Wednesday, 24 January 2024

ĐẠI KINH THIẾT LẬP NIỆM (DN 22)

ĐẠI KINH THIẾT LẬP NIỆM (DN 22) 
MAHĀSATIPAṬṬHĀNA SUTTA 
Tỳ-khưu Indacanda dịch Việt

*

1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn ngụ ở xứ sở của những người Kuru; có một thị trấn của những người Kuru tên là Kammāsadamma. Tại nơi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các vị tỳ khưu rằng: “Này các tỳ khưu.” “Thưa đức Ngài,” các vị tỳ khưu ấy đã đáp lại đức Thế Tôn như thế. Đức Thế Tôn đã nói điều này:

2. “Này các tỳ khưu, đây là con đường độc đạo [1] đưa đến sự thanh tịnh cho các chúng sinh, đưa đến sự vượt qua hẳn sầu và bi, đưa đến sự biến mất của khổ ưu, [2] đưa đến việc đạt được phương pháp, [3] đưa đến việc chứng ngộ Niết Bàn, tức là bốn sự thiết lập niệm. Bốn (sự thiết lập niệm) là những gì? Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu—

- sống [4] có sự quan sát thân ở thân, [5] có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ, có niệm, sau khi đã loại trừ [6] tham đắm và ưu phiền ở thế gian.[7]

- sống có sự quan sát thọ ở các thọ, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ, có niệm, sau khi đã loại trừ tham đắm và ưu phiền ở thế gian.

- sống có sự quan sát tâm ở tâm, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ, có niệm, sau khi đã loại trừ tham đắm và ưu phiền ở thế gian.

- sống có sự quan sát pháp ở các pháp, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ, có niệm, sau khi đã loại trừ tham đắm và ưu phiền ở thế gian.

Phần Nhập Đề được kết thúc.

*

I. VIỆC QUAN SÁT THÂN

3. Và này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân ở thân là thế nào? Ở đây, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến ngôi nhà trống, ngồi xuống, xếp chân thế kiết già, giữ thân thẳng và thiết lập niệm luôn hiện diện. Trú niệm, vị ấy thở vào; trú niệm, vị ấy thở ra.[8] Trong khi thở vào dài, vị ấy biết rõ: Tôi thở vào dài,” hoặc [9] trong khi thở ra dài, vị ấy biết rõ: Tôi thở ra dài,” hoặc trong khi thở vào ngắn, vị ấy biết rõ: Tôi thở vào ngắn,” hoặc trong khi thở ra ngắn, vị ấy biết rõ: Tôi thở ra ngắn.” “Cảm giác toàn thân, [10] tôi sẽ thở vào” vị ấy thực tập, “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra” vị ấy thực tập. “Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở vào” vị ấy thực tập, “Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở ra” vị ấy thực tập.

4. Này các tỳ khưu, cũng giống như người thợ tiện hoặc học trò của người thợ tiện lành nghề, trong khi kéo (dây quay) dài, vị ấy biết rõ: “Tôi kéo (dây quay) dài,” hoặc trong khi kéo (dây quay) ngắn, vị ấy biết rõ: “Tôi kéo (dây quay) ngắn,” tương tự y như vậy, vị tỳ khưu trong khi thở vào dài, vị ấy biết rõ: “Tôi thở vào dài,” hoặc trong khi thở ra dài, vị ấy biết rõ: “Tôi thở ra dài,” hoặc trong khi thở vào ngắn, vị ấy biết rõ: “Tôi thở vào ngắn,” hoặc trong khi thở ra ngắn, vị ấy biết rõ: “Tôi thở ra ngắn.” “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vào” vị ấy thực tập, “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra” vị ấy thực tập. “Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở vào” vị ấy thực tập, “Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở ra” vị ấy thực tập.

Như thế, vị ấy sống có sự quan sát thân ở thân thuộc nội phần,[11] hoặc sống có sự quan sát thân ở thân thuộc ngoại phần, hoặc sống có sự quan sát thân ở thân thuc nội phần và ngoại phần.

Hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi ở thân, hoặc sống có sự quan sát pháp hoại diệt ở thân, hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi hoại diệt ở thân.

Hoặc hơn nữa, niệm “có thân” được hình thành cho vị này chỉ để đưa đến việc đạt được trí, đưa đến việc đạt được niệm. Vị ấy sống không nương tựa và không chấp thủ vào bất cứ điều gì ở thế gian.[12]

Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân ở thân là như vậy.

Phần Hơi Thở Vào - Hơi Thở Ra được kết thúc.

5. Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu trong khi đi biết rõ: “Tôi đi;” hoặc khi đứng, biết rõ: “Tôi đứng;” hoặc khi ngồi xuống, biết rõ: “Tôi ngồi xuống;” hoặc trong khi nằm, biết rõ: “Tôi đang nằm;” hoặc thân của vị này được vận hành như thế nào thì biết rõ nó như thế ấy.

Như thế, vị ấy sống có sự quan sát thân ở thân thuộc nội phần, hoặc sống có sự quan sát thân ở thân thuộc ngoại phần, hoặc sống có sự quan sát thân ở thân thuộc nội phần và ngoại phần.

Hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi ở thân, hoặc sống có sự quan sát pháp hoại diệt ở thân, hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi và hoại diệt ở thân.

Hoặc hơn nữa, niệm “có thân” được hình thành cho vị này chỉ để đưa đến việc đạt được trí, đưa đến việc đạt được niệm. Vị ấy sống không nương tựa và không chấp thủ vào bất cứ điều gì ở thế gian.

Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân ở thân là như vậy.

Phần Oai Nghi được kết thúc.

6. Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu có sự thực hành việc nhận biết rõ trong khi đi tới đi lui; có sự thực hành việc nhận biết rõ khi nhìn qua nhìn lại; có sự thực hành việc nhận biết rõ khi co khi duỗi (tay chân); có sự thực hành việc nhận biết rõ trong việc mang y hai lớp, bình bát, và y phục; có sự thực hành việc nhận biết rõ khi ăn, khi uống, khi nhai, khi nếm; có sự thực hành việc nhận biết rõ ở hành động đại tiện tiểu tiện; có sự thực hành việc nhận biết rõ khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi ngủ, khi thức, khi nói, khi im lặng.

Như thế, vị ấy sống có sự quan sát thân ở thân thuộc nội phần, hoặc sống có sự quan sát thân ở thân thuộc ngoại phần, hoặc sống có sự quan sát thân ở thân thuộc nội phần và ngoại phần.

Hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi ở thân, hoặc sống có sự quan sát pháp hoại diệt ở thân, hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi và hoại diệt ở thân.

Hoặc hơn nữa, niệm “có thân” được hình thành cho vị này chỉ để đưa đến việc đạt được trí, đưa đến việc đạt được niệm. Vị ấy sống không nương tựa và không chấp thủ vào bất cứ điều gì ở thế gian.

Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân ở thân là như vậy.

Phần Nhận Biết Rõ được kết thúc.

7. Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu xem xét chính thân này từ lòng bàn chân trở lên, từ đỉnh ngọn tóc trở xuống, được bao bọc bởi da, chứa đầy các thành phần bất tịnh khác nhau:

“Ở thân này có tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy xương, thận, tim, gan, cơ hoành, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, thực phẩm chưa tiêu, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, nước mỡ (huyết tương), nước miếng, nước mũi, nước ở khớp xương, nước tiểu.”

Này các tỳ khưu, cũng giống như cái bao có miệng ở cả hai đầu chứa đầy các loại hạt khác nhau, như là: gạo sāli, lúa mì, đậu xanh, đậu māsa, hạt mè, gạo trắng. Một người có mắt mở túi ấy ra và xem xét rằng: “Các hạt này là gạo sāli, các hạt này là lúa mì, các hạt này là đậu xanh, các hạt này là đậu māsa, các hạt này là hạt mè, các hạt này là gạo trắng,” tương tự y như vậy, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xem xét chính thân này từ lòng bàn chân trở lên, từ đỉnh ngọn tóc trở xuống, được bao bọc bởi da, chứa đầy các thành phần bất tịnh khác nhau: “Ở thân này có tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy xương, thận, tim, gan, cơ hoành, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, thực phẩm chưa tiêu, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, nước mỡ (huyết tương), nước miếng, nước mũi, nước ở khớp xương, nước tiểu.”

Như thế, vị ấy sống có sự quan sát thân ở thân thuộc nội phần, hoặc sống có sự quan sát thân ở thân thuộc ngoại phần, hoặc sống có sự quan sát thân ở thân thuộc nội phần và ngoại phần.

Hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi ở thân, hoặc sống có sự quan sát pháp hoại diệt ở thân, hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi và hoại diệt ở thân.

Hoặc hơn nữa, niệm “có thân” được hình thành cho vị này chỉ để đưa đến việc đạt được trí, đưa đến việc đạt được niệm. Vị ấy sống không nương tựa và không chấp thủ vào bất cứ điều gì ở thế gian.

Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân ở thân là như vậy.

Phần Tác Ý Vật Ghê Tởm được kết thúc.

8. Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu xem xét chính thân này theo cách được bố trí, theo cách được vận hành về khía cạnh nguyên tố [13]: “Ở thân này có nguyên tố đất, nguyên tố nước, nguyên tố lửa, nguyên tố gió.”

Này các tỳ khưu, cũng giống như người đồ tể hoặc học trò của người đồ tể lành nghề sau khi giết chết con bò cái rồi ngồi ở ngã tư đường lớn phân chia thành từng phần, tương tự y như vậy, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xem xét chính thân này theo cách được bố trí, theo cách được vận hành về khía cạnh nguyên tố: “Ở thân này có nguyên tố đất, nguyên tố nước, nguyên tố lửa, nguyên tố gió.”

Như thế, vị ấy sống có sự quan sát thân ở thân thuộc nội phần, hoặc sống có sự quan sát thân ở thân thuộc ngoại phần, hoặc sống có sự quan sát thân ở thân thuộc nội phần và ngoại phần.

Hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi ở thân, hoặc sống có sự quan sát pháp hoại diệt ở thân, hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi và hoại diệt ở thân.

Hoặc hơn nữa, niệm “có thân” được hình thành cho vị này chỉ để đưa đến việc đạt được trí, đưa đến việc đạt được niệm. Vị ấy sống không nương tựa và không chấp thủ vào bất cứ điều gì ở thế gian.

Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân ở thân là như vậy.

Phần Tác Ý Nguyên Tố được kết thúc.

9. Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, cũng giống như vị tỳ khưu nhìn thấy thân xác bị quăng bỏ ở bãi tha ma đã chết một ngày, hoặc đã chết hai ngày, hoặc đã chết ba ngày, tử thi đã bị trương sình, đã đổi màu xanh, đã trạng thái chảy nước vàng. Vị ấy so sánh chính thân này (với tử thi ấy): “Thân này cũng có tính chất như vậy, có bản chất như vậy, không vượt qua điều ấy.”

Như thế, vị ấy sống có sự quan sát thân ở thân thuộc nội phần, hoặc sống có sự quan sát thân ở thân thuộc ngoại phần, hoặc sống có sự quan sát thân ở thân thuộc nội phần và ngoại phần.

Hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi ở thân, hoặc sống có sự quan sát pháp hoại diệt ở thân, hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi và hoại diệt ở thân.

Hoặc hơn nữa, niệm “có thân” được hình thành cho vị này chỉ để đưa đến việc đạt được trí, đưa đến việc đạt được niệm. Vị ấy sống không nương tựa và không chấp thủ vào bất cứ điều gì ở thế gian.

Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân ở thân là như vậy.

(Bãi Tha Ma - thứ nhất)

10. Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, cũng giống như vị tỳ khưu nhìn thấy thân xác bị quăng bỏ ở bãi tha ma đang bị các chim quạ ăn, hoặc đang bị các chim diều hâu ăn, hoặc đang bị các chim kên kên ăn, hoặc đang bị các con chó ăn, hoặc đang bị các chó rừng ăn, hoặc đang bị nhiều loại côn trùng ăn. Vị ấy so sánh chính thân này (với tử thi ấy): “Thân này cũng có tính chất như vậy, có bản chất như vậy, không vượt qua điều ấy.”

Như thế, vị ấy sống có sự quan sát thân ở thân thuộc nội phần, hoặc sống có sự quan sát thân ở thân thuộc ngoại phần, hoặc sống có sự quan sát thân ở thân thuộc nội phần và ngoại phần.

Hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi ở thân, hoặc sống có sự quan sát pháp hoại diệt ở thân, hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi và hoại diệt ở thân.

Hoặc hơn nữa, niệm “có thân” được hình thành cho vị này chỉ để đưa đến việc đạt được trí, đưa đến việc đạt được niệm. Vị ấy sống không nương tựa và không chấp thủ vào bất cứ điều gì ở thế gian.

Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân ở thân là như vậy.

(Bãi Tha Ma - thứ nhì)

11. Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, cũng giống như vị tỳ khưu nhìn thấy thân xác bị quăng bỏ ở bãi tha ma là bộ xương với thịt và máu, được kết lại với nhau bằng những sợi gân. Vị ấy so sánh chính thân này (với tử thi ấy): “Thân này cũng có tính chất như vậy, có bản chất như vậy, không vượt qua điều ấy.”

Như thế, vị ấy sống có sự quan sát thân ở thân thuộc nội phần, hoặc sống có sự quan sát thân ở thân thuộc ngoại phần, hoặc sống có sự quan sát thân ở thân thuộc nội phần và ngoại phần.

Hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi ở thân, hoặc sống có sự quan sát pháp hoại diệt ở thân, hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi và hoại diệt ở thân.

Hoặc hơn nữa, niệm “có thân” được hình thành cho vị này chỉ để đưa đến việc đạt được trí, đưa đến việc đạt được niệm. Vị ấy sống không nương tựa và không chấp thủ vào bất cứ điều gì ở thế gian.

Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân ở thân là như vậy.

(Bãi Tha Ma - thứ ba)

12. Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, cũng giống như vị tỳ khưu nhìn thấy thân xác bị quăng bỏ ở bãi tha ma là bộ xương không còn thịt, bị lấm lem bởi máu, được kết lại với nhau bằng những sợi gân. Vị ấy so sánh chính thân này (với tử thi ấy): “Thân này cũng có tính chất như vậy, có bản chất như vậy, không vượt qua điều ấy.”

Như thế, vị ấy sống có sự quan sát thân ở thân thuộc nội phần, hoặc sống có sự quan sát thân ở thân thuộc ngoại phần, hoặc sống có sự quan sát thân ở thân thuộc nội phần và ngoại phần.

Hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi ở thân, hoặc sống có sự quan sát pháp hoại diệt ở thân, hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi và hoại diệt ở thân.

Hoặc hơn nữa, niệm “có thân” được hình thành cho vị này chỉ để đưa đến việc đạt được trí, đưa đến việc đạt được niệm. Vị ấy sống không nương tựa và không chấp thủ vào bất cứ điều gì ở thế gian.

Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân ở thân là như vậy.

(Bãi Tha Ma - thứ tư)

13. Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, cũng giống như vị tỳ khưu nhìn thấy thân xác bị quăng bỏ ở bãi tha ma là bộ xương, thịt và máu đã không còn, được kết lại với nhau bằng những sợi gân. Vị ấy so sánh chính thân này (với tử thi ấy): “Thân này cũng có tính chất như vậy, có bản chất như vậy, không vượt qua điều ấy.”

Như thế, vị ấy sống có sự quan sát thân ở thân thuộc nội phần, hoặc sống có sự quan sát thân ở thân thuộc ngoại phần, hoặc sống có sự quan sát thân ở thân thuộc nội phần và ngoại phần.

Hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi ở thân, hoặc sống có sự quan sát pháp hoại diệt ở thân, hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi và hoại diệt ở thân.

Hoặc hơn nữa, niệm “có thân” được hình thành cho vị này chỉ để đưa đến việc đạt được trí, đưa đến việc đạt được niệm. Vị ấy sống không nương tựa và không chấp thủ vào bất cứ điều gì ở thế gian.

Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân ở thân là như vậy.

(Bãi Tha Ma - thứ năm)

14. Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, cũng giống như vị tỳ khưu nhìn thấy thân xác bị quăng bỏ ở bãi tha ma là các mẩu xương không còn các sự gắn kết, bị vương vãi khắp các hướng, nơi này xương bàn tay, nơi nọ xương bàn chân, nơi kia xương cổ chân, nơi này xương ống chân, nơi nọ xương đùi, nơi kia xương sống, nơi này xương chậu, nơi nọ xương vai, nơi kia xương cổ, nơi này xương răng, nơi nọ xương đầu. Vị ấy so sánh chính thân này (với tử thi ấy): “Thân này cũng có tính chất như vậy, có bản chất như vậy, không vượt qua điều ấy.”

