Wednesday, 8 June 2011

A-tỳ-đàm (Abhidhamma, Abhidharma, Vi diệu pháp, Thắng pháp, Vô tỷ pháp, ...)

Nguyên tác: Abhidharma: An overview, Collett Cox.
Encyclopedia of Buddhism, edited by Robert E. Buswell, Jr., 2004
Dịch Việt:   Pháp Hiền cư sĩ 

*

Bà Collett Cox là Giáo sư khoa Phật học và Văn học Sanskrit, Đại học Washington (Washington University), Hoa Kỳ.

*
Trong những thế kỷ sau Phật diệt độ, với sự hiện diện của những cộng đồng tu sỹ [tăng đoàn] đã ổn định này, từ nơi đây, các hành nghi mới về tu tập [praxis] tôn giáo, những phương pháp về sự truyền đạt và chú giải giáo lý được khởi sinh. Trong bối cảnh có tổ chức nhiều ấy, những vị đệ tử Phật bắt đầu kiểm tra trở lại các truyền thống được truyền thừa và phát triển những phương thức tổ chức mới, mà nó hẳn đã làm hiển ngôn ý nghĩa nền tảng của mình và tạo thuận duyên cho sự truyền đạt trung thực của mình nữa. Tuy bắt đầu bằng một phương thức soạn thảo dựa vào sự thật những giáo thuyết được thừa nhận rộng rãi, thế nhưng sự nghiệp học thuật này ngay sau đó đã dẫn đến các phát triển giáo nghĩa theo phương hướng mới và các phát triển theo chính văn, với lại sự nghiệp này đã trở thành trung tâm điểm cho một hành nghi mới của đời sống tu viện học thuật.

Những thành quả học thuật này, đã thành là truyền thống đáng trân trọng bằng thẩm quyền của chính họ, rốt lại, Abhidharma, có thể làm mờ đi những pháp thoại của Phật-đà, của chư đệ tử Ngài, như là vị trọng tài [vô tư] của thánh giáo và minh định cả phương pháp chú giải lẫn các thể tài quan yếu, sở y cho những nghiên cứu Phật giáo Ấn-độ hậu kỳ.

A-tỳ-đàm, ý nghĩa và nguồn gốc.

Sự nghiệp học thuật này được gọi là A-TỲ-ĐÀM, (Pāli: Abhidhamma), đây là một thuật ngữ đa nghĩa quen dùng để chỉ cho những kỹ thuật mới về chú giải giáo lý, chỉ cho bộ phận hay thân của các bản văn mà sự chú giải này đã sinh trưởng, sau rốt là chỉ cho [trạng thái] khảo sát lấy phân tích làm trọng tâm [the crucial discriminating insight, tuệ minh sát / tuệ quyết trạch] đã được tinh luyện qua sự chú giải giáo lý và đem ra ứng dụng trong các thực hành tôn giáo của mình.

Theo các nguồn truyền thống, thuật ngữ Abhidharma có hai cách hiểu: “Tương ưng với (abi) Pháp (dharma) hoặc là tột bậc [vi diệu], hay vượt trội (abhi) Pháp (dharma) - Pháp siêu việt". Đương nhiên, đối tượng phân tích Abhidharma là Pháp (dharma) như đã hiện thân trong những pháp thoại của Phật đà và chư đệ tử của Ngài. Tuy nhiên, Abhidharma không chỉ quy kết hay tóm tắt giáo pháp của các kinh (sūtra), mà hơn thế, nó còn cải tổ nội dung và hiển đạt hàm ngôn của Kinh bằng luận giải nữa. Trong Abhidharma, nội dung đặc trưng của những bản kinh riêng lẻ khác nhau đã được tách ra và tái tổ chức cho phù hợp với tiêu chuẩn phân tích mới, nhờ vậy mà nó có thể cho phép ta nhận thức được thông điệp chân thật của các Kinh điển cá biệt ấy. Thông điệp chân thật như vậy, như ta thấy ghi lại trong Tạng luận này, bao hàm những dữ kiện và các bộ phận cấu thành nối kết lại để thiết lập tất cả thẩm nghiệm. Sự phân tích này, lần lượt giúp ta nhận ra được giữa các tâm tố nhiễm ô [phiền não - vô minh] là cạm bẩy gài ta vào tiến trình tái sinh [luân hồi] và các tâm tố giải thoát [pháp vô lậu] dẫn ta vào Phật tuệ. Cuối cùng, những tâm tố nhiễm ô và giải thoát đã được nhận thức rõ ràng rồi, thì lộ trình tu hành chính xác hẳn sẽ hiển lộ. Do vậy, Abhidharma không chỉ là sự chú giải mang tính học thuật đơn thuần mà nó còn là tạng luận chứa đựng huyền nghĩa cứu độ chúng sinh [những chú giải thuộc về thần học cứu rổi thế gian, soteriological exegesis], rất cần cho lộ trình tu tập đem lại tính hiệu quả rõ ràng.

Các nguồn truyền thống không nêu ra cho ta biết những mô tả nhất quán nào về lai lịch của phương pháp Abhidharma hoặc sự tập thành của những bản văn thuộc về nó cả. Một vài mô tả thuộc về truyền thống cho rằng sự tạo thành của các văn bản Abhidharma có thể vào thời điểm của cuộc kết tập [hội đồng trưởng lão] lần thứ nhất ngay sau khi đức Phật diệt độ, lúc bấy giờ, giáo thuyết của Ngài được trùng tuyên và ghi lại thành Tam tạng thánh điển: Kinh (sūtra), Luật (vinaya), Luận (mātṛkā hay abhidharma). Bởi vậy, các nguồn truyền thống dứt khoát cho rằng, Abhidharma là của chính Phật. Qua những luận tạng Abhidharma độc lập này, câu hỏi về tác giả và tác quyền là ai, vẫn luôn là một thể tài đáng tranh luận trong thời gian tới, bằng tính chính xác nhất.

Mặc dù, nhiều trường phái Phật giáo chánh thông (mainstream Buddhist schools) đã thừa nhận thẩm quyền của những bản văn Abhidharma này và đưa chúng vào trong các tạng Kinh của mình như là lời Phật. Thế nhưng vài trường phái không chấp nhận thẩm quyền của luận thư này, họ tuyên bố là, những tạng thư Abhidharma, do các thế gian sư [human teachers] phạm sai lầm soạn ra. Các luận thư Abhidharma độc lập đã được biên soạn ở một thời kỳ tối thiểu là khoảng bảy trăm năm (khoảng thế kỷ thứ hai hoặc thứ ba trước công nguyên, đến thế kỷ thứ năm sau công nguyên). Việc xuất hiện và sau cùng là sự phát triển của chúng xảy ra đồng thời với hiện tượng phân phái phát sinh trong cộng đồng Phật giáo sơ kỳ. Những dị biệt giáo nghĩa giữa những bộ phái khác nhau, mà một đôi phần, đã là kết quả tự nhiên của những trực hệ đặc thù thuộc về việc truyền thừa nguyên văn, mà chúng đã được gạn lọc qua các cuộc tranh luận học thuật và đã được thuyết minh tường tận bằng công trình biên soạn các tác phẩm lý giải Abhidharma độc lập.

Theo quan điểm học thuật dựa trên các nguồn dành cho thể loại luận thư Abhidharma độc lập này, người ta đã chia phần ra cho hai giả thuyết, nghĩa là, một trong hai giả thuyết ấy đã tìm ra được nền tảng sở y qua đặc tính cấu trúc [structural characteritic] của các bản văn Abhidharma. Giả thuyết thứ nhất đặt trọng tâm vào việc thực hiện những khuôn mẫu có hệ thống tham chiếu chính xác hoặc những biểu đồ phân loại (mātṛkā) về mọi thể tài đã thiết lập trong giáo lý truyền thống, mà sau đó, chúng được phối trí có trật tự theo cả hai tiêu chuẩn: Pháp số (numeric, thuộc về pháp số) và tánh (qualitative, phẩm loại). Giả thuyết thứ hai nhấn mạnh đến những giảng luận (dharmakathā, pháp luận) qua hình thái vấn đáp để nỗ lực thấu triệt tính phức tạp hay những điểm còn ẩn ngôn trong Kinh. Cả hai đặc tính cấu trúc này gợi lên một tiến trình tiêu biểu nhờ vào những gì mà các luận thư Abhidharma độc lập tạo nên: Một phát thảo khuôn mẫu dùng làm ký lục [record] hoặc có thể là những trưc giảng mà trong đó các yếu điểm của chư Kinh sau đó đã được thuyết thành chi tiết qua kỷ thuật hỏi và đáp liên quan đến giáo pháp.

Bất chấp giả thuyết nào trình bày xác đáng hơn về nguồn gốc những luận thư Abhidharma độc lập, [bởi vì] phương thức chú giải kép này đã phản ảnh một xu thế bền vững trong truyền thống Phật giáo, từ sơ kỳ trở đi, hướng đến cách trình bày bằng phân tích qua những phạm trù phân loại và hướng đến việc bổ xung chi tiết bằng diễn đạt phân tiết mạch lạc qua kỷ thuật vấn đáp. Cái cần thiết là quán niệm Pháp hay ghi nhớ giáo thuyết một cách rõ ràng, thúc đẩy công dụng các bảng danh mục phân loại như là một cẩm nang khéo giúp trí nhớ, và vài bản kinh đã miêu tả phương pháp phân loại này như là một cách tóm tắt những tinh hoa giáo pháp và ngăn ngừa được sự bất đồng quan điểm [averting dissention]. Các bản Kinh khác đã diễn tiến hầu như toàn là những chú giải bằng lời, ở đây, pháp ngữ cô đọng của Phật đã được phân tích toàn diện qua tiến trình của luận sự hay chất ngữ [hỏi, interogation] và Pháp tụ [exposition, lý chứng].

Cả hai phương pháp này đã chứng thực đầy đủ trong tạng Kinh, đã được khai triển thành công trong những tạng luận học thuật độc lập tiếp theo sau đó, tuy nhiên, một ít luận bản trong số này không thể liệt vào tạng Abhidharma có tính pháp loại, giáo quy, và cũng không thể liệt vào những luận tạng có tính chất Abhidharma được. Chẳng hạn, sự tập thành những văn bản (khuddakaṭipiṭaka—Tiểu bộ kinh) tổng hợp về giáo quy của Trưởng lão bộ (Theravāda, Nguyên thủy bộ phái), trong đó có đến hai văn bản sử dụng các phương pháp như vậy mà chúng vẫn không được công nhận là các bản văn “Abhidharma” hợp tiêu chuẩn. Một trong Tiểu bộ kinh là bản Paṭisambhidāmagga (Path of Discrimination, Vô ngại giải thoát đạo kinh) chứa đựng những giảng giải cô đọng về các điểm giáo pháp có cấu trúc phù hợp với bảng liệt kê danh sách đề mục, (Skt: Mātṛkā. Pāli: Mātikā. H: Luận mẫu 論母) còn bản kinh Phân biệt diễn thuyết (Nirdeśa. Pāli: Niddesa. H: 分別演說) thì bao hàm sự chú giải bằng việc tập thành thi kệ sơ kỳ, ngay cả thánh điển Kinh tập cũng vậy (Pāli: Suttanipāta. H: 經集, chính là quyển kinh thứ 24 trong Nam Truyền Đại Tạng). Thật thế, điểm dứt khoát minh định về nguồn gốc dành cho Abhidharma với tư cách là một luận tạng độc lập thuộc về Kinh điển chánh văn, phản ảnh duy nhất bối cảnh truyền thống hậu kỳ mà chính truyền thống này đã phong danh hiệu cho vài bản văn với tên gọi là Abhidharma, ngược lại với [hồng danh] các Kinh, hoặc có thể có những tác phẩm chú giải [tạng Pháp tụ] sớm hơn nữa đã chia phần cùng các đặc tính tương tợ như vậy, sau một biến trình lãng quên dài hạn.

Những bản văn A-tỳ-đàm

Những mô tả thuộc về truyền thống của các bộ phái Phật giáo sơ kỳ Ấn độ gợi cho biết rằng, ít ra một vài bộ phái đã chia phần rồi với các tuyển tập theo chánh văn, và nhiều các bộ phái đã truyền lưu những tạng luận Abhidharma độc lập của riêng mình nữa. Đường Huyền Trang, nhà Phật giáo Trung hoa, đã hành hương đến Ấn độ vào thế kỷ thứ bảy sau công nguyên (khoảng năm 600-664 sau công nguyên), vị ấy được báo cho biết để sưu tập một khối lượng văn bản đáng kể cũng nhiều như bảy bộ phái Phật giáo chánh thống. Hầu như sự kiện này chắc chắn bao gồm luôn cả những bản văn thuộc về Abhidharma giáo quy [kinh tạng] đại diện cho những bộ phái khác nhau cũng nên. Tuy nhiên, chỉ có hai tạng giáo quy, là được toàn vẹn, đại diện cho Phật giáo Nguyên thủy và Đại chúng bộ mà thôi, còn vài ba bản nữa, nói lên sự gia nhập có quan hệ giáo phái chưa xác định [undetermined sectarian affiliation], tất cả đều được bảo lưu. Cho dù các tạng Abhidharma của một trong hai bộ phái ấy chứa đựng đến bảy bản văn đi nữa, thì các tạng giáo quy riêng lẻ này chắc không thể nào được đồng nhất với tạng giáo quy khác.

Tuy nhiên, công cuộc tra cứu kỹ lưỡng về vài bản văn từ mỗi một tạng và từ sự so sánh với những tư liệu Abhidharma khác hiện còn, chúng đã hiển lộ những điểm tương đồng trong các bảng danh mục phân loại cơ bản, trong cấu trúc chú giải và trong những thể tài đã được diễn giãng. Những tương đồng này, hoặc là gợi lên điểm tiếp xúc giữa các nhóm tác tạo và truyền lưu các bản văn ấy, hoặc là gợi lên nền tảng chung của các chú giải giáo thuyết và thậm chí tư liệu chính văn đã có thể xãy ra trước cả sự phát sinh của các bộ phái phân kỳ.

