Wednesday, 23 November 2011

Giới luật

Trích Đại kinh Bát-niết-bàn, Trường bộ 16:

- Này Ananda, nếu trong các ngươi có người nghĩ rằng: "Lời nói của bậc Ðạo sư không còn nữa. Chúng ta không có Ðạo sư (giáo chủ)". Này Ananda, chớ có những tư tưởng như vậy. Này Ananda, Pháp và Luật, Ta đã giảng dạy và trình bày, sau khi Ta diệt độ, chính Pháp và Luật ấy sẽ là Ðạo Sư của các Ngươi.

Này Ananda, nay các vị Tỳ-khưu xưng hô với nhau là Hiền giả. Sau khi Ta diệt độ, chớ có xưng hô như vậy. Này Ananda, vị Tỳ-khưu niên lão hãy gọi vị Tỳ-khưu niên thiếu, hoặc bằng tên, hoặc bằng họ, hoặc bằng tiếng Hiền giả. Vị Tỳ-khưu niên thiếu, hãy gọi vị Tỳ-khưu niên lão là Thượng tọa (Bhante) hay Ðại đức.

Này Ananda, nếu chúng Tăng muốn, sau khi Ta diệt độ có thể hủy bỏ những học giới nhỏ nhặt chi tiết.

*

- Này các Gia chủ, có năm sự nguy hiểm cho những ai phạm giới, sống trái giới luật. Thế nào là năm?

Ở đây, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật sẽ bị tiêu hao tiền của rất nhiều vì sống phóng dật. Ðó là điều nguy hiểm thứ nhất cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.

Lại nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật bị tiếng dữ đồn xa. Ðó là điều nguy hiểm thứ hai cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.

Lại nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật khi vào hội chúng nào, hoặc Sát-đế-lỵ, hoặc Bà-la-môn, hoặc gia chủ, hoặc Sa-môn, người ấy đi vào với tâm thần sợ hãi, bối rối. Ðó là điều nguy hiểm thứ ba cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.

Lại nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật sẽ chết với tâm hồn rối loạn. Ðó là điều nguy hiểm thứ tư cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.

Lại nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị sanh vào khổ cảnh, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ðó là điều nguy hiểm thứ năm cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.

Này các gia chủ, đó là năm điều nguy hiểm cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.

*

- Này các Gia chủ có năm sự lợi ích cho những ai giữ giới, sống theo giới luật. Thế nào là năm?

Ở đây, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật sẽ có tiền của dồi dào rất nhiều vì sống không phóng dật. Ðó là sự lợi ích thứ nhất cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.

Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật được tiếng tốt đồn xa. Ðó là sự lợi ích thứ hai cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.

Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật khi đi vào hội chúng nào, hoặc Sát Ðế Lỵ, hoặc Bà-la-môn, hoặc gia chủ, hoặc Sa-môn, người ấy đi vào với tâm thần không sợ hãi, không bối rối. Ðó là sự lợi ích thứ ba cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.

Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật sẽ chết với tâm hồn không rối loạn. Ðó là sự lợi ích thứ tư cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.

Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh vào thiện thú, thiên giới. Ðó là sự lợi ích thứ năm cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.

*

- Này các Tỳ-khưu, Ta sẽ giảng bốn Ðại giáo pháp, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.

Này các Tỳ-khưu, có thể có Tỳ-khưu nói: "Này Hiền giả, tôi tự thân nghe từ miệng Thế Tôn, tự thân lãnh thọ, như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Ðạo Sư". Này các Tỳ-khưu, các Ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỳ-khưu ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, cần phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật, nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: "Chắc chắn những lời này không phải là lời Thế Tôn, và Tỳ-khưu ấy đã thọ giáo sai lầm". Và này các Tỷ kheo, các Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: "Chắc chắn những lời này phải là lời dạy của Thế Tôn và Tỳ-khưu ấy đã thọ giáo chơn chánh". Này các Tỳ-khưu, như vậy là Ðại giáo pháp thứ nhất, các Ngươi hãy thọ trì.

Này các Tỳ-khưu, nếu có Tỳ-khưu nói: "Tại trú xứ kia, có Tăng chúng ở với các vị Thượng tọa, với các Thủ chúng. Tôi tự thân nghe từ miệng Tăng chúng, tự thân lãnh thọ, như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Ðạo Sư". Này các Tỳ-khưu, các Ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỳ-khưu ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: "Chắc chắn những lời này không phải là lời Thế Tôn, và Tỳ-khưu ấy đã thọ giáo sai lầm". Và này các Tỳ-khưu, các Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: "Chắc chắn những lời này phải là lời dạy của Thế Tôn, và Tỳ-khưu ấy đã thọ giáo chơn chánh". Này các Tỳ-khưu, như vậy là Ðại giáo pháp thứ hai, các Ngươi hãy thọ trì.

Này các Tỳ-khưu, có thể có vị Tỳ-khưu nói: "Tại trú xứ kia có nhiều Tỳ-khưu Thượng tọa ở, những vị này là bậc đa văn, gìn giữ truyền thống, trì pháp, trì luật, trì pháp yếu. Tôi tự thân nghe từ miệng những vị Thượng tọa ấy, tự thân lãnh thọ, như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Ðạo Sư". Này các Tỳ-khưu, các Ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỳ-khưu ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật, và nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: "Chắc chắn những lời này không phải là lời Thế Tôn và Tỳ-khưu ấy đã thọ giáo sai lầm". Và, này các Tỳ-khưu, các Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: "Chắc chắn những lời ấy phải là lời dạy của Thế Tôn và Tỳ-khưu ấy đã thọ giáo chơn chánh". Này các Tỳ-khưu, như vậy là Ðại giáo pháp thứ ba, các Ngươi hãy thọ trì.

Này các Tỳ-khưu, có thể có Tỳ-khưu nói: "Tại trú xứ kia, có một vị Thượng tọa, vị này là bậc đa văn, gìn giữ truyền thống, trì pháp, trì luật, trì pháp yếu. Tôi tự thân nghe từ Thượng tọa, tự thân lãnh thọ; như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Ðạo Sư". Này các Tỳ-khưu, các Ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỳ-khưu ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, cần phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật, và nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thời các ngươi có thể kết luận: "Chắc chắn những lời này không phải là lời của Thế Tôn, và Tỳ-khưu ấy đã thọ giáo sai lầm". Và này các Tỳ-khưu, các Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các ngươi có thể kết luận: "Chắc chắn những lời ấy phải là lời dạy của Thế Tôn và Tỳ-khưu ấy đã thọ giáo chơn chánh". Này các Tỳ-khưu, như vậy là Ðại giáo pháp thứ tư, các Ngươi hãy thọ trì.

Này các Tỳ-khưu, bốn Ðại giáo pháp này, các Ngươi hãy thọ trì.

*

Này các Tỳ-khưu, khi nào các vị Tỳ-khưu sống với các bạn đồng tu, tại chỗ đông người và vắng người, trong sự thọ trì những giới luật đúng với Sa-môn hạnh, những giới luật không bị gẫy vụn, không bị sứt mẻ, không bị tỳ vết, không bị uế trược, những giới luật đưa đến giải thoát, được người có trí tán thán, không bị ô nhiễm bởi mục đích sai lạc, những giới luật hướng đến định tâm, thời này các Tỳ-khưu, chúng Tỳ-khưu sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

*

Này Ananda, Pháp kính ấy là gì mà Thánh đệ tử, sau khi chứng đạt pháp nghĩa này, nếu muốn, sẽ tự tuyên bố về mình như sau: "Ðối với ta, sẽ không còn địa ngục, sẽ không còn tái sanh cõi bàng sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú. Ta đã chứng quả Dự lưu, nhứt định không đọa ác đạo, sẽ đạt Chánh giác". Này Ananda, vị Thánh đệ tử có chánh tín đối với đức Phật: "Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn". Vị ấy có chánh tín đối với chánh pháp: "Chánh pháp được Thế Tôn khéo giảng dạy, thiết thực, vượt ngoài thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng giải thoát, được kẻ trí tự mình thâm hiểu". Vị ấy có chánh tín đối với chúng Tăng: "Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân chánh tu hành, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân trực tu hành, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân trí tu hành, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân tịnh tu hành, tức là bốn đôi tám vị. Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn đáng được nghênh đón, đáng được cúng dường, đáng được chiêm ngưỡng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở trên đời, cụ túc giới hạnh, được bậc Thánh mến chuộng, được viên mãn không mảy mún, được vẹn toàn không sứt mẻ, không tỳ vết, không ô nhiễm, những giới hạnh đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị ảnh hưởng bởi đời sau, hướng dẫn đến thiền định".

Này Ananda, chính Pháp kính này mà Thánh đệ tử sau khi chứng đạt pháp nghĩa này, nếu muốn sẽ tự tuyên bố về mình như sau: "Ðối với ta, sẽ không còn địa ngục, sẽ không còn tái sanh cõi bàng sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú. Ta đã chứng quả Dự lưu, nhứt định không đọa ác đạo, sẽ đạt Chánh giác".

*

Ta đã già, dư mạng chẳng còn bao,
Từ biệt các Ngươi, Ta đi một mình.
Tự mình làm sở y cho chính mình,
Hãy tinh tấn, chánh niệm, giữ giới luật,
Nhiếp thúc ý chí, bảo hộ tự tâm.
Ai tinh tấn trong pháp và luật này
Sẽ diệt sanh tử, chấm dứt khổ đau.


*

- Này các Tỳ-khưu, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt bốn Pháp mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Thế nào là bốn? Này các Tỳ-khưu, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh Giới mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Này các Tỳ-khưu, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh Ðịnh mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Này các Tỳ-khưu, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh Tuệ mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Này các Tỳ-khưu, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh giải thoát mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Này các Tỳ-khưu, khi Thánh Giới được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh Ðịnh được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh Tuệ được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh Giải thoát được giác ngộ, được chứng đạt, thời tham ái một đời sống tương lai được trừ diệt, những gì đưa đến một đời sống mới được dứt sạch, nay không còn một đời sống nào nữa.

Giới, Ðịnh, Tuệ và Giải thoát vô thượng
Gotama danh xưng đã chứng ngộ.
Ðấng Giác Ngộ giảng pháp chúng Tỳ-khưu.
Ðạo Sư diệt khổ, pháp nhãn, tịnh lạc.


- Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ, Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.

*

Monday, 12 September 2011

150 học giới của Tỳ-khưu

Tăng chi bộ, Chương Ba Pháp, Phẩm Sa-môn

83.- Người Vajji.

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Ðại Lâm, chỗ giảng đường có góc nhọn. Rồi một Tỳ-khưu người Vajji đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỳ-khưu người Vajji bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, hơn 150 học pháp này, nửa tháng một lần con phải tụng đọc, ở đây, con không có thể học nổi.