Như thế, vị ấy sống có sự quan sát thân ở thân thuộc nội phần, hoặc sống có sự quan sát thân ở thân thuộc ngoại phần, hoặc sống có sự quan sát thân ở thân thuộc nội phần và ngoại phần.

Hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi ở thân, hoặc sống có sự quan sát pháp hoại diệt ở thân, hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi và hoại diệt ở thân.

Hoặc hơn nữa, niệm “có thân” được hình thành cho vị này chỉ để đưa đến việc đạt được trí, đưa đến việc đạt được niệm. Vị ấy sống không nương tựa và không chấp thủ vào bất cứ điều gì ở thế gian.

Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân ở thân là như vậy.

(Bãi Tha Ma - thứ sáu)

15. Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, cũng giống như vị tỳ khưu nhìn thấy thân xác bị quăng bỏ ở bãi tha ma là các mẩu xương màu trắng tương tự màu vỏ sò. Vị ấy so sánh chính thân này (với tử thi ấy): “Thân này cũng có tính chất như vậy, có bản chất như vậy, không vượt qua điều ấy.”

Như thế, vị ấy sống có sự quan sát thân ở thân thuộc nội phần, hoặc sống có sự quan sát thân ở thân thuộc ngoại phần, hoặc sống có sự quan sát thân ở thân thuộc nội phần và ngoại phần.

Hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi ở thân, hoặc sống có sự quan sát pháp hoại diệt ở thân, hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi và hoại diệt ở thân.

Hoặc hơn nữa, niệm “có thân” được hình thành cho vị này chỉ để đưa đến việc đạt được trí, đưa đến việc đạt được niệm. Vị ấy sống không nương tựa và không chấp thủ vào bất cứ điều gì ở thế gian.

Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân ở thân là như vậy.

(Bãi Tha Ma - thứ bảy)

16. Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, cũng giống như vị tỳ khưu nhìn thấy thân xác bị quăng bỏ ở bãi tha ma là các mẩu xương được chất thành đống đã hơn một năm. Vị ấy so sánh chính thân này (với tử thi ấy): “Thân này cũng có tính chất như vậy, có bản chất như vậy, không vượt qua điều ấy.”

Như thế, vị ấy sống có sự quan sát thân ở thân thuộc nội phần, hoặc sống có sự quan sát thân ở thân thuộc ngoại phần, hoặc sống có sự quan sát thân ở thân thuộc nội phần và ngoại phần.

Hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi ở thân, hoặc sống có sự quan sát pháp hoại diệt ở thân, hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi và hoại diệt ở thân.

Hoặc hơn nữa, niệm “có thân” được hình thành cho vị này chỉ để đưa đến việc đạt được trí, đưa đến việc đạt được niệm. Vị ấy sống không nương tựa và không chấp thủ vào bất cứ điều gì ở thế gian.

Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân ở thân là như vậy.

(Bãi Tha Ma - thứ tám)

17. Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, cũng giống như vị tỳ khưu nhìn thấy thân xác bị quăng bỏ ở bãi tha ma là các mẩu xương hôi thối, trở thành bột. Vị ấy so sánh chính thân này (với tử thi ấy): “Thân này cũng có tính chất như vậy, có bản chất như vậy, không vượt qua điều ấy.”

Như thế, vị ấy sống có sự quan sát thân ở thân thuộc nội phần, hoặc sống có sự quan sát thân ở thân thuộc ngoại phần, hoặc sống có sự quan sát thân ở thân thuộc nội phần và ngoại phần.

Hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi ở thân, hoặc sống có sự quan sát pháp hoại diệt ở thân, hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi và hoại diệt ở thân.

Hoặc hơn nữa, niệm “có thân” được hình thành cho vị này chỉ để đưa đến việc đạt được trí, đưa đến việc đạt được niệm. Vị ấy sống không nương tựa và không chấp thủ vào bất cứ điều gì ở thế gian.

Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân ở thân là như vậy.

(Bãi Tha Ma - thứ chín)

Mười bốn Việc Quan Sát Thân được kết thúc.

*

II. VIỆC QUAN SÁT THỌ

18. Và này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát thọ ở các thọ là thế nào? Ở đây, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu trong khi cảm giác [14] thọ lạc, biết rõ (rằng): “Tôi cảm giác thọ lạc.” Hoặc trong khi cảm giác thọ khổ, biết rõ (rằng): “Tôi cảm giác thọ khổ.” Hoặc trong khi cảm giác thọ không khổ không lạc, biết rõ (rằng): “Tôi cảm giác thọ không khổ không lạc.

Hoặc trong khi cảm giác thọ lạc có hệ lụy vật chất,[15] biết rõ (rằng): “Tôi cảm giác thọ lạc có hệ lụy vật chất.” Hoặc trong khi cảm giác thọ lạc không hệ lụy vật chất, biết rõ (rằng): “Tôi cảm giác thọ lạc không hệ lụy vật chất.” Hoặc trong khi cảm giác thọ khổ có hệ lụy vật chất, biết rõ (rằng): “Tôi cảm giác thọ khổ có hệ lụy vật chất.” Hoặc trong khi cảm giác thọ khổ không hệ lụy vật chất, biết rõ (rằng): “Tôi cảm giác thọ khổ không hệ lụy vật chất.” Hoặc trong khi cảm giác thọ không khổ không lạc có hệ lụy vật chất, biết rõ (rằng): “Tôi cảm giác thọ không khổ không lạc có hệ lụy vật chất.” Hoặc trong khi cảm giác thọ không khổ không lạc không hệ lụy vật chất, biết rõ (rằng): “Tôi cảm giác thọ không khổ không lạc không hệ lụy vật chất.

Như thế, vị ấy sống có sự quan sát thọ ở các thọ thuộc nội phần, hoặc sống có sự quan sát thọ ở các thọ thuộc ngoại phần, hoặc sống có sự quan sát thọ ở các thọ thuộc nội phần và ngoại phần.

Hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi ở các thọ, hoặc sống có sự quan sát pháp hoại diệt ở các thọ, hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi và hoại diệt ở các thọ.

Hoặc hơn nữa, niệm “có thọ” được hình thành cho vị này chỉ để đưa đến việc đạt được trí, đưa đến việc đạt được niệm. Vị ấy sống không nương tựa và không chấp thủ vào bất cứ điều gì ở thế gian.[16]

Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát thọ ở các thọ là như vậy.

Việc Quan Sát Thọ được kết thúc.

*

III. VIỆC QUAN SÁT TÂM

19. Và này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát tâm tâm là thế nào? Ở đây, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu biết rõ tâm có luyến ái là: “Tâm có luyến ái,” hoặc biết rõ tâm đã xa lìa luyến ái là: “Tâm đã xa lìa luyến ái,” hoặc biết rõ tâm có sân hận là: “Tâm có sân hận,” hoặc biết rõ tâm đã xa lìa sân hận là: Tâm đã xa lìa sân hận,” hoặc biết rõ tâm có si mê là: Tâm có si mê,” hoặc biết rõ tâm đã xa lìa si mê là: “Tâm đã xa lìa si mê,” hoặc biết rõ tâm bị thâu hẹp [17] là: Tâm bị thâu hẹp,” hoặc biết rõ tâm bị tán loạn là: “Tâm bị tán loạn,” hoặc biết rõ tâm đại hành [18] là: Tâm đại hành,” hoặc biết rõ tâm không đại hành là: Tâm không đại hành,” hoặc biết rõ tâm hữu thượng [19] là: Tâm hữu thượng,” hoặc biết rõ tâm vô thượng là: “Tâm vô thượng,” hoặc biết rõ tâm định tĩnh là: “Tâm định tĩnh,” hoặc biết rõ tâm không định tĩnh là: “Tâm không định tĩnh,” hoặc biết rõ tâm được giải thoát là: “Tâm được giải thoát,” hoặc biết rõ tâm không được giải thoát là: “Tâm không được giải thoát.

Như thế, vị ấy sống có sự quan sát tâm ở tâm thuộc nội phần, hoặc sống có sự quan sát tâm ở tâm thuộc ngoại phần, hoặc sống có sự quan sát tâm ở tâm thuộc nội phần và ngoại phần.

Hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi ở tâm, hoặc sống có sự quan sát pháp hoại diệt ở tâm, hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi và hoại diệt ở tâm.

Hoặc hơn nữa, niệm “có tâm” được hình thành cho vị này chỉ để đưa đến việc đạt được trí, đưa đến việc đạt được niệm. Vị ấy sống không nương tựa và không chấp thủ vào bất cứ điều gì ở thế gian.

Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát tâm ở tâm là như vậy.

Việc Quan Sát Tâm được kết thúc.

*

IV. VIỆC QUAN SÁT PHÁP

20. Và này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát pháp ở các pháp là thế nào?

Ở đây, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát pháp ở các pháp về năm pháp che lấp. Và này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát pháp ở các pháp về năm pháp che lấp là thế nào?

Ở đây, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu, trong khi sự mong muốn về dục thuộc nội phần đang hiện hữu, biết rõ (rằng): “sự mong muốn về dục thuộc nội phần của tôi;” hoặc trong khi sự mong muốn về dục thuộc nội phần không hiện hữu, biết rõ (rằng): “Không có sự mong muốn về dục thuộc nội phần của tôi.” Việc sanh ra của sự mong muốn về dục chưa được sanh ra là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy; việc dứt bỏ đối với sự mong muốn về dục đã được sanh ra là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy; và việc không sanh ra của sự mong muốn về dục đã được dứt bỏ là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy.

Trong khi thù oán thuộc nội phần đang hiện hữu, biết rõ (rằng): “Có thù oán thuộc nội phần của tôi;” hoặc trong khi thù oán thuộc nội phần không hiện hữu, biết rõ (rằng): “Không có thù oán thuộc nội phần của tôi.” Việc sanh ra của thù oán chưa được sanh ra là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy; việc dứt bỏ đối với thù oán đã được sanh ra là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy; và việc không sanh ra của thù oán đã được dứt bỏ là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy.

Trong khi dã dượi và buồn ngủ thuộc nội phần đang hiện hữu, biết rõ (rằng): “dã dượi và buồn ngủ thuộc nội phần của tôi;” hoặc trong khi dã dượi và buồn ngủ thuộc nội phần không hiện hữu, biết rõ (rằng): “Không có dã dượi và buồn ngủ thuộc nội phần của tôi.” Việc sanh ra của dã dượi và buồn ngủ chưa được sanh ra là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy; việc dứt bỏ đối với dã dượi và buồn ngủ đã được sanh ra là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy; và việc không sanh ra của dã dượi và buồn ngủ đã được dứt bỏ là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy.

Trong khi phóng dật và hối hận thuộc nội phần đang hiện hữu, biết rõ (rằng): “Có phóng dật và hối hận thuộc nội phần của tôi;” hoặc trong khi phóng dật và hối hận thuộc nội phần không hiện hữu, biết rõ (rằng): “Không có phóng dật và hối hận thuộc nội phần của tôi.” Việc sanh ra của phóng dật và hối hận chưa được sanh ra là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy; việc dứt bỏ đối với phóng dật và hối hận đã được sanh ra là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy; và việc không sanh ra của phóng dật và hối hận đã được dứt bỏ là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy.

Trong khi hoài nghi thuộc nội phần đang hiện hữu, biết rõ (rằng): “Có hoài nghi thuộc nội phần của tôi;” hoặc trong khi hoài nghi thuộc nội phần không hiện hữu, biết rõ (rằng): “Không có hoài nghi thuộc nội phần của tôi.” Việc sanh ra của hoài nghi chưa được sanh ra là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy; việc dứt bỏ đối với hoài nghi đã được sanh ra là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy; và việc không sanh ra của hoài nghi đã được dứt bỏ là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy.

Như thế, vị ấy sống có sự quan sát pháp ở các pháp thuộc nội phần, hoặc sống có sự quan sát pháp ở các pháp thuộc ngoại phần, hoặc sống có sự quan sát pháp ở các pháp thuộc nội phần và ngoại phần.

Hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi ở các pháp, hoặc sống có sự quan sát pháp hoại diệt ở các pháp, hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi và hoại diệt ở các pháp.

Hoặc hơn nữa, niệm “có pháp” được hình thành cho vị này chỉ để đưa đến việc đạt được trí, đưa đến việc đạt được niệm. Vị ấy sống không nương tựa và không chấp thủ vào bất cứ điều gì ở thế gian.

Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát pháp ở các pháp về năm pháp che lấp là như vậy.

(Phần Pháp Che Lấp được kết thúc)

21. Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu sống có sự quan sát pháp ở các pháp về năm thủ uẩn.[20] Và này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát pháp ở các pháp về năm thủ uẩn là thế nào?

Ở đây, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu (biết rõ [21]): Thế này là sắc, thế này là sự sanh khởi của sắc, thế này là sự biến mất của sắc. Thế này là thọ, thế này là sự sanh khởi của thọ, thế này là sự biến mất của thọ. Thế này là tưởng, thế này là sự sanh khởi của tưởng, thế này là sự biến mất của tưởng. Thế này là các hành, thế này là sự sanh khởi của các hành, thế này là sự biến mất của các hành. Thế này là thức, thế này là sự sanh khởi của thức, thế này là sự biến mất của thức.

Như thế, vị ấy sống có sự quan sát pháp ở các pháp thuộc nội phần, hoặc sống có sự quan sát pháp ở các pháp thuộc ngoại phần, hoặc sống có sự quan sát pháp ở các pháp thuộc nội phần và ngoại phần.

Hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi ở các pháp, hoặc sống có sự quan sát pháp hoại diệt ở các pháp, hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi và hoại diệt ở các pháp.

Hoặc hơn nữa, niệm “có pháp” được hình thành cho vị này chỉ để đưa đến việc đạt được trí, đưa đến việc đạt được niệm. Vị ấy sống không nương tựa và không chấp thủ vào bất cứ điều gì ở thế gian.

Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát pháp ở các pháp về năm thủ uẩn là như vậy.

(Phần Uẩn được kết thúc)

22. Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu sống có sự quan sát pháp ở các pháp về sáu nội và ngoại xứ. Và này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát pháp ở các pháp về sáu nội và ngoại xứ là thế nào?

Ở đây, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu biết rõ mắt, biết rõ các sắc, sự ràng buộc sanh lên tùy thuộc vào cả hai nơi ấy (mắt và các sắc), vị ấy biết rõ điều ấy. Việc sanh lên của sự ràng buộc chưa được sanh lên là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy; việc dứt bỏ đối với sự ràng buộc đã được sanh lên là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy; và việc không sanh lên trong tương lai của sự ràng buộc đã được dứt bỏ là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy.

Vị ấy biết rõ tai, biết rõ các thinh, và sự ràng buộc nào sanh lên tùy thuộc vào cả hai nơi ấy (tai và các thinh), vị ấy biết rõ điều ấy. Việc sanh lên của sự ràng buộc chưa được sanh lên là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy; việc dứt bỏ đối với sự ràng buộc đã được sanh lên là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy; và việc không sanh lên trong tương lai của sự ràng buộc đã được dứt bỏ là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy.

Vị ấy biết rõ mũi, biết rõ các hương, và sự ràng buộc nào sanh lên tùy thuộc vào cả hai nơi ấy (mũi và các hương), vị ấy biết rõ điều ấy. Việc sanh lên của sự ràng buộc chưa được sanh lên là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy; việc dứt bỏ đối với sự ràng buộc đã được sanh lên là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy; và việc không sanh lên trong tương lai của sự ràng buộc đã được dứt bỏ là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy.

Vị ấy biết rõ lưỡi, biết rõ các vị, và sự ràng buộc nào sanh lên tùy thuộc vào cả hai nơi ấy (lưỡi và các vị), vị ấy biết rõ điều ấy. Việc sanh lên của sự ràng buộc chưa được sanh lên là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy; việc dứt bỏ đối với sự ràng buộc đã được sanh lên là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy; và việc không sanh lên trong tương lai của sự ràng buộc đã được dứt bỏ là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy.

Vị ấy biết rõ thân, biết rõ các xúc, và sự ràng buộc nào sanh lên tùy thuộc vào cả hai nơi ấy (thân và các xúc), vị ấy biết rõ điều ấy. Việc sanh lên của sự ràng buộc chưa được sanh lên là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy; việc dứt bỏ đối với sự ràng buộc đã được sanh lên là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy; và việc không sanh lên trong tương lai của sự ràng buộc đã được dứt bỏ là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy.

Vị ấy biết rõ ý, biết rõ các pháp, và sự ràng buộc nào sanh lên tùy thuộc vào cả hai nơi ấy (ý và các pháp), vị ấy biết rõ điều ấy. Việc sanh lên của sự ràng buộc chưa được sanh lên là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy; việc dứt bỏ đối với sự ràng buộc đã được sanh lên là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy; và việc không sanh lên trong tương lai của sự ràng buộc đã được dứt bỏ là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy.

