highest art. In the exact middle of the main vihara is a statue of the Bodhisattva Avalokitesvara. Although it is of small size yet its spiritual appearance is of an affecting character. In its hand it holds a lotus flower and on its head is a figure is of the Buddha. There is always a number of persons here who abstain from food desiring to obtain a vision of the Bodhisattva. For seven days or fourteen days or even for a whole month they fast. Those who are properly affected see the Bodhisattva with its beautiful marks and adorned in majesty and glory."

This is the story Huien Tsiang heard about this temple’s founding. "In olden days the king of the Simhala country, early in the morning, while looking in the mirror, saw not his own face but the image of a mountain in Jambudipa in the middle of a Tala wood and on its top a figure of Avalokitesvara. Deeply affected by the benevolent appearance of the figure he decided to search for it. Having come to this mountain and finding the figure he had seen in the mirror he built the vihara and endowed it with religious gifts. Then he built the other vihara and shrines also". While parts of this story are obviously legendary it seems likely that the building of this temple would not have been attributed to a foreign monarch had it not been so. Several other sources mention Sri Lankan kings constructing buildings in India (e.g. Nissankamalla) and we know that the Mahayana Bodhisattva Avalokitesvara was widely worshipped in the island at one time. Huien Tisang’s travelogue gives further confirmation to both these facts.

He got some more information, not about Sri Lanka, but about the famous Sri Lankan - Aryadeva. After Nagarjuna himself, his disciple Aryadeva, was one of the greatest thinkers of the Madhyamika and perhaps one of the most brilliant and subtle thinkers ever. As with other personalities from ancient India, almost nothing is known about Aryadeva. For example, there is a wide variety of opinions between both ancient and modern scholars about where he was born. Some sources say he was of the royal house of Sri Lanka while others contradict this. But Huien Tsiang very clearly says he was a Sri Lankan. "At a certain time there was a bodhisattva from the island of Simhala called Deva (i.e., Aryadeva) who profoundly understood the relationship of truth and the nature of all composite things. Moved by compassion at the ignorance of men he came to this country to guide and direct the people in the right way." As this was the story circulating in the 7th century, only 500 years after Aryadeva’s death, it is most likely to be true. And if it is, it shows that while Indians like Mahinda, Buddhaghosa, Dhammapala and Ramachandra Bharati, were able to have a profound influence on Sri Lankan Buddhism, Sri Lankans were able to have equally profound effects on Indian Buddhism.

After a long stay at Nalanda, Huien Tsiang continued his journey east and then south with the intention of going to Sri Lanka. He had decided on the usual route from north India, to embark on a ship at Tamrilipti and sail down the east coast, a trip of about 14 days. However, a south India monk he met and who was presumably acquainted with the way, advised him otherwise. "Those who go to the Simhala country ought not go by sea route, during which they will have to encounter the danger of bad weather, yakkhas and huge rolling waves. You ought rather go from the south-east point of South India from which it is a three day voyage. For though going by foot you may have to scale mountains and pass through valleys yet you will be safe. Moreover, you will thus be able to visit Orissa and other countries on the way." From this we learn that while the sea route from northern India to Sri Lanka might have been quicker, some thought it so dangerous that they preferred to go overland. Certainly Hiuen Tsiang was convinced of this because he decided to take the monks advice. On his way south he passed through the coastal city of Charitra in Orissa, which he described as "a rendezvous of merchants." Apparently these merchants brought back with them tales and stories about Simhala, the legendary and wondrous island to the south and other exotic places. The red lights that could be seen in the evening sky of the coast of Charitra were explained in this way. "Every night when the sky is clear and without clouds can be seen at a great distance the glittering rays of the precious gem placed on the top of the Temple of the Tooth in Simhala. Its appearance is like that of a shining star in the midst of space." Obviously, the fame of the Temple of the Tooth and its fabulous gem had spread far and wide.