- Này Tỳ-khưu, Thầy có thể học ba học pháp không, tăng thượng giới học, tăng thượng định học, tăng thượng tuệ học?

- Bạch Thế Tôn, con có thể học ba học pháp, tăng thượng giới học, tăng thượng định học, tăng thượng tuệ học.

2. - Do vậy, này Tỳ-khưu, Thầy hãy học tập ba học pháp, tăng thượng giới học, tăng thượng định học, tăng thượng tuệ học. Nếu Thầy học tập tăng thượng giới học, tăng thượng định học, tăng thượng tuệ học. Này Tỳ-khưu, nhờ học tập ba học pháp này, tham sẽ đoạn tận, sân sẽ đoạn tận, si sẽ đoạn tận. Do đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si; điều bất thiện, Thầy sẽ không làm; điều ác, Thầy sẽ không theo.

3. - Tỳ-khưu ấy, sau một thời gian học tập tăng thượng giới, học tập tăng thượng định, học tập tăng thượng tuệ; do học tập tăng thượng giới, học tập tăng thượng định, học tập tăng thượng tuệ, tham được đoạn tận, sân được đoạn tận, si được đoạn tận. Vị ấy, do đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si; nên không làm điều bất thiện, không theo điều ác.

85.- Hữu Học

1. - Này các Tỳ-khưu, bản tụng đọc này gồm hơn 150 học giới cần phải đọc nửa tháng một lần, ở đây các người thiện nam tử muốn được lợi ích, học tập bản tụng ấy. Này các Tỳ-khưu, tất cả được thâu nhiếp họp lại thành ba học giới này. Thế nào là ba? Tăng thượng giới học, tăng thượng định học, tăng thượng tuệ học. Chính ba học giới này, này các Tỳ-khưu, thâu nhiếp tất cả.

2. Ở đây, này các Tỳ-khưu, Tỷ Kheo đối với các giới luật, hành trì toàn phần, đối với định, hành trì một phần, đối với tuệ, hành trì một phần. Vị ấy có vi phạm học pháp nhỏ nhặt nhỏ nhiệm nào, vị ấy được xem là thanh tịnh. Vì cớ sao? Ở đây, này các Tỳ-khưu, Ta không tuyên bố chúng làm cho vị ấy không có khả năng. Phàm có những học pháp nào là căn bản Phạm hạnh, tương xứng Phạm hạnh, ở đây, vị ấy kiên trì giới ấy, kiên trú giới ấy, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Vị ấy, do đoạn tận ba kiết sử, là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc đạt đến Chánh giác.

3. Ở đây, này các Tỳ-khưu, Tỷ Kheo đối với các giới luật, hành trì toàn phần, đối với định, hành trì toàn phần, đối với tuệ, hành trì một phần. Vị ấy có vi phạm học pháp nhỏ nhặt nhỏ nhiệm nào, vị ấy được xem là thanh tịnh. Vì cớ sao? Ở đây, này các Tỳ-khưu, Ta không tuyên bố chúng làm cho vị ấy không có khả năng. Phàm có những học pháp nào là căn bản Phạm hạnh, tương xứng Phạm hạnh, ở đây, vị ấy kiên trì giới ấy, kiên trú giới ấy, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Vị ấy, do đoạn tận ba kiết sử, làm cho muội lược tham, sân, si là bậc Nhất lai, chỉ trở về thế giới này một lần, rồi đoạn tận khổ đau.

4. Ở đây, này các Tỳ-khưu, Tỷ kheo đối với các giới luật, hành trì toàn phần, đối với định, hành trì toàn phần, đối với tuệ, hành trì một phần. Vị ấy có vi phạm học pháp nhỏ nhặt nhỏ nhiệm nào, vị ấy được xem là thanh tịnh. Vì cớ sao? Ở đây, này các Tỳ-khưu, Ta không tuyên bố chúng làm cho vị ấy không có khả năng. Phàm có những học pháp nào là căn bản Phạm hạnh, tương xứng Phạm hạnh, ở đây, vị ấy kiên trì giới ấy, kiên trú giới ấy, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Vị ấy, do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, tại đấy nhập Niết-bàn, không còn phải trở lui đời này nữa.

5. Ở đây, này các Tỳ-khưu, Tỷ kheo đối với các giới luật, hành trì toàn phần, đối với định, hành trì toàn phần, đối với tuệ, hành trì toàn phần. Vị ấy có vi phạm học pháp nhỏ nhặt nhỏ nhiệm nào, vị ấy được xem là thanh tịnh. Vì cớ sao? Ở đây, này các Tỳ-khưu, Ta không tuyên bố chúng làm cho vị ấy không có khả năng. Phàm có những học pháp nào là căn bản Phạm hạnh, tương xứng Phạm hạnh, ở đây, vị ấy kiên trì giới ấy, kiên trú giới ấy, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Vị ấy, do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

Như vậy, này các Tỳ-khưu, người hành trì có một phần, thành tựu được một phần; người hành trì toàn phần, thành tựu được toàn phần. Ta tuyên bố rằng, này các Tỳ-khưu, các học giới không phải là rỗng không.

86.- Bản Tụng Ðọc (1)

1. - Này các Tỳ-khưu, bản tụng đọc này gồm hơn 150 học giới cần phải đọc nửa tháng một lần, ở đây các người thiện nam tử muốn được lợi ích, học tập bản tụng ấy. Này các Tỳ-khưu, tất cả được thâu nhiếp làm thành ba học giới này. Thế nào là ba? Tăng thượng giới học, tăng thượng định học, tăng thượng tuệ học. Chính ba học pháp này, này các Tỳ-khưu, thâu nhiếp tất cả.

2. Ở đây, này các Tỳ-khưu, có Tỷ kheo đối với các giới luật, hành trì toàn phần, đối với định, hành trì một phần, đối với tuệ, hành trì một phần. Vị ấy có vi phạm học pháp nhỏ nhặt nhỏ nhiệm nào, vị ấy được xem là thanh tịnh. Vì cớ sao? Ở đây, này các Tỳ-khưu, Ta không tuyên bố chúng làm cho vị ấy không có khả năng. Phàm có những học giới nào là căn bản Phạm hạnh, tương xứng Phạm hạnh, ở đây, vị ấy kiên trì giới ấy, kiên trú giới ấy, chấp nhận và học tập trong các học pháp.

Vị ấy, do đoạn tận ba kiết sử, là bậc tối đa phải sanh lại bảy lần. Sau khi sanh lại bảy lần, sau khi dong ruỗi, luân chuyển tối đa bảy lần giữa chư Thiên và loài người, liền đoạn tận khổ đau. Vị ấy, do đoạn tận ba kiết sử, là bậc "Gia gia", dong ruỗi, lưu chuyển trong hai hay ba gia đình, rồi đoạn tận khổ đau. Vị ấy, do đoạn tận ba kiết sử, là bậc Nhất chủng, sau khi phải sanh hiện hữu làm người một lần, rồi đoạn tận khổ đau. Vị ấy do đoạn tận ba kiết sử, làm cho muội lược tham, sân, si là bậc Nhất lai, phải trở lui lại đời này chỉ một lần, rồi đoạn tận khổ đau.

3. Nhưng ở đây, này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu đối với các giới luật, hành trì toàn phần, đối với định, hành trì toàn phần, đối với tuệ, hành trì một phần. Vị ấy có vi phạm học pháp nhỏ nhặt nhỏ nhiệm nào, vị ấy được xem là thanh tịnh. Vì cớ sao? Ở đây, này các Tỳ-khưu, Ta không tuyên bố chúng làm cho vị ấy không có khả năng. Phàm có những học giới nào là căn bản Phạm hạnh, tương xứng Phạm hạnh, ở đây, vị ấy kiên trì giới ấy, kiên trú giới ấy, chấp nhận và học tập trong các học pháp.

Vị ấy do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là bậc Thượng lưu, đạt được Sắc cứu kính thiên. Vị ấy, do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là bậc Hữu hành Bát-Niết-bàn. Vị ấy do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là bậc Vô hành Bát-Niết-bàn. Vị ấy do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là bậc Tổn hại Bát-Niết-Bàn .Vị ấy do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là bậc Trung gian Bát-Niết-bàn.

4. Nhưng ở đây, này các Tỳ-khưu, Tỷ kheo đối với các giới luật, hành trì toàn phần, đối với định, hành trì toàn phần, đối với tuệ, hành trì toàn phần. Vị ấy có vi phạm học pháp nhỏ nhặt nhỏ nhiệm nào, vị ấy được xem là thanh tịnh. Vì cớ sao? Ở đây, này các Tỳ-khưu, Ta không tuyên bố chúng làm cho vị ấy không có khả năng. Phàm có những học pháp nào là căn bản Phạm hạnh, tương xứng Phạm hạnh, ở đây, vị ấy kiên trì giới ấy, kiên trú giới ấy, chấp nhận và học tập trong các học pháp.

Vị ấy, do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

Như vậy, này các Tỳ-khưu, người hành trì có một phần, thành tựu được một phần; người hành trì toàn phần, thành tựu được toàn phần. Ta tuyên bố rằng, này các Tỳ-khưu, các học giới không phải là rỗng không.

87.- Bản Tụng Ðọc (2)

1. - Này các Tỳ-khưu, bản tụng đọc này gồm hơn 150 học giới cần phải đọc nửa tháng một lần, ở đây các người thiện nam tử muốn được lợi ích, học tập bản tụng ấy. Này các Tỳ-khưu, tất cả được thâu nhiếp làm thành ba học giới này. Thế nào là ba? Tăng thượng giới học, tăng thượng định học, tăng thượng tuệ học. Chính ba học pháp này, này các Tỳ-khưu, thâu nhiếp tất cả.