Tạng Abhidharma giáo quy của bộ phái Nguyên thủy này, chỉ còn duy nhất một tạng viết bằng tiếng Pāli, gồm có bảy văn bản như sau:

   1. Vibhaṅga [Phân biệt]
   2. Puggalapañnati [Nhân thi thuyết luận]
   3. Dhātukathā [Chất ngữ]
   4. Dhammasaṅgani [Pháp tụ]
   5. Yamaka [Song đối]
   6. Paṭṭhāna [Vị trí]
   7. Kathāvatthu [Luận sự]

Tạng giáo quy Abhidharma của Nhất thiết hữu bộ, cũng có bảy bản văn hiện chỉ tồn tại trong Hoa dịch:

   1. Saṅgītiparyāya [Tập dị môn túc luận, T-1536]
   2. Dharmaskandha [Pháp uẩn túc luận, T-1537]
   3. Prajñāptiśāstra [Thi thiết túc luận, T-1538]
   4. Dhātukāya [Giới thân túc luận, T-1540]
   5. Vjñākāya [Thức thân túc luận, T-1539]
   6. Prakaraṇapāda [Phẩm loại túc luận, T-1541, 1542]
   7. Jñāprasthāna [Phát trí luận, , T-1544, 1543] [1]

Nhiều bản văn Abhidharma sơ kỳ hiện còn trong dịch phẩm tiếng Hoa, chúng hầu như đại diện cho những văn bản giáo quy Abhidharma của các bộ phái khác còn đến giờ: Chẳng hạn, Śariputrābhidharmaśāstra (Xá- lợi-phất A-tỳ-đàm tâm luận - Đại chánh tạng, 1548) có thể đã có liên hệ rồi đến bộ phái Vibhajyavāda, [phân biệt luận] hay là Saṃmatīyaśāstra (Đại chánh tạng, 1649), đã được liên kết với bộ phái Saṃmatīya nhờ tên kinh của nó, và cũng vậy mà nó đã phối hợp cùng bộ phái Vātsīputrīya [Độc tử bộ] cũng nên.

Vì việc thiếu chứng cứ lịch sử đối với niên đại chính xác của các luận thư Abhidharma hiện còn, tạm thời các học giả đã đề xuất các bảng niên đại có quan hệ, chủ yếu dựa vào những tiêu chuẩn theo hình thái nội tại để giả ước sự phức hợp của cơ cấu tổ chức và phương pháp chú giải của chúng đang tăng trưởng. Người ta có được kết luận là, những bản văn Abhidharma ở thời kỳ sớm nhất mang theo mình các nét rất tương cận với chư Kinh và đều được cấu trúc với những chú giải ngang qua toàn kinh điển hoặc ngang qua các tạng Kinh và chúng đã được phối trí phù hợp với các bảng danh sách phân loại.

Bản Vibhaṅga [Phân biệt] và Puggalapññatti [Nhân thi thuyết luận] của chư gia Nguyên thủy, bản Saṅgītiparyāya và bản Dharmaskandha của chư gia Nhất thiết hữu bộ cũng minh dụ những đặc tính như vậy. Bộ tiếp đến của các bản văn Abhidharma đã phơi trần sự giải thoát khỏi bộ khung hạn hẹp của những chú giải về chư kinh riêng lẻ, tức là bằng cách chọn một quan điểm siêu việt hơn [quan điểm trừu tượng, abstract stance] để nhiếp tập tinh hoa kinh điển [chất liệu giáo lý] từ những nguồn đa dạng dưới bộ khung phân tích trừu tượng về những phạm trù mà chúng thường được tạo ra một cách mới lạ. Giai đoạn trung gian này hẳn đã bao quát luôn cả năm luận bản hiện đang tồn tại trong bộ phái Nguyên thủy và trong các luận tạng Abhidharma của Nhất thiết hữu bộ. Văn phong diễn giải bằng vấn đáp, đã có được kết cấu và công thức căn bản nhiều hơn trong những văn bản Abhidharma ở giai đoạn trung gian này, thậm chí vẫn còn trong các văn bản Abhidharma sơ kỳ. Những thành quả tối hậu hay quyết định trong tiến trình siêu việt [trừu tượng hóa] này, thật sự đều là các tạng luận độc lập, triển khai sức sáng tạo được ký hiệu hóa [mã hóa] bằng thuật ngữ kỷ thuật và nghệ thuật khảo đính [danh pháp học] giáo nghĩa. Một vài văn bản, cụ thể là luận điển Kathāvatthu [Luận sự] của chư gia Nguyên thủy Phật giáo và luận điển Thức thân [Vjñānakāya] của chư gia Nhất thiết hữu bộ, cả hai đều đã diễn ra một nhận thức có những nét khác biệt trong việc kiến giải giáo nghĩa và diễn ra các liên kết bộ phái [bè phái], mặc dù họ không chọn kiểu bút chiến được triển khai trong nhiều tác phẩm Abhidharma về sau.

Thành phần cấu tạo của các tạng luận Abhidharma không phải kết thúc ở những luận tạng giáo quy mà chúng còn diễn tiến kinh qua những tác phẩm Abhidharma trước đó và bằng những trích tuyển toát yếu độc lập [independent summary digests] hay các bản chép tay có chú thích [exegetical manual]. Trong truyền thống Nguyên thủy, một vài nhà chú giải ở thế kỷ thứ năm sau công nguyên đã biên soạn những tác phẩm mới dựa vào các chú giải sơ kỳ vốn có từ vài nhà chú giải của thế kỷ thứ nhất sau công nguyên. Họ cũng tạo ra những toát yếu độc lập về các phép phân tích Abhidharma, nổi bật giữa các tác phẩm ấy phải kể là danh tác Visuddhimagga [Thanh tịnh đạo luận] của Phật Âm và Abhidhammāvatāra của Buddhadatta.Tuyệt phẩm Abhidhammatthasaṅgaha [Thắng pháp tập yếu] được Anuruddha trước tác vào thế kỷ thứ mười hai sau công nguyên mà về sau, truyền thống Nguyên thủy thường xuyên sử dụng cho công việc toát yếu giáo pháp Abhidharma.

Đầu thế kỷ thứ năm sau công nguyên, cũng là một thời kỳ nở rộ tinh hoa sáng tạo đối với Abhidharma của chư gia Nhất thiết hữu bộ. Trong những văn bản của thời kỳ này, là sự giải thích toát yếu [bộ Pháp tụ toát yếu, summary exposition] phối hợp cùng những phân tích giáo nghĩa triệt để và phối hợp với các cuộc phản biện bằng bút chiến nữa. Giáo thuyết [lúc bấy giờ] đã được tái tổ chức hợp với cấu trúc siêu tầng [abstract - trừu tượng] và hợp với cấu trúc lý luận nhiều hơn, và rồi, nó là sự đan dệt bất khả phân giữa các bảng phân loại danh mục sơ kỳ.

Ưu việt nhất ở trong những văn bản này dành cho cả hai chiều kích, bề ngang lẫn tác dụng của chúng trên các cơ cấu học thuật hậu kỳ, được gọi là Tỳ-bà-sa [Vibhāṣā], đây là tập đại thành giáo nghĩa phong phú nhất, được trình bày bằng ba sự tham duyệt khác biệt hiện còn trong tạng Hán dịch, tri thức tối hậu và vi diệu của luận bản này được mệnh danh là Đại tỳ-bà-sa (Mahāvibhāśā, T-1545). Bộ Luận Phát trí (Skt: Jñānaprasthāna) được tạo ra qua vài thế kỷ từ thế kỷ thứ 2 sau công nguyên trở đi, nên những chú giải đơn giản này có vẻ như là dựa trên một văn bản Abhidharma giáo quy sơ kỳ nào đó, trong đó, nó đã liệt kê một cách toàn diện những chủ trương của các nhóm hiện đang tranh luận qua mỗi điểm giáo nghĩa và nó luôn dứt khoát cho rằng những quan điểm này là của các trường phái đặc trưng và là của những bậc luận sư. Thay vì tranh luận theo quan điểm đơn giản, chánh thống thì tập đại thành Tỳ-bà-sa lại trình bày một định hướng bách khoa, đó là luôn hài lòng với tính cách bao quát toàn diện bằng phương pháp xếp loại mục lục phạm vi toàn diện của các chủ trương giáo lý bất đồng, Tập đại thành Tỳ-bà-sa trở thành là tàng xứ nghĩa luận [repository] của vài thế kỷ cho các nhánh đa dạng đại diện hoạt động học thuật của Nhất thiết hữu bộ, các nhánh này đã truyền bá luận bản ấy khắp vùng Đông bắc Ấn độ. Tuy nhiên, nhất là được kết hợp với những đồ chúng Nhất thiết hữu bộ Kashmir [Kế tân] bằng truyền thống, mà nhờ vậy, họ đạt được tôn hiệu Nhất thiết hữu Tỳ-bà-sa sư (Skt: Sarvāstivāda Vaibhāṣika).

Còn ba bản văn nữa đã soạn ra trong cùng thời kỳ này, và chúng đã được liên kết với giáo phái Đặc-địa-điều (Skt: Gandhāra) ở vùng Tây-bắc Ấn độ trình bày một cấu trúc sai biệt đáng quan tâm và kết quả là: Tác phẩm A-tỳ-đàm tâm luận (Skt: Abhidharmahṛdaya śāstra, T-1550) của Dharmaśreṣṭhin, tác phẩm A-tỳ-đàm tâm luận (Skt: Abhidharmahṛdaya śāstra,, T-1551) của Upasānta; và Tạp a-tỳ-đàm tâm luận (Skt: Miśrābhidharmahṛdaya śāstra, T-1552) của Dharmatrāta. [Tất cả] được trứ tác bằng thi kệ theo một thể loại tự thích tán ngôn thuộc thể văn xuôi đi kèm. Những bản văn này có chức năng như là những trích tuyển toát yếu về mọi khía cạnh giáo lý trình bày y theo cơ cấu hợp lý luận và phi trùng phục [non-repetitive - không lặp lại]. Ngược với các bản kê biên danh mục có hướng dẫn bằng pháp số ở sơ kỳ khéo thích hợp cho thuật trợ ký ức, thì ở đây, cả ba luận bản đã chọn ra một phương thức tổ chức mới lạ, nổ lực dung nhiếp các bản danh mục phân loại được xem là trọng yếu và dung nhiếp mọi giãng luận về các điểm giáo nghĩa đặc thù dưới những bộ phận có chủ đề chung. 

Cơ cấu tổ chức mới này đã trở thành điển hình cho các bản văn thuộc về thời kỳ cuối của A-tỳ-đàm Nhất thiết hữu bộ.Thời kỳ cuối trong sự phát triển của luận tạng A-tỳ-đàm Nhất thiết hữu này bao hàm các bản văn mà chúng là những thành quả của chư tác gia đơn độc và họ đã chọn một kiểu tranh luận chú giải bằng bút chiến, trình bày một trạng thái tự nhận thức giáo phái được phát triển hoàn bị. Họ cũng không ngừng ứng dụng thuật biện giải tinh xảo để chứng minh cho chủ trương trường phái của chính mình và, sau cùng là bác bỏ các quan điểm của các học phái khác. Cho dù tiếp cận hay đối đầu bằng bút chiến, thế nhưng mục đích của họ hình như là làm khởi sinh tác dụng của các bộ pháp tụ được khéo tổ chức hay là các trích tuyển giáo pháp đối với thực thể hoàn chỉnh của Phật giáo. 

A-tỳ-đạt-ma-câu-xá (Abhidharma-kośa, Kho tàng vi diệu pháp, T-1558), gồm có cả hai thể loại thi kệ, một là bổn tụng (kārikā) và hai là Thích luận (bhāṣya), tức là vừa có thích luận vừa có bổn tụng, do Thế Thân (Vasubandhu) mà luận phẩm ấy [tức là luận bản của Thế Thân] đã thành bản văn quan trọng nhất từ thời kỳ này, đã trở thành trung tâm cho các truyền thống về sau của các nhà nghiên cứu Abhidharma ở Tây tạng và khu vực Đông Á. Sau khi chọn vừa là thể loại cấu trúc Thích luận bằng thi kệ vừa là sự tổ chức thể tài A-tỳ-đàm tâm luận, A-tỳ-đạt-câu-xá đã trình bày một mô tả chi tiết hóa về giáo thuyết A-tỳ-đàm Nhất thiết hữu bộ bằng sự phê phán phong phú đối với chủ trương của bộ phái này trong Thích luận của mình. A-tỳ-đạt-ma-câu-xá đã thách thức câu trả lời từ một vài bậc luận sư thuộc về Nhất thiết hữu Kế-tân [Kashmir], những vị đã thử cố gắng phản bác những quan điểm phi Nhất thiết hữu đã nêu trong tác phẩm của Thế thân và tái thiết lập sự giải thích về những chủ trương Nhất thiết hữu Kế-tân chánh thống của mình. Những tác phẩm như, A-tỳ-đàm Ưng lý tùy thuận luận (?) (Skt: Nyāyānusāraśāstra - Ưng lý tùy thuận luận. 應理隨順論, T-1562 - [?] Engl: Conformance to Correct Principle, Y chiếu vào nguyên lý chính xác) và A-tỳ-đàm ước luận (minh đăng) thích (Skt: Abhidharmasamayapradīpikā. Eng: Illumination of Abhidharma, Sự tỏa sáng của A-tỳ-đàm, T-1563) được Saṅghabhadra trước tác và, Abhidharmadīpa (Illumination of Abhidharma, sự tỏa sáng của A-tỳ-đạt-ma) do một tác giả vô danh, người tự cho mình như là Dīpakāra (tác giả của Dīpa), đây là những tác phẩm cuối cùng của truyền thống A-tỳ-đàm Nhất thiết hữu đã còn sót lại.