When Hiuen Tsiang got to Kanchipuram (south west of Madras) a party of 300 monks from Sri Lanka had just arrived in the city. He seems to have had plenty of time to get to know them because he had a long philosophical discussion with some and later traveled through the Tamil country with 70 others. Most of what Huien Tsiang recorded about Sri Lanka he would have learned from these monks, and while some of it must be factual some must likewise reflect the biases and preoccupations of his informants. The names of one of the leaders of these monks, Abhayadanshtra, suggest that he and his fellows were from the Abhayagiri. If they were, Hiuen Tsiang would have been able to speak to them without need of an interpreter because he was proficient in Sanskrit and this language a was also widely used in the Abhayagiri. The monks told Hiuen Tsiang that they had decided to come to India on pilgrimage at that particular time because of trouble at home following the death of the king. He was told that "...the present king, a Chola, is strongly attached to the religion of the heretics and does not honor the teachings of the Buddha; he is cruel and tyrannical and opposes all that is good." A little later he recorded, "During the last ten years or so the country has been in confusion and there has been no established ruler…" It was this information that made Hiuen Tsiang give up his idea of going to Sri Lanka. Although this trouble must have been happening between about 600 - 642 AD, the Mahavamsa and other Sri Lankan chronicles make no mention of a Chola king around this time, or even of a period of social or political turmoil. This suggests that for some periods, the Mahavamsa records only the barest details and neglects to mention others completely.

* * *

Hiuen Tsiang learned that Sri Lanka was known by several different names - Ratnadipa "because of the precious gems found there," Silangiri and the Sorrowless Kingdom, which may be related to Ravana’s Asoka Garden as mentioned in the Ramayana. Another name, Simhala, was derived from the name of the legendary founder and first king of the island. Hiuen Tsiang was told two stories about the origins of the Sinhalese, each different from the other and both differing from the legend in the Mahavamsa. The stories are too long to relate here but they suggest that the Mahavamsa story was only one of several legends circulating in the 7th century. Hiuen Tsiang described the Sinhalese and their island home thus; "The soil is rich and fertile, the climate is hot, the ground regularly cultivated and flowers and fruit are produced in abundance. The population is numerous, their families possessions are rich in revenue. The statue of the men is small, they have dark complexions and they are fierce by nature. They love learning and esteem virtue. They greatly honor religious excellence and labor in the acquisition of religious merit." He adds further; "...they have square chins and high foreheads, they are naturally fierce and impetuous and cruelly savage without hesitation." This unpleasant side of their natures was, he was told, due to being the descendants of the offspring of a woman and a lion. But this had a positive side as well, for it also made them brave and courageous at the same time.