2. Ở đây, này các Tỳ-khưu, Tỳ-khưu đối với các giới luật, hành trì toàn phần, đối với định, hành trì toàn phần, đối với tuệ, hành trì toàn phần. Vị ấy có vi phạm học pháp nhỏ nhặt nhỏ nhiệm nào, vị ấy được xem là thanh tịnh. Vì cớ sao? Ở đây, này các Tỳ-khưu, Ta không tuyên bố chúng làm cho vị ấy không có khả năng. Phàm có những học giới nào là căn bản Phạm hạnh, tương xứng Phạm hạnh, ở đây, vị ấy kiên trì giới ấy, kiên trú giới ấy, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Vị ấy do đoạn tận các lậu hoặc ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

3. Hoặc nếu chưa chứng đạt, nếu chưa thể nhập, sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là bậc Trung gian Bát-Niết-bàn. Hoặc nếu chưa chứng đạt, nêu chưa thể nhập, sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là bậc Tổn hại Bát-Niết-bàn ... là bậc Vô hành Bát-Niết-bàn ... là bậc Hữu hành Bát-Niết-bàn ... là bậc Thượng lưu, chứng đạt Sắc cứu kính thiên. Hoặc nếu chưa chứng đạt, nếu chưa thể nhập, sau khi đoạn tận ba kiết sử, sau khi làm cho muội lược tham, sân, si, là bậc Nhất lai, chỉ trở lui đời này một lần nữa, rồi đoạn tận khổ đau. Hoặc nếu chưa chứng đạt, nếu chưa thể nhập, sau khi đoạn tận ba kiết sử, là bậc Nhất chủng, sau khi phải sanh hiện hữu làm người một lần, rồi đoạn tận khổ đau. Hoặc nếu chưa chứng đạt, nếu chưa thể nhập, sau khi đoạn tận ba kiết sử, là bậc "Gia gia", sau khi dong ruỗi, luân chuyển trong hai hay ba gia đình, rồi đoạn tận khổ đau. Hoặc nếu chưa chứng đạt, nếu chưa thể nhập, sau khi đoạn tận ba kiết sử, là bậc Tối đa phải sanh lại bảy lần, sau khi dong ruỗi, luân chuyển tối đa bảy lần giữa chư Thiên và loài người, rồi đoạn tận khổ đau.

Như vậy, này các Tỳ-khưu, người hành trì có một phần, thành tựu được một phần; người hành trì toàn phần, thành tựu được toàn phần. Ta tuyên bố rằng, này các Tỳ-khưu, các học giới không phải là rỗng không.

* * *

Tuesday, 6 September 2011

Bảy bản Bát-nhã Tâm kinh trong Hán tạng

Bảy Bản Tâm Kinh Trong Đại Tạng
Đại Chánh Tập 8, Số 250-255, 257

Nguyên Tánh Trần tiễn Khanh
http://www.daitangvietnam.com

*

Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh, gọi tắt là Tâm Kinh, thường được tụng trong mỗi buổi lễ tại các chùa. Bản kinh này là của Ngài Huyền Trang (cũng gọi là Huyền Tráng) dịch từ bản chữ Phạn vào đời Đường. Ngoài bản này, trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng (Taisho Tripitaka) còn có sáu bản dịch khác. Trong “Tâm Như Trí Thủ Toàn Tập”, Hòa thượng Trí Thủ đã ghi lại về các bản dịch này như sau:

1. Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật Đại Minh Chú Kinh (Taisho 250) , do ngài Tam Tạng Cưu Ma La Thập dịch đời Diêu Tần, vào khoảng năm 402 - 412 sau Tây lịch.

2. Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh (Taisho 251), do ngài Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng phụng chiếu dịch vào đời Đường, năm 649.

3. Phổ biến Trí tạng Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh (Taisho 252) do Pháp Nguyệt (Dharmacandra) dịch năm 732 đời Đường.

4. Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh (Taisho 253), do Bát nhã (Prajnà) và Lợi Ngôn (Li yen) dịch năm 790 đời Đường.

5. Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh (Taisho 254), do Trí Tuệ Luân (Prajnàcakra) dịch năm 850 đời Đường

6. Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh (Taisho 255), do Pháp Thành dịch năm 856. Bản này vừa tìm thấy được ở Đôn Hoàng.

7. Phật thuyết Thánh Phật Mẫu Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh (Taisho 257) , do Thi Hộ (Dãnapãla) dịch năm 980 đời Tống.

Trong bảy bản Tâm Kinh nêu trên, hai bản của Cưu Ma La Thập và Huyền Trang chỉ trình bày bài chú nên ngắn gọn. Bản chữ Hán và phiên âm của Ngài Huyền Tráng chỉ có 260 chữ. Các bản dịch khác dài hơn vì được trình bày như một bàn Kinh bắt đầu bằng Như thị ngã văn (Tôi nghe như vầy) của Ngài A-nan mà ta thường gặp trong các bản Kinh Đại Thừa.

Các bản kinh được dịch trong vòng sáu thế kỷ, từ bản dịch của Cưu Ma La Thập vào đầu thế kỷ thứ 5 cho đến bản dịch của Thí Hộ vào cuối thế kỷ thứ 10. Vì qua nhiều thời đại nên có nhiều thay đổi về ngôn từ, như bản dịch của Trí Tuệ Luân đời Đường đã dùng danh từ “Bạc Nga Phạm (薄誐梵) ” để chỉ Đức Phật và “Bật-sô (苾蒭)” để chỉ các Tỳ-kheo (比丘) đệ tử của Phật. Bản dịch của Pháp Thành cũng dùng danh từ “Bạc Già Phạm (薄伽梵)” và “Bật-sô”. Bản dịch của Thí Hộ đời Tống không dùng “cứu cánh Niết-bàn (究竟涅槃)” như các bản dịch khác mà dùng “cứu cánh viên tịch (究竟圓寂)”.

Tâm Kinh có câu thần chú rất phổ biến “Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ-đề Tát bà ha”. Hòa thượng Trí Thủ đã dịch nghĩa “Qua đi, qua đi, qua bờ bên kia đi, hoàn toàn qua bờ bên kia đi, thì có bồ đề. Ngài khéo nói như vậy”. Câu chú này được phiên âm qua chữ Hán từ nguyên văn chữ Phạn: “Gate Gate Pāragate Pārasamgate Bodhi svāhā”.

Các bản dịch cũng có khác biệt trong cách phiên âm câu Thần chú từ chữ Phạn sang chữ Hán. Chữ "Gate (Qua đi)” thường được phiên âm bằng hai chữ Yết đế (揭帝). Chữ “Gate” này được phiên âm là “Kiệt đế” (竭帝) trong bản dịch của Cưu Ma La Thập và "Nghiệt đế" (櫱諦) trong bản dịch của Bát Nhã. Bản dịch của Trí Tuệ Luân và của Thí Hộ đã phiên âm thành “Nga đế” (誐帝).

Trong bảy bản dịch, bản của Ngài Huyền Trang được xem là ngắn gọn và hoàn chỉnh nhất. Vì thế bản này thường được đọc tụng trong các buổi lễ.

Nguyên Tánh Trần tiễn Khanh (2009)

*
Tải về đọc (dạng pdf):
NguyenTanh_Bat-nha-Tam-kinh_7-BanDich.pdf

Xem thêm: Bát-nhã Tâm kinh: Xuất xứ từ đâu?

*

Monday, 5 September 2011

Nếu có yêu tôi (Trần Duy Đức, Ngô Tịnh Yên)

Nếu có yêu tôi
Nhạc: Trần Duy Đức, Thơ: Ngô Tịnh Yên

Có tốt với tôi, thì tốt với tôi bây giờ
Đừng đợi ngày mai, đến lúc tôi xa người
Đừng đợi ngày mai, đến khi tôi phải ra đi
Ôi muộn làm sao nói lời tạ ơn

Nếu có bao dung, thì hãy bao dung bây giờ
Đừng đợi ngày mai, đến lúc tôi xa đời
Đừng đợi ngày mai, biết đâu tôi nằm im hơi
Tôi chẳng làm sao tạ lỗi cùng người

Rộn ràng một nỗi đau
Nghẹn ngào một nỗi vui
Dịu dàng một nỗi đau
Ngậm ngùi một nỗi vui

*

Có nhớ thương tôi, thì đến với tôi bây giờ
Đừng đợi ngày mai, lúc mắt tôi khép lại
Đừng đợi ngày mai, có khi tôi đành xuôi tay
Trôi dạt về đâu, chốn nào tựa nương

Nếu có yêu tôi, thì hãy yêu tôi bây giờ
Đừng đợi ngày mai, đến lúc tôi qua đời
Đừng đợi ngày mai, đến khi tôi thành mây khói
Cát bụi làm sao mà biết mỉm cười

Rộn ràng một nỗi đau
Nghẹn ngào một nỗi vui
Dịu dàng một nỗi đau
Ngậm ngùi một nỗi vui

Nghe Khánh Ly hát:

1) https://www.youtube.com/watch?v=ZG2N56WaJf0 

2) https://www.youtube.com/watch?v=6d6j-xI0CN0



Nhớ thuở ban đầu 

Ngô Tịnh Yên


Nhớ thuở ban đầu...

Đó là một buổi chiều của hơn mười năm về trước, tôi nhận được điện thoại của anh Trần Duy Đức hỏi: “Anh tình cờ đọc một bài viết của em trên tờ báo Mai, câu thơ mà em trích trong bài đó có nguyên bản không đưa cho anh đi?” Anh đến nhà tôi lấy bài thơ và qua hôm sau đã nghe anh gọi cho biết: “Trên đường lái xe về nhà anh đã phổ xong bài thơ rồi, em ạ!”

Anh cũng tâm tình rằng lúc đó anh đang gặp nhiều chuyện không vui trong đời sống, và bài thơ dường như đúng với tâm trạng của anh, nên thơ và nhạc bỗng “bén duyên” ngay lập tức. Lúc ấy cả hai anh em chúng tôi đều không nghĩ rằng, và cũng chẳng hề ao ước rằng... sau này nó lại được mọi người quan tâm nhiều như thế, lại phổ biến từ trong đến ngoài nước nhiều đến thế!

Từ đám cưới, đám tang, cho đến những bữa tiệc gia đình, họp mặt hội đoàn, v.v... Ca khúc này vẫn vang lên hàng đêm ở các sân khấu quán nhạc, và nhiều nhất vẫn là ở các chương trình gây quỹ từ thiện. Những lời của “Nếu Có Yêu Tôi” đã không còn là của riêng ai, không chỉ là lời lẽ của những người yêu nhắn nhủ cho nhau, mà còn là của bằng hữu gởi đến nhau, lời của người già cô đơn nằm thoi thóp trong một viện dưỡng lão nào đó, lời của đứa bé bơ vơ không nơi nương tựa giữa chợ đời, lời của đáy vực tuyệt vọng, lời của đỉnh cao lạnh lẽo... chỉ cần cất lên tiếng hát là thấy như mọi người đang yêu thương nhau, đang được nắm tay nhau, đang có nhau.

Riêng tôi, phải nói là rất hạnh phúc khi có được sự “đồng cảm” trước hết là từ nhạc sĩ Trần Duy Đức, sau là từ những ai yêu mến ca khúc “Nếu Có Yêu Tôi”.

Bài hát này trong mấy năm qua đã chiếm nhiều giải... nhất như: gây “scandal” nhiều nhất, bị “hát chùa” nhiều nhất ở Việt Nam bởi những ca sĩ đang ăn khách, không được trả tiền tác quyền cũng... nhiều nhất, và nó “hit” đến nỗi có ít nhất hai ca khúc ở trong nước đã “chôm” cái tựa đề Nếu Có Yêu Tôi để “ăn theo” sự nổi tiếng này...