Tạng luận A-tỳ-đàm

Sự phân tích trừu tượng là nguyên lý dẫn đạo cho chư luận Abhidharma, nó cũng trở thành đặc tính nổi bật về sự kiến giải giáo nghĩa của mình. Khuynh hướng dùng phân tích này, thậm chí, tính hiển nhiên ở các bảng danh mục vẫn hiện còn trong chư Kinh, được mở rộng ra trong Abhidharma nhằm hoàn thiện mọi thẩm nghiệm. Bằng những thuật ngữ rất giản đơn, Abhidharma nỗ lực mô tả toàn triệt và có hệ thống về mỗi loại thẩm nghiệm hợp lý của những thành phần cấu tạo tối hậu của nó. Abhidharma đã khảo sát sự thẩm nghiệm bằng quan điểm có phân tích phê phán, phá vỡ những khách thể phàm tưởng thô phù trong các yếu tố cấu tạo hay pháp [dharma] của chúng và làm hiển minh sự tương tác nhân quả giữa những tâm tố có đặc tính riêng lẽ này. Tuy nhiên, những phân tích ấy, không chỉ được thúc đẩy bằng sự quan tâm siêu việt thuần túy, hơn thế nữa, chúng còn được thúc đẩy bằng bản hoài tận độ chúng sinh ở chính trong cốt tủy tu hành của Phật giáo vậy. Sự phân tích này đã xác định được những tâm tố tất yếu của nó mà mỗi một dữ kiện đã nội hàm, nó có thể phân biệt giữa những tâm tố nào dẫn đến khổ đau sinh tử, và những tâm tố nào đã tham gia vào sự cáo chung của chúng. Chính tiến trình phân tích như thế được nhận ra bằng minh sát, mà nhiệm vụ trong thực hành tôn giáo là chặt dứt các tâm tố nào có bản chất luân hồi và trao giồi những tâm tố thuần tịnh nào để đưa đến giải thoát.

Sự phân tích Abhidharma tập trung vào cách lọc sạch những tâm tố qua bản danh mục ấy và tập trung vào việc nghiên cứu những vấn đề đã nẩy sinh trong khi sử dụng chúng để lý giải sự thẩm nghiệm. Các bảng danh mục đơn giản về những tâm tố đã tìm gặp trong các Kinh sơ kỳ bao hàm các bản danh mục về ngũ uẩn (skhanda), mười hai xứ (āyatana), và mười tám giới hay mười tám tâm tố (dhātu), những danh mục này đã được quen dùng nhằm mô tả chúng sinh hoặc là các bảng danh mục tu tập và các phẩm loại mà chúng thường hay được thừa nhận là cái đã được xếp thành khối trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo, tu tập những phẩm tính này khiến ta đạt đến quả vị giác ngộ. Bảng danh mục phân tích sơ kỳ ấy, còn bảo lưu trong các luận thư Abhidharma và hòa nhập trong các phạm trù phân loại bao hàm toàn diện và có tính giao thoa phức hợp nhằm để định rõ cả tướng đồng nhất của mỗi một tâm tố, lẫn mọi pháp thức hợp lý về sự tương tác năng duyên giữa chúng.

Những luận thư Abhidharma của nhiều bộ phái khác nhau đã trình ra các bảng danh mục khác biệt về các tâm tố có nhiều đến 75, 81, hay 100 phạm trù có đặc tính cá biệt nhất định. Chẳng hạn, Nhất thiết hữu bộ đã chọn một hệ thống 75 phạm trù căn bản [75 phạm trù có các tâm tố hay tác duyên căn bản] phân biệt theo bản chất cố hữu [Skt: svabhāva, tự tánh] của chúng, do vậy, chúng được xếp thành 5 lớp riêng biệt, 4 lớp ban đầu (Sắc [rūpa]—11; Tâm hay thức [citta]—1; những tâm tố thuộc về tâm hay tâm sở ([Skt: caitta. ]—46; và những tâm tố ở bên ngoài sắc và tâm [2] —14, (Skt: Cittaviprayuktasaṃskāra, tâm bất tương ưng hành), bốn lớp này bao gồm mọi tâm tố đã bị điều kiện hóa (Skt: saṃskṛta. pháp hữu vi), nghĩa là, những tâm tố tham gia vào sự tương tác nhân quả, chủ thể của sinh tử. Lớp thứ 5, bao gồm những tâm tố phi điều kiện hóa (Skt: Asaṃskṛta. Vô vi), nghĩa là, những tâm tố bất sinh, bất diệt [pháp vô lậu].

Qua phân tách Abhidharma, mọi dữ kiện thẩm nghiệm đều được lý giải như là sự khởi sinh do quan hệ tác dụng của một nhóm nào đó giữa những tâm tố này. Nhất là các dữ kiện của những tâm tố cá biệt đều đã được miêu tả hơn lên theo tiêu chuẩn đặc trưng cộng trợ, hoặc là các đặc tướng có bản chất luân lý của chúng như là thiện, phi thiện, bất định tướng, các sắc xứ của chúng [môi trường phát sinh] được xem là cảm nhiễm [tương ưng] với ba địa hạt [ba cõi, tam giới]: Dục giới, sắc giới và vô sắc giới; hoặc là phi tương ưng với bất cứ địa hạt nào, sự tương ưng của chúng với trạng thái cảm nghiệm khiến cho có sinh mệnh này có phải là hành tướng của những chúng sinh hay là không, là do sự tương quan năng duyên của chúng có tác dụng như là quả từ một vài nhóm của nhân hoặc dẫn đến một vài nhóm của quả. Hãy lấy một thí dụ, một sát na đặc biệt của một tâm tố, ý nghĩ hay niệm tưởng (saṃjña) chẳng hạn, có thể là thiện ở mặt luân lý, hành tướng của chúng sinh, tương ưng với dục giới và v.v...

Trong trường hợp khác, một dữ kiện có cùng một tâm tố niệm tưởng tương tợ, trong khi vẫn là hành tướng của chúng sinh, nhưng có thể là bất thiện, sát na ấy, tương ưng với sắc giới. Cho dù là đặc tánh của sát na không thuộc về thiện, không thuộc về ác [tức là sát na vô cảm, vô ký], thế nhưng mọi sát na bất kể đặc tính của chúng là gì, đều được chia phần trong bản chất tương tợ như niệm tưởng và, do đó, được đặt trong một phạm trù căn bản giống như vậy. Theo cách ấy, giản đồ phân loại có 75 tâm tố trình bày 75 phạm trù về đặc tánh cố hữu [tự tánh], mỗi một tâm tố của 75 phạm trù này lóe lên [nẩy sinh] một cách phi thường và lóe lên một cách trực nghiệm [experientially] trong vô số sát na. Qua thực hành các phân tích triệt để theo quy luật này về những cấu tạo tâm, người ta có thể cho rằng kinh nghiệm là có thật, những nguyên tố làm nhân cho khổ đau xa hơn nữa, có thể được loại trừ, thế thì sự góp phần [thẩm nghiệm] này hướng về giải thoát đã có thể được độc lập và có thể được trau giồi vậy.

Bảng phân tích kinh nghiệm Abhidharma triệt để ấy gây nên một tập hợp lớn những tranh luận về giáo nghĩa, đã vạch đường ranh giữa các bộ phái khác nhau. Nhiều cuộc tranh luận này đều được nhắm đến bởi những bất đồng cơ bản gọi là bản thể, nhất là tương quan đến cái cách mà trong đó các nguyên tố đặc sắc cấu thành thể nghiệm là thực hữu, và nhất là những động lực tương tác của chúng hay những tương quan năng duyên cũng đều thật hữu. Những mối quan tâm về bản thể như vậy đã kích hoạt bảng danh mục của các tâm tố sơ kỳ trong chư Kinh, và chúng được người ta đã quen dùng để chi trì giáo pháp vô ngã (ātman) nền tảng của Phật giáo, bằng cách minh chứng rằng, cái gọi là vô thường, bất biến, ngã tự hữu có thể được chứng minh. 

Tiêu điểm quan tâm về bản thể trong các luận thư Abhidharma được chuyển di từ các khách thể thô phù, cái ngã như vậy, sang những tâm tố hay các pháp (dharma) mà những khách thể này đã đuợc nhận thức là tồn tại. Có lẽ bản thể đặc sắc nhất đã được chư gia Nhất thiết hữu bộ đề xuất, “những người tuyên bố [tất cả có] sarvam asti, nhất thiết hữu” hay nhất thiết hiện hữu vậy [everything exist]. Sau khi bắt đầu từ giáo lý vô thường (anitya) - nền tảng của Phật giáo, họ đề nghị rằng, những tâm tố cấu thành cảm nghiệm là có thật giống như là những thực thể riêng và thực hữu, chúng sanh diệt trong khoản thời gian cực nhanh đơn độc. Thế nhưng một quan điểm về cảm nghiệm như thế với tư cách là một sự sắp hàng của những sát na tâm chỉnh thể, có thể nên xem như là chính chúng tạo thành sự tương tục và, thật vậy, bất cứ sự tuơng tác duyên hệ nào giữa những tâm tố có cá tính cá biệt này đều không thể nghĩ bàn. Các tâm tố của một sát-na, sự hiện hữu của chúng được giới hạn ở khoảng khắc đó, có lẽ chúng không bao giờ là điều kiện hay duyên quyết định cho sự sinh khởi của các tâm tố sau vì chúng chưa hiện hữu, và kế đến, các tâm tố của sát-na sau phải sinh khởi vô nhân, bởi vì các nhân trước hiện hữu quá ngắn. Nhằm hộ trì cho cả giáo thuyết Phật giáo về vô thường lẫn quá trình năng duyên, mà quá trình này thật cần thiết để khởi sinh tác dụng cho thường nghiệm, chư gia Nhất thiết hữu bộ lại đề nghị một phương thức lý giải mới nữa về hữu thể. Họ tuyên bố, mỗi một tâm tố vừa bị một bản chất [nội tại cố hữu] đặc trưng hóa mà bản chất này hằng hữu trong ba thời [tam thế thật hữu] và vừa có luôn cả sự hoạt động hoặc tác dụng thuộc về nhân nữa, mà tác dụng này sinh và diệt là do ảnh hưởng ở trong cái khoảng của sát-na hiện tại đó. Duy nhất những tâm tố này đã bị cả bản chất nội tại và lẫn cái công năng vận hành như vậy quyết định mà hai tự tính ấy hiện hữu như là những thực thể (dravya, thực chất); còn những khách thể hỗn hợp của thường nghiệm hay sự thể nghiệm phổ quát lại thiếu vắng bản chất nội tại chỉ hiện hữu như là những cấu trúc tâm hay những chức năng lâm thời [Skt: prajñapti: Thi thiết 施設, kiến lập giả danh 建立假.] mà thôi. Chư gia Nhất thiết hữu bộ tuyên bố, cái mô thức này duy trì giáo lý vô thường của Phật giáo, vì mỗi sự vận hành của tâm tố ấy luôn sinh và diệt, và cũng chỉ như vậy mới lý giải được tính tương tục và quá trình duyên dĩ sinh, bởi vì các tâm tố hiện hữu như là bản chất cố hữu trong cả ba thời. Thế thì, những tâm tố có ở quá khứ (hay tương lai) như vậy, có thể gây ảnh hưởng đến sự khởi sinh của các tâm tố sau qua các nhóm tác dụng thuộc về nhân sai biệt [tác dụng theo nhân dĩ sinh].

Mô thức về bản thể của Nhất thiết hữu bộ này đã tạo nên sự chống đối kịch liệt và đã bị một vài bộ phái bác bỏ (chẳng hạn Bộ phái nguyên thủy [Theravāda] và chư gia bộ phái Thí dụ [dārṣṭānika, Thí dụ bộ sư 譬喻部師]) bài bác, họ tuyên bố rằng, các tâm tố chỉ có bản chất cố hữu trong hiện tại và không thể hiện hữu trong quá khứ và tương lai. Theo chư gia Thí dụ bộ sư, tự tánh hay bản chất cố hữu không thể bị phân biệt do sự vận hành của một tâm tố nào cả. Thực ra, một tâm tố hiện hữu chính là sự vận hành của nó, và cảm nghiệm không gì khác hơn ngoài tiến trình tương quan duyên hệ bất tuyệt mà thôi. Sự vỡ vụn [biến hoại] của tiến trình tương quan duyên hệ này trong các tâm tố có cá tính nhất định thuộc về bản chất cố hữu đơn lẽ và hiệu năng duy nhất thì không là gì cả, mà chỉ là một giả lập danh hay là sự thi thiết của tâm mà thôi.

Những công trình lý giải bản thể như vậy, đã phát sinh các giáo thuyết phức hợp về cái năng duyên [điều kiện tác dụng-conditioning] và các hình thể học về nhân và duyên rất khó hiểu. Có bằng chứng cho vài phân loại đối nghịch về các nhân và duyên cá biệt, mỗi sự phân loại này tạo nên một phương cách đặc trưng về sự tương tác năng duyên giữa những phạm trù đặc trưng của các tâm tố: Chẳng hạn, chư gia Nguyên thủy Phật giáo nêu lên một bộ phận 24 duyên; chư gia Nhất thiết hữu bộ, [đề nghị] 2 bộ phận của 4 duyên và 6 nhân tách rời nhau. Ngoài ra, các hệ thống hình thể học về nhân và duyên khác biệt còn đang chứng minh. Các trường phái này vẫn không đồng ý về thể thức gây nhân bị những nhóm đặc trưng này sai sử. Chư gia Nhất thiết hữu bộ đã thừa nhận rằng, chắc chắn các nhân và duyên này phát sinh trước các quả của chúng, một ít các bộ phái khác cố gắng nêu ra một cái duyên dĩ sinh [amitate conditioning-điều kiện tác dụng khiến tạo ra sinh mệnh] đóng vai trò bổ trợ, khởi sinh đồng thời với quả của chúng [học thuyết nhân quả đồng thời].Tuy nhiên, chư gia Thí dụ bộ chỉ cho phép là cái tạo ra quả có tính tương tục mà thôi; một nhân phải luôn luôn đi trước quả của nó. Qua những cuộc tranh luận về học thuyết nhân quả này, bản chất về cái năng duyên khiến cho có sinh mệnh hay là cái duyên dĩ sinh, và học thuyết duyên sinh này có ý định lý giải cái năng duyên khiến cho có sinh mệnh ấy, mà một cách tự nhiên đã thành là những thể tài cốt lõi, bởi lẽ, vai trò tối yếu của chúng nằm trong tất cả Lý và sự của Phật giáo, tức là, hành vi có năng lực đem đến hệ quả hoặc là "nghiệp" (karma) vậy.