Như thế, vị ấy sống có sự quan sát pháp ở các pháp thuộc nội phần, hoặc sống có sự quan sát pháp ở các pháp thuộc ngoại phần, hoặc sống có sự quan sát pháp ở các pháp thuộc nội phần và ngoại phần.

Hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi ở các pháp, hoặc sống có sự quan sát pháp hoại diệt ở các pháp, hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi hoại diệt ở các pháp.

Hoặc hơn nữa, niệm “có pháp” được hình thành cho vị này chỉ để đưa đến việc đạt được trí, đưa đến việc đạt được niệm. Vị ấy sống không nương tựa và không chấp thủ vào bất cứ điều gì ở thế gian.

Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát pháp ở các pháp về sáu nội và ngoại xứ là như vậy.

(Phần Xứ được kết thúc)

23. Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu sống có sự quan sát pháp ở các pháp về bảy yếu tố đưa đến giác ngộ. Và này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát pháp ở các pháp về bảy yếu tố đưa đến giác ngộ là thế nào?

Ở đây, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu, trong khi niệm giác chi [22] thuộc nội phần đang hiện hữu, biết rõ (rằng): “niệm giác chi thuộc nội phần của tôi;” hoặc trong khi niệm giác chi thuộc nội phần không hiện hữu, biết rõ (rằng): “Không có niệm giác chi thuộc nội phần của tôi.” Việc sanh lên của niệm giác chi chưa được sanh lên là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy; việc làm cho đầy đủ đối với việc tu tập niệm giác chi đã được sanh lên là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy.

Trong khi trạch pháp giác chi thuộc nội phần đang hiện hữu, biết rõ (rằng): “trạch pháp giác chi thuộc nội phần của tôi;” hoặc trong khi trạch pháp giác chi thuộc nội phần không hiện hữu, biết rõ (rằng): “Không có trạch pháp giác chi thuộc nội phần của tôi.” Việc sanh lên của trạch pháp giác chi chưa được sanh lên là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy; và việc làm cho đầy đủ đối với việc tu tập trạch pháp giác chi đã được sanh lên là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy.

Trong khi tinh tấn giác chi thuộc nội phần đang hiện hữu, biết rõ (rằng): “tinh tấn giác chi thuộc nội phần của tôi;” hoặc trong khi tinh tấn giác chi thuộc nội phần không hiện hữu, biết rõ (rằng): “Không có tinh tấn giác chi thuộc nội phần của tôi.” Việc sanh lên của tinh tấn giác chi chưa được sanh lên là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy; và việc làm cho đầy đủ đối với việc tu tập tinh tấn giác chi đã được sanh lên là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy.

Trong khi hỷ giác chi thuộc nội phần đang hiện hữu, biết rõ (rằng): “hỷ giác chi thuộc nội phần của tôi;” hoặc trong khi hỷ giác chi thuộc nội phần không hiện hữu, biết rõ (rằng): Không có hỷ giác chi thuộc nội phần của tôi.” Việc sanh lên của hỷ giác chi chưa được sanh lên là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy; và việc làm cho đầy đủ đối với việc tu tập hỷ giác chi đã được sanh lên là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy.

Trong khi tịnh giác chi thuộc nội phần đang hiện hữu, biết rõ (rằng): “tịnh giác chi thuộc nội phần của tôi;” hoặc trong khi tịnh giác chi thuộc nội phần không hiện hữu, biết rõ (rằng): “Không có tịnh giác chi thuộc nội phần của tôi.” Việc sanh lên của tịnh giác chi chưa được sanh lên là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy; và việc làm cho đầy đủ đối với việc tu tập tịnh giác chi đã được sanh lên là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy.

Trong khi định giác chi thuộc nội phần đang hiện hữu, biết rõ (rằng): “định giác chi thuộc nội phần của tôi;” hoặc trong khi định giác chi thuộc nội phần không hiện hữu, biết rõ (rằng): “Không có định giác chi thuộc nội phần của tôi.” Việc sanh lên của định giác chi chưa được sanh lên là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy; và việc làm cho đầy đủ đối với việc tu tập định giác chi đã được sanh lên là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy.

Trong khi xả giác chi thuộc nội phần đang hiện hữu, biết rõ (rằng): “xả giác chi thuộc nội phần của tôi;” hoặc trong khi xả giác chi thuộc nội phần không hiện hữu, biết rõ (rằng): “Không có xả giác chi thuộc nội phần của tôi.” Việc sanh lên của xả giác chi chưa được sanh lên là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy; và việc làm cho đầy đủ đối với việc tu tập xả giác chi đã được sanh lên là như thế nào, vị ấy biết rõ điều ấy.

Như thế, vị ấy sống có sự quan sát pháp ở các pháp thuộc nội phần, hoặc sống có sự quan sát pháp ở các pháp thuộc ngoại phần, hoặc sống có sự quan sát pháp ở các pháp thuộc nội phần và ngoại phần.

Hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi ở các pháp, hoặc sống có sự quan sát pháp hoại diệt ở các pháp, hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi và hoại diệt ở các pháp.

Hoặc hơn nữa, niệm “có pháp” được hình thành cho vị này chỉ để đưa đến việc đạt được trí, đưa đến việc đạt được niệm. Vị ấy sống không nương tựa và không chấp thủ vào bất cứ điều gì ở thế gian.

Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát pháp ở các pháp về bảy yếu tố đưa đến giác ngộ là như vậy.

(Phần Yếu Tố Đưa Đến Giác Ngộ được kết thúc)

Tụng phẩm thứ nhất được kết thúc.

24. Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu sống có sự quan sát pháp ở các pháp về bốn chân lý cao thượng. Và này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát pháp ở các pháp về bốn chân lý cao thượng là thế nào?

Ở đây, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu biết rõ: “Đây là Khổ” đúng theo thực thể, biết rõ: “Đây là nhân sanh Khổ” đúng theo thực thể, biết rõ: “Đây là sự diệt tận Khổ” đúng theo thực thể, biết rõ: “Đây là lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ” đúng theo thực thể.

25. Và này các tỳ khưu, chân lý cao thượng về Khổ là ? Sanh là khổ, già cũng là khổ,[23] chết cũng là khổ, sầu-bi-khổ-ưu-não cũng là khổ, sự liên hệ với những gì không yêu thích là khổ, sự xa lìa với những gì yêu thích là khổ, ước muốn mà không đạt được cũng là khổ, tóm tắt lại năm thủ uẩn cũng là khổ.

Và này các tỳ khưu, sanh là gì? Là sự sanh ra, sự sanh khởi, sự hạ sanh, sự tái sanh, sự hiện khởi các uẩn, sự thành tựu các xứ của các hạng chúng sanh khác nhau ở từng tập thể chúng sanh khác nhau, này các tỳ khưu, sự việc này được gọi là sanh.

Và này các tỳ khưu, già là gì? Là sự già nua, hiện tượng lão hóa, sự rụng răng, tình trạng bạc tóc, da nhăn, sự rút ngắn tuổi thọ, sự suy nhược các căn của các hạng chúng sanh khác nhau ở từng tập thể chúng sanh khác nhau, này các tỳ khưu, sự việc này được gọi là già.

Và này các tỳ khưu, chết là gì? Là sự từ trần, sự tiêu hoại, sự phân rã, sự biến mất, sự tử vong, sự chết chóc, sự hết thời kỳ, sự tan rã các uẩn, sự bỏ lại xác thân, sự gián đoạn các quyền của các hạng chúng sanh khác nhau ở từng tập thể chúng sanh khác nhau, này các tỳ khưu, sự việc này được gọi là chết.

Và này các tỳ khưu, sầu là gì? Này các tỳ khưu, là sự sầu muộn, sự buồn rầu, trạng thái buồn phiền, sự sầu muộn ở nội tâm, sự buồn thảm ở nội tâm của người bị gặp phải sự rủi ro này nọ, của người bị tác động bởi sự khổ đau này nọ, này các tỳ khưu, đây được gọi là sầu.

Và này các tỳ khưu, bi là gì? Này các tỳ khưu, là sự phàn nàn, sự than vãn, sự kể lể, sự kêu gào, trạng thái kể lể, trạng thái than vãn của người bị gặp phải sự rủi ro này nọ, của người bị tác động bởi sự khổ đau này nọ, này các tỳ khưu, đây được gọi là bi.

Và này các tỳ khưu, khổ là gì? Này các tỳ khưu, khổ thuộc thân, sự không dễ chịu thuộc thân, khổ sanh lên do sự xúc chạm của thân được nhận biết là không dễ chịu, này các tỳ khưu, đây được gọi là khổ.

Và này các tỳ khưu, ưu là gì? Này các tỳ khưu, khổ thuộc tâm, sự không dễ chịu thuộc tâm, khổ sanh lên do sự xúc chạm của ý được nhận biết là không dễ chịu, này các tỳ khưu, đây được gọi là ưu.

Và này các tỳ khưu, não là gì? Này các tỳ khưu, là sự lo âu, sự thất vọng, trạng thái lo âu, trạng thái thất vọng của người bị gặp phải sự rủi ro này nọ, của người bị tác động bởi sự khổ đau này nọ, này các tỳ khưu, đây được gọi là não.

Và này các tỳ khưu, sự liên hệ với những gì không yêu thích là khổ (có ý nghĩa) là gì? Trong trường hợp này, là sự giao tiếp, sự kết hợp, sự liên kết, tình trạng sống chung của một người với các sắc, các thinh, các hương, các vị, các xúc, các pháp không thích, không yêu, không hợp ý, hoặc là với những người có sự mong muốn điều không hữu ích, có sự mong muốn điều không có lợi, sự mong muốn sự không an lạc, có sự mong muốn sự không yên ổn khỏi các vướng bận cho người ấy, này các tỳ khưu, đây được gọi là: sự liên hệ với những gì không yêu thích là khổ.

Và này các tỳ khưu, sự xa lìa với những gì yêu thích là khổ (có ý nghĩa) là gì? Trong trường hợp này, là sự không giao tiếp, sự không kết hợp, sự không liên kết, tình trạng không sống chung của một người với các sắc, các thinh, các hương, các vị, các xúc, các pháp được thích, được yêu, hợp ý, hoặc là với những người có sự mong muốn điều hữu ích, có sự mong muốn điều có lợi, sự mong muốn sự thoải mái, có sự mong muốn sự yên ổn khỏi các vướng bận, hoặc là với mẹ, với cha, với anh em trai, với chị em gái, với bạn bè, với thân hữu, hay là với thân quyến cùng huyết thống, này các tỳ khưu, đây được gọi là: sự xa lìa với những gì yêu thích là khổ.

Và này các tỳ khưu, ước muốn mà không đạt được cũng là khổ (có ý nghĩa) là gì? Này các tỳ khưu, ước muốn như vầy khởi lên cho các chúng sanh là đối tượng của sanh (rằng): “Ôi, ước sao chúng ta sẽ không là đối tượng của sanh! Và ước sao sanh không thể tác động đến chúng ta!” Tuy nhiên, điều ấy không thể đạt được do ước muốn; đây chính là: ước muốn mà không đạt được cũng là khổ.

Này các tỳ khưu, ước muốn như vầy khởi lên cho các chúng sanh là đối tượng của già (rằng): “Ôi, ước sao chúng ta sẽ không là đối tượng của già! Và ước sao già không thể tác động đến chúng ta!” Tuy nhiên, điều ấy không thể đạt được do ước muốn; đây chính là: ước muốn mà không đạt được cũng là khổ.

Này các tỳ khưu, ước muốn như vầy khởi lên cho các chúng sanh là đối tượng của bệnh [24] (rằng): “Ôi, ước sao chúng ta sẽ không là đối tượng của bệnh! Và ước sao bệnh không thể tác động đến chúng ta!” Tuy nhiên, điều ấy không thể đạt được do ước muốn; đây chính là: ước muốn mà không đạt được cũng là khổ.

Này các tỳ khưu, ước muốn như vầy khởi lên cho các chúng sanh là đối tượng của chết (rằng): “Ôi, ước sao chúng ta sẽ không là đối tượng của chết! Và ước sao chết không thể tác động đến chúng ta!” Tuy nhiên, điều ấy không thể đạt được do ước muốn; đây chính là: ước muốn mà không đạt được cũng là khổ.

[25] Này các tỳ khưu, ước muốn như vầy khởi lên cho các chúng sanh là đối tượng của sầu (rằng): “Ôi, ước sao chúng ta sẽ không là đối tượng của sầu! Và ước sao sầu không thể tác động đến chúng ta!” Tuy nhiên, điều ấy không thể đạt được do ước muốn; đây chính là: ước muốn mà không đạt được cũng là khổ.

Này các tỳ khưu, ước muốn như vầy khởi lên cho các chúng sanh là đối tượng của bi (rằng): “Ôi, ước sao chúng ta sẽ không là đối tượng của bi! Và ước sao bi không thể tác động đến chúng ta!” Tuy nhiên, điều ấy không thể đạt được do ước muốn; đây chính là: ước muốn mà không đạt được cũng là khổ.

Này các tỳ khưu, ước muốn như vầy khởi lên cho các chúng sanh là đối tượng của khổ (rằng): “Ôi, ước sao chúng ta sẽ không là đối tượng của khổ! Và ước sao khổ không thể tác động đến chúng ta!” Tuy nhiên, điều ấy không thể đạt được do ước muốn; đây chính là: ước muốn mà không đạt được cũng là khổ.

Này các tỳ khưu, ước muốn như vầy khởi lên cho các chúng sanh là đối tượng của ưu (rằng): “Ôi, ước sao chúng ta sẽ không là đối tượng của ưu! ước sao ưu không thể tác động đến chúng ta!” Tuy nhiên, điều ấy không thể đạt được do ước muốn; đây chính là: ước muốn mà không đạt được cũng là khổ.

Này các tỳ khưu, ước muốn như vầy khởi lên cho các chúng sanh là đối tượng của não (rằng): “Ôi, ước sao chúng ta sẽ không là đối tượng của não! Và ước sao não không thể tác động đến chúng ta!” Tuy nhiên, điều ấy không thể đạt được do ước muốn; đây chính là: ước muốn mà không đạt được cũng là khổ.[25]

Và này các tỳ khưu, tóm tắt lại năm thủ uẩn [26] cũng là khổ (có ý nghĩa) là gì? Tức là: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này các tỳ khưu, đây được gọi là: tóm tắt lại năm thủ uẩn cũng là khổ. Này các tỳ khưu, đây được gọi là: chân lý cao thượng về Khổ.

26. Và này các tỳ khưu, chân lý cao thượng về nhân sanh Khổ là gì? Điều này là tham ái liên quan đến tái sanh, đồng hành với sự vui thích và luyến ái, có sự thích thú nơi này nơi nọ, tức là: dục ái, hữu ái, phi hữu ái.[27]

Hơn nữa, này các tỳ khưu, tham ái ấy trong khi sanh lên thì sanh lên ở đâu, trong khi trụ lại thì trụ lại ở đâu? Ở đời vật nào có bản chất đáng yêu,[28] có bản chất dễ chịu, tham ái ấy trong khi sanh lên thì sanh lên ở nơi này, trong khi trụ lại thì trụ lại ở nơi này. Và ở đời, cái gì là vật có bản chất đáng yêu, có bản chất dễ chịu? Ở đời, mắt là vật có bản chất đáng yêu, có bản chất dễ chịu, tham ái ấy trong khi sanh lên thì sanh lên ở nơi này, trong khi trụ lại thì trụ lại ở nơi này. Ở đời, tai —nt— Ở đời, mũi —nt— Ở đời, lưỡi —nt— Ở đời, thân —nt— Ở đời, ý là vật có bản chất đáng yêu, có bản chất dễ chịu, tham ái ấy trong khi sanh lên thì sanh lên ở nơi này, trong khi trụ lại thì trụ lại ở nơi này.

Ở đời, các sắc —nt— Ở đời, các thinh —nt— Ở đời, các hương —nt— Ở đời, các vị —nt— Ở đời, các xúc —nt— Ở đời, các pháp là vật có bản chất đáng yêu, có bản chất dễ chịu, tham ái ấy trong khi sanh lên thì sanh lên ở nơi này, trong khi trụ lại thì trụ lại ở nơi này.

Ở đời, nhãn thức —nt— Ở đời, nhĩ thức —nt— Ở đời, tỷ thức —nt— Ở đời, thiệt thức —nt— Ở đời, thân thức —nt— Ở đời, ý thức là vật có bản chất đáng yêu, có bản chất dễ chịu, tham ái ấy trong khi sanh lên thì sanh lên ở nơi này, trong khi trụ lại thì trụ lại ở nơi này.