Điều đáng buồn là sự nổi tiếng nào cũng có “cái giá” của nó... Có nhiều người đặt vấn đề một cách gay gắt rằng nó “không phải của tôi”, mà là ý của ông A này, bà B kia... Xin thưa rằng nếu có sự trùng hợp nào đó thì cũng chỉ là ngẫu nhiên. Ngay cả “Kim Vân Kiều” cũng không phải là “của” Nguyễn Du, mà được phóng tác từ Thanh Tâm Tài Nhân, một nhà văn Trung Hoa đời nhà Thanh.

Điều quan trọng là Nguyễn Du đã làm cho Truyện Kiều hay hơn nguyên tác và khiến tác phẩm này trở thành bất tử. Cái tài hoa của người nghệ sĩ là ở chỗ đó, ai cũng có thể nghĩ ra, nhưng làm được cho nó hay, nó đẹp, biến những tư tưởng đã cũ thành mới, đưa được nó vào lòng người, khiến nó trở nên nhân bản thì không phải ai cũng có được cái tài năng đó.

Nhiều người cũng hỏi tôi rằng nguyên do từ đâu tôi viết nên bài thơ đó mà tựa đề vốn là “Rộn ràng một nỗi đau” (trở thành “Nếu Có Yêu Tôi” là do ca sĩ Khánh Ly đặt lại khi cô tập hát để ghi âm trong một CD mang tên này vào năm 2001). Đơn giản thôi, từ lúc còn ngồi trong ghế nhà trường, hầu như ai cũng được dạy câu danh ngôn của Lord Chesterfield là: “Đừng để đến ngày mai những việc gì bạn có thể làm hôm nay”.

Đó là một điều thật giản dị nhưng không phải ai cũng thực hiện được, và tôi là một trong số đó. Tôi vốn là người đại lãn với chủ trương việc gì cũng để ngày mai làm cũng chưa muộn. Nhưng thường thì luôn là... đã muộn rồi còn đâu! Cho nên trong nỗi muộn màng đó tôi lại nhớ đến câu danh ngôn này.

Thứ nữa, có một điều thực tế là... chẳng hiểu vì sao mà bạn bè anh em chúng tôi không thường xuyên chia sẻ vui buồn với nhau, lại cứ hay gặp gỡ nhau trong những cái... tang nghi quán. Nghịch lý là đưa tiễn người này mới gặp gỡ người kia. Cho nên bài thơ đã ra đời vào một trong những buổi chiều tôi mang tâm trạng bâng khuâng đó trở về từ một đám tang.

Từ tâm trạng đó của tôi, tác giả bài thơ, đến tâm trạng của nhạc sĩ Trần Duy Đức, người đưa những nốt nhạc vào bài thơ trong lúc chán ngán nhân tình thế thái, đã là chiếc cầu nối đưa tác phẩm vào lòng những người thưởng ngoạn. Có ai đó vẫn thường xuyên hát lên những ca từ “Nếu có yêu tôi thì đến với tôi bây giờ... đừng đợi ngày mai đến lúc tôi qua đời” thì cũng chỉ là cái duyên hạnh ngộ của những người tri âm cùng mang tâm sự giống nhau trong đời sống ngắn ngủi này.

Cuối tháng 8, tôi nghĩ rằng những người tri âm đó sẽ đến tham dự đêm nhạc của nhạc sĩ Trần Duy Đức được tổ chức ở Emerald Bay [*], vì một điều cũng hết sức đơn giản là nếu bạn không đến với người nhạc sĩ này ngày hôm đó thì chẳng lẽ lại đợi đến... một ngày mai nào khác. Lúc đó thì “Ôi muộn làm sao nói lời tạ ơn” mất rồi!

Trước khi ngừng bài viết, tôi xin mượn lời của Yoyo Kenshin viết về ca khúc “Nếu có yêu tôi” trên một trang blog:

Ai đó đã nói:

Yêu thương trong quá khứ là lịch sử
Yêu thương trong tương lai là ảo vọng
Chỉ có yêu thương trong hiện tại mới là chân thật

Vậy thì hãy trao cho nhau những yêu thương trong hiện tại này để không phải hối tiếc, các bạn nhé!

Ngô Tịnh Yên  
Chủ nhật, 14 Tháng 8, 2011

[*] Đêm Nhạc Thính Phòng Trần Duy Đức, 28-08-2011, Santa Ana, California.

* * *

Rộn Ràng Một Nỗi Đau
Ngô Tịnh Yên 

Có tốt với tôi thì hãy tốt bây giờ
đừng đợi đến lúc tôi qua đời
đừng đợi đến khi tôi phải ra đi
và tất cả... thì đã muộn mất rồi

Có tha thứ cho tôi thì tha thứ bây giờ
đừng đợi đến lúc tôi nhắm mắt lại
đừng đợi đến khi tôi không còn hơi thở
tôi nói được lời xin lỗi với ai đây?

Có thương tôi thì hãy thương bây giờ
đừng đợi đến khi tôi nằm xuống bơ vơ
hồn phiêu dạt không nơi nương tựa

Có bao dung tôi thì bao dung bây giờ
đừng đợi đến lúc tôi xa lìa thế giới
đừng đến khi tôi thành mây thành khói
cát bụi làm sao có thể mỉm cười?

Có vui với tôi thì vui bây giờ
đừng đợi đến khi nuối tiếc ngày xưa
tôi muốn nói cám ơn... thì đã trễ!

-- Ngô Tịnh Yên

*





On the Mahāyāna sūtras

Source: Paul Williams (2009), Mahayana Buddhism, Chapter 2, pp 45-49.

*

In approaching the Mahayana sūtras we immediately confront presuppositions concerning the nature of the book which these texts put into question. The sūtra is not one object among others, but rather may be seen as a body of the Buddha, a focus of celebration and worship on the model of relic worship. The book is not a free-standing, self-explanatory item, but an entity embedded in religious practice, a product of and a guide to spiritual experience. Those of the modern westernized world expect a book, perhaps, to lead through systematic and clearly defined stages from a beginning through a middle to a conclusion. Reading, we think, is a private, solitary affair, requiring peace, leisure, and silence. But the landscape of the Mahayana sūtras is quite extraordinary, space and time expand and conflate, connections seem to be missed, we move abruptly from ideas so compressed and arcane as to verge on the meaningless, to page after page of repetition. If we approach books as a consumer, regarding texts as goods to be devoured one after the other from cover to cover, then all too often we find the Mahayana sūtras boring – about as boring as a board game for which we have only the rules, lacking pieces and the board.

In fact the study of a Buddhist sūtra was neither private nor peaceful. Certainly in classical times in India the text would be copied and read, but reading was perhaps closer to chanting out loud (widespread mastery of the art of silent reading is a relatively recent development in world culture). Each Buddhist monk would probably own no more than one or two sūtras, which would rapidly be learnt by heart, not only through frequent repetition but because memory of the texts was demanded by the scholastic environment. Moreover the sūtras and their exegetical treatises were sometimes guides to meditation. Meditation cannot be performed effectively through repeated glances at a series of written instructions. It is likely that Buddhist texts were intended as no more than mnemonic devices, scaffolding, the framework for textual exposition by a teacher in terms of his own experience and also the tradition, the transmission from his teachers, traced back to the Buddha himself, or to a Buddha, or to some other form of authorized spiritual revelation. This approach to, and treatment of, the sacred text in Buddhism is not only of historical interest. In traditional cultures dominated by Mahayana these texts are still used and studied in the age-old way. The scholar who would write a study of Buddhist practice or even doctrine without bearing this in mind is like an art historian who would study architecture by ignoring the building and looking only at the bricks.

The Mahayana sūtras vary in length from a few words to, say, the Hundred Thousand Verse (Satasahasrika, 100.000 Tụng) Perfection of Wisdom. The larger sūtras are often very repetitive and although as yet adequate editions of most of the sūtras are almost entirely lacking (where the Sanskrit version has survived at all) it is nevertheless possible through careful textcritical scholarship to detect the growth of the sūtras over the centuries, although exact details are very much open to dispute. It would be wrong, therefore, to think of the larger sūtras as we now have them as necessarily historically and conceptually unitary phenomena. Because the sūtras grew and developed, often over some time, we should likewise not necessarily expect to find one consistent and systematic doctrine throughout a particular sūtra. This is not to say, however, that the Buddhist tradition has not been able subsequently to interpret a sūtra in a unitary manner.

A feature of the earlier sūtras is the phenomenon of laudatory self reference – the lengthy praise of the sūtra itself, the immense merits to be obtained from treating even a verse of it with reverence, and the nasty penalties which will accrue in accordance with karma to those who denigrate the scripture. We find similar indications of the historical reception of relatively early Mahayana in a famous passage in the Saddharmapundarika (Lotus; Pháp Hoa) Sūtra, where 5,000 of those in the assembly walk out rather than listen to the preaching of the sūtra, because of their ‘deep and grave roots of sin and overweening pride, imagining themselves to have attained and to have borne witness to what in fact they had not’ (Hurvitz, 1976). Not infrequently, as we have already seen, the sūtra itself has one group of monks declaring to another that this sūtra is not the word of the Buddha, together with the reply of the sūtra’s partisans.

Sometimes stories or sermons which must have originally circulated separately, products, perhaps, of a different intellectual milieu, are inserted into the text. It is occasionally possible to detect short insertions by comparison of the prose and the verse versions of a particular episode, for many of the sūtras have both. At one time scholars were of the view that the verses tended to be the older. The metric form prevents easy tampering, and it is possible sometimes to detect archaic or nonstandard linguistic features which indicate, together with other clues, that a number of the early Mahayana sūtras were not originally in Sanskrit at all, but in a Middle Indic dialect which has been subsequently sanskritized – not always very well from a classical point of view.

Nowadays, however, scholars are less sure that the verses are usually earlier than the prose sections of Mahayana sūtras. Jan Nattier (2003) has pointed out, for example, that the earliest Chinese translations of both the Kasyapaparivarta (Đại Ca-diếp Hội) and the Avatamsaka (Hoa Nghiêm) Sūtra lack verses that are found in the later Chinese translations or the Tibetan versions and (where available) the extant Sanskrit. This suggests that one of the ways in which these sūtras grew was through adding verses. Occasionally a number of different sūtras have been gathered together and referred to as one conglomerate sūtra, as in the case of the Maharatnakuta (Đại Bảo Tích) Sūtra, or the Avatamsaka Sūtra. There is evidence, moreover, that the Chinese in particular were so impressed with the Mahayana sūtras that they created a number of sūtras of their own, some of which have been of considerable importance in the development of Chinese Buddhism. The great Japanese Zen Master Dogen (Đạo Nguyên, thirteenth century), in his younger days in China, suspected that the Lengyanjing (Leng-yen Ching, Lăng-già Kinh), an important sūtra in Zen Buddhism, was not an authentic Indian sūtra, a point now generally accepted by scholars.