Sự tra cứu thuộc về các cuộc tranh biện giáo nghĩa này đã chiếm lĩnh được một vị thế quá vĩ đại chưa từng có trong chư tạng luận Abhidharma hậu kỳ, vị thế ấy đã đòi hỏi sự phát triển những phương pháp tranh luận quy mô hơn nữa nhằm ứng dụng triệt để cả hai mặt, vừa trích dẫn Thánh điển mang tính chứng thực và vừa ứng dụng những tra cứu xứng lý. Qua những những điển hình sơ kỳ về các cuộc luận chứng như vậy, các tra cứu hợp lý ấy chưa có được năng lực kiểm chứng độc lập và chỉ được xem như là có giá trị trong việc kết hợp với những trích dẫn y Kinh mang tính chứng thực mà thôi. Thế nhưng việc y chỉ này đã kích phát nhanh sự phát triển khoa Chú giải Văn bản cỗ có Hệ thống [systematic hermeneutics - khoa thông diễn học có hệ thống], mà nó hẳn hòa giải được những lập trường xung đột bằng cách đánh giá tính hữu hiệu và thẩm quyền về những tiểu đoạn y cứ trên Kinh vốn làm tăng thêm lý chứng [passage] và vốn xác định phương pháp chính xác về khoa Thống diễn học của mình nữa.

Nói chung, các nguyên lý luận giải đã áp dụng, đều bao quát toàn bộ hạn mục và rất hài hòa; bất cứ sự tuyên bố nào cũng đều được cho thấy là y giáo phụng hành, hoặc là y theo kinh nghiệm giác ngộ của đức Phật [mà trạnh thái ấy] đã được thừa nhận là sự thật. Các hệ thống trật tự được tạo ra đã kết hợp lại các đoạn kinh bị mất tính mạch lạc thành nhất quán, bằng cách đánh giá chính xác chúng một cách đặc thù. Và cuối cùng, các hệ thống trật tự được tạo ra đã hợp lại những tiểu đoạn có từ cú sai biệt trong Kinh văn và cả trong các bản văn Abhidharma được cho là biểu trưng những bối cảnh bất đồng từ cái mà có thể đã được Phật giáo thể hiện rồi, thành nhất quán. Đáng kể nhất là sự so sánh song đối của nó giữa bản thể học và nhận thức luận Phật giáo hậu kỳ thành kỷ thuật khảo đính văn bản cổ [thông diễn học], nhờ thế mà những tiểu đoạn hay một vài bản văn đã được đánh giá để mang nghĩa hiễn ngôn biểu đạt chân lý tuyệt đối (nītārtha - liễu nghĩa) hay thực tại, trong khi các bộ phái khác vẫn còn đang trong tư biện mịt mờ (neyārtha - bất liễu nghĩa), chỉ thuần biểu đạt chân lý quy ước (tục đế) mà thôi. Và đối với các bản văn Abhidharma, chư Kinh chỉ đơn thuần là hàm ngôn và trong trường hợp có yêu cầu lý giải xa hơn, vậy thì chỉ có thể được củng cố bằng tạng thư Abhidharma hiễn ngôn mà thôi. Trong các bản văn abhidharma hậu kỳ, các cuộc tra cứu xứng lý đã xem như là hoàn mãn, và các sở chỉ y trên Kinh mang tính chứng thực này, đã thành là cơ sở chung hay chân lý hiễn nhiên tách rời nguyên văn [decontextualized common places], được trích dẫn chỉ là nhằm xác chứng giá trị sử dụng những thuật ngữ then chốt trong ngữ cảnh Abhidharma mà thôi. Những tra cứu hợp lý đã bắt đầu được khẳng định bằng tiêu chuẩn phi pháp điển theo tính độc lập, chẳng hạn như tính nhất quán nội tại [internal consistency], và tính lý luận chính xác, chẳng hạn như sự biện hộ lý do sai lầm. Phân tích giáo nghĩa và những phương pháp tranh luận đã phát triển trong các tạng luận Abhidharma đã xác định quá trình diễn biến đối với chủ trương học thuật của Phật giáo Ấn-độ hậu kỳ, đã tinh luyện và hoằng dương di sản Abhidharma nhờ cộng đắc cùng những cảnh quan giáo nghĩa mới, nhờ cộng đắc cùng những kỹ thuật luận chứng tinh xảo tuần tự tăng dần lên và một ngữ cảnh rộng rãi cho cả nội bộ và ngoại bộ Phật giáo nữa.

*

Ghi chú:

[1]
1. Tập dị môn túc luận (zh. 集異門足論, sa. saṅgītiparyāya): bao gồm những bài giảng theo hệ thống số, tương tự như Tăng chi bộ kinh;
2. Pháp uẩn túc luận (zh. 法蘊足論, sa. dharmaskandha): gần giống như Phân biệt luận trong A-tì-đạt-ma của Thượng toạ bộ;
3. Thi thiết túc luận (zh. 施設足論, sa. prajñaptiśāstra): trình bày dưới dạng Kệ những bằng chứng cho những sự việc siêu nhiên, thần bí;
4. Thức thân túc luận (zh. 識身足論, sa. vijñānakāya): nói về các vấn đề nhận thức. Có vài chương nói về những điểm tranh luận giống Luận sự (pi. kathāvatthu), Giới luận (pi. dhātukathā) và Phát thú luận (zh. paṭṭhāna) trong A-tì-đạt-ma của Thượng toạ bộ;
5. Giới thân túc luận (zh. 界身足論, sa. dhātukāya): gần giống Giới thuyết luận (pi. dhātukathā) của Thượng toạ bộ;
6. Phẩm loại túc luận (zh. 品類足論, sa. prakaraṇa): bao gồm cách xác định những thành phần được giảng dạy và sự phân loại của chúng;
7. Phát trí luận (zh. 發智論, sa. jñānaprasthāna): xử lí những khía cạnh tâm lí của Phật pháp như Tùy miên (zh. 隨眠, sa. anuśaya), Trí (智, sa. jñāna), Thiền (禪, sa. dhyāna) v.v… (xem thêm Tâm sở) (theo CHÂN NGUYÊN / bản điện tử). - N.D.

[2] cittaviprayuktasaṃkāra : Hành không tương ưng với tâm. Tức là các căn, tuy nằm trong tâm sở, nhưng có khuynh hướng tăng thượng, không bị sắc pháp ô nhiễm. Như: tín, tinh tấn, niệm, định, tuệ (Lớp Câu-xá / Phạn-Hán-Anh-Pháp đối chiếu do thầy TUỆ SỸ dạy).

*


Dukkata, Wrong doing, Tác ác


Dukkaṭa: wrong doing, tác ác [作惡]

1) wrong doing, the lightest grade of offense (Bhikkhu Thanissaro)

2) wrong doing (dukkata). A very numerous category, for the avoidance of breaking which, care is needed. The 75 trainings (sekhiya) found in the Patimokkha and which contain numbers of points of interest to the layman, become when broken, offenses of wrong-doing (Bhikkhu Khantipalo).

3) dukkata: wrong-doing; the lightest class of offense. It may be cleared through confession (Vinaya Glossary, Bhikkhu Kumara, http://www.geocities.com/venkumara/evinaya/glossary.html )

4) In the Vinaya, or monastic Code, offences are grouped according to seriousness, the most serious being pārājika, involving expulsion from the Order and sanghādisesa, involving confession and temporary suspension of certain privileges. Dukkata (lit. 'wrongly done') is the least offence except for dubbaca ('wrongly said').

5) Dukkata: Tác ác (làm ác), không tốt, không thiện, làm xấu; = du + kata ; du: ngược, nghịch lại; kata: tốt, thiện; có khi dùng cặp đôi sukata & dukkata: làm thiện, làm bất thiện (PTS Pali Dictionary).

*

Seven Kinds of Transgression or Offence, Apatti

The rules of discipline first laid down by the Buddha are called Mulapannatti (the root regulation); those supplemented later are known as Anupannatti. Together they are known as Sikkhapadas, rules of discipline. The act of tranagressing these rules of discipline, thereby incurring a penalty by the guilty bhikkhu, is called Apatti, which means 'reaching, committing'.

The offences for which penalties are laid down may be classified under seven categories depending on their nature:

(i) Parajika (Ba-la-di, Cực ác, Bất cộng trụ)
(ii) Samghadisesa (Tăng-già-bà-thi-sa, Tăng tàn)
(iii) Thullaccaya (Trọng tội, Thô suất)
(iv) Pacittiya (Ba-dật-đề, Đơn đọa, Ưng đối trị)
(v) Patidesaniya (Ba-la-đề Đề-xá-ni, Hối quá, Ưng phát lộ)
(vi) Dukkata (Tác ác)
(vii) Dubbhasita (Ác khẫu)

An offence in the first category of offences, Parajika, is classified as a grave offence, Garukapatti, which is irremediable, atekiccha and entails the falling off of the offender from bhikkhuhood.

An offence in the second category, Samghadisesa, is also classified as a grave offence but it is remediable, satekiccha. The offender is put on a probationary period of penance, during which he has to undertake certain difficult practices and after which he is rehabilitated by the Samgha assembly.

The remaining five categories consist of light offences, lahukapatti, which are remediable and incur the penalty of having to confess the transgression to another bhikkhu. After carrying out the prescribed penalty, the bhikkhu transgressor becomes cleansed of the offence. (Source: http://www.tipitaka.net/ )

*
From Bhikkhu Thanissaro (Buddhist Monastic Code II , Chapter 10, Misbehavior) :

There is a dukkaṭa for going to see dancing, singing, or music. According to the Commentary, dancing includes going to see even peacocks dancing. It also includes dancing oneself and getting others to dance. (The Roṇa Sutta — AN III.103 — notes that, in the discipline of the noble ones, dancing counts as insanity.) Singing includes drama music as well as "sādhu music," which the Commentary to Bhikkhunī Pc 10 defines as songs sung "at the time of the total Unbinding of a noble one, connected with the virtues of the Triple Gem." The Sub-commentary to Cv.V.36 defines it as music dealing with Dhamma themes such as impermanence. Other religious music would come under this prohibition as well. The Commentary adds that singing also includes singing oneself and getting others to sing. The same holds true for "playing music." (The Roṇa Sutta also notes that, in the discipline of the noble ones, singing counts as wailing.) However, there is no offense in snapping one's fingers or clapping one's hands in irritation or exasperation. There is also no offense if, within the monastery, one happens to see/hear dancing, singing, or music, but if one goes from one dwelling to another with the intention to see/hear, one incurs a dukkaṭa. The same holds true for getting up from one's seat with the intention to see/hear; or if, while standing in a road, one turns one's neck to see.

DN 2's list of forbidden shows includes the following: dancing, singing, instrumental music, plays, legend recitations, hand-clapping, cymbals and drums, magic-lantern scenes, acrobatic and conjuring tricks; elephant fights, horse fights, buffalo fights, bull fights, goat fights, ram fights, cock fights, quail fights; fighting with staves, boxing, wrestling, war-games, roll calls, battle arrays, and regimental reviews (see Pc 50). Reasoning from this list, it would seem that a bhikkhu would be forbidden from watching athletic contests of any type. Movies and shadow-puppet plays would fit under the category of magic lantern scenes, and — given the Commentary's prohibition against "sādhu music," above — it would seem that fictional movies, plays, etc., dealing with Dhamma themes would be forbidden as well. Non-fictional documentary films would not seem to come under the rule, and the question of their appropriateness is thus an issue more of Dhamma than of Vinaya. Because many of even the most serious documentaries treat topics that come under "animal talk" (see Pc 85), a bhikkhu should be scrupulously honest with himself when judging whether watching such a documentary would be beneficial for his practice.
 
Arguing from the Great Standards, a bhikkhu at present would commit an offense if he were to turn on an electronic device such as a television, radio, VCR, computer, or CD/DVD player for the sake of entertainment, or if he were to insert a CD or a tape into such a device for the sake of entertainment. He would also commit an offense if he went out of his way to watch or listen to entertainment on such a device that was already turned on.
 
*

Tuesday, 31 May 2011

Sống Một Mình - Rahogata Sutta


Sống Một Mình - Rahogata Sutta
(SN 36.11 - S.iv,216)

... Rồi một Tỳ-khưu đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.

Ngồi xuống một bên, Tỳ-khưu ấy bạch Thế Tôn:

-- Ở đây, bạch Thế Tôn, khi con sống một mình, Thiền tịnh, tâm tư như sau được khởi lên: "Thế Tôn dạy có ba thọ: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ". Ba thọ này được Thế Tôn thuyết dạy. Nhưng Thế Tôn lại nói: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ". Do liên hệ đến cái gì, lời nói này được Thế Tôn nói lên: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ"?

-- Lành thay, lành thay, này Tỳ-khưu! Này Tỳ-khưu, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-khưu, Ta lại nói: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ". Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ". Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ".

Nhưng này Tỳ-khưu, Ta tuyên bố rằng sự đoạn diệt các hành là tuần tự: khi chứng được Thiền thứ nhứt, lời nói được đoạn diệt; khi chứng Thiền thứ hai, tầm tứ được đoạn diệt; khi chứng Thiền thứ ba, hỷ được đoạn diệt; khi chứng Thiền thứ tư, hơi thở vô, hơi thở ra được đoạn diệt; khi chứng Không vô biên xứ, sắc tưởng được đoạn diệt; khi chứng Thức vô biên xứ, Không vô biên xứ tưởng được đoạn diệt; khi chứng Vô sở hữu xứ, Thức vô biên xứ tưởng được đoạn diệt; khi chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Vô sở hữu xứ tưởng được đoạn diệt; khi chứng Diệt thọ tưởng định, tưởng và thọ được đoạn diệt. Ðối với Tỳ-khưu đã đoạn tận các lậu hoặc, tham được đoạn diệt, sân được đoạn diệt, si được đoạn diệt.

Này các Tỳ-khưu, Ta tuyên bố rằng sự tịnh chỉ các hành là tuần tự; khi chứng Thiền thứ nhứt, lời nói được tịnh chỉ; khi chứng Thiền thứ hai, tầm tứ được tịnh chỉ... khi chứng Diệt thọ tưởng định, tưởng và thọ được tịnh chỉ. Ðối với Tỳ-khưu đã đoạn tận các lậu hoặc, tham được tịnh chỉ, sân được tịnh chỉ, si được tịnh chỉ.