Ở đời, nhãn xúc —nt— Ở đời, nhĩ xúc —nt— Ở đời, tỷ xúc —nt— Ở đời, thiệt xúc —nt— Ở đời, thân xúc —nt—Ở đời, ý xúc là vật có bản chất đáng yêu, có bản chất dễ chịu, tham ái ấy trong khi sanh lên thì sanh lên ở nơi này, trong khi trụ lại thì trụ lại ở nơi này.

Ở đời, cảm thọ sanh lên do nhãn xúc —nt—Ở đời, cảm thọ sanh lên do nhĩ xúc nt— Ở đời, cảm thọ sanh lên do tỷ xúc —nt— Ở đời, cảm thọ sanh lên do thiệt xúc —nt— Ở đời, cảm thọ sanh lên do thân xúc —nt— Ở đời, cảm thọ sanh lên do ý xúc là vật có bản chất đáng yêu, có bản chất dễ chịu, tham ái ấy trong khi sanh lên thì sanh lên ở nơi này, trong khi trụ lại thì trụ lại ở nơi này.

Ở đời, sắc tưởng —nt— Ở đời, thinh tưởng —nt— Ở đời, hương tưởng — nt— Ở đời, vị tưởng —nt— Ở đời, xúc tưởng —nt— Ở đời, pháp tưởng là vật bản chất đáng yêu, có bản chất dễ chịu, tham ái ấy trong khi sanh lên thì sanh lên ở nơi này, trong khi trụ lại thì trụ lại ở nơi này.

Ở đời, sắc tư —nt— Ở đời, thinh tư —nt— Ở đời, hương tư —nt— Ở đời, vị tư —nt— Ở đời, xúc tư —nt— Ở đời, pháp tư là vật có bản chất đáng yêu, có bản chất dễ chịu, tham ái ấy trong khi sanh lên thì sanh lên ở nơi này, trong khi trụ lại thì trụ lại ở nơi này.

Ở đời, sắc ái —nt— Ở đời, thinh ái —nt— Ở đời, hương ái —nt— Ở đời, vị ái nt— Ở đời, xúc ái —nt— Ở đời, pháp ái là vật có bản chất đáng yêu, có bản chất dễ chịu, tham ái ấy trong khi sanh lên thì sanh lên ở nơi này, trong khi trụ lại thì trụ lại ở nơi này.

Ở đời, sắc tầm —nt— Ở đời, thinh tầm —nt— Ở đời, hương tầm —nt— Ở đời, vị tầm —nt— Ở đời, xúc tầm —nt— Ở đời, pháp tầm là vật có bản chất đáng yêu, có bản chất dễ chịu, tham ái ấy trong khi sanh lên thì sanh lên ở nơi này, trong khi trụ lại thì trụ lại ở nơi này.

Ở đời, sắc tứ —nt— Ở đời, thinh tứ —nt— Ở đời, hương tứ —nt— Ở đời, vị tứ —nt— Ở đời, xúc tứ —nt— Ở đời, pháp tứ là vật có bản chất đáng yêu, có bản chất dễ chịu, tham ái ấy trong khi sanh lên thì sanh lên ở nơi này, trong khi trụ lại thì trụ lại ở nơi này.

Này các tỳ khưu, đây được gọi là: chân lý cao thượng về nhân sanh Khổ.

27. Và này các tỳ khưu, chân lý cao thượng về sự diệt tận Khổ là gì? Là sự xa lìa luyến ái và sự diệt tận hoàn toàn, sự xả bỏ, sự buông bỏ, sự thoát khỏi, sự không dính líu đối với chính tham ái ấy. Hơn nữa, này các tỳ khưu, tham ái ấy trong khi được dứt bỏ thì được dứt bỏ ở đâu, trong khi được diệt tận thì được diệt tận ở đâu? Ở đời, vật nào có bản chất đáng yêu, có bản chất dễ chịu, tham ái ấy trong khi được dứt bỏ thì được dứt bỏ ở nơi này, trong khi được diệt tận thì được diệt tận ở nơi này.

Và ở đời, cái gì là vật có bản chất đáng yêu, có bản chất dễ chịu? Ở đời, mắt là vật có bản chất đáng yêu, có bản chất dễ chịu, tham ái ấy trong khi được dứt bỏ thì được dứt bỏ ở nơi này, trong khi được diệt tận thì được diệt tận ở nơi này. Ở đời, tai —nt— Ở đời, mũi —nt— Ở đời, lưỡi —nt— Ở đời, thân —nt— Ở đời, ý là vật có bản chất đáng yêu, có bản chất dễ chịu, tham ái ấy trong khi được dứt bỏ thì được dứt bỏ ở nơi này, trong khi được diệt tận thì được diệt tận ở nơi này.

Ở đời, các sắc —nt— Ở đời, các thinh —nt— Ở đời, các hương —nt— Ở đời, các vị —nt— Ở đời, các xúc —nt— Ở đời, các pháp là vật có bản chất đáng yêu, có bản chất dễ chịu, tham ái ấy trong khi được dứt bỏ thì được dứt bỏ ở nơi này, trong khi được diệt tận thì được diệt tận ở nơi này.

Ở đời, nhãn thức —nt— Ở đời, nhĩ thức —nt— Ở đời, tỷ thức —nt— Ở đời, thiệt thức —nt— Ở đời, thân thức —nt— Ở đời, ý thức là vật có bản chất đáng yêu, có bản chất dễ chịu, tham ái ấy trong khi được dứt bỏ thì được dứt bỏ ở nơi này, trong khi được diệt tận thì được diệt tận ở nơi này.

Ở đời, nhãn xúc —nt— Ở đời, nhĩ xúc —nt— Ở đời, tỷ xúc —nt— Ở đời, thiệt xúc —nt— Ở đời, thân xúc —nt—Ở đời, ý xúc là vật có bản chất đáng yêu, có bản chất dễ chịu, tham ái ấy trong khi được dứt bỏ thì được dứt bỏ ở nơi này, trong khi được diệt tận thì được diệt tận ở nơi này.

Ở đời, cảm thọ sanh lên do nhãn xúc —nt— Ở đời, cảm thọ sanh lên do nhĩ xúc nt— Ở đời, cảm thọ sanh lên do tỷ xúc —nt— Ở đời, cảm thọ sanh lên do thiệt xúc —nt— Ở đời, cảm thọ sanh lên do thân xúc —nt— Ở đời, cảm thọ sanh lên do ý xúc là vật có bản chất đáng yêu, có bản chất dễ chịu, tham ái ấy trong khi được dứt bỏ thì được dứt bỏ ở nơi này, trong khi được diệt tận thì được diệt tận ở nơi này.

Ở đời, sắc tưởng —nt— Ở đời, thinh tưởng —nt— Ở đời, hương tưởng — nt— Ở đời, vị tưởng —nt— Ở đời, xúc tưởng —nt— Ở đời, pháp tưởng là vật bản chất đáng yêu, có bản chất dễ chịu, tham ái ấy trong khi được dứt bỏ thì được dứt bỏ ở nơi này, trong khi được diệt tận thì được diệt tận ở nơi này.

Ở đời, sắc tư —nt— Ở đời, thinh tư —nt— Ở đời, hương tư —nt— Ở đời, vị tư —nt— Ở đời, xúc tư —nt— Ở đời, pháp tư là vật có bản chất đáng yêu, có bản chất dễ chịu, tham ái ấy trong khi được dứt bỏ thì được dứt bỏ ở nơi này, trong khi được diệt tận thì được diệt tận ở nơi này.

Ở đời, sắc ái —nt— Ở đời, thinh ái —nt— Ở đời, hương ái —nt— Ở đời, vị ái nt— Ở đời, xúc ái —nt— Ở đời, pháp ái là vật có bản chất đáng yêu, có bản chất dễ chịu, tham ái ấy trong khi được dứt bỏ thì được dứt bỏ ở nơi này, trong khi được diệt tận thì được diệt tận ở nơi này.

Ở đời, sắc tầm —nt— Ở đời, thinh tầm —nt— Ở đời, hương tầm —nt— Ở đời, vị tầm —nt— Ở đời, xúc tầm —nt— Ở đời, pháp tầm là vật có bản chất đáng yêu, có bản chất dễ chịu, tham ái ấy trong khi được dứt bỏ thì được dứt bỏ ở nơi này, trong khi được diệt tận thì được diệt tận ở nơi này.

Ở đời, sắc tứ —nt— Ở đời, thinh tứ —nt— Ở đời, hương tứ —nt— Ở đời, vị tứ —nt— Ở đời, xúc tứ —nt— Ở đời, pháp tứ là vật có bản chất đáng yêu, có bản chất dễ chịu, tham ái ấy trong khi được dứt bỏ thì được dứt bỏ ở nơi này, trong khi được diệt tận thì được diệt tận ở nơi này.

Này các tỳ khưu, đây được gọi là: chân lý cao thượng về sự diệt tận Khổ.

28. Và này các tỳ khưu, chân lý cao thượng về lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ là gì? Đây chính là Thánh Đạo tám chi phần, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh cần, chánh niệm, chánh định.

Và này các tỳ khưu, chánh kiến là gì? Này các tỳ khưu, là sự biết về Khổ, sự biết về nhân sanh Khổ, sự biết về sự diệt tận Khổ, sự biết về lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ. Này các tỳ khưu, đây được gọi là chánh kiến.

Và này các tỳ khưu, chánh tư duy là gì? Là tư duy về xuất ly, tư duy về không thù oán, tư duy về không hãm hại. Này các tỳ khưu, đây được gọi là chánh tư duy.

Và này các tỳ khưu, chánh ngữ là gì? Là tránh xa việc nói dối, tránh xa việc nói đâm thọc, tránh xa việc nói thô lỗ, tránh xa việc nói nhảm nhí. Này các tỳ khưu, đây được gọi là chánh ngữ.

Và này các tỳ khưu, chánh nghiệp là gì? Là tránh xa việc giết hại sinh mạng, tránh xa việc lấy vật không được cho, tránh xa tà hạnh ở các dục. Này các tỳ khưu, đây được gọi là chánh nghiệp.

Và này các tỳ khưu, chánh mạng là gì? Ở đây, này các tỳ khưu, vị đệ tử của các bậc Thánh dứt bỏ sự nuôi mạng sai trái và duy trì mạng sống bằng sự nuôi mạng chân chánh. Này các tỳ khưu, đây được gọi là chánh mạng.

Và này các tỳ khưu, chánh cần là gì? Ở đây, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu làm sanh khởi sự mong muốn, rồi gắng sức, khởi sự tinh tấn, nắm chặt và xác định tâm về việc không sanh khởi của các ác bất thiện pháp chưa được sanh khởi; vị ấy làm sanh khởi sự mong muốn, rồi gắng sức, khởi sự tinh tấn, nắm chặt và xác định tâm về việc dứt bỏ các ác bất thiện pháp đã được sanh khởi; vị ấy làm sanh khởi sự mong muốn, rồi gắng sức, khởi sự tinh tấn, nắm chặt và xác định tâm về việc sanh khởi của các thiện pháp chưa được sanh khởi; vị ấy làm sanh khởi sự mong muốn, rồi gắng sức, khởi sự tinh tấn, nắm chặt và xác định tâm về việc duy trì, về việc không hủy hoại, về việc gia tăng, về việc lớn mạnh, về việc tu tập, về việc làm cho đầy đủ các thiện pháp đã được sanh khởi. Này các tỳ khưu, đây được gọi là chánh cần.

Và này các tỳ khưu, chánh niệm là gì? Ở đây, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân ở thân, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ, có niệm, sau khi đã loại trừ tham đắm và ưu phiền ở thế gian; sống có sự quan sát thọ ở các thọ, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ, có niệm, sau khi đã loại trừ tham đắm và ưu phiền ở thế gian; sống có sự quan sát tâm ở tâm, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ, có niệm, sau khi đã loại trừ tham đắm và ưu phiền ở thế gian; sống có sự quan sát pháp ở các pháp, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ, có niệm, sau khi đã loại trừ tham đắm và ưu phiền ở thế gian. Này các tỳ khưu, đây được gọi là chánh niệm.

Và này các tỳ khưu, chánh định là gì? Ở đây, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ngay sau khi tách ly khỏi các dục, tách ly khỏi các bất thiện pháp, đạt đến và trú thiền thứ nhất, có tầm, có tứ, có hỷ lạc sanh lên do sự tách ly. Do sự vắng lặng của tầm và tứ, vị ấy đạt đến và trú thiền thứ nhì, có sự tĩnh lặng thuộc nội phần, có trạng thái chuyên nhất của tâm, không tầm không tứ, có hỷ lạc sanh lên do định. Do sự không còn luyến ái ở hỷ, vị ấy sống có sự hành xả, trú niệm, có sự nhận biết rõ, và cảm nghiệm sự an lạc bằng thân, đó là điều các bậc Thánh gọi là: “Có sự hành xả, có niệm, có sự trú vào lạc,” đạt đến và trú thiền thứ ba. Do sự dứt bỏ lạc, do sự dứt bỏ khổ (ở thân), do sự biến mất của hỷ ưu (đã có) ngay trước đó, vị ấy đạt đến và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, có sự hoàn toàn thanh tịnh của xả và niệm. Này các tỳ khưu, đây được gọi là chánh định.

Này các tỳ khưu, đây được gọi là: chân lý cao thượng về lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ.

29. Như thế, vị ấy sống có sự quan sát pháp ở các pháp thuộc nội phần, hoặc sống có sự quan sát pháp ở các pháp thuộc ngoại phần, hoặc sống có sự quan sát pháp ở các pháp thuộc nội phần và ngoại phần.

Hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi ở các pháp, hoặc sống có sự quan sát pháp hoại diệt ở các pháp, hoặc sống có sự quan sát pháp sanh khởi và hoại diệt ở các pháp.

Hoặc hơn nữa, niệm “có pháp” được hình thành cho vị này chỉ để đưa đến việc đạt được trí, đưa đến việc đạt được niệm. Vị ấy sống không nương tựa và không chấp thủ vào bất cứ điều gì ở thế gian.

Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát pháp ở các pháp về bốn chân lý cao thượng là như vậy.

*

(KẾT LUẬN)

30. Này các tỳ khưu, bất cứ người nào [29] tu tập bốn sự thiết lập niệm này như vậy trong bảy năm, một quả báo nào đó trong hai quả báo là điều chờ đợi dành cho vị ấy: trí giải thoát [30] ngay trong đời hiện tại, hoặc nếu còn dư sót thì phẩm vị Bất Lai.

Này các tỳ khưu, hãy bỏ qua bảy năm. Này các tỳ khưu, bất cứ người nào tu tập bốn sự thiết lập niệm này như vậy trong sáu năm, một quả báo nào đó trong hai quả báo là điều chờ đợi dành cho vị ấy: trí giải thoát ngay trong đời hiện tại, hoặc nếu còn dư sót thì phẩm vị Bất Lai.

Này các tỳ khưu, hãy bỏ qua sáu năm. Này các tỳ khưu, bất cứ người nào tu tập bốn sự thiết lập niệm này như vậy trong năm năm, một quả báo nào đó trong hai quả báo là điều chờ đợi dành cho vị ấy: trí giải thoát ngay trong đời hiện tại, hoặc nếu còn dư sót thì phẩm vị Bất Lai.

Này các tỳ khưu, hãy bỏ qua năm năm. Này các tỳ khưu, bất cứ người nào tu tập bốn sự thiết lập niệm này như vậy trong bốn năm, một quả báo nào đó trong hai quả báo là điều chờ đợi dành cho vị ấy: trí giải thoát ngay trong đời hiện tại, hoặc nếu còn dư sót thì phẩm vị Bất Lai.

Này các tỳ khưu, hãy bỏ qua bốn năm. Này các tỳ khưu, bất cứ người nào tu tập bốn sự thiết lập niệm này như vậy trong ba năm, một quả báo nào đó trong hai quả báo là điều chờ đợi dành cho vị ấy: trí giải thoát ngay trong đời hiện tại, hoặc nếu còn dư sót thì phẩm vị Bất Lai.

Này các tỳ khưu, hãy bỏ qua ba năm. Này các tỳ khưu, bất cứ người nào tu tập bốn sự thiết lập niệm này như vậy trong hai năm, một quả báo nào đó trong hai quả báo là điều chờ đợi dành cho vị ấy: trí giải thoát ngay trong đời hiện tại, hoặc nếu còn dư sót thì phẩm vị Bất Lai.