How one assesses the sūtras that originated in Central Asia and China in the light of continuing revelation is open to debate, however. After all, from the point of view of the Mainstream Buddhist non-Mahayana traditions, all the Mahayana sūtras as such had to be rejected as inauthentic.

*

Friday, 19 August 2011

Phật, Phật-đà

佛 佗 phật đà (buddha, buddho)

佛 phật
viết: bộ 9 人 nhân [5, 7], U+4F5B
âm: fó, fú (Mandarin) - fat1, fat6 (Cantonese)

佗 đà, tha
viết: bộ 9 人 nhân [5, 7], U+4F57
âm: tuó, tuō, tuò (Mandarin) - ta4 (Cantonese)

Nếu âm theo Mandarin, 佛佗 âm là "fú tố", có lẽ gần với âm "Buddho" nhất.

*

Thursday, 18 August 2011

Ba kinh căn bản của Tịnh độ tông

*

1) Phật Thuyết A Di Đà Kinh 佛說阿彌陀經 , Cưu-ma-la-thập (Kūmārajīva) dịch đời Diêu Tần, T-366 (Smaller Sukhāvatīvyūha Sūtra)

     Bản dịch của Hòa thượng Trí Tịnh: budsas.110mb.com/uni/u-kinh-bt-ngan/adida.htm

2) Phật Thuyết Đại A Di Đà Kinh 佛說大阿彌陀經 , Vương Nhật Hưu biên tập đời Tống, T-364 (Larger Sukhāvatīvyūha Sūtra)

     Bản dịch của Hòa thượng Trí Tịnh: budsas.110mb.com/uni/u-kinh-bt-ngan/dvlt.htm

3) Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh 佛說觀無量壽佛經 , Cương-lương-da-xá (Kālayasas) dịch đời Liêu Tống, T-365 (Amitāyubuddhānusmrti Sūtra)

     Bản dịch của Hòa thượng Trí Tịnh: budsas.110mb.com/uni/u-kinh-bt-ngan/qvltp.htm 
  
*
- Theo Vương Nhật Hưu, trong quyển "Phật Thuyết Đại A Di Đà Kinh" (T-364), trước đó đã có 4 bản dịch:

1) Vô Lượng Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh (T-361), do ngài Tam Tạng Pháp sư Chi-lâu-ca-sấm, người đến từ nước Nguyệt Chi dịch vào đời Hậu Hán.

2) Vô Lượng Thọ Kinh (T-360), do ngài Tam Tạng Pháp sư Khang Tăng Khải dịch vào đời Tào Ngụy.

3) A Di Đà Quá Độ Nhân Đạo Kinh (T-362), do ngài Tam Tạng Pháp sư Chi Khiêm, người đến từ nước Nguyệt Chi dịch vào đời Ngô.

4) Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Kinh (T-363), do ngài Tam Tạng Pháp sư Pháp Hiền, người đến từ Tây Thiên dịch vào đời Triều.

Ngài nhận xét: "Cả bốn Kinh này, đại lược tuy giống nhau nhưng trong đó có rất nhiều chỗ sai khác nhau ..."

*

Hạn kỳ An cư

Trích: Yết-ma Yếu Chỉ, Hòa thượng Thích Tri Thủ giảng thuật, Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh và Thích Nguyên Chứng biên tập, www.phatviet.com/dichthuat/luattang/yetmayc/ymyc.htm

*

HẠN KỲ AN CƯ

Tính theo lịch Ấn Độ thời xưa, ngày an cư bắt đầu từ mồng một trăng tròn tháng A-sa-đà, [1] tức vào khoảng nửa tháng 6 dương lịch kéo dài suốt ba tháng, cho đến hết ngày trăng tròn tháng Át-thấp-phược-dữu-xà. [2] Theo sự ghi nhận của ngài Huyền Trang trong Tây vực ký [3] và Pháp Hiển trong Nam hải ký qui nội pháp truyện [4] thì ngày mồng một trăng tròn tháng A-sa-đà tương đương ngày 16 tháng 5 theo lịch Trung Quốc. Các xứ Phật giáo phương nam bắt đầu vào ngày 16 tháng 6 tính theo lịch Trung quốc. Nhưng ở Trung quốc, các Luật sư qui định an cư vào ngày 16 tháng 4 theo lịch Trung quốc. Sự qui định này lấy cơ sở từ bản dịch chữ Hán kinh Vu lan theo đó, ngày tự tứ được nói là ngày 15 tháng 7 lịch Trung quốc, do vậy, ngày kiết hạ an cư phải bắt đầu từ 16 tháng 4. Các xứ ảnh hưởng Phật giáo Trung quốc như nước ta và nước Nhật đều theo thông lệ kiết an cư vào ngày 16 tháng 4.

Đây là do sự ước tính sai khác về thời tiết mà các địa phương không đồng nhau. Như ở nước ta, mùa mưa giữa miền Bắc và miền Nam cũng có sự sai khác nhau hơn một tháng. Tuy vậy, theo phong tục mỗi nước mà ấn định để phù hợp với thời tiết an cư. Ngày rằm tháng 7, ở nước ta cũng như ở Trung quốc xa xưa đã trở thành ngày lễ quan trọng, cho nên ngày kiết hạ an cư vẫn phải bắt đầu từ ngày 16 tháng 4, mặc dù vào thời kỳ này nhiều địa phương ở nước ta chưa bước vào mùa mưa. Do sự sai biệt theo truyền thống này mà nước ta hai hệ Tăng-già Nam và Bắc truyền không kiết hạ an cư cùng một ngày thống nhất như nhau.

Thông lệ nước ta từ xưa ngoài hạn kỳ ba tháng kiết hạ, còn có hạn kỳ ba tháng kiết đông, tức an cư vào mùa đông, khoảng từ 16 tháng 9 đến hết ngày 15 tháng 12. Đây là thực hành theo điều được qui định bởi Bồ tát giới Phạm võng. Theo đó, người thọ giới bố-tát, nếu mỗi năm vào hai thời mùa hạ và mùa đông mà không an cư để tọa thiền, hành đầu đà thì phạm tội khinh cấu. [5] Ý nghĩa của sự qui định này là do bởi mùa hạ quá nóng bức và mùa đông quá lạnh lẽo nên sự hành đạo và hóa đạo của người thọ giới Bồ tát thường gặp phải nhiều khó khăn, do đó, không thể du phương giáo hóa mà cần phải an cư tọa thiền để bồi dưỡng đạo đức bản thân.

Dù có sự qui định như vậy, nhưng theo tinh thần Phật chế trong các Luật tạng Thanh văn, thì mỗi năm chỉ có một mùa an cư duy nhất cho các tỳ-kheo, do vậy, chỉ có một mùa an cư chính thức mà thôi, và như vậy mỗi năm cũng chỉ có một ngày tự tứ, lấy đó làm cơ sở tính tuổi hạ lạp của tỳ-kheo. An cư mùa đông, nếu có thực hành, thì cũng không có ngày tự tứ và không căn cứ theo đó mà tính hạ lạp.

Vả lại, đời sống Tăng-già nguyên thuỷ, y trên bốn thánh chủng, và đức Thế Tôn cũng thường nhắc nhở các tỳ-kheo rằng không nên dừng chân tại một chỗ quá lâu, cho nên luật cho mỗi năm chỉ có ba tháng an cư là thời gian mà tỳ-kheo tạm thời không du phương hành đạo và giáo hóa.

Có hai hạn kỳ của sự an cư mùa mưa, gọi là tiền an cư và hậu an cư. [6] Tiền an cư là an cư phần đầu của mùa hạ. Cụ thể là kết an cư vào ngày mồng 1 trăng tròn tháng 4 A-sa-đà, tức tương đương ngày 16 tháng 4 hay tháng 5 tùy theo cách tính tháng giữa lịch Ấn Độ và lịch Trung quốc. Trong khoảng từ ngày 17 tháng 4 hay tháng 5 cho đến hết ngày 16 tháng 5 hay tháng 6 được gọi là thời kỳ của hậu an cư. Nói theo thông lệ ở nước ta, ngày kiết tiền an cư là vào ngày 16 tháng 4 âm lịch, và từ ngày 17 đến hết ngày 16 tháng 5 là thời kỳ của hậu an cư. Trong thời kỳ hậu an cư, Luật cũng chia làm hai phần là trung an cư và hậu an cư. [7] Trung an cư bắt đầu ngày 17 tháng 4 đến hết ngày 15 tháng 5. Hậu an cư là ngày 16 tháng 5. [8] Dù có hai cách chia các thời kỳ an cư như vậy, nhưng trong tác pháp thường chỉ đề cập đến hai trường hợp là tiền và hậu an cư mà thôi.

Nếu kiết tiền an cư thì đến hết ngày 15 tháng 7 là hết kỳ hạn. Nếu hậu an cư bắt đầu từ ngày 17 tháng 4 thì hết ngày 16 tháng 7 là hết hạn. Cứ theo đó mà tính, cho đến nếu kiết hậu an cư vào ngày 16 tháng 5 thì hết ngày 15 tháng 8 là hết hạn. Nói cách khác, hạn kỳ an cư nhất định phải đủ ba tháng, gồm 9 tuần mỗi tuần 10 ngày. Nhưng do tháng thiếu của âm lịch, nên ít khi đủ cả 90 ngày.

Điều cũng cần nhớ ở đây là thời gian ngày và đêm trong Luật tạng luôn luôn được tính theo sự sáng và tối của mặt trời. Do đó, nói rằng hạn kỳ an cư bắt đầu từ ngày 16 tháng 4 (hay tháng 5 ta). Có nghĩa là phải kể từ khi ánh sáng mai vừa xuất hiện của ngày đó. và nói rằng đến hết ngày 15 tháng 7 tức là hết đêm 15 này lúc ánh sáng mai của ngày 16 hôm sau bắt đầu xuất hiện. Ánh sáng xuất hiện được phân biệt theo hai cách: hoặc sáng đủ để nhìn thấy các đường chỉ trong lòng tay, hoặc đủ sáng để phân biệt được lá vàng với lá xanh. Như vậy, một tỳ-kheo từ chỗ khác muốn đến an cư tại một trú xứ nào đó thì phải đến trước khi ánh sáng mai của ngày 15 tháng 4 vừa xuất hiện. [9] Để chấp hành đúng thời điểm, các luật sư Trung hoa còn phân tích chi tiết thêm rằng, nếu tỳ-kheo trên đường đi đến trú xứ an cư, nhưng chưa kịp bước chân vào cương giới của trú xứ mà ánh sáng ban mai xuất hiện thì phải liệng một cục đất cho lọt trước vào trong trú xứ. Nguyên tắc cơ bản phải giữ là phải đặt chân lên đất của trú xứ trước khi ánh sáng mai hiện. Tuy nhiên, trong trường hợp do duyên sự không thể đến đúng thời điểm, vẫn không vi phạm nếu tâm niệm luôn luôn hướng vào trú xứ an cư.