Này các Tỳ-khưu, có sáu khinh an này, khi chứng Thiền thứ nhứt, lời nói được khinh an; khi chứng Thiền thứ hai, tầm tứ được khinh an; khi chứng Thiền thứ ba, hỷ được khinh an; khi chứng Thiền thứ tư, hơi thở vô, hơi thở ra được khinh an; khi chứng Không vô biên xứ, sắc tưởng được khinh an; khi chứng Thức vô biên xứ, Không vô biên xứ tưởng được đoạn diệt; khi chứng Vô sở hữu xứ, Thức vô biên xứ tưởng được khinh an; khi chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Vô sở hữu xứ tưởng được khinh an; khi chứng Diệt thọ tưởng định, tưởng và thọ được khinh an. Ðối với Tỳ-khưu đã đoạn tận các lậu hoặc, tham được khinh an, sân được khinh an, si được khinh an.

* * *

Rahogata Sutta: Alone
(SN 36.11 - S iv 216)
transl. Thanissaro Bhikkhu

Then a certain monk went to the Blessed One and, on arrival, having bowed down to him, sat to one side. As he was sitting there he said to the Blessed One: "Just now, lord, while I was alone in seclusion, this train of thought arose in my awareness: 'Three feelings have been spoken of by the Blessed One: a feeling of pleasure, a feeling of pain,[1] & a feeling of neither pleasure nor pain. These are the three feelings spoken of by the Blessed One. But the Blessed One has said: "Whatever is felt comes under stress." Now in what connection was this stated by the Blessed One: "Whatever is felt comes under stress?"'"

"Excellent, monk. Excellent. These three feelings have been spoken of by me: a feeling of pleasure, a feeling of pain, & a feeling of neither pleasure nor pain. These are the three feelings spoken of by me. But I have also said: 'Whatever is felt comes under stress.' That I have stated simply in connection with the inconstancy of fabrications. That I have stated simply in connection with the nature of fabrications to end... in connection with the nature of fabrications to fall away... to fade away... to cease... in connection with the nature of fabrications to change.

"And I have also taught the step-by-step cessation of fabrications. When one has attained the first jhāna, speech has ceased. When one has attained the second jhāna, directed thought & evaluation have ceased. When one has attained the third jhāna, rapture has ceased. When one has attained the fourth jhāna, in-and-out breathing has ceased. When one has attained the dimension of the infinitude of space, the perception of forms has ceased. When one has attained the dimension of the infinitude of consciousness, the perception of the dimension of the infinitude of space has ceased. When one has attained the dimension of nothingness, the perception of the dimension of the infinitude of consciousness has ceased. When one has attained the dimension of neither-perception nor non-perception, the perception of the dimension of nothingness has ceased. When one has attained the cessation of perception & feeling, perception & feeling have ceased. When a monk's effluents have ended, passion has ceased, aversion has ceased, delusion has ceased.

"Then, monk, I have also taught the step-by-step stilling of fabrications. When one has attained the first jhāna, speech has been stilled. When one has attained the second jhāna, directed thought & evaluation have been stilled. When one has attained the third jhāna, rapture has been stilled. When one has attained the fourth jhāna, in-and-out breathing has been stilled. When one has attained the dimension of the infinitude of space, the perception of forms has been stilled. When one has attained the dimension of the infinitude of consciousness, the perception of the dimension of the infinitude of space has been stilled. When one has attained the dimension of nothingness, the perception of the dimension of the infinitude of consciousness has been stilled. When one has attained the dimension of neither-perception nor non-perception, the perception of the dimension of nothingness has been stilled. When one has attained the cessation of perception & feeling, perception & feeling have been stilled. When a monk's effluents have ended, passion has been stilled, aversion has been stilled, delusion has been stilled.

"There are these six calmings. When one has attained the first jhāna, speech has been calmed. When one has attained the second jhāna, directed thought & evaluation have been calmed. When one has attained the third jhāna, rapture has been calmed. When one has attained the fourth jhāna, in-and-out breathing has been calmed. When one has attained the cessation of perception & feeling, perception & feeling have been calmed. When a monk's effluents have ended, passion has been calmed, aversion has been calmed, delusion has been calmed."

Note

1.Dukkha. In this sutta translation, "pain" and "stress" are both used as translations for this word.

*

Monday, 30 May 2011

Mahayana (Đại thừa): Nguồn gốc & xuất xứ

Gần đây, nhiều bạn đạo có hỏi tôi về nguồn gốc, xuất xứ các tông phái và kinh điển Đại thừa -- Mahayana: kinh điển đó có phải do Đức Phật thuyết không, Tịnh độ ở đâu, Đức Phật-di-đà, Dược Sư, Lưu Ly có thật không, nguồn gốc các vị Bồ-tát Quan Thế Âm, Văn Thù, Phổ Hiền ở đâu, v.v.

Có lẽ mỗi người chúng ta nên kiên nhẫn tìm tòi, chịu khó nghiên cứu, tìm đọc các sách về Phật giáo, nhất là các sách tiếng Anh, do các nhà Phật học biên khảo, tương đối khách quan và cân bằng hơn. Dĩ nhiên là cuối cùng, mỗi người chúng ta sẽ có những nhận định riêng cho mình.

Để bắt đầu, đề nghị tìm đọc:

1) Tổng quan về Đại thừa: Mahayana, Wikipedia: http://en.wikipedia.org/wiki/Mahayana

2) Quyển sách về nền tảng giáo thuyết và nguồn gốc Đại thừa của Gs Paul Williams, khoa Triết học Ấn Độ và Tây Tạng, Đại học Bristol, Anh quốc (School of Indian and Tibetan Philosophy, Bristol University, UK):

  • Paul Williams (2008), Mahayana Buddhism: The Doctrinal Foundations, ISBN-10: 9780415356534

(có thể tải về, dạng PDF, tại: http://buddhisttorrents.blogspot.com/2009/07/mahayana-buddhism-doctrinal-foundations.html )

Sau đây là lời giới thiệu của Gs Paul Harrison, Stanford University, USA, về quyển sách nầy:

‘The publication of Paul Williams’ Mahayana Buddhism: The Doctrinal Foundations in 1989 was a milestone in the development of Buddhist Studies, being the first truly comprehensive and authoritative attempt to chart the doctrinal landscape of Mahayana Buddhism in its entirety. Previous scholars like Edward Conze and Etienne Lamotte had set themselves this daunting task, but it had proved beyond them. Williams not only succeeded in finishing the job, but did it so well that his book has remained the primary work on the subject, and the textbook of choice for teachers of university courses on Buddhism, for 20 years. It is still unrivalled.


This makes a second edition (2008) all the more welcome. Williams has extensively revised and updated the book in the light of the considerable scholarship published in this area since 1989, at the same time enlarging many of his thoughtful discussions of Mahayana Buddhist philosophical issues. The result is a tour de force of breadth and depth combined. I confidently expect that Williams’ richly detailed map of this field will remain for decades to come an indispensable guide to all those who venture into it.’

*

Sunday, 29 May 2011

Bát-nhã Tâm kinh: Xuất xứ từ đâu?

Giáo sư Phật học Jan Nattier -- khoa Tôn giáo học, Đại học Indiana (Department of Religious Studies, Indiana University Bloomington), Hoa Kỳ -- có một bài biên khảo rất công phu về nguồn gốc Bát-nhã Tâm kinh:

  • Jan Nattier. 1992. The Heart Sūtra: a Chinese apocryphal text? Journal of the International Association of Buddhist Studies. Vol. 15 (2), p.153-223.
Theo bà Nattier, Tâm kinh có lẽ được viết ra bằng Hán văn tại Trung Quốc, vào thế kỷ 7 TL, dựa theo các kinh liệu Phạn ngữ và các kinh liệu mới khác. Sau đó, bản Tâm kinh (Hán văn) nầy được dịch ngược trở lại sang tiếng Phạn.

Bà kết luận:

(...)
In this paper I have sought to demonstrate, primarily on the basis of philological evidence, that a flow chart of the relationships among the Sanskrit and Chinese versions of the Large Sutra and the Heart Sutra can reasonably be drawn in only one sequence: from the Sanskrit Large Sutra to the Chinese Large Sutra of Kumarajlva (Cưu-ma-la-thập) to the Chinese Heart Sutra (Tâm kinh) popularized by Hsiian-tsang (Huyền Trang) to the Sanskrit Heart Sutra. To assume any other direction of transmission would present insuperable difficulties - or would, at the very least, require postulating a quite convoluted series of processes, which (by virtue of this very convolution) seems considerably less likely to have taken place.

A second level of argument - and one that need not be accepted in order to validate the hypothesis of a Chinese-to-Sanskrit transmission of the Heart Sutra - has been offered in support of the role of Hsiian-tsang in the transmission of the Chinese Heart Sutra to India, and perhaps even in the translation of the text into Sanskrit. While the circumstantial evidence of his involvement with the text (and, in particular, of his recitation of the text en route to India) is sufficient to convince this writer that he is the most likely carrier of this sutra to the West, one need not accept this portion of the argument in order to conclude that the Sanskrit Heart Sutra is indeed a translation from the Chinese.
(...)


Tải về để đọc toàn văn bài biên khảo (Anh ngữ): Nattier_Heart_Sutra.pdf (4.8 Mb)

Xem thêm: Bảy bản Bát-nhã Tâm kinh trong Hán tạng

* * *

Trích Wikipedia (http://en.wikipedia.org/wiki/Heart_Sutra):

The Heart Sūtra (Tâm kinh), it is generally thought, is likely to have been composed in the 1st century CE in Kushan (Quý Sương) Empire territory, by a Sarvastivadin (Hữu bộ) or ex-Sarvastivadin monk. The earliest record of a copy of the sūtra is a 200-250CE Chinese version attributed to the Yuezhi (Nguyệt Thị) monk Zhi Qian (Chi Khiêm). It was supposedly translated again by Kumarajiva (Cưu-ma-la-thập) around 400CE, although John McRae and Jan Nattier have argued that this translation was created by someone else, much later, based on Kumarajiva's Large Sūtra. Zhi Qian's version, if it ever existed, was lost before the time of Xuanzang (Huyền Trang), who produced his own version in 649CE, which closely matches the one attributed to Kumarajiva. Xuanzang's version is the first record of the title "Heart Sūtra" (心經 xīnjīng, Tâm kinh) being used for the text, and Fukui Fumimasa (Phúc Tỉnh Văn Nhã) has argued that Xinjing actually means Dharani (đà-ra-ni) scripture. According to Huili's (Tuệ Lập) biography, Xuanzang learned the sutra from an inhabitant of Sichuan (Tứ Xuyên), and subsequently chanted it during times of danger in his journey to the West.

However, based on textual patterns in the Sanskrit and Chinese versions of the Heart Sūtra and the Mahaprajnaparamita Sutra (Đại Bát-nhã kinh), scholar Jan Nattier has suggested that the earliest (shortest) version of the Heart Sūtra was probably first composed in China in the Chinese language from a mixture of Indian-derived material and new composition, and that this assemblage was later translated into Sanskrit (or back-translated, in the case of most of the sūtra). She argues that the majority of the text was redacted from the Larger Sutra on the Perfection of Wisdom, which had originated with a Sanskrit Indian original, but that the "framing" passages (the introduction and concluding passages) were new compositions in Chinese by a Chinese author, and that the text was intended as a dharani rather than a sūtra. The Chinese version of the core (i.e. the short version) of the Heart Sūtra matches a passage from the Large Sutra almost exactly, character by character; but the corresponding Sanskrit texts, while agreeing in meaning, differ in virtually every word.

Furthermore, Nattier argues that there is no evidence (such as a commentary would be) of a Sanskrit version before the 8th century CE, and she dates the first evidence (in the form of commentaries by Xuanzang's disciples Kuiji – Khuy Cơ – and Wonch'uk – Viên Trắc, and Dunhuang – Đôn Hoàng – manuscripts) of Chinese versions to the 7th century CE. She considers attributions to earlier dates "extremely problematic". In any case, the corroborating evidence supports a Chinese version at least a century before a Sanskrit version. This theory has gained support amongst some other prominent scholars of Buddhism, but is by no means universally accepted.

*

Tuesday, 24 May 2011

Niêm hoa vi tiếu: Một giai thoại thiền

*
Niêm hoa vi tiếu (拈花微笑 - j: nenge-mishō - nghĩa tiếng Việt: cầm hoa mỉm cười) - rút gọn từ câu "Thế tôn niêm hoa, Ca-diếp vi tiếu" -  là một giai thoại thiền, ghi lại sự kiện trên núi Linh Thứu (Gṛdhrakūṭa) trước mặt đông đảo đại chúng, Đức Thế Tôn không tuyên thuyết pháp thoại như mọi ngày, mà lặng lẽ đưa lên một cành hoa. Đại chúng ngơ ngác chẳng ai hiểu gì, duy chỉ có đại trưởng lão Ma-ha Ca-diếp (Mahākāśyapa) mỉm cười. Đức Phật tuyên bố với các thầy tỳ khưu: “Ta có chánh pháp vô thượng trao cho Ma-ha Ca-diếp. Ca-diếp là chỗ nương tựa lớn cho các thầy tỳ khưu, cũng như Như Lai là chỗ nương tựa cho tất cả chúng sinh”.

Câu chuyện trên chỉ thấy ghi trong Tục tạng Trung Hoa, không thấy ghi trong Chánh tạng Nam truyền lẫn Bắc truyền.
 
Đây chỉ là một huyền sử của Phật giáo Trung Hoa. Theo ông Dumoulin (Zen Buddhism: A History, 2005), giai thoại này đầu tiên được ghi trong quyển Thiên thánh quảng đăng lục (天聖廣燈錄 - T’ien-sheng k’uan-t’eng lu, Tiansheng guangdeng lu) do cư sĩ Lí Tuân Úc (李遵勗 - Li Zunxu) của tông Lâm Tế, đời Tống, biên tập năm 1036.