Này các tỳ khưu, hãy bỏ qua hai năm. Này các tỳ khưu, bất cứ người nào tu tập bốn sự thiết lập niệm này như vậy trong một năm, một quả báo nào đó trong hai quả báo là điều chờ đợi dành cho vị ấy: trí giải thoát ngay trong đời hiện tại, hoặc nếu còn dư sót thì phẩm vị Bất Lai.

31. Này các tỳ khưu, hãy bỏ qua một năm. Này các tỳ khưu, bất cứ người nào tu tập bốn sự thiết lập niệm này như vậy trong bảy tháng, một quả báo nào đó trong hai quả báo là điều chờ đợi dành cho vị ấy: trí giải thoát ngay trong đời hiện tại, hoặc nếu còn dư sót thì phẩm vị Bất Lai.

Này các tỳ khưu, hãy bỏ qua bảy tháng. Này các tỳ khưu, bất cứ người nào tu tập bốn sự thiết lập niệm này như vậy trong sáu tháng, một quả báo nào đó trong hai quả báo là điều chờ đợi dành cho vị ấy: trí giải thoát ngay trong đời hiện tại, hoặc nếu còn dư sót thì phẩm vị Bất Lai.

Này các tỳ khưu, hãy bỏ qua sáu tháng. Này các tỳ khưu, bất cứ người nào tu tập bốn sự thiết lập niệm này như vậy trong năm tháng, một quả báo nào đó trong hai quả báo là điều chờ đợi dành cho vị ấy: trí giải thoát ngay trong đời hiện tại, hoặc nếu còn dư sót thì phẩm vị Bất Lai.

Này các tỳ khưu, hãy bỏ qua năm tháng. Này các tỳ khưu, bất cứ người nào tu tập bốn sự thiết lập niệm này như vậy trong bốn tháng, một quả báo nào đó trong hai quả báo là điều chờ đợi dành cho vị ấy: trí giải thoát ngay trong đời hiện tại, hoặc nếu còn dư sót thì phẩm vị Bất Lai.

Này các tỳ khưu, hãy bỏ qua bốn tháng. Này các tỳ khưu, bất cứ người nào tu tập bốn sự thiết lập niệm này như vậy trong ba tháng, một quả báo nào đó trong hai quả báo là điều chờ đợi dành cho vị ấy: trí giải thoát ngay trong đời hiện tại, hoặc nếu còn dư sót thì phẩm vị Bất Lai.

Này các tỳ khưu, hãy bỏ qua ba tháng. Này các tỳ khưu, bất cứ người nào tu tập bốn sự thiết lập niệm này như vậy trong hai tháng, một quả báo nào đó trong hai quả báo là điều chờ đợi dành cho vị ấy: trí giải thoát ngay trong đời hiện tại, hoặc nếu còn dư sót thì phẩm vị Bất Lai.

Này các tỳ khưu, hãy bỏ qua hai tháng. Này các tỳ khưu, bất cứ người nào tu tập bốn sự thiết lập niệm này như vậy trong một tháng, một quả báo nào đó trong hai quả báo là điều chờ đợi dành cho vị ấy: trí giải thoát ngay trong đời hiện tại, hoặc nếu còn dư sót thì phẩm vị Bất Lai.

Này các tỳ khưu, hãy bỏ qua một tháng. Này các tỳ khưu, bất cứ người nào tu tập bốn sự thiết lập niệm này như vậy trong nửa tháng, một quả báo nào đó trong hai quả báo là điều chờ đợi dành cho vị ấy: trí giải thoát ngay trong đời hiện tại, hoặc nếu còn dư sót thì phẩm vị Bất Lai.

Này các tỳ khưu, hãy bỏ qua nửa tháng. Này các tỳ khưu, bất cứ người nào tu tập bốn sự thiết lập niệm này như vậy trong bảy ngày, một quả báo nào đó trong hai quả báo là điều chờ đợi dành cho vị ấy: trí giải thoát ngay trong đời hiện tại, hoặc nếu còn dư sót thì phẩm vị Bất Lai.

32. y các tỳ khưu, đây là con đường độc đạo đưa đến sự thanh tịnh cho các chúng sinh, đưa đến sự vượt qua hẳn sầu và bi, đưa đến sự biến mất của khổ và ưu, đưa đến việc đạt được phương pháp, đưa đến việc chứng ngộ Niết Bàn, tức là ‘bốn sự thiết lập niệm,’ điều được nói là như thế, và điều này được nói liên quan đến điều ấy.”

Đức Thế Tôn đã nói điều này. Được hoan hỷ, các vị tỳ khưu ấy đã tán thành lời dạy của đức Thế Tôn. [31]

Đại Kinh Thiết Lập Niệm được chấm dứt

 

*-----*

CHỮ VIẾT TẮT:

DA: Chú giải Trường bộ 
ND: Người dịch 
nt: như trên 
Sđd: sách đã dẫn 
VinA: Chú giải tạng Luật

GHI CHÚ:

[1] con đường độc đạo (ekāyanamaggo): eka (một) + ayana (lối đi, con đường) + magga (con đường): con đường chỉ có một lối đi, một đích đến, không rẽ làm hai nhánh (DA. iii, 743).

[2] khổ và ưu: khổ thuộc thân và ưu thuộc tâm (Sđd. 747).

[3] phương pháp: ở đây, phương pháp (ñāyo) nói đến Thánh Đạo tám chi phần (Sđd. 750).

[4] sống (viharati): sinh hoạt (Sđd. 758), nói đến bốn oai nghi: đi đứng nằm ngồi.

[5] ở thân (kāye): Chú Giải ghi nghĩa là “rūpakāye/tập thể các sắc/tập thể các phần của thân thể” (DA. iii, 756).

[6] sau khi đã loại trừ (vineyya): Chú Giải ghi như sau: “Tattha vineyyā ti tad-aṅga-vinayena vā vikkhambhana-vinayena vā vinayitvā” (Sđd. 758).

[7] ở thế gian: Chú Giải ghi: “Loke ti tasmiṃ yeva kāye” = ở chính thân ấy (Sđd. 758).

[8] Có sự không thống nhất về ý nghĩa của cặp động từ đối xứng assasati - passasati: “thở vào - thở ra” hay “thở ra - thở vào”? Chú Giải và Sớ Giải của bài Kinh không đề cập đến vấn đề này. Chúng tôi ghi nghĩa Việt của assasati: thở vào, passasati: thở ra theo định nghĩa: “Ānanti assāso, no passāso. Apānanti passāso, no assāso” (Paṭisambhidāmaggapāḷi - Phân Tích Đạo tập 1, TTPV 37, trang 324), nghĩa là sẽ trình bày theo trình tự “thở vào - thở ra” (ND).

[9] Hoặc (): Trong bốn mệnh đề đầu, động từ được sử dụng là pajānāti (biết rõ) và được kết nối với nhau bởi liên từ “” (hay là, hoặc là), tức là trong một khoảnh khắc chỉ có một trong bốn hiện tượng này xuất hiện tùy theo duyên tác động. Từ mệnh đề thứ năm trở đi, động từ là sikkhati (thực tập, thực hành, học tập) và không được kết nối với nhau bởi liên từ “,” nghĩa là sự thực tập của vị ấy được tiến hành và trải nghiệm theo tuần tự (ND).

[10] Chú Giải của bài Kinh này không giải thích “sabbakāya,” nên được dịch sát từ là “toàn thân;” tuy nhiên ở đoạn kế tiếp nói về “ajjhattaṃ/thuộc nội phần,” Chú Giải có gián tiếp giải thích “thân” là “hơi thở vào - ra” (DA. iii, 765). Còn ở Chú Giải của Tạng Luật, ngài Buddhaghosa giải thích sabbakāya nên được hiểu là phần đầu, phần giữa, và phần cuối của toàn bộ hơi thở ra mỗi khi thở ra, hoặc toàn bộ hơi thở vào mỗi khi thở vào (VinA. ii, 411).

[11] thuộc nội phần (ajjhattaṃ): của bản thân; thuộc ngoại phần (bahiddhā): của người khác (DA. iii, 765).

[12] không chấp thủ vào bất cứ điều gì ở thế gian (na ca kiñci loke upādiyati): không chấp giữ bất cứ sắc nào, …, hoặc thức nào ở thế gian (rằng): ‘Cái này là tự ngã của ta hoặc thuộc về tự ngã của ta’ (Sđd. 766). Cần lưu ý rằng: “ở thế gian (loke)” là “ở chính thân ấy” (xem ghi chú [7]).

[13] nguyên tố (dhātu): ở ngữ cảnh bốn yếu tố chính, tứ đại, tứ đại hiển (ND).

[14] trong khi cảm giác: được dịch theo văn bản của Miến Điện, Thái Lan, và Cam Bốt, “vedayamāno” (thể chủ động), còn văn bản của Sri Lanka và PTS ghi là: “vediyamāno” (thể thụ động), nghĩa Việt tương ứng sẽ là: “trong khi được cảm giác” (ND).

[15] có hệ lụy vật chất (sāmisaṃ): liên hệ đời sống tại gia; không hệ lụy vật chất (nirāmisaṃ) liên hệ cuộc sống xuất ly (DA. iii, 775).

[16] không chấp thủ vào bất cứ điều gì ở thế gian (na ca kiñci loke upādiyati): xem ghi chú [12] ở trang 441. Các phần sau cũng tương tự như vậy (ND).

[17] Bị thâu hẹp: bị rơi vào trạng thái dã dượi và buồn ngủ. Trường hợp này còn được gọi là tâm bị co rút (DA. iii, 776).

[18] Đại hành: thuộc Sắc giới và Vô sắc giới. Không đại hành: thuộc Dục giới (Sđd.). [19] Hữu thượng (sa-uttaraṃ: có cái khác ở trên): thuộc Dục giới. Vô thượng: thuộc Sắc giới và Vô sắc giới (Sđd.).

[20] về năm thủ uẩn (upādānakkhandhesu): Chú Giải giải thích như sau: “upādānakkhandhā các uẩn đưa đến thủ; nghĩa là “năm khối pháp, năm đống pháp có tính chất là duyên đưa đến chấp thủ” (DA. iii, 783).

[21] biết rõ: được đặt trong ngoặc đơn () vì ở văn bản Pāli không ghi động từ cho đoạn trích dẫn này. Và các dịch giả đã có sự chọn lựa khác nhau, như là: suy tư, thinks, discerns, contemplates, knows, … chúng tôi sử dụng nghĩa “biết rõ” dựa theo các đoạn văn tương tự ở phía trước (ND).

[22] giác chi: thay vì “yếu tố đưa đến giác ngộ” để thuận tiện cho việc hành văn (ND).

[23] Không thấy đề cập đến “byādhi pi dukkhā = bệnh cũng là khổ” (ND).

[24] Ở đây “bệnh” được đề cập, trong khi định nghĩa “chân lý cao thượng về Khổ” ở Đoan 25 không thấy có (ND).

[25] Các văn bản của Miến Điện, Thái Lan, Khmer, và PTS viết gộp chung lại như sau: “Này các tỳ khưu, mong muốn như vầy khởi lên cho các chúng sanh là đối tượng của sầu-bi-khổ-ưu-não (rằng): ‘Ôi, ước sao chúng ta sẽ không là đối tượng của sầu-bi-khổ-ưu-não! Và ước sao sầu-bi- khổ-ưu-não không thể tác động đến chúng ta!’ Tuy nhiên, điều ấy không thể đạt được do mong muốn; đây chính là mong muốn mà không đạt được cũng là khổ.”

[26] Xem ghi chú [20].

[27] Dục ái (kāmataṇhā): tham ái về dục, sự ham thích về năm loại dục. Hữu ái (bhavataṇhā): tham ái về hữu của người có sự khao khát về thiền và có sự luyến ái về cõi sắc và cõi vô sắc đồng hành với thường kiến được sanh lên do tác động của nguyện vọng về hữu. Và Phi Hữu ái (vibhavataṇhā): tham ái về phi hữu của người có sự luyến ái đồng hành với đoạn kiến (DA. iii, 800).

[28] có bản chất đáng yêu (piyarūpaṃ): Chú Giải giải thích piyarūpaṃ piyasabhāvaṃ (Sđd.).

[29] bất cứ người nào (yo hi koci): bất cứ vị tỳ khưu, hoặc vị tỳ khưu ni, hoặc nam cư sĩ, hoặc nữ cư sĩ nào (DA. iii, 805).

[30] trí giải thoát (aññā): phẩm vị A-la-hán (Sđd.).

[31] Chú Giải ghi rằng: “Thêm nữa, vào lúc chấm dứt bài Kinh, ba mươi ngàn vị tỳ khưu đã chứng đạt phẩm vị A-la-hán” (DA. iii, 806).

* Ghi thêm (Bình Anson)So sánh với kinh Lập Niệm (Satipaṭṭhāna Sutta, MN 10), bài kinh này dài hơn vì có thêm phần chi tiết về Tứ thánh đế và Bát chi Thánh đạo (Đoạn 25 - 28).

*-----*









Friday, 19 January 2024

Sách: TỈNH THỨC ĐỐI DIỆN VỚI BỆNH TẬT VÀ CÁI CHẾT. Tỳ-khưu Anālayo (2016) - Bình Anson dịch (2023)

 Sách:

TỈNH THỨC ĐỐI DIỆN VỚI BỆNH TẬT VÀ CÁI CHẾT 
Lời Phật dạy trong kinh văn nguyên thủy

Tỳ-khưu Anālayo (2016) - Bình Anson dịch (2023)

Nguyên tác:
Anālayo, Bhikkhu. Mindfully Facing Disease and Death, Compassionate Advice from Early Buddhist Texts, Cambridge: Windhorse, 2016.


Có thể tải về máy bản ebook, dạng PDF với dung lượng 3.1 MB, tại links:

1) Thư viện BuddhaSasana:
https://tinyurl.com/s23x6xwh  [3.1 MB, phiên bản 2025-1] 

2) Thư viện Hoa Sen: 
 
3) Thư viện Quảng Đức:

4) Thư viện Đạo Phật Ngày Nay:

*
MỤC LỤC

I. Đức Phật là vị y sĩ tối thượng 
II.  Thân bệnh, tâm an
III. Mũi tên của đau khổ 
IV. Đặc tính của bệnh nhân và người chăm sóc 
V. Tiềm năng chữa bệnh của các giác chi 
VI. Giảm đau trong tỉnh thức
VII. Chịu đựng cơn đau trong tỉnh thức
VIII. Tỉnh thức đối diện với bệnh tật 
IX. Không sợ hãi khi lâm bệnh 
X. Liều thuốc của minh quán
XI. Những lời dạy giải thoát từ một bệnh nhân 
XII. Chương trình hành thiền chữa bệnh 

XIII. Cái chết không thể tránh được 
XIV. Tỉnh thức không sầu khổ 
XV. Bốn tâm phạm trú lúc lâm chung 
XVI. Hướng dẫn trên giường chết 
XVII. Không chấp thủ và bệnh ở giai đoạn cuối đời 
XVIII. Lời khuyên về chăm sóc giảm nhẹ 
XIX. Chết trong tỉnh thức 
XX. Tiềm năng giải thoát của cái chết 
XXI. Sức mạnh của minh quán lúc lâm chung 
XXII. Những lời cuối của một cư sĩ thành đạt  
XXIII. Tiến trình nhập thiền của Đức Phật trước khi nhập diệt 
XXIV. Quán tưởng về cái chết 

Kết luận và các hướng dẫn hành thiền 
Dẫn nhập
Các hướng dẫn hành thiền cho ngài Girimānanda 
(1) Quán vô thường  
(2) Quán vô ngã 
(3) Quán bất tịnh 
(4) Quán nguy hại 
(5) Quán từ bỏ 
(6) Quán ly tham  
(7) Quán đoạn diệt  
(8) Quán không ưa thích toàn thế giới  
(9) Quán các hành là vô thường  
(10) Quán hơi thở  

Lời bạt – Gs Aming Tu

*


Tuesday, 16 January 2024

Sách: Bhante HENEPOLA GUNARATANA. A Critical Analysis of the Jhānas in Theravāda Buddhist Meditation

 Sách:

A Critical Analysis of the Jhānas in Theravāda Buddhist Meditation
Bhante HENEPOLA GUNARATANA 
Ph.D Thesis, Washington D.C. (1980) 

Phân tích Chi tiết các Thiền-na trong Thiền Phật giáo Nguyên thủy
Luận án Tiến sĩ (1980)

Link tải bản PDF (1.4 MB):
http://tinyurl.com/j7f697en

*

CONTENTS

Abstract
Preface 

Chapter One - Introduction 
Chapter Two - The Preliminaries to Practice
Chapter Three - The Conquest of the Hindrances
Chapter Four - The First Jhāna and its Factors 
Chapter Five - The Higher Jhānas 
Chapter Six - Beyond the Four Jhānas
Chapter Seven - The Way of Wisdom
Chapter Eight - Jhāna and the Noble Attainments 
Conclusion  