* * *

Ghi chú:

[1] A-sa-đà, Pali: āsālhā /āsālhī (Skt. āsādha), trong khoảng tháng 6-7 Dương lịch. Cf. Mahāvagga ii. Vin. iv. tr. 137: Có hai hạn kỳ bắt đầu mùa mưa. Hạn kỳ đầu bắt đầu từ ngày rằm tháng āsālhī. Hạn kỳ sau bắt đầu sau đó một tháng.

[2] A-thấp-phược-dữu-xà 阿濕縛庾闍. Pali: assayuja (Skt. āsvayuja), khoảng tháng 9-10 Dương lịch.

[3] Đại đường Tây vực ký 2 (Đại 51, tr. 876a): «Theo Thánh giáo của Như Lai, mỗi năm có ba mùa. Từ 16 tháng giêng đến 15 tháng 5 là mùa nóng. Từ 16 tháng 5 đến 15 tháng 9 là mùa mưa. Từ 16 tháng 9 đến 15 tháng giêng là mùa lạnh… Tăng đồ Ấn độ y theo Thánh giáo của Phật tọa an cư mùa mưa, hoặc phần trước của ba tháng, hoặc phần sau của ba tháng. Ba tháng đầu của mùa hạ là từ 16 tháng 5 đến 15 tháng 8, theo lịch Trung quốc.» Ba tháng đầu của mùa hạ, Hán: tiền tam nguyệt hạ 前三月夏, vì mùa mưa gồm 4 tháng trong đó chia làm 3 tháng đầu và 3 tháng cuối.

[4] Chương 14, ‹Ngũ chúng an cư›, Đại 54, tr. 217a 25.

[5] Cf. Phạm võng kinh, Đại 24, tr. 1008a11.

[6] Tứ phần 37, Đại 22, tr. 832a26.

[7] Tứ phần 58, tr. 998b11: có ba an cư: tiền an cư, trung an cư, hậu an cư. Tăng kỳ 27, tr. 451b10: tiền an cư từ ngày 16 tháng Tư đến rằm tháng Bảy. Hậu an cư, từ 16 tháng Năm đến rằm tháng Tám.

[8] Hành sự sao, thượng 4, tr. 38b21.

[9] Tứ phần 37, tr. 830c18tt. Cf. Hành sự sao, thượng 4, tr. 39c10.

* * *

Friday, 12 August 2011

Ullambana Sutra (Kinh Vu-lan-bồn)

Ullambana Sutra
(Taishō Volume 16, Number 685)
Translated from the Chinese by Shōjun Bandō

*

In: APOCRYPHAL SCRIPTURES, Numata Center for Buddhist Translation and Research,
Berkeley, California, USA. ISBN: 1-886439-29-X

*

Translator’s Introduction

It has been widely accepted tradition that the Ullambana Sutra (Yulanpenjing, Vu-lan-bồn kinh, Đại Chính 685) was translated into Chinese by the monk-scholar Dharmaraksa (Pháp Hộ) between 266 and 313 C.E., during the Western Jin (Tây Tấn) dynasty. Recent scholarship, however, generally acknowledges that this sutra was not originally composed in India but in China in the mid-sixth century. The Sanskrit term ullambana (vu-lan-bồn), which literally means “tray,” was known in China as early as the sixth century. The term, as reconstructed from the Chinese by the late Wogihara Unrai, has never been traced to any of the extant Sanskrit literature. It is now considered by some scholars to be derived from the Iranian urvan, meaning the soul of the deceased. Worship of the urvan was central in the Zoroastrian festival called Fravardigan. At this festival, celebrants burned pine twigs, believing the fragrance would attract the souls of their ancestors. The descendants would then urge their ancestors to return to their homes and receive offerings. This rite is similar to the Japanese urabon ceremony, which traces its roots to this sutra: both are occasions for showing reverence to one’s ancestors. The earliest record of the urabon festival, better known as the obon or bon festival, is found in volume twenty two of the Chronicles of Japan (Nihonshoki, Nhật Bản thư kỉ), dating from the fourteenth year of the Suiko (Suy Cổ) era (606 C.E.). In the fifth year of the Tempyō (Thiên Bình) era (733 C.E.), the obon festival was designated one of the official annual functions of the imperial household, and it is still widely celebrated in Japan.

The Ullambana Sutra tells of how the Buddha’s disciple Mahāmaudgalyāyana (Đại Mục-kiền-liên), distressed about the fate of his mother, who had been reborn in a lower realm, questioned the Buddha on how he might liberate her. The Buddha advised him to make offerings of a variety of delicious foods on trays to the holy monks on the fifteenth day of the seventh month, at the completion of the three-month summer retreat. Through the merit of this offering Mahāmaudgalyāyana would liberate from unfortunate rebirth not only his just-deceased mother but all his ancestors going back seven generations.

* * *

The Sutra:

THUS have I heard. At one time the Buddha was staying at Anāthapindika’s Jetavana Monastery in Srāvastī, when Mahāmaudgalyāyana attained the six supernatural powers. He desired to deliver his deceased parents from an evil realm of rebirth in order to repay his debt to them for raising and nurturing him. As he viewed the world of transmigration with his supernatural eyes, he discovered that his deceased mother had been reborn in the realm of hungry ghosts (pretas), and as there was nothing to eat there she had wasted away to skin and bones. Stricken with grief, Mahāmaudgalyāyana filled a bowl with rice and approached his mother to offer it. His mother held the bowl in her left hand and took some rice with her right hand, but before the rice reached her mouth it turned into a piece of burning charcoal, and she could not eat it at all. Crying loudly in anguish, Mahāmaudgalyāyana hurriedly returned to the presence of the Buddha and related to him in detail what had happened.

The Buddha said to him, “Your mother’s evil karma is so deep-rooted that it is beyond your individual power [to alleviate it]. Although you are filled with filial piety and your cries shake heaven and earth, even the gods of heaven and earth, evil spirits, brahmans, bodhisattvas, and the Four Gate Guardians can do nothing about it. But she can be delivered through the divine power of [all] the monks in the ten directions.

Now I shall teach you the way of deliverance. I shall enable all suffering beings to be freed from pain and anxiety and from the consequences of their evil karma.”

The Buddha said to Mahāmaudgalyāyana, “On the fifteenth day of the seventh month, when the monks end the summer retreat, for the sake of your parents of the past seven generations and your present suffering parents, you should fill a tray with the world’s finest delicacies, together with foods of rich variety and taste and five kinds of greens and cereals, and offer it to the monks in the ten directions. You should also offer them ladles, kettles, basins, perfumed oil, lamps, carpets, and bedding.

On this day the monks of great virtue may be those who contemplate on a mountain, or those who have attained the fourfold fruits, or those who engage in walking meditation under a tree, or those who freely instruct srāvakas and pratyekabuddhas with the six supernatural powers, or bodhisattvas in the tenth stage (bhūmi) who have transformed themselves into bhiksus. Those monks who [live] among people receive the meal offered after the retreat with the same mind. They all keep the pure precepts, and their virtues, worthy of enlightened ones, are profound and all-pervasive. Those who make offerings to the monks after the retreat will enable their present parents, their parents of the past seven generations, and their six close relatives (i.e., fathers, mothers, brothers, sisters, wives, and children) to be delivered from the suffering of the three evil realms of rebirth (i.e., the realms of hell, hungry ghosts, and animals). Their relatives will in due course be liberated—food and clothing will be given to them spontaneously. If their parents are still alive, they will enjoy the blissful lifespan of one hundred years. If their parents are deceased, their parents of the past seven generations will be born in heaven. They will freely transform themselves to be born in the light of heavenly flowers and receive infinite pleasure.”

Then the Buddha enjoined the monks in the ten directions, “First of all, for the sake of the donors, you must pray for their parents of the past seven generations. You should practice contemplation and then, with a settled mind, receive the food. When you first receive the food, you should place it in front of a stupa. After you finish your prayers, you may help yourselves to the food.”

Thereupon, Bhiksu Mahāmaudgalyāyana along with all the bodhisattvas in the great assembly greatly rejoiced, and his painful cries ceased once and for all. On that very day, Mahāmaudgalyāyana’s mother was freed from the suffering in the realm of hungry ghosts [in which she had been living] for a kalpa.

Then Mahāmaudgalyāyana again addressed the Buddha, “My parents who raised me have received the power of the virtues of the Three Jewels (i.e, Buddha, Dharma, and Sangha), thanks to the spiritual power of the monks. If all future disciples of the Buddha are filial to their parents and uphold this Ullambana Sutra, then they will be able to deliver their present parents and their parents of the past seven generations. Is this not so?”

The Buddha replied, “Very well, that is a good question. I will certainly speak on this, since you have now asked the question. O son of good family, if there are bhiksus, bhiksunīs, kings, crown princes, ministers, prime ministers, head officials, various civil servants, or tens of thousands of commoners who are filial to their present parents and their parents of the past seven generations, they should, on the fifteenth day of the seventh month, a joyous day for the Buddha and a day after the retreat, offer a meal of various tastes on a tray to the monks who participated in the retreat. They should then ask [the monks] to pray that their present parents will have a lifespan of one hundred years, free of illness and all kinds of suffering, and that their parents of the past seven generations may be free from the suffering of the realm of hungry ghosts and be born in the realm of heavenly beings (devas) which is accompanied by infinite happiness and pleasure.”

The Buddha enjoined men and women of good families, “Disciples of the Buddha who practice filial piety should constantly think of their parents and make offerings to their parents of the past seven generations. Every fifteenth day of the seventh month, out of filial piety recall your parents of the past seven generations and prepare a tray of offerings for the Buddha and the monks in order to repay your debt to your parents. All disciples of the Buddha should uphold this teaching.”

Upon hearing this discourse of the Buddha, Bhiksu Mahāmaudgalyāyana and the four groups of followers (monks, nuns, laymen, and laywomen) were delighted and paid reverence to him.