Về sau, ngài Hối Ông Ngộ Minh (晦翁悟明 - Huiweng Wuming) ghi thêm chi tiết trong quyển Liên đăng hội yếu (聯燈會要 - Liandeng huiyao) vào năm 1183. Quyển này ghi lại hệ thống truyền thừa của Thiền tông, từ 7 vị Phật quá khứ, Đức Phật Thích-ca Mâu-ni, 28 vị tổ Ấn Độ, truyền đến 6 vị tổ Trung Hoa, và khoảng 600 vị thiền sư Trung Hoa khác.

*

Monday, 23 May 2011

Blue Dragon - Giúp đỡ trẻ em bụi đời tại VN - Giving Vietnam's street kids a chance


*
Ngày 12-05-2011 vừa qua, CNN có 1 bài viết về ông Michael Brosowski và tổ chức Blue Dragon Children's Foundation, giúp đỡ các em bụi đời ở VN:

http://edition.cnn.com/2011/WORLD/asiapcf/05/12/cnnheroes.brosowski.street.children/index.html

Thông tin về các hoạt động của tổ chức này, và đóng góp tịnh tài:

http://www.streetkidsinvietnam.com

*


Anuradha Koirala - Chống nạn buôn nô lệ tình dục- Prevention of Sex Trafficking, Nepal


*
Sáng nay, đọc vài tờ báo điện tử tại Perth, tình cờ biết được công việc từ thiện chống tệ nạn buôn nô lệ tình dục tại Nepal, của bà Anuradha Koirala. Tôi đã dành một ít tịnh tài gửi đến tổ chức Maiti Nepal của bà, và xin giới thiệu đến bạn bè bốn phương:

1) Friends of Maiti Nepal: http://www.friendsofmaitinepal.org
2) Mothers Home Nepal (Australian for Maiti Nepal): http://www.mothershomenepal.org.au
3) Maiti Nepal: http://www.maitinepal.org

*

Wednesday, 11 May 2011

Về lễ Vesak, Vesākhā, Phật Đản, Tam Hợp

Vài ghi chú:

1) Trong Đại sử (Mahāvamsa) của Tích Lan: Vua Dutthagamani trong 24 năm trị vì (161 TTL - 137 TLL) đã tổ chức lễ Vesak hằng năm, đó là ngày trăng tròn tháng Vesak (tương ứng với tháng 4 ÂL).

2) Ngài Huyền Trang, vào thế kỷ 7 TL, ghi nhận ngày lễ Tam Hợp vào dịp trăng tròn tháng Vesak, nhưng có những bộ phái khác chọn những ngày khác nhau (Hữu bộ chọn ngày 8 tháng 2 là Tam Hợp, như ghi trong kinh Du Hành, Trường A-hàm).

3) Đại Đường Tây Vức Ký  (Đường Huyền Trang, HT Thích Như Điển dịch), Quyển 6, Quyển 8: Ngài Huyền trang ghi rằng Thượng tọa bộ cho rằng Bồ-tát đản sinh, thành đạo, bát-niết-bàn ngày 15 tháng Phệ-xá-khư (Vesakha), còn các bộ phái khác thì cho rằng đó là ngày mồng 8 tháng Phệ-xá-khư. Lúc Ngài xuất gia tầm đạo có nơi nói là 19 tuổi, có nơi nói là 29 tuổi.

Tuesday, 10 May 2011

Phật Đản: Bảy bước hoa sen

Trích: Kinh Ưu-bà-di Tịnh Hạnh pháp môn, Bộ Kinh tập, Hán tạng, T-0579, Thích nữ Diệu Châu dịch (http://quangduc.com/kinhdien/106uubadi.html)


*

Đức Phật giảng cho bà Tỳ-xá-khư (Visakha, Tịnh Hạnh):

(…)

Này Tỳ-xá-khư! Khi Bồ-tát sanh thì đi bảy bước, vì Bồ-tát đắc bảy đạo Bồ đề. [*]

Này Tỳ-xá-khư! Sau khi Bồ-tát đi thì có lọng trắng trên vì Bồ-tát được bóng mát Niết bàn, Bồ-tát đi rồi chỉ về phương Ðông, vì làm người dẫn đường cho các chúng sanh.

Này Tỳ-xá-khư! Bồ-tát chỉ phương Nam vì làm ruộng phước lành cho chúng sanh.

Này Tỳ-xá-khư! Bồ-tát chỉ phương Tây vì đời này của Bồ-tát đã tận, đây là thân cuối cùng.

Này Tỳ-xá-khư! Chỉ về phương Bắc, vì với tất cả chúng sanh thì Bồ-tát đã đắc Vô thượng Bồ đề.

Này Tỳ-xá-khư! Chỉ phương dưới vì muốn phá tan binh ma để chúng thối lui.

Này Tỳ-xá-khư! Chỉ phương trên vì làm chỗ qui y cho trời, người.

Này Tỳ-xá-khư! Rống tiếng Sư tử vì là bậc tối thượng, tối tôn trong trời người tất cả chúng sanh không ai sánh bằng.

(…)

Ghi chú:

[*] bảy đạo Bồ-đề ở đây có thể hiểu là Thất giác chi (niệm, trạch pháp, tinh tấn, khinh an, hỷ, định, xả).

--oOo--


Về Đức Phật Tỳ-bà-thi (Vipassì)

Kinh Ðại bổn (Mahàpadàna sutta), Trường Bộ Kinh 14:

(…) - Này các Tỳ-khưu, vị Bồ-tát khi sanh ra, Ngài đứng vững, thăng bằng trên hai chân, mặt hướng phía Bắc, bước đi bảy bước, một lọng trắng được che trên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương, lớn tiếng như con ngưu vương, thốt ra lời như sau: "Ta là bậc tối thượng ở trên đời! Ta là bậc tối tôn ở trên đời. Ta là bậc cao nhất ở trên đời. Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh ở đời này nữa".

Kinh Ðại bổn, Trường A-hàm 1:

(…) - Này các Tỳ-khưu, pháp thường của chư Phật, Bồ-tát Tỳ-bà-thi, khi sanh, do hông phải của mẹ mà ra, chuyên niệm không tán loạn. Ngài từ hông phải ra, vừa đến đất, không cần người đỡ, liền đi bảy bước, ngó khắp bốn phương, rồi đưa tay lên nói rằng: “Trên trời dưới đất, duy Ta là tôn quý, Ta sẽ cứu độ chúng sanh khỏi sinh, già, bệnh, chết. Ầy là pháp thường của chư Phật”.

Giống như sư tử bước,
Ngó khắp cả bốn phương;
Nhân Sư Tử khi sanh,
Đi bảy bước cũng thế.
Lại như rồng lớn đi,
Khắp ngó cả bốn phương,
Đấng Nhân Long khi sanh,
Đi bảy bước cũng thế.
Khi Đấng Lưỡng Túc sanh,
Đi thong thả bảy bước,
Ngó bốn phương rồi nói:
- Sẽ dứt khổ sinh tử.
Ngay lúc mới sanh ra,
Đã không ai sánh bằng,
Tự xét gốc sinh tử,
Thân này thân tối hậu.


*

Monday, 2 May 2011

Understanding the Essence of Dependent Origination

by Ajahn Brahmali ,
Dhammaloka Community, Perth, Western Australia
http://community.dhammaloka.org.au/content/35-Understanding-the-Essence-of-Dependent-Origination 

*
The following essay is an edited transcript of a talk given at the Buddhist Society of W.A. on 17th April 2009.
*

As you read the word of the Buddha and get a feel for what he taught, again and again you come across the teaching of dependent origination (paṭicca samuppāda). It soon becomes quite obvious that this teaching is a very important part of the way the Buddha explained things. At the same time dependent origination is a difficult teaching to understand. This essay, then, is an attempt to draw out the most important aspects of dependent origination in such a way as to make it more easily comprehensible.

To begin with, and very briefly, I will go through each of the twelve factors of dependent origination to give an overall picture of what it is about. I will then pick out some of the factors and explain only those in detail. I will also try to show how dependent origination fits in with the rest of the Buddha’s teachings. When we understand how dependent origination fits into the teaching overall, it gives us a better sense of why this teaching is important and how it might be used as part of the development of the Buddhist path. But first of all I will briefly go through each of the twelve factors so as to set up a framework for the following discussion.

Take Twelve

The first of the twelve factors is usually known as ignorance (avijjā). Ignorance refers to a distortion in our understanding, a not seeing of reality as it actually is, and it affects all beings except those who are fully awakened. Because of ignorance we engage in activities that have future kammic results. These activities (saṅkhāra) are the second factor of dependent origination. The most important result of producing kamma is future rebirth, the arising of consciousness at the beginning of a particular life. So consciousness (viññāṇa) is the third factor. Consciousness always arises together with the other aspects of mind – feeling, perception and the will – and usually also a material body. That becomes the fourth factor (nāmarūpa). When you have mind and body you also have the fifth factor, the six senses (salāyatana). All experience happens through these six senses, and the senses thus allow us to ‘contact’ the world. Contact (phassa) therefore is the sixth factor. Perhaps the most fundamental part of what we experience through the five senses is feeling (vedanā). This becomes the seventh factor of dependent origination. Our experiences are usually either pleasant or unpleasant, and obviously we want the pleasant feelings to last and the unpleasant ones to disappear. We have desire both in regard to the pleasant and the unpleasant. So desire or craving (taṇhā), which is the eighth factor, is a natural consequence of feeling. Craving in turn leads to taking up, grasping or clinging. Your desires make you implement ‘strategies’ with the aim of fulfilling those desires. This is the ninth factor (upādāna). Once we grasp at things, once we decide on particular strategies to satisfy our cravings, then our life tends to take a certain direction. And because we live in a particular way, we make kamma according to that way of living. This is the tenth factor, known as existence (bhava). When we live in a certain way and produce the corresponding kamma, rebirth (jāti) follows as the eleventh factor. Through rebirth we experience what all beings must experience – we experience old age, we experience death and we experience all the suffering that comes with existence. Old age (jarā), death (maraṇa) and suffering (dukkha), or in brief just suffering, is the twelfth and final factor of dependent origination.
 
One of the important things to understand about this sequence of twelve factors is that each factor builds on the previous one and is dependent on the previous one for its existence. It is precisely because of this conditional relationship between the links that this sequence is called dependent origination. Take the last two factors. To experience old age, death and suffering, first of all you have to be born. Birth is a necessary condition for you to experience suffering in life; if you had not been born, you wouldn’t suffer. In the same way, each one of the twelve links, starting with ignorance and ending with suffering, is necessary for the subsequent one to exist. This is a crucial aspect of dependent origination, and once you understand this the whole thing becomes much clearer.

The next thing which is very helpful is to acquire a good grasp of the significance of the two end points of the sequence. The significance of the last link is that it shows us the purpose of dependent origination. Each of the other links is just a condition that leads up to the last one; the last factor is what all the other ones are pointing to. So the purpose of this teaching is to show us why we suffer, to show us the causes for the arising of suffering. This in turn makes it a practical teaching, because if we understand why suffering arises then we have an opportunity to do something about it; if we understand the causal relationship then we can do something about those causes. This gives us the opportunity to both reduce the suffering in our lives and ultimately to overcome suffering altogether. Since we have seen that rebirth is the immediate cause of suffering, the only way to eliminate suffering is to end all future rebirth.

An interesting point here is that the last two factors of dependent origination are birth and suffering, or birth, old age and death. Now birth and death taken together, when they are perpetuated through the mechanism of dependent origination, is nothing other than saṃsāra. Saṃsāra is the perpetual wandering on, around and around, from one life to another, from birth to death, again and again. The last two factors of dependent origination are thus essentially equivalent to saṃsāra. Looking at dependent origination in this way shows us how saṃsāra comes to arise, how there can be such a thing as saṃsāra. On the subject of saṃsāra, a brief word of caution: please don’t think of it as the world or the universe ‘out there’, something different from us. Saṃsāra, rather, is how we as human beings experience the world, our internal view, what goes on in our minds. Because it is a personal experience, saṃsāra will inevitably be slightly different for each one of us. But the common thread is that we experience a seemingly endless sequence of births and deaths, suffering without apparent beginning or end. So dependent origination shows us how saṃsāra comes to be and how suffering comes to be, these two essentially being the same. And again, knowing how suffering comes to be empowers us to do something about it.

To properly understand what can be done about the problem of suffering we have to go to the other end of dependent origination, its starting point, ignorance. Once we understand the nature of the starting point we understand the fundamental cause of dependent origination, and thus what drives it. If we were to remove the starting point dependent origination would unravel, because each factor is causally dependent on the previous one. This means that if we eliminate ignorance then each subsequent factor is also eliminated, ending in the elimination of suffering. If we are not able to remove ignorance altogether, but we are able to reduce or weaken it, then we also weaken suffering, because that weakening of ignorance makes itself felt all the way through that chain. In this way, we can use the conditionality of dependent origination to our own benefit.

To be able to reduce and eventually eliminate ignorance, first of all you need to be clear about what it refers to. The Pāli term usually translated as ignorance is avijjā, which might be better translated as delusion. The problem is not so much that we lack knowledge, as the word ignorance might suggest, but that we have a distorted understanding of how things work. Because of our fundamentally deluded or distorted outlook, we don’t see things as they actually are. This distorted outlook is nothing other than our inability to see the three characteristics of existence: our tendency to see things as permanent when in fact they are impermanent, to see happiness where in fact there is suffering, and to see things as self when in fact they are non-self. This is the basic delusion that we live under and it is this misperception which is at the root of this entire chain of dependent origination.

The good news is that ignorance/delusion is itself conditioned by other factors; it is not a monolithic entity that exists independently of everything else. It is by understanding the conditionality of delusion that we can weaken it. When we understand the conditions that support delusion we also understand what sort of practice we need to undertake to reduce it and eventually abandon it altogether. So what are the conditions that prop up and perpetuate delusion? They are nothing other than the five hindrances: desire for sense objects, ill will, dullness and lethargy, restlessness and worry, and doubt. This means that the stronger these five hindrances are, the more powerful our delusion is going to be.