Appendices
Glossary

*-----* 



Wednesday, 20 December 2023

Sách: TỔNG QUAN LỊCH SỬ PHẬT GIÁO THẾ GIỚI - Hòa thượng Thích Viên Lý biên soạn (2020)

 Sách:

TỔNG QUAN LỊCH SỬ PHẬT GIÁO THẾ GIỚI 
Hòa thượng Thích Viên Lý biên soạn (2020)

Tải bản PDF tại các links: 

Quyển I:
https://tinyurl.com/mw4j8xxc

Quyển II: 
https://tinyurl.com/y24brddd

Quyển III: 
https://tinyurl.com/3af436kt

*-----*





Monday, 11 December 2023

Sách: THERAVĀDA COLLECTION ON MONASTIC LAW (Tạng Luật Theravāda)

 Sách:

THERAVĀDA COLLECTION ON MONASTIC LAW
(Tạng Luật Theravāda)
Translated by Bhikkhu Brahmali (2023)

Tải về các bản PDF:

1) Analysis of Rules for Monks (1) [en257-1]
(Phân tích giới tỳ-khưu 1)
https://tinyurl.com/2syfm6nd 

2) Analysis of Rules for Monks (2) [en257-2]
(Phân tích giới tỳ-khưu 2)
 https://tinyurl.com/ms5mdhp2

3) Analysis of Rules for Nuns [en257-3]
(Phân tích giới tỳ-khưu-ni)
 https://tinyurl.com/57vftuuv

4) The Great Division [en257-4]
(Đại phẩm)
https://tinyurl.com/2r3mxy8c

5) The Lesser Division [en257-5]
(Tiểu phẩm)
https://tinyurl.com/2sar2vhf

6) The Compendium [en257-6]
(Tập yếu)
 https://tinyurl.com/2kvz8r4p

*-----*



Thursday, 7 December 2023

Sách: Kỷ yếu Tưởng niệm Trưởng lão Hòa thượng THÍCH MINH CHÂU (1918-2012)

Sách:

Kỷ yếu Tưởng niệm
Trưởng lão Hòa thượng THÍCH MINH CHÂU   

Link tải bản PDF (4.5 MB):
https://tinyurl.com/3wxnemsn [vn273.pdf] 

*



Sách: Kỷ yếu Tri ân Hòa thượng THÍCH TUỆ SỸ

 Sách:

Kỷ yếu Tri ân Hòa thượng THÍCH TUỆ SỸ
(2023, 506 trang).

Link tải bản PDF (3.5 MB):
https://tinyurl.com/43nvmbxc [vn272.pdf] 

*



Wednesday, 6 December 2023

Sách: HÀNH THIỀN - Hòa thượng Thích Minh Châu (1993)

 Sách:

HÀNH THIỀN
Hòa thượng Thích Minh Châu (1993) 
(Bình Anson hiệu đính, tháng 12-2023)

Tập sách này vừa được tôi dò soát, hiệu đính, cập nhật các trích dẫn kinh điển theo quy ước quốc tế, dàn trang và trình bày trong dạng sách A5, 71 trang. Có thể tải bản PDF tại địa chỉ:

(vn271.pdf – 0.86 MB)

MỤC LỤC 
Phần I. Giới thiệu pháp Thiền Nguyên thủy của Đức Phật 
A. Sửa soạn hành thiền 
B. Đoạn trừ các triền cái 
C. Chứng Sơ thiền cho đến Đệ Tứ thiền 

Phần II. Phương pháp hành trì
A. Vài điều nên tránh 
B. Phương pháp hành trì  

Phần III. Lợi ích của hành thiền và trích dẫn kinh điển 
1. Niệm hơi thở ra, hơi thở vào, có quả lớn (SN 54.5) 
2. Kinh Kappina (SN 54.7) 
3. Kinh Ngọn đèn (SN 54.8 ) 
4. Kinh Vesāli (SN 54.9) 
5. Kinh Kimbila (SN 54.10) 
6. Kinh Ānanda(SN 54.13) 
7. Kinh Nhập tức xuất tức niệm (MN 118 ) 

*-----*



Monday, 4 December 2023

Sách: ĐỨC PHẬT CỦA CHÚNG TA - Hòa thượng Thích Minh Châu (1999)

 Sách:

ĐỨC PHẬT CỦA CHÚNG TA
Hòa thượng Thích Minh Châu (1999)
(Bình Anson hiệu đính, tháng 12-2023)

Tập sách này vừa được tôi dò soát, hiệu đính, cập nhật các trích dẫn kinh điển theo quy ước quốc tế, dàn trang và trình bày trong dạng sách A5, 120 trang. Có thể tải bản PDF tại địa chỉ:

(vn270.pdf – 1.15 MB)

MỤC LỤC
Lời nói đầu 
1. Lịch sử Ðức Phật Thích Ca 
2. Ðức Phật của chúng ta 
3. Ðạo Phật và chữ Hiếu 
4. Ðạo đức trong nếp sống người Phật tử 

*-----*




Saturday, 2 December 2023

Sách: CHÁNH PHÁP VÀ HẠNH PHÚC. Hòa thượng Thích Minh Châu (1995)

 Sách:  

CHÁNH PHÁP VÀ HẠNH PHÚC
Hòa thượng Thích Minh Châu (1995)
(Bình Anson hiệu đính, tháng 12-2023)

Tập sách này vừa được tôi dò soát, hiệu đính, cập nhật các trích dẫn kinh điển theo quy ước quốc tế, dàn trang và trình bày trong dạng sách A5, 240 trang. Có thể tải bản PDF tại địa chỉ:

(vn269.pdf – 1.7 MB) 

MỤC LỤC

1. Đức Phật của chúng ta
2. Vai trò của người có trí, của trí tuệ trong đạo Phật
3. Giới, Định, Tuệ - Con đường giáo dục chấm dứt đau khổ sanh tử luân hồi
4. Chánh pháp và hạnh phúc
5. Hội chúng Tỷ-kheo trong thời đức Phật còn tại thế
6. Kinh “Niệm hơi thở vào, hơi thở ra”
7. Kinh Ví dụ con rắn
8. Vấn đề tái sanh
9. Ý nghĩa Phật thành đạo
10. Người Việt Nam thương mẹ kính cha qua ca dao tục ngữ
11. Sống theo lý tưởng Bồ-tát
12. Đạo Phật với nếp sống thiên nhiên
13. Năm giới, một nếp sống lành mạnh, an lạc, hạnh phúc
14. Ý đẹp với mùa Xuân
15. Một nền giáo dục toàn diện
16. Dịch kinh và Đại học
17. Chùa Việt Nam và mối liên hệ với nền văn hóa dân tộc
18. Xuân về với những lời Phật dạy 

*-----*




Saturday, 25 November 2023

Sách: ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO VÀ HẠNH PHÚC CON NGƯỜI. Hòa thượng Thích Minh Châu (2002)

Sách:
ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO VÀ HẠNH PHÚC CON NGƯỜI
Hòa thượng Thích Minh Châu (2002)
(Bình Anson hiệu đính, tháng 11-2023)

Tập sách này vừa được tôi dò soát, hiệu đính, cập nhật các trích dẫn kinh điển theo quy ước quốc tế, dàn trang và trình bày trong dạng sách A5, 245 trang. Có thể tải bản PDF tại địa chỉ:
(vn268.pdf, 1.5 MB)

MỤC LỤC

Lời nói đầu 

Phần I
01. Đạo đức Phật giáo và hạnh phúc con người
02. Đạo đức Phật giao 

Phần II
03. Đạo đức và nền văn hóa Việt Nam
04. Đạo Phật thiết thực và hiện tại
05. Tiến trình giải thoát của Đức Phật khi Ngài thành đạo
06. Tiến trình tu tập đưa đến giải thoát, không tranh chấp
07. Khất thực thanh tịnh hay an trú không tánh 

Phần III
08. Sống đạo đức là trách nhiệm của mỗi người chúng ta
09. Kinh nghiệm tu học của Đức Phật qua kinh Thánh cầu
10. Giá trị hạnh phúc qua Đại kinh Ví dụ lõi cây
11. Tiếng rống con Sư tử
12. Kinh nghiệm giác ngộ giải thoát của Đức Phật phát xuất từ các suy tầm thiện và ác
13. Một môi trường giáo dục tốt phải được khởi nguồn xây dựng bởi những người có ý thức và trách nhiệm
14. Ông Cấp Cô Độc trả lời các câu hỏi về các kiến của ngoại đạo
15. Pháp trí 

Phần IV
16. Ý nghĩa lễ Vu Lan
17. Chữ Hiếu trong kinh tạng Pāli
18. Chữ Hiếu trong kinh tạng Hán văn
19. Thừa tự pháp
20. Đại kinh Ví dụ lõi cây (MN 29) 

Phần V
21. Năm hạ phần kiết sử hay Đại kinh Māluṅkyaputta (MN 64)
22. Năm uẩn trong kinh Ví dụ con rắn (MN 22)
23. Kinh Sáu sáu (MN 148)
24. Kinh Tổng thuyết và biệt thuyết (MN 138)
25. Kinh Mật hoàn (MN 18)
26. Kinh Ða giới (115)
27. Kinh Ví dụ tấm vải (MN 7)
28. Một nếp sống an lành (MN 131)
29. Kinh Ðiềm lành tối thượng (Snp 2.4)

*-----*


Friday, 24 November 2023

SÔNG MEKONG ĐANG CHẾT DẦN CHẾT MÒN

SÔNG MEKONG ĐANG CHẾT DẦN CHẾT MÒN
Laura Bicker
BBC 16/11/2023    

Mai hít một hơi thật sâu trước khi biến mất dưới làn nước đục ngầu của hồ nước ngọt lớn nhất Đông Nam Á. Mặt nước nổi lên vài chiếc bong bóng - dấu hiệu duy nhất cho thấy anh đang ở dưới nước, gỡ chiếc lưới đánh cá mà anh đã đặt giữa những lùm cây trong khu rừng ngập nước.   

Tonle Sap - hay còn gọi là Biển Hồ, được đặt theo tên của sông nhánh nối hồ với sông Mekong - là môi trường đánh bắt thủy sản lớn nhất trong đất liền lớn nhất thế giới. Lượng thủy sản đánh bắt được ở đây thường cao hơn bất kỳ hồ nào khác trên Trái Đất.   

Nhưng khi ngoi lên, dứt đi những con đỉa đang bám vào cổ và kéo lưới lên chiếc thuyền nhỏ sơn màu xanh dương, Mai biết rằng anh vẫn chưa kéo được mẻ cá mong muốn. Bình minh đã ló rạng. Không khí trở nên ngột ngạt và trên những tán cây bắt đầu râm ran tiếng ve kêu.   

“Tôi rờ quanh lưới và thấy là không có cá mấy,” Mai ôm đầu nói.   

Thật là quá thất vọng, giờ anh sẽ phải cố gắng đặt lưới tiếp. "Đặt tới bốn, năm hôm rồi mà chỉ thu được có bấy nhiêu. Tôi không có cá để bán,” Mai nói thêm vài lời.   

Tonle Sap đã nuôi sống nhiều thế hệ ngư dân ở vùng này của Campuchia. Người dân địa phương, trong đó có Mai, nhớ lại cái thời mà cá đơn giản là cứ tự nhảy vào thuyền. Mai nhớ hồi xưa bố anh cứ rải mồi trên thuyền vào ban đêm là sáng ra sẽ có cá ăn.   

Một nghiên cứu mới cho thấy có sự suy giảm đáng báo động số lượng cá ở hạ lưu sông Mekong, bao gồm cả Tonle Sap. Các nhà khoa học trên khắp thế giới gần đây đã phân tích 110 loài cá trong suốt 17 năm và nhận thấy số lượng của chúng đã giảm hơn 87%. Cá da trơn khổng lồ, một trong những loài cá nước ngọt lớn nhất thế giới và được một số người dân địa phương tôn sùng, được cho là đang trên bờ tuyệt chủng - trong khi cá da trơn sọc, từng là món ăn chủ yếu ở các nước dọc sông Mekong, hiện đang trong tình trạng khẩn nguy.   

Một trong những lý do chính khiến làm thay đổi dòng chính và các nhánh phụ của sông Mekong là do tình trạng đánh bắt quá mức, và cạnh đó là tình trạng biến đổi khí hậu và xây đập chắn.   

Tác động gây ra là rất rõ rệt đối với Tonle Sap, nơi được coi là trái tim đang đập của dòng sông Mekong.   

Bây giờ là tháng 9, cao điểm của mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 10 hàng năm – hay “mùa nước dâng” như Mai gọi. Đó là khi những cơn mưa gió mùa làm nước sông Mekong dâng cao, chảy xiết, mang theo cá đổ vào hồ này.   

Nước sông chảy xiết khiến mực nước trong nhánh phụ, sông Tonle Sap, dâng cao, chảy ngược dòng đổ vào hồ. Đến mùa khô, điều ngược lại xảy ra - dòng nước từ hồ chảy ngược lại, xuôi về phía nam, đến Việt Nam.   

Những thay đổi mang tính chu kỳ này đã mang lại cho sông Mekong mạch đập nuôi dưỡng. Đó là cách hệ thống sông vận chuyển đất, cá và phù sa qua sáu quốc gia, bồi đắp các vùng đồng bằng màu mỡ và hệ sinh thái mong manh.   

Nhưng giờ đây, có những dấu hiệu cho thấy mạch đập này đang yếu đi - và khi sự sống cạn dần khỏi Mekong, Mai đã trở thành nạn nhân của cái chết từ từ của dòng sông.   

Đối với người đàn ông 38 tuổi này, đánh bắt cá là kế sinh nhai. Anh cần lưới đầy cá để nuôi sống gia đình. Anh cần thêm tiền để có thể lo cho ba đứa con đi học.   

“Mấy năm qua, càng ngày nước càng cạn, cá càng ít đi,” Mai nói trong khi vài con cá bạc nhỏ hơn bàn tay quẫy đuôi đập mạnh vào chiếc xô dưới chân anh.   

Hầu hết là cá chép bùn địa phương hoặc cá linh gió (trey riel), được người Campuchia dẫm nát nhừ, phơi nắng và muốn cho lên men để tạo thành món mắm bò hốc (mắm Prahok). Loài cá này rất quan trọng trong văn hóa Campuchia, đến nỗi tiền tệ nước này được đặt theo tên của nó.   

“Mỗi sáng tôi cần khoảng 20.000 riel (khoảng 5 USD) để có tiền cho con đi học. Nhưng những ngày này tôi không có thu nhập."   

Anh chèo thuyền về căn nhà nổi của mình. Mai không có đất. Giống như hàng trăm người khác ở ven sông Tonle Sap, anh dựng một ngôi nhà bằng gỗ, tre và những tấm nhôm. Ngôi nhà đặt nổi trên những thùng dầu và di chuyển theo mực nước mỗi khi khi nước hồ lên xuống, từ mùa mưa qua mùa khô.   

Cuộc sống vốn luôn khó khăn nhưng hồi hai thập niên trước, Mai có thể chỉ cần đi đánh cá hai lần một tuần là kiếm đủ tiền sống thoải mái. Anh cũng cố gắng kiếm thêm bằng cách chở khách du lịch quanh hồ. Sau đó, đại dịch ập đến và trong ba năm không có khách du lịch.   

Hiện tại, Mai nói rằng anh muốn chấm dứt lối sống này.   

“Các con tôi, tôi muốn chúng học hành và tốt nghiệp. Tôi sẽ cho chúng đi học ngoại ngữ và tìm việc làm. Tôi không muốn chúng sống trên hồ này,” anh nói, cắn chặt răng để nước mắt không rơi thêm lần nữa.   

“Dù kiếm tiền khó khăn đến đâu tôi cũng phải cố gắng để con tôi có thể học xong.”   

Mai trở về nhà đúng lúc phần còn lại của ngôi làng nổi đang dần trở nên sinh động. Trẻ em đu đưa trên võng đánh răng, tiếng cá kêu xèo xèo trên đống lửa và mọi người vẫy một chiếc thuyền rong ghé vào bán đồ như một cửa hàng tiện lợi.   

Vợ Mai lục xô tìm cá cho bữa sáng, vứt đi những con ốc, cua không ăn được. Ai đó ở ngôi nhà kế bên bật đài phát thanh địa phương lên và tiếng trống mở đầu một bài hát của Taylor Swift cắt ngang cuộc trò chuyện. Đó là bài hát Cruel Summer.   