* * *

Nguồn: Tuệ Quang Foundation, http://www.daitangvietnam.com  
Taisho Tripitaka Vol. 16, No. 685, Phật thuyết Vu lan bồn Kinh 佛說盂蘭盆經

佛說盂蘭盆經
Phật thuyết Vu-lan-bồn Kinh

西晉月氏三藏竺法護譯
Tây Tấn nguyệt thị Tam Tạng Trúc Pháp Hộ dịch

聞如是。一時佛在舍衛國祇樹給孤獨園。
Văn như thị 。nhất thời Phật tại Xá-Vệ quốc Kì-Thọ Cấp-Cô-Độc viên 。

大目乾連始得六通。欲度父母報乳哺之恩。
Đại Mục kiền liên thủy đắc lục thông 。dục độ phụ mẫu báo nhũ bộ chi ân 。

即以道眼觀視世間。見其亡母生餓鬼中。
tức dĩ đạo nhãn quán thị thế gian 。kiến kỳ vong mẫu sanh ngạ quỷ trung 。

不見飲食皮骨連立。目連悲哀。
bất kiến ẩm thực bì cốt liên lập 。Mục liên bi ai 。

即鉢盛飯往餉其母。母得鉢飯。
tức bát thịnh phạn vãng hướng kỳ mẫu 。mẫu đắc bát phạn 。

便以左手障飯右手摶飯食未入口化成火炭。遂不得食。
tiện dĩ tả thủ chướng phạn hữu thủ đoàn phạn thực vị nhập khẩu hóa thành hỏa thán 。toại bất đắc thực/tự 。

目連大叫悲號啼泣。馳還白佛。具陳如此。
Mục liên Đại khiếu bi hiệu Đề khấp 。trì hoàn bạch Phật 。cụ trần như thử 。

佛言。汝母罪根深結。非汝一人力所奈何。
Phật ngôn 。nhữ mẫu tội căn thâm kết/kiết 。phi nhữ nhất nhân lực sở nại hà 。

汝雖孝順聲動天地。天神地神邪魔外道。
nhữ tuy hiếu thuận thanh động Thiên địa 。thiên thần địa thần tà ma ngoại đạo 。

道士四天王神。亦不能奈何。
Đạo sĩ Tứ Thiên Vương Thần 。diệc bất năng nại hà 。

當須十方眾僧威神之力。乃得解脫。
đương tu thập phương chúng tăng uy thần chi lực 。nãi đắc giải thoát 。

吾今當為汝說救濟之法。
ngô kim đương vi nhữ cứu tế chi Pháp 。

令一切難皆離憂苦罪障消除。
lệnh nhất thiết nạn/nan giai ly ưu khổ tội chướng tiêu trừ 。

佛告目蓮。
Phật cáo mục liên 。

十方眾僧於七月十五日僧自恣時。當為七世父母。及現在父母厄難中者。
thập phương chúng tăng ư thất nguyệt thập ngũ nhật tăng Tự Tứ thời 。đương vi/vì/vị thất thế phụ mẫu 。cập hiện tại phụ mẫu ách nạn trung giả 。

具飯百味五果汲灌盆器。香油錠燭床敷臥具。
cụ phạn bách vị ngũ quả cấp quán bồn khí 。hương du đĩnh chiếu sàng phu ngọa cụ 。

盡世甘美以著盆中。供養十方大德眾僧。
tận thế cam mỹ dĩ trước/trứ bồn trung 。cúng dường thập phương Đại Đức chúng tăng 。

當此之日。
đương thử chi nhật 。

一切聖眾或在山間禪定或得四道果。或樹下經行。
nhất thiết Thánh chúng hoặc tại sơn gian Thiền định hoặc đắc tứ đạo quả 。hoặc thụ hạ kinh hành 。

或六通自在教化聲聞緣覺。或十地菩薩大人權現比丘。
hoặc lục thông tự tại giáo hóa Thanh văn Duyên giác 。hoặc thập địa Bồ-tát đại nhân quyền hiện Tỳ-kheo 。

在大眾中皆同一心受鉢和羅飯。
tại Đại chúng trung giai đồng nhất tâm thọ/thụ bát hòa la phạn 。

具清淨戒聖眾之道其德汪洋。其有供養此等自恣僧者。
cụ thanh tịnh giới Thánh chúng chi đạo kỳ đức uông dương 。kỳ hữu cúng dường thử đẳng Tự Tứ tăng giả 。

現在父母七世父母六種親屬。得出三途之苦。
hiện tại phụ mẫu thất thế phụ mẫu lục chủng thân chúc 。đắc xuất tam đồ chi khổ 。

應時解脫衣食自然。
ưng thời giải thoát y thực/tự tự nhiên 。

若復有人父母現在者福樂百年。若已亡七世父母生天。
nhược/nhã phục hưũ nhân phụ mẫu hiện tại giả phước lạc/nhạc bách niên 。nhược/nhã dĩ vong thất thế phụ mẫu sanh thiên 。

自在化生入天華光。受無量快樂時佛勅十方眾僧。
tự tại hóa sanh nhập thiên hoa quang 。thọ/thụ vô lượng khoái lạc thời Phật sắc thập phương chúng tăng 。

皆先為施主家呪願。七世父母。
giai tiên vi/vì/vị thí chủ gia chú nguyện 。thất thế phụ mẫu 。

行禪定意然後受食。初受盆時。先安在佛塔前。
hạnh/hành/hàng Thiền định ý nhiên hậu thọ/thụ thực/tự 。sơ thọ/thụ bồn thời 。tiên an tại Phật tháp tiền 。

眾僧呪願竟。便自受食。
chúng tăng chú nguyện cánh 。tiện tự thọ thực/tự 。

爾時目連比丘及此大會大菩薩眾。
nhĩ thời Mục liên Tỳ-kheo cập thử đại hội đại Bồ-tát chúng 。

皆大歡喜。而目連悲啼泣聲釋然除滅。
giai đại hoan hỉ 。nhi Mục liên bi Đề khấp thanh thích nhiên trừ diệt 。

是時目連其母。即於是日得脫一劫餓鬼之苦。
Thị thời Mục liên kỳ mẫu 。tức ư thị nhật đắc thoát nhất kiếp ngạ quỷ chi khổ 。

爾時目連復白佛言。弟子所生父母。
nhĩ thời Mục liên phục bạch Phật ngôn 。đệ-tử sở sanh phụ mẫu 。

得蒙三寶功德之力。眾僧威神之力故。
đắc mông Tam Bảo công đức chi lực 。chúng tăng uy thần chi lực cố 。

若未來世一切佛弟子。行孝順者亦應奉此盂蘭盆。
nhược/nhã vị lai thế nhất thiết Phật đệ tử 。hạnh/hành/hàng hiếu thuận giả diệc ưng phụng thử Vu lan bồn 。

救度現在父母乃至七世父母。為可爾不。
cứu độ hiện tại phụ mẫu nãi chí thất thế phụ mẫu 。vi/vì/vị khả nhĩ bất 。

佛言。大善快問。我正欲說。汝今復問。
Phật ngôn 。Đại thiện khoái vấn 。ngã chánh dục thuyết 。nhữ kim phục vấn 。

善男子。若有比丘比丘尼。
Thiện nam tử 。nhược hữu Tỳ-kheo Tì-kheo-ni 。

國王太子王子大臣宰相。三公百官萬民庶人。行孝慈者。
Quốc Vương Thái-Tử Vương tử đại thần tể tướng 。tam công bá quan vạn dân thứ nhân 。hạnh/hành/hàng hiếu từ giả 。

皆應為所生現在父母。過去七世父母。
giai ưng vi/vì/vị sở sanh hiện tại phụ mẫu 。quá khứ thất thế phụ mẫu 。

於七月十五日。佛歡喜日。僧自恣日。
ư thất nguyệt thập ngũ nhật 。Phật hoan hỉ nhật 。tăng tự tứ nhật 。

以百味飲食安盂蘭盆中。施十方自恣僧。
dĩ ách vị ẩm thực an Vu lan bồn trung 。thí thập phương Tự Tứ tăng 。

乞願便使現在父母壽命百年無病。無一切苦惱之患。
khất nguyện tiện sử hiện tại phụ mẫu thọ mạng bách niên vô bệnh 。vô nhất thiết khổ não chi hoạn 。

乃至七世父母離餓鬼苦。
nãi chí thất thế phụ mẫu ly ngạ quỷ khổ 。

得生天人中福樂無極。
đắc sanh Thiên Nhân trung phước lạc/nhạc vô cực 。

佛告諸善男子善女人是佛弟子修孝順者。
Phật cáo chư Thiện nam tử thiện nữ nhân thị Phật đệ tử tu hiếu thuận giả 。

應念念中常憶父母供養乃至七世父母。
ưng niệm niệm trung thường ức phụ mẫu cúng dường nãi chí thất thế phụ mẫu 。

年年七月十五日。常以孝順慈憶所生父母。
niên niên thất nguyệt thập ngũ nhật 。thường dĩ hiếu thuận từ ức sở sanh phụ mẫu 。

乃至七世父母為作盂蘭盆施佛及僧。
nãi chí thất thế phụ mẫu vi/vì/vị tác Vu lan bồn thí Phật cập tăng 。

以報父母長養慈愛之恩。若一切佛弟子。
dĩ báo phụ mẫu trường/trưởng dưỡng từ ái chi ân 。nhược/nhã nhất thiết Phật đệ tử 。

應當奉持是法。
ứng đương phụng trì thị pháp 。

爾時目連比丘。四輩弟子。
nhĩ thời Mục liên Tỳ-kheo 。tứ bối đệ tử 。

聞佛所說歡喜奉行。
văn Phật sở thuyết hoan hỉ phụng hành 。

佛說盂蘭盆經
Phật thuyết Vu lan bồn Kinh


* * *

Bản dịch Việt (kệ tụng, song thất lục bát)

Phật nói Kinh Vu-lan-bồn

1. Ta từng nghe lời tạc như vầy:

Một thuở nọ Thế tôn an trụ
Xá-vệ thành Kỳ thụ viên trung,
Mục-liên mới đặng lục thông,
Muốn cho cha mẹ khỏi vòng trầm luân.

Công dưỡng dục thâm ân dốc trả,
Nghĩa sanh thành đạo cả mong đền,
Làm con hiếu hạnh vi tiên,
Bèn dùng huệ nhãn dưới trên kiếm tầm.

Thấy vong mẫu sanh làm ngạ quỷ,
Không uống ăn tiều tụy hình hài.
Mục-liên thấy vậy bi ai,
Biết mẹ đói khát ai hoài tình thâm.

2. Lo phẩm vật đem dâng từ mẫu,
Ðặng đỡ lòng cực khổ bấy lâu.
Thấy cơm mẹ rất lo âu,
Tay tả che đậy, hữu hầu bốc ăn.

Lòng bỏn xẻn tiền căn chưa dứt,
Sợ chúng ma cướp dựt của bà.
Cơm đưa chưa tới miệng đà,
Hóa thành than lửa nuốt mà đặng đâu.