Why is this so? Because the hindrances themselves distort how we see things. Consider what happens if you are angry: you tend to do things that you otherwise would not. Under the influence of anger you think that you should tell somebody off or do something nasty to them. While you’re angry, it seems the right thing to do: we think that this person deserves this, that that person needs to be told off or treated rudely. Thus we sometimes end up doing something stupid. But once the anger is over we realize that we made a mistake: we shouldn’t have been so harsh to that person, we should have been more understanding, we should have tried to understand their motivation. We feel regret and remorse. The point is that our anger distorts our outlook so that we do things which we otherwise would not. You can then see how anger connects up with delusion by distorting our understanding of the world.

Sense desire has a similar distorting effect. Why, for example, do people have extra-marital affairs? Often it is just because desire overpowers the mind. You don’t really know what you are doing, and because of that you often bitterly regret it afterwards. You realize how much pain you’ve caused for your spouse, and often you pay for it when your marriage breaks up, you have to sell your house, or you can’t see your children. But at the time, that affair seemed the right thing to do. Your view of things was distorted by your desires. Sometimes you can see the same pattern in a simple activity like shopping. Perhaps you see an item in a shop that is irresistibly attractive, and a desire so powerful arises that you simply have to buy it. Later on, when you are free from the grasp of desire, you realize that it was a mistake, that in fact you had no need for that item.

So the five hindrances, particularly anger and desire, distort our view of the world. The stronger the five hindrances are, the greater is our delusion, and the more distorted is our outlook. The less we have of these five hindrances, the less is the distortion and the clearer is our view of the world. And because dependent origination is a causal chain, the effect of the hindrances feeds the whole chain all the way down to suffering. So the weaker the hindrances are, the less suffering we experience, and the stronger the hindrances are, the greater is the suffering. It follows that if you want to reduce ignorance and suffering in your life, you have to reduce the five hindrances, that is, the defilements of the mind.

How do we reduce the defilements of the mind? In no other way than by practising the noble eightfold path. You begin walking this path by practising virtue. Because of that practice there are certain actions you cannot do, and because you can’t do them you are restraining yourself, restraining the hindrances, restraining the defilements. Over time such restraint weakens the defilements. You know that this is the case when you see that keeping the precepts becomes easier over time until it becomes practically second nature to you. Practising meditation – developing loving kindness, peace and all such beautiful states of mind – has the same effect because we are going against the hindrances, abandoning them step by step. So the eightfold path is nothing less than a mechanism for removing the hindrances. This in turn reduces delusion and therefore also reduces suffering. In this way we can see how the noble eightfold path and dependent origination fit beautifully together, forming an important part of the overall picture we call the Dhamma.

The Dhamma as a Jigsaw Puzzle

In fact, it can be useful to regard the Dhamma as a big jig-saw puzzle, where each teaching is one small piece. It is only when we put all the pieces together, when we understand how they fit with each other, that we can see the full picture. In other words, although the Buddha’s teachings consist of all these individual bits and pieces – the five faculties, the five aggregates, the four jhānas, etc. – it is nonetheless a united whole. The better you understand the Buddha’s teachings, the more you understand how this jig-saw puzzle fits together. In the present case I am simply pointing out one particular way in which the noble eightfold path fits together with dependent origination.
 
So the noble eightfold path reduces our delusion stage by stage and therefore also reduces our suffering. If we keep practising this path we will eventually eliminate suffering altogether. How is it that reducing the hindrances leads to the complete abandoning of delusion and suffering? As you develop the path stage by stage, you gradually weaken the five hindrances until the day comes when temporarily the hindrances are completely absent, and the mind is pure and radiant. Because the five hindrances are the main supports of delusion, once the five hindrances are completely absent the props of delusion have been removed. Since delusion is no longer propped up it becomes weak at this particular point, and it is then possible to eliminate it altogether. That is why the deep states of meditation in which the five hindrances are completely abandoned are such powerful bases for attaining deep insight and understanding things as they actually are, that is, eliminating delusion. This also shows you why the deep meditations are the last factor of the noble eightfold path: it is only at this point that it is finally possible to make that breakthrough where you see the Buddha’s teaching for yourself. As long as the hindrances support delusion, no such breakthrough is possible. But when the props of delusion are removed – assuming that you already possess right view through a proper grasp of the Buddha’s teachings – the mind can penetrate to the truth, the Dhamma, and thereby eliminate delusion. When delusion is eliminated so is suffering, since they go hand in hand. This is how delusion is the root problem and how that root problem can be solved. [1]

Having discussed the two end points of dependent origination, we next need to consider how delusion translates into suffering. This mechanism is what might be called ‘the core driver’ of dependent origination, since it shows us how saṃsāra is self-sustaining, that is, how delusion sustains the process of birth and death potentially without end. The ‘core driver’ is the process by which our response to feelings leads to rebirth. To understand the working of this core driver, therefore, it is necessary to understand the dynamic process that links the factors from feeling (vedanā) to rebirth (jāti).

We start with feelings. In Buddhism the word ‘feeling’ does not refer to emotion but to the ‘felt tone’ of a particular experience as pleasant or unpleasant. [2] Experiencing things as pleasant or unpleasant is part and parcel of being a human being, or indeed any kind of being. The links of dependent origination preceding feeling show us how feelings arise from the interaction of body and mind; that is, once you have a body and mind you must also have feelings. Since it is given that we experience the world as pleasant or unpleasant, it is also given that we are going to have desires (taṇhā) according to those experiences. Because we don’t want displeasure, we crave to avoid unpleasant experiences and for existing unpleasant experiences to end; and because we want pleasure, we crave to acquire pleasant experiences and for existing pleasant experiences to continue. In other words, desire or craving is our normal response to experiencing feelings.

This leads us to the next link. Once we have desires we want to make sure that the craving gets satisfied, because not satisfying our craving is unpleasant. To do this we take things up, we grasp at things, and we follow certain strategies (upādāna). We get ourselves an education, we get a job, we get into relationships, we buy a house, we have children, we adhere to a religion, we have political views. Take religion: why do we become Buddhists, for example? Essentially it is a strategy to satisfy our craving, to help us find happiness in the world and decrease the suffering of life. Why do we have a home? Because a home provides us with an environment where we can enjoy pleasures. Our house is where we usually eat our meals, relax in comfort, enjoy entertainment, and the place that we share with our family. It is also a place of safety from the world outside. Having a home is a very important strategy for satisfying our desires, and that is why people become attached to their homes. Another important strategy is getting a life-partner. Again, because a life-partner brings us a sense of happiness, we often attach to such people. But our strategies can also be of a loftier type. As Buddhists we may take up meditation and a more spiritual life-style. In this case our strategy is to develop our mental happiness. Of course, these strategies are usually not mutually exclusive – most Buddhists go for a mixture of the sensual and the spiritual.

This leads us to the factor of existence (bhava). Once we adopt certain strategies, we get established in a certain life pattern; we tend to exist in a certain way. Because most people’s strategies revolve around satisfying their sense desires, they live a sensual existence. Their minds are preoccupied by the sensual realm; their consciousness is established in that realm. A meditator, however, who can access the pleasures of the mind in samādhi, will tend to value those experiences more than sense pleasures, and thus their mind inclines towards those states. The more profound their meditation, the more they ‘exist’ in the realm of the mind and the more their consciousness is established there. This mechanism also shows us why we have to be careful of anger and other negative states. The more we have of these dark states, the more we exist in that realm and the more our consciousness tends to be established in that darkness. So our existence is formed by the strategies that we implement to find pleasure and avoid pain. And once we exist in a certain way, in just that way we produce kamma. Thereby we establish and solidify our consciousness in line with how we exist.

The next factor is birth (jāti). Because we exist in a certain way and our consciousness is established accordingly, when we die our consciousness already exists in a certain ‘realm’. When we are reborn our consciousness doesn’t need to ‘go’ anywhere, [3] because it has already been established in a particular ‘realm’ by the way we lived our past life. The body falls away and consciousness continues in line with its past habits. That continuation is essentially what rebirth involves. If we have lived a life of enjoying sense pleasures and have inclined strongly towards sense pleasures, then, when the body falls away at death, our consciousness will still be established in sense pleasures and we will tend to be reborn in a sensual realm. If you are a skilled meditator, however, when you die your mind is likely to be established in the peace of meditation. When the body falls away the mind inclines to a peaceful realm, and that is your rebirth. This is how rebirth happens in accordance with kamma, in accordance with how the mind has been established in the life that has just ended. [4]

The Core Driver

Now you can see how this whole process works. Because we crave, we implement strategies to satisfy the craving; because of these strategies, we tend to live in a certain way; because we live in a certain way, our consciousness gets established in that way and we are reborn accordingly; because we are reborn, we suffer, grow old and die in line with that new existence. This core driver is the mechanism that perpetuates saṃsāra.

What then is the relationship between delusion – the root cause of dependent origination – and the core driver? Delusion is the reason why we crave in response to pleasant and unpleasant feelings. We crave because we think we can gain mastery over our feelings by controlling our environment; we think we can somehow make things conform to whatever we want them to be. This sense that we have an inherent mastery over our feelings is a central aspect of delusion. It is not difficult to see why this sense of mastery is illusory. We all meet more suffering and pain – that is, more unpleasant feelings – in our lives than we want. Why is that? Because we do not have mastery over the course of our lives. The most obvious suffering we can’t evade is illness, old age and death. The most frightening sort of suffering is the prospect of a bad rebirth. And in the end this too is beyond our control. The reason you cannot exercise mastery over events is because there is no self. Feelings arise because of causes and conditions, not because there is someone in charge of them. It is the delusion of a self that gives us the illusory sense of mastery and thus causes us to crave for pleasant feelings. Once there is craving, as explained above, you undergo rebirth and the consequent suffering. This is how delusion is the source of the craving which, in turn, causes rebirth. That is, this is how delusion constantly leads to renewal of suffering.

And how does the elimination of delusion affect the core driver so that suffering is also eliminated? Imagine for a moment that you have no mastery over the feelings in your body and mind. What would be the point of craving if you cannot really have the feelings you would like? If you lack mastery over your feelings, you are better off just ‘sitting back’ and watching as feelings come and go according to their nature. The irony is that this is also the way to experience the least possible suffering. By craving and trying to control we tend to just create more suffering for ourselves. And the Buddha said that when we penetrate to the truth of non-self this is exactly what we see: we realize that, indeed, we have no mastery over our feelings, that craving is futile and in fact counterproductive. [5] When we see this, when we eliminate delusion, we also give up craving. [6] When you abandon craving you don’t need any strategies to try to satisfy it. When you give up all your strategies, all your grasping and taking up of things, you no longer exist in a particular way [7] and your consciousness is no longer established in anything. Since consciousness is not established in anything, then at death, when the body falls away, consciousness does not incline to any particular realm, whether the realm of sense pleasures or a refined realm of the mind or any other realm. Then there will be no rebirth, and when there is no rebirth there will be no suffering, no old age and no death. This is how the elimination of delusion translates into the elimination of suffering.

For many, the ending of all rebirths might seem like a distant goal. But we should remember that, even if we don’t make a complete end to rebirth, any reduction in delusion is a reduction in future suffering. When you reduce delusion by reducing the five hindrances, your craving is also lessened. When craving is reduced you will be more peaceful, and this will result in a more contented life here and now, and also in a better future rebirth.

This, in brief, is how dependent origination works. It shows us how delusion, via rebirth, is the root cause of suffering. It is important to realise that rebirth is an integral part of this scheme. Because rebirth is the immediate cause of suffering, if there were no rebirth there would be no problem to solve. The suffering we meet in any individual existence as human beings is insignificant; it is the potentially endless round of births and deaths that is the real problem. Once we understand the true nature of suffering, and grasp the fact that dependent origination explains how suffering comes to be, we will clearly see that rebirth is integral to dependent origination. What we need to do, then, is to practise the noble eightfold path to remove delusion. By removing delusion we end all future rebirth. When there is no rebirth, suffering comes to a complete stop.

Notes:

[1] This is slightly simplified compared to the usual exposition in the suttas. According to the suttas, when one sees the Dhamma and becomes a stream-enterer, one does not end delusion or suffering straight away but it takes at most seven lifetimes. However, if you continue the practise, the point eventually comes when both delusion and suffering are completely eliminated.

[2] The Buddha also spoke of neutral feelings but they may be left out of the present discussion.

[3] It doesn’t ‘need’ to go anywhere but it may enter a womb or get reborn through some other physical process.

[4] This is a very simplified explanation of how rebirth happens. In reality there are all sorts of complications: kamma from a past life ripening at the moment of our death; an unfortunate/fortunate death that alters our normal state of consciousness; remorse or elation at the time of dying over bad or good actions performed, etc. The above is just meant as a general explanation of the process, not an exhaustive account of all the details.

[5] See for example the Buddha’s instructions in the famous Anattalakkhana-sutta.

[6] Again, the full exposition from the suttas is a bit more involved. When one sees the truth of non-self one becomes a stream-enterer, whereas the full elimination of delusion only happens when one becomes an arahant. In the present context, however, this distinction is not important because once you become a stream-enterer you are guaranteed to become an arahant within at most seven lifetimes.

[7] You don’t “exist in a particular way” in the sense that you don’t incline towards any sort of existence and therefore don’t make any corresponding kamma.

* * *

Wednesday, 27 April 2011

Chỉ & Quán - Samatha & Vipassana

Gắn Liền Cột Chặt
(AN 4.170)

1. Một thời, Tôn giả Ananda sống ở Kosàmbi, tại khu vườn Ghosita. Tại đấy, Tôn giả Ananda gọi các Tỳ-khưu:

- Thưa các Hiền giả Tỳ-khưu.

- Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỳ-khưu ấy vâng đáp Tôn giả. Tôn giả Ananda nói như sau:

- Tỳ-khưu hay Tỳ-khưu-ni nào tuyên bố trước mặt tôi rằng, đã chứng được quả A-la-hán, tất cả vị ấy được đầy đủ bốn chi phần này, hoặc là một trong bốn chi phần này. Thế nào là bốn?

2. Ở đây, này chư Hiền, Tỳ-khưu tu tập quán, có chỉ đi trước; do vị ấy tu tập quán có chỉ đi trước, con đường được sanh khởi. Vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn, các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.

3. Lại nữa, này chư Hiền, vị Tỳ-khưu tu tập chỉ, có quán đi trước. Do vị ấy tu tập chỉ có quán đi trước, con đường được sanh khởi. Vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn, các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.