The Sri Lankan monks Huien Tsiang met in Kanchipuram were probably from Anuradhapura which would explain why they were able to give him such a detailed and vivid description of the temples in the capital, especially those in the royal compound. The most celebrated of these was of course the Temple of the Tooth. "By the side of the kings palace is the temple of the Buddha’s tooth which is decorated with every kind of gem and splendor of which dazzles the sight like the sun. For successive generations worship has been respectfully offered to this relic..." The temple was "... several hundreds of feet high, brilliant with jewels and ornamented with rare gems. Above the temple is placed an upright pole on which is fixed a great ruby. This gem constantly sheds a brilliant light which is constantly visible night and day and afar off appears like a bright star. Three times a day the king washes the Buddha’s tooth with perfumed water or sometimes with powered perfume." It is interesting to note that a few decades after Hiuen Tsiang returned to his homeland another Chinese pilgrim in India, I Tsiang, heard a most strange story about one of his fellow countrymen staying in Sri Lanka. It seems the Chinese monk was in Anuradhapura and had been invited to attend the washing ceremony at the Temple of the Tooth. So enthralled was he by the Tooth that he decided to steal it. Unbeknown to him though, the relic casket was attached to some kind of mechanical device so that when it was moved it set off an alarm and automatically sealed all the doors. The Chinese monk was caught and escaped punishment only because of his yellow robe. Next to the Temple of the Tooth was "a small temple which is also ornamented with every kind of precious stone. In it is a life-sized golden statue of the Buddha cast by a former king of the country. He afterwards ornamented the statues head dress with a precious gem." Apparently the statue had a slightly bent head and a delightful legend was told to explain this. Once a robber decided to steal the gem in the head dress of the Buddha in the temple which he entered by digging a tunnel. Seeing the huge gem he reached up to take it but the statue miraculously increased in height so that he could not reach it. The robber said to himself; "Formerly when the Tathagata was a bodhisattva so great was his compassion that he vowed to give up everything, even his own life, for the sake of others. But now the statue which stands in his place begrudges to give up even one little gem. What was said of old about the Buddha seems to differ from what his statue now dose". Suddenly the statue bent over and the robber could reach the gem. He ran from the temple and took the gem to a merchant to sell but the merchant recognized the gem, informed the king and the robber was arrested. When asked by the king where he got the gem from the robber said that the Buddha had given it to him and he related what had happened. The skeptical king sent someone to the temple and sure enough the golden statue’s head was still bent over. Convinced that a miracle had occurred, the king brought the gem from the robber, who escaped punishment, and it was placed once again the statue’s headdress. Neither this temple or the delightful legend told about its golden statue survive in any Sri Lankan sources. Another building in the royal compound that Hiuen Tsiang was told about was the Mahapali Hall. "By the side of the kings palace there is built a large kitchen in which is daily measured out food for eight thousand monks. The meal time having come the monks arrive with their bowels to receive their allowance. Having eaten it they return, all of them to their monasteries. Ever since the Buddha’s teaching has reached this country the king had established this charity and his successors have continued it down to our times". When Fa Hien was in Anuradhapura in 412 AD he received alms in this very kitchen and left a description of it. The great stone trough of the Mahasali from which the rice was served can still be seen in the citadel at Anuradhapura.

The rest of the information that Huien Tsiang gives about Sri Lanka consists of brief and fragmentary facts and impressions. For example he mentions that there were 100 monasteries in the island and about 10,000 monks. About the pearl industry he wrote, " A bay on the coast of the country is rich in gems and precious stones. The king himself goes there to perform religious services in which the spirits present him with rare and valuable objects. The inhabitants of the capital seek to share in the gain and also invoke the spirits for that purpose. They pay tax on the pearls they find according to their quality." This may be a reference to the religious ceremonies used to keep sharks away from pearl divers that Marco Polo noted. He also makes a brief reference to Sri Pada. "In the south-east corner of the country is Mount Lanka. Its high crags and valleys are occupied by spirits that come and go. It was here that the Tathagata formerly delivered the Lankavatara Sutra." Sri Pada is of course in the south-west not the south-east of the island, so either Hiuen Tsiang misheard his informants or lost his notes and later when writing his travelogue had to rely on his (in this case faulty) memory. The Lankavatara Sutra he refers to is the great Mahayana scripture now used and revered in the Zen school of Buddhism of Japan and was supposedly taught by the Buddha during one of his visits to Sri Lanka. Hiuen Tsiang knew that Mahinda had introduced Buddhism into Sri Lanka although, in accordance with Mahayana tradition, he called him the brother, not the son, of King Asoka. He made an extremely interesting comment about a monastery that he noticed a few miles from the capital of Malakuta in south India. "Not far from the east of the city is an old monastery of which the vestibule and court are covered with wild shrubs; the foundation wa11s only survive. This was built by Mahinda, the younger brother of King Asoka." So it seems that the Buddhists of south India had there own traditions and legends about Mahinda and even monuments attributed to him. Sri Lankan legend has Mahinda flying from north India to Sri Lanka but obviously he must have come overland. In which case it is only logical to assume that he had done missionary work in south India before coming to Sri Lanka and Hiuen Tsiang’s travelogue seems to strengthen this conjecture.

lt is a great pity that political trouble prevented the most observant and articulate of the great Chinese pilgrims from visiting Sri Lanka. What other fascinating and detailed information about our past would we have if he had he do been able to?