*   

Sông Mekong chảy qua gần 5.000km, từ băng sơn Himalaya ở Tây Tạng, qua Trung Quốc, Lào, Myanmar, Thái Lan và Campuchia trước khi đổ ra Biển Đông ở Việt Nam.   

Dòng chảy nhanh và mạnh mẽ của con sông đã mang lại cho nó danh hiệu “Mekong hùng vĩ”. Khi Trái Đất nóng lên, những đợt hạn hán liên tiếp đang làm giảm dòng chảy mạnh mẽ này.   

Từ năm 2019 đến 2021, mực nước giảm xuống mức thấp nhất trong hơn 60 năm. Nhưng lượng mưa giảm không phải là vấn đề duy nhất.   

Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế, nhu cầu năng lượng ở Đông Nam Á tăng trung bình 3% mỗi năm - xu hướng này sẽ tiếp diễn cho đến năm 2030. Lào coi đây là một cách để thoát khỏi khủng hoảng kinh tế. Nước này hy vọng sẽ trở thành “cục pin của Đông Nam Á”, bán năng lượng tái tạo rất cần thiết cho các nước láng giềng.   

Ủy ban Sông Mekong, một cơ quan liên chính phủ tư vấn cho cả sáu quốc gia nhưng không có quyền cưỡng chế thực thi, ước tính rằng các con đập có thể sản xuất và bán lượng điện trị giá khoảng 4 tỷ USD mỗi năm. Nhưng cái giá cho hệ sinh thái có thể sẽ là quá cao.   

“Biến đổi khí hậu và các con đập đang cùng nhau gây ra hàng ngàn vết cắt trên hệ thống sông,” Brian Eyler, người điều hành Cơ quan Giám sát Đập Mekong tại viện nghiên cứu Stimson Center ở Washington DC, cho biết.   

Mặc dù các con đập cuối cùng sẽ xả nước, nhưng các nhà phân tích tin rằng việc giữ nước lại trong các hồ chứa bê tông đang làm gián đoạn mạch đập của sông Mekong, bóp nghẹt một trong những hệ sinh thái đa dạng nhất thế giới.   

Nước cũng được xả từ các đập ở Trung Quốc và Lào vào những ngày và giờ khác nhau, thường gây khó khăn cho việc dự đoán mực nước ở hạ lưu, đặc biệt là ở miền bắc Thái Lan và Campuchia.   

“Lượng mưa lẽ ra thường đổ xuống vào mùa mưa nay trở nên thấp hơn nhiều so với bình thường, nhưng đồng thời, các con đập ở thượng nguồn đang hạn chế nước trong mùa mưa đó. Do đó, nhịp chảy của sông bị giảm xuống và mực nước chảy xuống hạ lưu thấp hơn nhiều so với mức cần thiết,” ông Eyler nói.   

“Tác động của khí hậu và các hạn chế về đập kết hợp với nhau, dẫn đến đang làm thay đổi dòng chảy của sông Mekong - theo chiều hướng tồi tệ hơn nhiều.”   

*   

Trong ngôi làng cũ Kbal Romeas ở phía đông bắc Campuchia, gần biên giới với Lào chỉ còn lại khung tre trơ ra của các ngôi nhà.   

Nhưng Bopha, 18 tuổi, vẫn nhớ rõ từng chi tiết về ngôi làng của mình khi chiếc thuyền đi qua những vạt hoa súng đã bén rễ trong làn nước tĩnh lặng.   

“Chỗ đó là chùa, chỗ kia là trường học, và kia là nhà tôi ở cạnh cái cây đó.”   

Lối sống của người dân Bunong gắn bó mật thiết với vùng đất tổ tiên của họ, nhưng lũ lụt đã khiến phần lớn cộng đồng phải phân tán. Một số người chấp nhận bồi thường hoặc phí tái định cư và chuyển đến một ngôi làng tái định cư nằm cách xa dòng sông. Những người khác, như Bopha, đã bất chấp mà xây một cộng đồng nhỏ - nằm gần ngôi làng cũ của họ ở mức gần nhất có thể.

Để đến được đó bằng đường bộ, bạn phải trải qua một chuyến đi gập ghềnh trên một chiếc máy kéo tạm bợ qua lớp bùn sâu trong gần hai giờ tính từ con đường chính gần nhất. Bopha có một chiếc điện thoại di động, cô cẩn thận đặt gần nó cửa sau nhà mình - một trong số ít nơi ở khu dân cư xa xôi này mà cô có thể bắt được tín hiệu. Bopha có đứa con gái một tuổi rất thích đi theo mẹ - ngay cả khi cô đang đốn củi bằng một con dao lớn để nhóm lửa. Ngôi nhà mới của gia đình họ không được hưởng nguồn điện từ con đập.   

“Hồi đó, chúng tôi rất hạnh phúc,” Bopha nói. “Có đủ thức ăn để ăn. Giờ tìm đồ ăn khó quá.” Sống bên bờ sông màu mỡ, hai bên là nước và ruộng lúa, người dân tự cung tự cấp tự trồng trọt hoặc đánh bắt cá. Cả hai cộng đồng nay đều gặp khó khăn ở nơi ở mới, cách xa dòng sông.   

Nhà cũ của Bopha cách nhà mới một giờ đi thuyền. Chiếc thuyền di chuyển chậm rãi nhưng cô gái bám chặt vào mạn thuyền. Dù sống trên sông cả đời nhưng cô không biết bơi. Con thuyền đi qua một mê cung những thân cây đã bị nước lụt tước đi sự sống.   

“Phải nhìn mọi thứ như thế này thật là đau lòng,” cô nói. “Tôi không thể giúp được tất cả những cái cây này, tôi chỉ có thể giúp chính mình.”   

Cô chia sẻ rằng vẫn khó có thể rời bỏ nơi tổ tiên sinh sống: “Ngay cả linh hồn của họ cũng không muốn rời khỏi ngôi làng này.”   

“Ngôi nhà này là linh hồn của tôi,” cô nói. “Tôi vô cùng đau buồn vì mất đi ngôi làng này.”   

Bopha đi thăm mộ ông nội để tỏ lòng thành kính. Cô ngồi phía trước, cố gắng tìm kiếm những địa điểm quen thuộc. Mỗi năm nước lại dâng cao hơn so với trước.   

*  

Chính phủ Campuchia cho biết đập Lower Sesan II, vốn đã khiến ngôi làng của Bopha phải di dời, đang phát huy hết tiềm năng. Con đập cung cấp 20% lượng điện của đất nước. Một số nhà nghiên cứu nghi ngờ số liệu này và cho rằng sản lượng điện từ đập còn hạn chế, đặc biệt là vào mùa khô.   

“Tôi đã trao đổi với các quan chức cấp cao ở Campuchia, những người đã bày tỏ rất tiếc nuối về con đập đó,” ông Eyler thuộc Cơ quan Giám sát Đập Mekong cho biết.   

“Ở phần thượng nguồn của con đập nơi hồ chứa bị ngập, nghề cá đã bị xóa sổ hoàn toàn.”   

Vào năm 2020, chính phủ Campuchia đã ban hành lệnh cấm xây dựng đập trên dòng sông Mekong chính trong 10 năm, mặc dù không loại trừ khả năng phát triển thêm thủy điện ở những nơi khác.   

Bộ trưởng Mỏ và Năng lượng Campuchia công bố vào tháng trước rằng nước này hy vọng sẽ hướng tới năng lượng mặt trời và năng lượng gió. Thủy điện đã tỏ ra không đáng tin cậy đối với Campuchia vì tình trạng thiếu nước và mực nước sông thấp gần đây. Ngay cả sau khi nhập khẩu điện từ các nước láng giềng Lào, Việt Nam và Thái Lan, tình trạng mất điện ở các khu đô thị vẫn thường xuyên xảy ra.   

Trên khắp châu Á, sản lượng thủy điện vào năm 2023 đã giảm với tốc độ nhanh nhất trong nhiều thập kỷ, buộc các cơ quan quản lý điện lực đang phải chống chọi với thời tiết thất thường phải phụ thuộc nhiều hơn vào nhiên liệu hóa thạch.   

Lý tưởng nhất là các con đập có thể đảm bảo nguồn cung cấp năng lượng ổn định, nhưng ông Eyler tin rằng khu vực cần phải suy nghĩ lại về chính sách năng lượng của mình.   

“Công nghệ sản xuất điện đã thay đổi rất nhiều trong 20 năm qua. Những con đập này không nên được coi là một giải pháp hiện đại cho các vấn đề hiện đại, đặc biệt là xét đến những tác động mà chúng mang lại tới các cộng đồng nghèo.”   

Theo một số nghiên cứu, trong đó bao gồm của Ủy ban Sông Mekong, các con đập ở thượng nguồn không chỉ giữ nước mà còn tích trữ trầm tích, đang khiến cho sông Mekong thiếu đi nguồn dinh dưỡng thiết yếu.   

Nước sông Mekong có màu nâu đục không phải vì bụi bẩn mà vì phù sa mà dòng sông lấy được trên hành trình về phía nam. Thuỷ sản và đất nông nghiệp ở Việt Nam cần phù sa đó không chỉ để tồn tại mà còn để phát triển.   

Theo Ủy ban sông Mekong, nếu không hành động ngay bây giờ, lượng trầm tích chảy vào lưu vực sông có thể giảm hơn 90% vào năm 2040.   

Nếu điều đó xảy đến, nó có thể gây ra tác động tàn khốc đối với dòng sông - đối với Mai, người đang cố gắng nuôi sống gia đình mình, đối với Bopha, người đang cố gắng xây dựng một cuộc sống mới, và với hơn 60 triệu người khác đang phụ thuộc vào dòng chảy huyết mạch này.   

Mối đe doạ hiện đang thúc đẩy quyết tâm của thế hệ trẻ Campuchia. Họ muốn cứu sông Mekong, hoặc ít nhất là bảo vệ dòng sông được mệnh danh là “mẹ nước” trong nhiều ngôn ngữ được sử dụng dọc hai bên bờ.   

Họ không thể giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu cũng như không thể ngăn cản việc xây dựng các con đập ở thượng nguồn ở Lào hay Trung Quốc. Nhưng họ có thể cố gắng cứu các loài cá khỏi nạn đánh bắt bất hợp pháp, mất kiểm soát - đặc biệt là những loài cá đi theo dòng chảy về hạ lưu, đến môi trường sống là rừng ngập nước độc đáo ở miền bắc Campuchia.   

Những khu rừng được bảo vệ này đã thích nghi qua hàng trăm năm với hai mùa - những tháng thời tiết khô hạn và những tháng mưa nhiệt đới gió mùa. Tuy nhiên, dòng nước chảy từ các đập thượng nguồn vào mùa khô khiến khu rừng không có thời gian để khô cạn. Khi đó, những loài nấm sẽ phát triển trong điều kiện ẩm ướt, gây khô thối.   

Điều này đến lượt nó lại tác động đến loài cá - bởi vì những rễ cây ngập nước nhưng khỏe mạnh là nơi trú ẩn an toàn cho cá sinh sản. Hệ sinh thái xung quanh rễ cây cũng cung cấp thức ăn cho cá.  

*   

“Tôi muốn bảo tồn dòng sông này cho thế hệ sau,” Meta, 19 tuổi, nói khi chèo phía trước con thuyền tuần tra trên sông trong bóng tối.

Meta nằm trong nhóm thanh niên ở tỉnh Stung Treng, phần lớn là thanh thiếu niên - họ lặng lẽ di chuyển trong bóng tối, bật đèn pin và lùng sục bờ sông để phát hiện những ngư dân dùng thuốc nổ hoặc điện giật để bẫy chết bất hợp pháp hàng trăm con cá.

Họ tình nguyện làm ca đêm trong khuôn khổ cuộc tuần tra do Hiệp hội Bảo tồn Môi trường và Văn hóa Campuchia (CEPA) điều hành.

“Nếu những hoạt động đánh bắt trái phép đó gia tăng, dân làng sẽ không thể có đủ cá cho họ và gia đình họ”, Meta nói.

Việc này khiến những người tuần tra không được yêu mến cho lắm. Ngư dân thường tìm đến các phương pháp bất hợp pháp khi họ cần phải kiếm tiền.  

Meta, người luôn mang theo dao bên mình khi đi tuần, thừa nhận rằng cậu rất sợ hãi trong ca làm việc đầu tiên. “Nếu phát hiện ra hành vi vi phạm pháp luật, chúng tôi phải cho tàu chạy thật nhanh đuổi theo, có lúc tôi sợ thuyền bị lật. Tôi cũng lo lắng rằng một số người trong số họ sẽ trang bị vũ khí - tôi sẽ phải làm gì?”  

Khi len lỏi qua khu rừng ngập nước, đội tuần tra chuyển từ dùng mái chèo sang động cơ máy vì nước sông dâng cao do mưa gió mùa và dòng nước xoáy quanh rễ cây. Nhưng khi họ cố gắng đi ngược dòng, ngay cả động cơ cũng gặp khó khăn.  

Họ cho rằng điều quan trọng là phải canh giữ dòng sông vào thời điểm này vì đây là lúc cá sinh sản và phát triển.  

“Khi còn nhỏ, mỗi khi cùng bố ra sông, tôi cảm thấy rất vui khi được nhìn thấy dòng sông rộng lớn," Meta nói.  

“Bây giờ, khi tôi nhìn dòng sông, tôi cảm thấy muốn bảo vệ nó - vì nó gần như đã biến mất.”  

*   

Sự phát triển của con người, cùng với biến đổi khí hậu, sẽ tiếp tục làm thay đổi dòng chảy của sông Mekong - và cuộc sống của những người sinh sống hai bên bờ.  

Nhưng dòng chảy của con sông vẫn chưa dừng lại. Những người bảo vệ dòng sông trẻ tuổi hơn như Meta là dấu hiệu của hy vọng.  

Tất cả sáu chính phủ của những nước nằm dọc theo con sông gần đây cũng đã cam kết bắt đầu phối hợp về dòng nước và xây dựng đập.  

Số phận của dòng sông có thể phụ thuộc vào khả năng phục hồi của những người dân sống dựa vào sông. Và vào sự sẵn sàng của họ trong việc đi bao xa để bảo vệ nó – cũng như khôi phục sự hùng vĩ nổi tiếng đó cho sông Mekong.     

* Nguồn: https://www.bbc.com/vietnamese/extra/WF01TiatcV/mekong-the-last-chance-to-save-a-mighty-river   

*-----*




Monday, 20 November 2023

Sách: HÃY TỰ MÌNH THẮP ĐUỐC LÊN MÀ ĐI - Hòa thượng Thích Minh Châu (1990

 Sách:

HÃY TỰ MÌNH THẮP ĐUỐC LÊN MÀ ĐI
Hòa thượng Thích Minh Châu (1990)

(Bình Anson hiệu đính, tháng 11-2023)

Tập sách này vừa được tôi dò soát, hiệu đính, cập nhật các trích dẫn kinh điển theo quy ước quốc tế, dàn trang và trình bày trong dạng sách A5, 180 trang. Có thể tải bản PDF tại địa chỉ:

https://tinyurl.com/4mu692ba

(vn267.pdf, 1.7 MB)

MỤC LỤC

1. Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi
2. Đức Phật và vấn đề cải tiến xã hội
3. Trí tuệ trong đạo Phật
4. Đạo đức trong nếp sống người Phật tử
5. Nếp sống đạo hạnh và trí tuệ trong kinh Pháp cú
6. Bốn pháp đưa đến hạnh phúc 
7. Ý nghĩa về Như Lai
8. Nghĩa chữ "Không" theo đạo Phật nguyên thủy 
9. "Xây dựng một nền trật tự đạo đức mới cho loài người" dựa trên lời Phật dạy
10. Thế nào là chánh tri kiến đi hàng đầu?
11. Đức Phật và xử sự như thế nào khi được tôn trọng, cung kính, cúng dường
12. Đức Phật và con người hiện đại
13. Chứng đạt chánh trí
14. Vai trò của các cảm thọ trong tiến trình giải thoát của đạo Phật
15. Đạo Phật và nền trật tự đạo đức mới

*-----*




Thầy Cô đầu tiên trong đời tôi.

THẦY CÔ ĐẦU TIÊN TRONG ĐỜI TÔI

Nhân chủ đề Ngày Nhà Giáo, tôi mới sực nhớ một điều: vị thầy cô đầu tiên trong đời mình là những vị mình tri ân nhiều nhất vì đã giúp khai mở con đường mình đi.

Tôi kính tri ân cô Hoa, vị thầy đầu tiên trong đời học sinh của tôi. Cô là giáo viên lớp Năm (bây giờ là lớp 1), trường Tiểu học Đa Kao (bây giờ là trường Đinh Tiên Hoàng, Q. 1, Sài Gòn), đã dạy tôi biết các mặt chữ, biết đọc và biết viết. Đó là bước đầu quan trọng nhất của một đời người.