4. Lại nữa, này chư Hiền, Tỳ-khưu tu tập cả hai chỉ quán gắn liền với nhau. Do vị ấy tu tập cả hai chỉ quán gắn liền với nhau, con đường được sanh khởi. Vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn, các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.

5. Lại nữa, này chư Hiền, Tỳ-khưu với các dao động đối với các pháp được hoàn toàn dứt sạch. Này các Hiền giả, đây là thời khi tâm của vị ấy an trú, an tọa, nhất tâm, định tĩnh. Với vị ấy, con đường sanh khởi. Vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn, các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.

Này chư Hiền, Tỳ-khưu hay Tỳ-khưu-ni nào tuyên bố trước mặt tôi rằng, đã chứng được quả A-la-hán, tất cả vị ấy được đầy đủ bốn chi phần này, hoặc là một trong bốn chi phần này.

* * *

AN 4.170
 
Yuganaddha Sutta: In Tandem
translated from the Pali by Thanissaro Bhikkhu

On one occasion Ven. Ananda was staying in Kosambi, at Ghosita's monastery. There he addressed the monks, "Friends!"

"Yes, friend," the monks responded.

Ven. Ananda said: "Friends, whoever — monk or nun — declares the attainment of arahantship in my presence, they all do it by means of one or another of four paths. Which four?

"There is the case where a monk has developed insight preceded by tranquillity. As he develops insight preceded by tranquillity, the path is born. He follows that path, develops it, pursues it. As he follows the path, developing it and pursuing it — his fetters are abandoned, his obsessions destroyed.

"Then there is the case where a monk has developed tranquillity preceded by insight. As he develops tranquillity preceded by insight, the path is born. He follows that path, develops it, pursues it. As he follows the path, developing it and pursuing it — his fetters are abandoned, his obsessions destroyed.

"Then there is the case where a monk has developed tranquillity in tandem with insight. As he develops tranquillity in tandem with insight, the path is born. He follows that path, develops it, pursues it. As he follows the path, developing it and pursuing it — his fetters are abandoned, his obsessions destroyed.

"Then there is the case where a monk’s mind is seized by agitation concerning the Dhamma (dhammuddhaccaviggahitam manasam) [*]. But there comes a time when his mind becomes internally steadied, settles down, and becomes unified and concentrated (samadhiyati). In him the path is born. He follows that path, develops it, pursues it. As he follows the path, developing it and pursuing it — his fetters are abandoned, his obsessions destroyed.

"Whoever — monk or nun — declares the attainment of arahantship in my presence, they all do it by means of one or another of these four paths."

[*] Other translation:
  
(Nyanaponika Thera): "... a monk’s mind is seized by agitation caused by higher states of mind".

(Sister Upalavana): "... the bhikkhu's mind seized by rightful agitation".

* * *

Notes (from: http://www.dhammawheel.com/viewtopic.php?f=17&t=8218 ) :
 
1) It is possible that the “agitation caused by higher states of mind” is mental restlessness brought on by eagerness to realize the Dhamma, a state of spiritual anxiety that sometimes can precipitate an instantaneous enlightenment experience. For an example, see the story of Bāhiya Dārucīriya at Ud 1.10.

2) The word "dhammuddhaccaviggahitam" in fact contains "uddhacca" - one of the pair in the set of uddhacca-kukkucca - restlessness and remorse.

It also ties in with the Pamsudhovaka Sutta AN 3.100, where dhammavitakka (thoughts about the Dhamma) poses a challenge to those trying to settle into samadhi :

“When he has abandoned these, there still remain thoughts about the dhamma (dhamma vitakka). That samadhi is not yet peaceful and sublime; it has not attained to full tranquillity, nor has it achieved mental unification (ekodibhava) ; it is maintained by strenuous suppression of the defilements .

But there comes a time when his mind becomes inwardly steadied , composed , unified (ekodi), and concentrated (samadhiyati) . That samadhi is then calm and refined; it has attained to full tranquillity and achieved mental unification (ekodibhava); it is not maintained by strenuous suppression of the defilements. Then to whatever dhamma realizable by supernormal knowledge he directs his mind, he achieves the capacity of realizing that state by supernormal knowledge, whenever the necessary conditions obtain .”

Dịch:

(… Tỳ khưu có tư lự, có thông minh, từ bỏ, gột sạch, chấm dứt không cho các kết sử thô tạp, kiết sử bậc trung, kiết sử vi tế sanh khởi. )
 
Làm như vậy xong, làm như vậy hoàn tất, chỉ còn lại các pháp tầm (tư tưởng về pháp).

Ðịnh như vậy không có an tịnh, không có thù thắng, không được khinh an, không đạt đến nhứt tâm, nhưng là một trạng thái chế ngự thường xuyên dằn ép. Nhưng đến một thời, này các Tỳ-khưu, tâm của vị ấy được nội trú, lắng đứng lại, được nhứt tâm, được định tĩnh. Ðịnh ấy được an tịnh, được thù diệu, được khinh an, đạt đến nhứt tâm, không phải một trạng thái chế ngự thường xuyên dằn ép, tùy thuộc vào pháp gì tâm người ấy hướng đến để thắng tri, để chứng ngộ; vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến pháp ấy, dầu thuộc loại xứ nào.

*

Friday, 15 April 2011

16 Rules for Depressions

1. Try to be PERFECT.

2. Be very critical of any mistakes or failures you might make.

3. Do what you SHOULD do, even if it is not what you want to do.

4. Always do what you are supposed to be doing.

5. Make other persons happy at any cost to yourself.

6. Work hard at pleasing your most severe critic.

7. Know that if you don’t please, the other will reject or leave you.

8. Never make a mistake.

9. Live alone and have few friends.

10. Keep your failures, mistakes, errors and faults to yourself. Never let anyone know of them, because you never want anyone to know how bad you really are. Keep your secrets personal.

11. FEAR the future, because you know it will turn out bad.

12. WORRY about how bad it will be.

13. With such an awful future, try to be in control as much as possible. Knowing you are not in self control, seek to control others and events.

14. Knowing how you really are inside — your secret self — never listen to or accept praise or compliments. They will just make you big-headed and egotistical.

15. Recognize the true importance of a negative interpretation and be certain to always emphasize the negative, and generalize it to yourself whenever possible.

16. Avoid any awareness of how your negativeness affects others. You have an important role to fulfill for them, and they need your realistic balance. 

*

Wednesday, 13 April 2011

Lịch sử ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10/03 AL)

“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng mười tháng ba
Khắp miền truyền mãi câu ca
Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm”


Câu ca dao đậm đà tình nghĩa ấy đã đi vào lòng mỗi người dân Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hàng ngàn năm nay Đền Hùng, nơi cội nguồn của dân tộc, của đất nước luôn là biểu tượng tôn kính, linh nghiêm quy tụ và gắn bó với dân tộc Việt Nam.

Từ xa xưa lễ hội Đền Hùng đã có vị thế đặc biệt trong tâm thức của người Việt Nam. Trong ngọc phả Hùng Vương (1470) đã chép “Từ đời nhà Đinh, nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần rồi đến triều đại ta bây giờ là Hồng Đức Hậu Lê vẫn cùng hương khói trong ngôi đền ở làng Trung Nghĩa (Cổ tích), ở đây nhân dân toàn quốc đều đến lễ bái để tưởng nhớ công lao của đấng Thánh Tổ Xưa”.

Đến đời nhà Nguyễn vào năm Khải Định thứ 2 (1917) tuần phủ Phú Thọ Lê Trung Ngọc đã trình bộ lễ định ngày mùng mười tháng ba âm lịch hàng năm làm ngày quốc tế (tức trước ngày Giỗ Tổ Hùng Vương một ngày, còn ngày giỗ Tổ 11 tháng 3 âm lịch do dân sở tại làm lễ).

... Từ năm 2007) Luật Lao động VN cho người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch).

Nguồn: http://denhung.org.vn
*

Chó sói và Cừu non (The Wolf and the Lamb)


Jean de La Fontaine từng viết bài thơ ngụ ngôn “Le Loup et l’Agneau” kể về con chó sói và con cừu non cùng ra suối uống nước. Con sói muốn ăn thịt con cừu bèn tìm đủ cách buộc tội con cừu. Đầu tiên con sói bảo con cừu làm bẩn nước suối của con sói. Bị con cừu bẻ: “Thưa ông, ông uống ở thượng lưu, tôi uống ở hạ lưu, thì chỉ có ông làm bẩn nước của tôi chứ làm sao tôi có thể làm bẩn nước của ông được?”, con sói nói: “Năm ngoái mày đã phỉ báng tao!” Con cừu trả lời: “Thưa ông, năm ngoái tôi chưa ra đời.” Con sói nói: “Thế thì thằng anh mày đã phỉ báng tao!” Con cừu đáp: “Thưa ông tôi là con một.” Con sói rống lên: “Thế thì một đứa trong lũ chúng mày đã nói xấu tao, thằng chăn chúng mày đã nói xấu tao, con chó chăn chúng mày đã nói xấu, tao phải trả thù!” Thế rồi con sói vồ con cừu nhai ngấu nghiến. La Fontaine kết luận: “Lý lẽ kẻ mạnh bao giờ cũng thắng (La raison du plus fort est toujours la meilleure). Nguồn: Nguyễn Đình Đăng, 10/04/2011; http://nguyendinhdang.wordpress.com/ 


*
CHÓ SÓI VÀ CỪU CON

Lý kẻ mạnh bao giờ cũng thắng,
Chuyện sau đây hãy ngẫm cho tường.

Chú Cừu nhỏ suối trong uống nước,
Bỗng Sói rừng dạo bước gần bên.
Tìm ăn, bụng đã đói mềm,
Lang thang bắt gặp Cừu non suối nầy.

Sói lên giọng gắt gay mắng bảo:
- Con Cừu kia mày láo quá ha!
Làm ngầu dòng nước của ta,
Tội này đáng chết không tha được rồi.

- Xin Bệ hạ xét soi đừng giận,
Ở cuối nguồn khôn vẩn dòng trên.

- Mầy làm vẩn! Thêm năm ngoái nữa,
Nói xấu tao ở giữa bao người.

- Làm sao thế được trời ơi,
Vì năm ngoái ấy tôi thời chửa sinh.
Mà nay nữa còn quanh vú mẹ,

- Nếu không mày, có thể thằng anh.

- Thưa ngài tôi chẳng có anh,

- Thế thì một kẻ gia đình mày đây.
Đã coi tao không đầy múng mẩy,
Tụi chăn bay cũng vậy khác nào.
Người ta họ đã bảo tao,
Thù này nay phải buộc vào cổ ngươi.

Sói nói đoạn quật tươi Cừu nọ,
Đem vào rừng gần đó Sói xơi,
Chẳng cần lý luận lôi thôi.



THE WOLF AND THE LAMB.

That innocence is not a shield,
A story teaches, not the longest.
The strongest reasons always yield
To reasons of the strongest.

A lamb her thirst was slaking,
Once, at a mountain rill.
A hungry wolf was taking
His hunt for sheep to kill,
When, spying on the streamlet’s brink
This sheep of tender age,

He howl’d in tones of rage,
‘How dare you roil my drink?
Your impudence I shall chastise!’

‘Let not your majesty,’ the lamb replies,
‘Decide in haste or passion!
For sure ’tis difficult to think
In what respect or fashion
My drinking here could roil your drink,
Since on the stream your majesty now faces
I’m lower down, full twenty paces.’

‘You roil it,’ said the wolf; ‘and, more, I know
You cursed and slander’d me a year ago.’

‘O no! how could I such a thing have done!
A lamb that has not seen a year,
A suckling of its mother dear?’

‘Your brother then.’

‘But brother I have none.’

‘Well, well, what’s all the same,
’Twas some one of your name.
Sheep, men, and dogs of every nation,
Are wont to stab my reputation,
As I have truly heard.’

Without another word,
He made his vengeance good —
Bore off the lambkin to the wood,
And there, without a jury,
Judged, slew, and ate her in his fury.

*
  

Wednesday, 6 April 2011

Meditation, a powerful tool against pain: study

AFP, April 6, 2011
*

Meditation can deliver powerful pain-relieving effects to the brain with even just 80 minutes' training for a beginner in an exercise called focused attention, a study released on Tuesday found.

"This is the first study to show that only a little over an hour of meditation training can dramatically reduce both the experience of pain and pain-related brain activation," said Fadel Zeidan, lead author of the study and a post-doctoral research fellow at Wake Forest Baptist Medical Centre in North Carolina.

The findings appear in the April 6 issue of the Journal of Neuroscience.

"We found a big effect - about a 40 per cent reduction in pain intensity and a 57 per cent reduction in pain unpleasantness. Meditation produced a greater reduction in pain than even morphine or other pain-relieving drugs, which typically reduce pain ratings by about 25 per cent," he added.

Researchers looked at 15 fit volunteers who had never meditated. The subjects each took four 20-minute sessions to learn how to control their breathing and put aside their emotions and thoughts.

Before and after sessions, subjects' brain activity was monitored with a special type of magnetic resonance imaging (MRI).

Called "arterial spin labeling magnetic resonance imaging" (ASL MRI), it is able to give readings on longer duration brain processes, such as meditation, better than a standard MRI scan of brain function.

When ASL MRIs were being taken, a pain-inducing heat device was put on participants' right legs. It heated a small area of their skin to 120 degrees Fahrenheit, which most people would find painful, for five minutes.

Scans taken after meditation training showed that all of the volunteers' pain ratings were reduced, with drops from 11 to 93 per cent, Zeidan said.

Meanwhile meditation also reduced brain activity in the primary somatosensory cortex, an area that is involved in creating the feeling of where and how intense a painful stimulus is.

Scans done before meditation training showed activity in this area was very high; but when participants were meditating during scans, activity in this important pain-processing region could not be detected.

"One of the reasons that meditation may have been so effective in blocking pain was that it did not work at just one place in the brain, but instead reduced pain at multiple levels of processing," Zeidan added.

*

Source: http://www.smh.com.au/lifestyle/wellbeing/meditation-a-powerful-tool-against-pain-study-20110406-1d3ee.html


*