Ven Dhammika
Singapore, March 21, 2009
http://www.sdhammika.blogspot.com/
*

Wednesday, 18 March 2009

Người mù sờ voi

Tittha Sutta, Udana 6.4

(Dựa theo bản dịch của HT Thích Minh Châu)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ một số đông các ngoại đạo sai khác. Các Sa-môn, Bà-la-môn, các du sĩ ngoại đạo đều vào Sàvatthi để khất thực. Họ có quan điểm khác nhau, có kham nhẫn khác nhau, có sở thích khác nhau, y cứ nương tựa vào quan điểm khác nhau. Một số Sa-môn, Bà-la-môn, luận thuyết như sau: "Thế giới là thường còn, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng". Một số Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, quan điểm như sau: "Thế giới là vô thường, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng". Một số Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, quan điểm như sau: "Thế giới là có biên tế, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng". Một số Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Thế giới là vô biên, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng". Một số Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, quan điểm như sau: "Sanh mạng và thân thể là một, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng". Một số Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, quan điểm như sau: "Sanh mạng và thân thể là khác, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng". Một số Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, quan điểm như sau: "Như Lai có tồn tại sau khi chết, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng". Một số Bà-la-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, quan điểm như sau: "Như Lai không có tồn tại sau khi chết, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng". Một số Bà-la-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, quan điểm như sau: "Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng". Một số Bà-la-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, quan điểm như sau: "Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng". Họ sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi: "Như thế này là pháp. Như thế này là pháp. Như thế này không phải pháp. Như thế này không phải pháp".

Rồi nhiều Tỷ-kheo vào buổi sáng đắp y, cầm bát đi vào Sàvatthi, để khất thực, Khất thực ở Sàvatthi xong sau buổi ăn, khi đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

- Ở đây, bạch Thế Tôn, một số đông ngoại đạo sai khác, các Sa-môn, Bà-la-môn, các du sĩ ngoại đạo đều vào Sàvatthi để khất thực... Họ sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi: "Như thế này là pháp. Như thế này là pháp. Như thế này không phải pháp. Như thế này không phải pháp".

- Này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo là những người mù, không có mắt, không biết mục đích, không biết không phải mục đích, không biết pháp, không biết phi pháp. Do họ không biết mục đích, do họ không biết không phải mục đích, do không biết pháp, do không biết phi pháp, họ sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi: "Như thế này là pháp. Như thế này là pháp. Như thế này không phải pháp. Như thế này không phải pháp".

Này các Tỷ-kheo, thưở xưa tại thành Sàvatthi này, có một ông vua. Này các Tỷ-kheo, ông vua ấy bảo một người: "Này người kia, phàm có bao nhiêu những người sanh ra đã mù ở Sàvatthi hãy nhóm lại một chỗ tất cả " - "Thưa vâng, Ðại vương". Này các Tỷ-kheo, người ấy vâng đáp ông vua ấy, phàm có bao nhiêu những người sanh ra đã mù ở Sàvatthi, người ấy giữ lại tất cả, rồi đi đến ông vua ấy, sau khi đến thưa với vị vua: "Thưa Ðại vương, phàm có bao nhiêu những người sanh ra đã mù ở Sàvatthi đã được tụ tập lại".

- Này khanh, hãy đưa ra một con voi cho những người mù.