Tôi kính tri ân ngài Hòa thượng Thích Tâm Giác, Viện trưởng Viện Nhu đạo Quang Trung, Đa Kao, Sài Gòn. Vị thầy khai mở cho tôi con đường đến với đạo Phật, đến với pháp thiền quán niệm hơi thở, và tôi đã xin quy y Tam Bảo với ngài.

*



Wednesday, 15 November 2023

Giới thiệu Phật giáo trong 5 phút

 GIỚI THIỆU PHẬT GIÁO TRONG 5 PHÚT
Nguồn: “Good Question, Good Answer”, Bhante Dhammika (Bình Anson dịch Việt)

*

1) Phật giáo là gì?
Phật giáo là một tôn giáo có khoảng 500 triệu tín đồ trên khắp thế giới. Từ “Phật giáo” (Buddhism) phát nguồn từ “buddhi”, có nghĩa là giác ngộ, thức tỉnh. Phật giáo khởi nguồn từ hơn 2.500 năm trước, khi Ngài Siddhattha Gotama (Sĩ-đạt-ta Cồ-đàm), hay Đức Phật, tự mình giác ngộ vào lúc 35 tuổi. 

2) Có phải Phật giáo chỉ thuần là một tôn giáo?
Đối với nhiều người, Phật giáo không phải chỉ là một tôn giáo mà còn có thể xem như là một triết học, hay đúng hơn, đó là một lối sống. Gọi Phật giáo là một triết học, vì từ “triết học” (philosophy) có nghĩa là sự yêu chuộng trí tuệ, và con đường của đạo Phật có thể tóm tắt như sau:

 . (a) Sống có đạo đức,
. (b) Nhận thức rõ ràng về mọi ý nghĩ và hành động,
. (c) Phát triển sự hiểu biết và trí tuệ.

3) Phật giáo giúp tôi bằng cách nào?
Phật giáo giải thích mục đích của đời sống, giải thích hiện tượng bất công và bất bình đẳng trên thế gian, và đưa ra một phương cách thực hành hay một lối sống để đưa đến hạnh phúc thật sự.

4) Tại sao Phật giáo trở nên phổ biến?
Phật giáo ngày càng phổ biến ở các nước Tây phương vì nhiều lý do. Thứ nhất là vì Phật giáo có những giải đáp cho nhiều vấn đề trong các xã hội vật chất hiện đại. Tiếp đến, cho những ai có chú tâm, Phật giáo đem lại một sự thông hiểu sâu sắc về tâm trí con người và các cách trị liệu tự nhiên, mà các nhà tâm lý nổi tiếng trên thế giới đều công nhận là rất tiên tiến và rất hiệu quả.

5) Đức Phật là ai?
Ngài Siddhattha Gotama sinh ra vào năm 563 trước Tây lịch, trong một hoàng tộc tại Lumbini, nay thuộc xứ Nepal. Vào năm 29 tuổi, Ngài nhận thức rằng tiện nghi vật chất và sự yên ổn trong thế gian không bảo đảm hạnh phúc; vì thế, Ngài đi tìm hiểu các học thuyết, tôn giáo và triết học vào thời đó, để tìm kiếm chìa khóa đưa đến hạnh phúc. Sau sáu năm học tập và hành thiền, Ngài tìm ra Trung đạo và giác ngộ. Sau khi chứng đắc, Ngài dùng quãng đời còn lại tại thế gian để truyền giảng các nguyên lý trong đạo Phật – gọi là Pháp hay Chân lý, cho đến khi Ngài nhập diệt vào năm 80 tuổi.

6) Có phải Đức Phật là Thượng Đế?
Không, Ngài không là Thượng Đế, và Ngài cũng không tuyên bố như thế. Ngài là người chỉ dẫn con đường đưa đến giác ngộ, từ kinh nghiệm thực chứng của Ngài.

7) Phật tử có tôn thờ các thần tượng không?
Những người Phật tử tỏ lòng tôn kính các hình ảnh của Đức Phật, nhưng không tôn thờ, cũng không van xin những điều lợi lạc. Một pho tượng Phật ngồi trong tư thế với hai tay dịu dàng đặt trên vế, với nụ cười từ bi, nhắc nhở chúng ta nỗ lực phát triển tình thương và an định nội tâm. Lễ lạy tượng Phật là để tỏ lòng biết ơn về các lời dạy của Ngài.

8) Tại sao nhiều quốc gia Phật giáo lại nghèo như vậy?
Không hẳn đúng như vậy. Nhật Bản là một quốc gia có truyền thống Phật giáo sâu đậm và ngày nay cũng là một quốc gia có kinh tế giàu mạnh. Thái Lan, với Phật giáo là quốc giáo, cũng có một nền kinh tế tương đối vững mạnh và phát triển. Tuy nhiên, chúng ta cần biết rằng một trong các điều dạy của Phật giáo là tài sản của cải không bảo đảm được hạnh phúc, và tài sản của cải cũng không bao giờ thường còn. Dân chúng trong bất kỳ quốc gia nào cũng chịu đau khổ, cho dù họ giàu sang hay nghèo nàn. Chỉ những người nào thông hiểu các lời dạy của Đức Phật thì mới có thể tìm được hạnh phúc thật sự.

9) Có phải có nhiều tông phái Phật giáo không?
Có nhiều tông phái trong Phật giáo là vì có những khác biệt về văn hóa và truyền thống lịch sử của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, căn bản của Phật giáo vẫn không thay đổi, đó là Pháp hay Chân lý.

10) Có phải các tôn giáo khác đều sai lầm?
Phật giáo là một hệ thống tín ngưỡng có tính bao dung đối với các tín ngưỡng hay tôn giáo khác. Phật giáo chấp nhận các lời giảng đạo đức của các tôn giáo khác, nhưng Phật giáo còn tiến xa hơn, bằng cách đưa ra một mục tiêu dài hạn trong sự hiện hữu của chúng ta, qua trí tuệ và sự hiểu biết thật sự. Phật giáo chân chính thì rất bao dung, và không quan tâm đến các danh hiệu như là tín hữu Ki-tô giáo, tín hữu Hồi giáo, tín hữu Ấn-độ giáo hay Phật tử. Vì vậy, trong lịch sử, không bao giờ có các cuộc thánh chiến mang danh Phật giáo. Cũng vì thế mà những người Phật tử không đi truyền giảng hay cải đạo người khác; họ chỉ giảng giải nếu được ai hỏi đến.

11) Phật giáo có tính khoa học không?
Khoa học là tri thức được kết hợp thành hệ thống, qua các dữ kiện được quan sát và thực nghiệm và đề ra các định luật tổng quát của thiên nhiên. Cốt lõi của Phật giáo phù hợp với định nghĩa đó, bởi vì Tứ Thánh đế hay Bốn Chân lý Cao quý, có thể được thử nghiệm và minh chứng bởi bất kỳ người nào, và ngay chính Đức Phật cũng đã từng nói với các đệ tử rằng họ phải thực chứng các lời dạy của Ngài, mà không nên chỉ tin suông. Phật giáo dựa nhiều trên trí tuệ, hơn là lòng tin.

12) Đức Phật đã dạy những gì?
Đức Phật đã giảng dạy rất nhiều đề tài, nhưng các điều căn bản trong Phật giáo có thể tóm tắt trong Tứ Thánh đế và Bát chi Thánh đạo.

13) Thánh đế thứ nhất là gì?
Khổ đế, chân lý cao quý đầu tiên, nói rằng đời sống là đau khổ, nghĩa là phải chịu đau đớn thể xác, già nua, bệnh hoạn, rồi chết. Ta cũng phải chịu đau khổ về mặt tâm lý như cô đơn, phiền giận, bực bội, sợ hãi, bối rối, thất vọng, hay sân hận. Đây là một sự kiện hiển nhiên, không thể chối cãi. Đây là thực tế khách quan, không phải bi quan; vì bi quan là mong đợi những điều gì trở nên tệ hại. Mặt khác, Phật giáo đề ra cách thức giải quyết các đau khổ đó và cách thức để có hạnh phúc thật sự.

14) Thánh đế thứ hai là gì?
Tập đế, chân lý cao quý thứ hai, dạy rằng tất cả mọi đau khổ đều do ái dục và chấp thủ. Ta sẽ bị phiền khổ nếu ta mong đợi người khác phải tuân theo ý muốn của mình, phải làm giống như mình, nếu ta không được những gì mình muốn, v.v. Ngay cả khi ta muốn và được, điều này cũng không bảo đảm có hạnh phúc. Tâm khát khao ham muốn cướp đoạt của ta niềm vui được thỏa lòng và hạnh phúc. Thay vì kiên trì chiến đấu để thành đạt điều mong muốn, hãy cố gắng sửa đổi chính cái lòng ước muốn của mình. 

15) Thánh đế thứ ba là gì?
Diệt đế, chân lý cao quý thứ ba, là có thể chấm dứt đau khổ và đạt được trạng thái thỏa lòng và hạnh phúc. Khi ta dứt bỏ ái dục, vốn là vô ích, và tập sống từng ngày, chúng ta bắt đầu sống an vui và tự do. Chúng ta sẽ có nhiều thì giờ và năng lực để giúp đỡ người khác. Trạng thái ấy được gọi là Niết-bàn. 

16) Thánh đế thứ tư là gì?
Đạo đế, chân lý cao quý thứ tư, là con đường đưa đến chấm dứt đau khổ. Con đường này gọi là Bát chi Thánh đạo. 

17) Bát chi Thánh đạo là gì?
Đó là con đường gồm tám yếu tố chân chánh: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, và Chánh Định. Đây là con đường của đạo đức và tỉnh thức – qua lời nói, ý nghĩ và hành động, và phát triển trí tuệ bằng sự nhận thức rõ ràng về Tứ Thánh Đế và bằng sự tăng trưởng lòng từ bi.

18) Ngũ giới là gì?
Đây là năm điều giới luật đạo đức của Phật giáo. Đó là: Không sát hại, không lấy của không cho, không tà dâm, không nói dối, và không dùng các chất say làm lu mờ trí óc.

19) Nghiệp là gì?
Nghiệp hay nghiệp quả là một định luật cho biết rằng mỗi một nguyên nhân đều tạo ra một hậu quả, có nghĩa là các hành động của ta đều có những hậu quả. Định luật đơn giản này đã giải thích nhiều vấn đề: sự bất công trên thế gian, tại sao có người sinh ra lại có phế tật, có người lại có nhiều tài năng, có người có đời sống rất ngắn ngủi. Nghiệp cho thấy tầm quan trọng về việc tất cả chúng ta phải chịu trách nhiệm về các hành động của chính mình, trong quá khứ và hiện tại. Làm thế nào để thử nghiệm tác động nghiệp quả của các hành động của ta? Câu trả lời được tóm tắt bằng cách hãy nhìn xem 3 điểm chính: (1) ý định đằng sau của mỗi hành động, (2) hậu quả của hành động đó vào chính mình và (3) hậu quả của hành động đó vào những người khác.

20) Trí tuệ là gì?
Trong Phật giáo, trí tuệ phải được phát triển cùng với từ bi. Trong một cực đoan, bạn có thể là một người tốt bụng nhưng khờ dại, và trong một cực đoan khác, bạn có thể có nhiều kiến thức nhưng lại không có tình cảm. Phật giáo dạy ta nên giữ thật sự cân bằng và trọn vẹn cả hai, phải trau giồi cả trí tuệ lẫn từ bi. Trí tuệ cao nhất là thấy rõ ràng rằng trên thực tế, mọi hiện tượng đều không hoàn toàn, không thường còn, và không có một thực thể cố định. Trí tuệ thật sự không phải chỉ tin vào những gì được dạy, mà phải chứng nghiệm và thông hiểu chân lý và thực tế. Trí tuệ đòi hỏi phải có một tâm ý rộng mở, khách quan, không cố chấp. Con đường của Phật giáo đòi hỏi phải can đảm, nhẫn nại, mềm dẻo và thông minh. 

21) Từ bi là gì?
Từ bi bao gồm các phẩm hạnh của lòng san sẻ, sẵn sàng an ủi người khác, thiện cảm, chăm lo và quan tâm. Trong Phật giáo, ta chỉ thật sự cảm thông người khác khi nào ta thật sự cảm thông chính mình, qua trí tuệ. 

22) Tôi phải làm thế nào để trở thành một Phật tử?
Bất cứ ai cũng có thể tìm hiểu và thực nghiệm các lời dạy của Đức Phật. Ngài dạy rằng lời giải đáp cho mọi vấn đề của chúng ta là ở bên trong chúng ta, không phải ở bên ngoài. Ngài nói với các đệ tử không được tin ngay vào lời dạy của Ngài, mà họ phải tự thử nghiệm các lời dạy đó. Như thế, mỗi người tự có quyết định và tự chịu trách nhiệm về các hành động và sự hiểu biết của mình. Điều này cho thấy Phật giáo không phải là một tập hợp cố định các tín điều cần phải được chấp nhận trọn vẹn. Đây là những lời dạy để mỗi người tự tìm hiểu, học tập và áp dụng theo tình huống riêng của mình.

* Nguồn: “Good Question, Good Answer”, Bhante Dhammika (Bình Anson dịch Việt).

*-----*





Monday, 13 November 2023

Sách: CÁI DŨNG CỦA THÁNH NHÂN (1964), Thu Giang NGUYỄN DUY CẦN

 Sách:

CÁI DŨNG CỦA THÁNH NHÂN (1964)
Thu Giang NGUYỄN DUY CẦN
(Loại sách Học Làm Người)

Tôi vừa dàn trang và trình bày lại cuốn sách quý này. Đây là một trong những cuốn sách gối đầu giường của tôi trong những năm cuối của bậc trung học vào cuối thập niên 1960. Tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần, đem lại nhiều ích lợi cho cuộc đời thanh niên của tôi. Dàn trang và giới thiệu, quảng bá cuốn sách này là một cách tỏ lòng tri ân chân thành của tôi với tác giả cuốn sách.

Xin chia sẻ đến người hữu duyên.

Có thể tải tập tin dạng PDF về máy để đọc, tại link:

https://tinyurl.com/224cu8xx [vn265.pdf, 1.5 MB]



Sunday, 8 October 2023

Tam tạng Kinh điển tiếng Việt và tiếng Anh trong thẻ nhớ SD

TAM TẠNG KINH ĐIỂN TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH TRONG THẺ NHỚ SD

 Khi chúng tôi đến Cairns, bang Queensland của nước Úc, thăm gia đình con gái, gia đình cô ấy mới dọn về ở một khu mới, đường truyền Internet bất ổn, chập chờn, khi có khi không. Lúc đầu, tôi không thể truy cập Interrnet, chỉ đọc một quyển sách của Hòa thượng Gunaratana mà tôi mang theo.  

Mấy ngày nay đường truyền đã ổn định, tốc độ truy cập rất nhanh - 110 Mbps. Tôi bỗng nảy ra một ý tưởng là mình nên lưu tất cả các bản dịch Tam Tạng Anh-Việt dạng PDF vào thẻ nhớ SD gắn trong máy Surface Pro Laptop mà tôi thường mang theo mỗi khi đi xa. Như thế, mình có thể truy cập, tham cứu kinh điển mà không phải tùy thuộc vào đường truyền Internet.  

Thế là tối hôm qua tôi cặm cụi tải về tất cả các bản PDF cần thiết từ Thư viện Phật học BuddhaSasana (www.budsas.net). Cũng rất nhanh, vì mình đã quen thuộc với các ngăn chứa lưu các tài liệu đó trong trang web. Kết quả là tôi có được một kho Tam Tạng tiếng Anh và tiếng Việt lưu trong thẻ nhớ SD, với các tập tin dạng PDF, gồm tạng Luật, tạng Kinh, tạng A-tỳ-đàm (Vi diệu pháp), dịch từ nguồn Pali tạng và Hán tạng.  

Để chia sẻ đến người hữu duyên, tôi đã tải toàn bộ kho Tam Tạng Anh-Việt đó lên Google Drive. Có 2 ngăn chính: (1) Tipitaka Eng (Tam tạng tiếng Anh); và (2) Tipitaka Viet (Tam tạng tiếng Việt). Kho Tam Tạng gồm 360 tập tin dạng PDF, tổng cộng dung lượng là 3.2 GB. Link của Google Drive để tải Tam Tạng về máy: 

1) https://bit.ly/tamtangkinhdien 
2) https://tinyurl.com/bdcwj74z 

Bình Anson 
Cairns, Queensland 
08/10/2023  

*-----*