Thưa vâng, Ðại vương. Này các Tỷ-kheo, người ấy vâng đáp ông vua ấy, đưa ra một con voi cho những người mù: "Này các người mù, đây là con voi". Với một số người mù, ông ta đưa cái đầu và nói: "Này các người mù, đây là con voi". Ðối với một số người mù, ông ta đưa cái lỗ tai con voi và nói: "Này các người mù, đây là con voi". Ðối với một số người mù, ông ta đưa các ngà con voi và nói: "Này các người mù, đây là con voi". Ðối với một số người mù, ông ta đưa cái vòi con voi và nói: "Này các người mù, đây là con voi". Ðối với một số người mù, ông ta đưa cái thân con voi và nói: "Này các người mù, đây là con voi". Ðối với một số người mù, ông ta đưa cái chân... Ðối với một số người mù, ông ta đưa cái lưng... Ðối với một số người mù, ông ta đưa cái đuôi... Ðối với một số người mù, ông ta đưa cái lông đuôi và nói: "Này các người mù, đây là con voi".

Này các Tỷ-kheo, rồi người ấy sau khi đưa con voi cho các người mù, đi đến ông vua ấy, sau khi đến tâu với vua: "Thưa Ðại vương, con voi đã được các người mù sờ thấy, nay Ðại vương hãy làm những gì Ðại vương nghĩ là hợp thời! " Rồi này các Tỷ-kheo, ông vua đi đến các người mù ấy, sau khi đến nói với họ: "Này các người mù, các ông đã thấy con voi chưa? " - "Thưa Ðại vương, chúng tôi đã thấy con voi". - Này các người mù, hãy nói con voi là như thế nào? " Này các Tỷ-kheo, những ai sờ đầu con voi, họ nói như sau: "Thưa Ðại vương, con voi là như thế này, như cái ghè! " Này các Tỷ-kheo, những ai được sờ cái tai con voi, họ nói như sau: "Thưa Ðại vương, con voi là như thế này, như cái rổ sàng gạo. " Này các Tỷ-kheo, những ai được sờ cái ngà con voi, họ nói như sau: "Thưa Ðại vương, con voi là như thế này, như cái lưỡi cày. " Những ai được sờ cái vòi... con voi là ... như cái cày". Những ai được sờ cái thân... con voi là ... như cái kho chứa." Những ai được sờ cái chân... con voi là ... như cái cột." Những ai được sờ cái lưng... con voi là ... như cái cối." Những ai được sờ cái đuôi... con voi là ...như cái chày". Những ai được sờ cái nhóm lông đuôi, chúng nói như sau: "Thưa Ðại vương, con voi là như thế này, như cái chổi." - "Con voi các ông nói như vậy không phải là con voi. Con voi không phải như vậy. Con voi không phải vậy. Như thế này là con voi". Cho đến khi họ đánh lộn nhau bằng tay. Rồi này các Tỷ-kheo, ông vua ấy vui thích (khi thấy cảnh tượng ấy).

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo là những người mù, không có mắt, không biết mục đích, không biết không phải mục đích, không biết pháp, không biết phi pháp. Do họ không biết mục đích, do họ không biết không phải mục đích, do không biết pháp, do không biết phi pháp, họ sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi: "Như thế này là pháp. Như thế này là pháp. Như thế này không phải pháp. Như thế này không phải pháp".

*

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:

Có một số Sa-môn,
Cùng với Bà-la-môn,
Họ chấp trước, giành giật,
Trong các luận thuyết này,
Họ tranh luận tranh chấp,
Họ nhìn chỉ một phía.


-ooOoo-

(English translation by John D. Ireland,
http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/kn/ud/ud.6.04.irel.html )


Thus have I heard.
At one time the Lord was staying near Savatthi in the Jeta Wood at Anathapindika's monastery. At that time there were a number of recluses and brahmans, wanderers of various sects, living around Savatthi. And they were of various views, of various beliefs, of various opinions, and they relied for their support on their various views. There were some recluses and brahmans who asserted and held this view: "The world is eternal; only this is true, any other (view) is false." There were some recluses and brahmans who asserted: "The world is not eternal; only this is true, any other (view) is false." There were some who asserted: "The world is finite... The world is infinite... The life-principle and the body are the same... The life-principle and the body are different... The Tathagata exists beyond death... The Tathagata does not exist beyond death... The Tathagata both exists and does not exist beyond death; The Tathagata neither exists nor does not exist beyond death; only this is true, any other (view) is false." And they lived quarrelsome, disputatious, and wrangling, wounding each other with verbal darts, saying: "Dhamma is like this, Dhamma is not like that! Dhamma is not like this, Dhamma is like that!"

Then a number of bhikkhus, having put on their robes in the forenoon and taken their bowls and outer cloaks, entered Savatthi for almsfood. Having walked in Savatthi for almsfood and returned after the meal, they approached the Lord, prostrated themselves, sat down to one side, and said to the Lord: "At present, revered sir, there are a number of recluses and brahmans, wanderers of various sects, living around Savatthi. And they are of various views... saying: 'Dhamma is like this!... Dhamma is like that!'"

"The wanderers of other sects, bhikkhus, are blind, unseeing. They do not know what is beneficial, they do not know what is harmful. They do not know what is Dhamma, they do not know what is not Dhamma. Not knowing what is beneficial and what is harmful, not knowing what is Dhamma and what is not Dhamma, they are quarrelsome... saying: 'Dhamma is like this!... Dhamma is like that!'

"Formerly, bhikkhus, there was a certain king in this very Savatthi. And that king addressed a man: 'Come now, my good man, bring together all those persons in Savatthi who have been blind from birth.'

"'Yes, your majesty,' that man replied, and after detaining all the blind people in Savatthi, he approached the king and said, 'All the blind people in Savatthi have been brought together, your majesty.'

"'Now, my man, show the blind people an elephant.'

"'Very well, your majesty,' the man replied to the king, and he presented an elephant to the blind people, saying, 'This, blind people, is an elephant.'

"To some of the blind people he presented the head of the elephant, saying, 'This is an elephant.' To some he presented an ear of the elephant, saying, 'This is an elephant.' To some he presented a tusk... the trunk... the body... the foot... the hindquarters... the tail... the tuft at the end of the tail, saying, 'This is an elephant.'

"Then, bhikkhus, the man, having shown the elephant to the blind people, went to the king and said, 'The blind people have been shown the elephant, your majesty. Do now what you think is suitable.' Then the king approached those blind people and said, 'Have you been shown the elephant?'

"'Yes, your majesty, we have been shown the elephant.'

"'Tell me, blind people, what is an elephant like?'

"Those blind people who had been shown the head of the elephant replied, 'An elephant, your majesty, is just like a water jar.' Those blind people who had been shown the ear of the elephant replied. "An elephant, your majesty, is just like a winnowing basket.' Those blind people who had been shown the tusk of the elephant replied, 'An elephant, your majesty, is just like a plowshare.' Those blind people who had been shown the trunk replied, 'An elephant, your majesty, is just like a plow pole.' Those blind people who had been shown the body replied, 'An elephant, your majesty, is just like a storeroom.' Those blind people who had been shown the foot replied, 'An elephant, your majesty, is just like a post.' Those blind people who had been shown the hindquarters replied, 'An elephant, your majesty, is just like a mortar.' Those blind people who had been shown the tail replied, 'An elephant, your majesty, is just like a pestle.' Those blind people who had been shown the tuft at the end of the tail replied, 'An elephant, your majesty, is just like a broom.'

"Saying 'An elephant is like this, an elephant is not like that! An elephant is not like this, an elephant is like that!' they fought each other with their fists. And the king was delighted (with the spectacle).

"Even so, bhikkhus, are those wanderers of various sects blind, unseeing... saying, "Dhamma is like this!... Dhamma is like that!'"

Then, on realizing its significance, the Lord uttered on that occasion this inspired utterance:

Some recluses and brahmans, so called,
Are deeply attached to their own views;
People who only see one side of things
Engage in quarrels and disputes.


* * *