Thấy như vậy âu sầu thê thảm,
Mục-kiền-liên bi cảm xót thương,
Mau mau về đến giảng đường,
Bạch cùng sư phụ tìm phương giải nàn.

3. Phật mới bảo rõ ràng căn cội,
Rằng mẹ ông gốc tội rất sâu.
Dầu ông thần lực nhiệm mầu,
Một mình không thể ai cầu được đâu.

Lòng hiếu thảo của ông dầu lớn,
Tiếng vang đồn thấu đến cửu thiên
Cùng là các bực Thần kỳ
Tà, ma, ngoại đạo, bốn vì Thiên vương

Cộng ba cõi sáu phương tu tập,
Cũng không phương cứu tế mẹ ngươị
Muốn cho cứu đặng mạng người,
Phải nhờ thần lực của mười phương Tăng.

4. Pháp cứu tế ta toan giải nói
Cho mọi người thoát khỏi ách nàn
Bèn kêu Mục-thị đến gần,
Truyền cho diệu pháp ân cần thiết thi

Rằm tháng bảy là ngày Tự tứ
Mười phương Tăng đều dự lễ này
Phải toan sắm sửa chớ chầy
Thức ăn trăm món trái cây năm màu

Lại phải sắm giường nằm nệm lót
Cùng thau, bồn, đèn đuốc, nhang, dầu,
Món ăn tinh sạch báu mầu
Ðựng trong bình bát vọng cầu kính dâng

Chư Ðại đức mười phương thọ thực
Trong bảy đời sẽ đặng siêu thiên
Lại thêm cha mẹ hiện tiền
Ðặng nhờ phước lực tiêu khiên ách nàn.

5. Vì ngày ấy Thánh tăng đều đủ
Dầu ở đâu cũng tụ hội về.
Như người Thiền định sơn khê
Tránh điều phiền não chăm về thiền na

Hoặc người đặng bốn tòa đạo quả
Công tu hành nguyện thỏa vô sanh
Hoặc người thọ hạ kinh hành
Chẳng ham quyền quý ẩn danh lâm tòng

Hoặc người đặng lục thông tấn phát
Và những hàng Duyên giác, Thanh văn
Hoặc chư Bồ tát mười phương
Hiện hình làm sãi ở gần chúng sanh

Ðều trì giới rất thanh, rất tịnh
Ðạo đức dày, chánh định chơn tâm
Tất cả các bực Thánh, Phàm
Ðồng lòng thọ lãnh bát cơm lục hòa

6. Người nào có sắm ra vật thực
Ðặng cúng dường Tự tứ Tăng thời
Hiện tiền phụ mẫu của người
Bà con quyến thuộc thảy đều nhờ ơn

Tam đồ khổ chắc rằng ra khỏi
Cảnh thanh nhàn hưởng thọ tự nhiên.
Như còn cha mẹ hiện tiền
Ðó nhờ cũng đặng bá niên thọ trường

Như cha mẹ bảy đời quá vãng
Sẽ hóa sanh về cõi thiên cung
Người thời tuấn tú hình dung
Hào quang chiếu sáng khắp cùng châu thân

7. Phật dạy bảo mười phương Tăng chúng
Phải tuân theo thể thức sau này:
Trước khi thọ thực đàn chay
Phải cầu chú nguyện cho người tín gia.

Cầu thất thế mẹ cha thí chủ
Ðịnh tâm thần quán đủ đừng quên
Cho xong ý định hành thiền
Mới dùng phẩm vật đàn tiền hiến dâng.

Khi thọ dụng nên an vật thực
Trước Phật đài hoặc tự tháp trung:
Chư Tăng chú nguyện viên dung
Sau rồi tự tiện thọ dùng bữa trưa

8. Pháp cứu tế Phật vừa nói dứt
Mục-liên cùng Bồ tát chư Tăng
Ðồng nhau tỏ dạ vui mừng
Mục-liên cũng hết khóc thương rầu buồn

Mục-liên mẫu cũng trong ngày ấy
Kiếp khổ về ngạ quỷ được tan
Mục-liên bạch với Phật rằng:
"Mẹ con nhờ sức Thánh Tăng khỏi nàn

Lại cũng nhờ oai thần Tam bảo
Bằng chẳng thì nạn khổ khó ra
Như sau đệ tử xuất gia
Vu-lan-bồn pháp dùng mà độ sanh

Ðộ cha mẹ còn đương tại thế
Hoặc bảy đời có thể đặng không?"
Phật rằng: "Lời hỏi rất thông
Ta vừa muốn nói con dùng hỏi theo

9. Thiện nam tử, tỳ kheo nam nữ
Cùng quốc vương, thái tử, đại thần
Tam công, tể tướng, bá quan
Cùng hàng lê thứ vạn dân cõi trần

Như chí muốn đền ơn cha mẹ
Hiện tại cùng thất thế tình thâm
Ðến rằm tháng bảy mỗi năm
Sau khi kiết hạ chư Tăng tựu về

Chính ngày ấy Phật-đà hoan hỉ
Phải sắm sanh bá vị cơm canh
Ðựng trong bình bát tinh anh
Chờ giờ Tự tứ, chúng Tăng cúng dường

Ðặng cầu nguyện song đường trường thọ
Chẳng ốm đau, cũng chẳng khổ chi
Cùng cầu thất thế đồng thì
Lìa nơi ngạ quỷ sanh về nhơn, thiên

Ðặng hưởng phước nhân duyên vui đẹp
Lại xa lìa nạn khổ cực thân
Môn sanh Phật tử ân cần
Hạnh tu hiếu thuận phải cần phải chuyên

10. Thường cầu nguyện thung huyên an hảo
Cùng bảy đời phụ mẫu siêu sanh
Ngày rằm tháng bảy mỗi năm
Vì lòng hiếu thảo thâm ân phải đền

Lễ cứu tế chí thành sắp đặt
Ngỏ cúng dường chư Phật chư Tăng
Ấy là báo đáp thù ân
Sanh thành dưỡng dục song thân buổi đầu

Ðệ tử Phật lo âu gìn giữ
Mới phải là Thích tử Thiền môn."
Vừa nghe dứt pháp Lan-bồn
Môn sanh tứ chúng thảy đồng hỉ hoan

Mục-liên với bốn ban Phật tử
Nguyện một lòng tín sự phụng hành!

* * *

Ghi chú:

- Thiền sư Nhật Bản Ennin (圓仁, Viên Nhân) viết trong cuốn Nittō Guhō Junrei Kōki (入唐求法巡礼行記, Nhập Đường Cầu Pháp Tuần Lễ Hành Kí), về chuyến thăm viếng và tu học tại Trung Quốc năm 838 TL, vào đời Đường (Tang Dynasty, 唐朝, 618-907 TL), ghi lại những lễ hội long trọng trong dịp Vu-lan tại kinh đô Trường An (Ch’ang-an, 长安) và thành phố Thái Nguyên (Tai-yuan, 太原) thuộc tỉnh Sơn Tây (Shanxi, 山西), Trung Quốc.

- Theo bản Hán văn, Phật dạy ngài Mục-kiền-liên cúng dường chư Tăng trong ngày Tự Tứ, ngày 15 tháng 7 (thập phương chúng tăng ư thất nguyệt thập ngũ nhật tăng Tự Tứ), tức là ngày mãn mùa an cư. Tháng 7 ở đây là tháng tính theo lịch nào? Lịch Trung Hoa hay lịch Ấn Độ?

Nếu cho rằng đây là bản Hán dịch từ một bài kinh nào đó bắt nguồn từ Ấn Độ (mặc dù có học giả cho rằng có lẽ bài kinh nầy được viết tại Trung Hoa), ắt hẳn tháng 7 ở đây có thể hiểu như là tính theo lịch Ấn Độ. Như thế, nếu chuyển sang âm lịch Trung Hoa (và Việt Nam), tháng tương đương sẽ là tháng 9 âm lịch, trùng khớp với ngày mãn mùa an cư của chư Tăng Nam tông ngày nay.

Tuesday, 9 August 2011

Ten Commandments of Common Sense

Source: Hal Urban (2007), The 10 Commandments of Common Sense: Wisdom from the Scriptures for People of All Beliefs, ISBN 978-1416535638
*

1. Don’t be seduced by popular culture. It prevents you from thinking for yourself.

2. Don’t fall in love with money. It will make you greedy and shallow.

3. Don’t use destructive language. It hurts others as well as yourself.

4. Don’t judge other people. Its better to work on your own faults.

5. Don’t let anger get out of control. It can wreak relationships and ruin lives.

6. Keep a positive outlook on life. It's the first step to joy.

7. Bring out the best in other people. It's better to build up than to tear down.

8. Have impeccable integrity. It brings peace of mind and a reputation of honor.

9. Help those in need. It really is better to give than to receive.

10. Do everything in love. It is the only way to find true peace and fulfillment.

*

Tuesday, 2 August 2011

Tiếng rống sư tử

– Này Xá-lợi-phất, nếu ai thấy Ta như vậy mà còn nói: "Sa-môn Gotama không có pháp Thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Sa-môn Gotama thuyết pháp chỉ do suy luận tác thành, chỉ dựa theo các ý tưởng cá nhân đột xuất ngẫu nhiên” – nếu người ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ý ấy, không đoạn trừ tà kiến ấy, người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục như thể bị quăng bỏ vào đó.
(Đại kinh Sư tử hống, Mahāsīhanāda Sutta, MN 12)

*

– Sariputta, should anyone say of me: “The recluse Gotama does not have any superhuman states, any distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones. The recluse Gotama teaches a Dhamma (merely) hammered out by reasoning, following his own line of inquiry as it occurs to him” -- unless he abandons that assertion and that state of mind and relinquishes that view, then as (surely as if he had been) carried off and put there he will wind up in hell.
(Mahāsīhanāda Sutta, Great Discourse on the Lion's Roar, MN 12)

*

Gánh nặng: 5 thủ uẩn (Burden: five clinging aggregates)

– Này các Tỳ-khưu, Ta sẽ giảng cho các ông về gánh nặng, mang gánh nặng lên, đặt gánh nặng xuống. Hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ giảng.

Thế nào là gánh nặng? Năm thủ uẩn là câu trả lời. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Đây gọi là gánh nặng.

Thế nào là kẻ mang gánh nặng? Người là câu trả lời. Vị tôn giả này có tên như thế này, dòng họ như thế này. Đây gọi là kẻ mang gánh nặng!

Thế nào là mang gánh nặng lên? Chính là tham ái đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, đi tìm hỷ lạc chỗ này, chỗ kia. Tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Đây gọi là mang gánh nặng lên.

Thế nào là đặt gánh nặng xuống? Ðây là sự ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn, sự từ bỏ, sự xả ly, sự giải thoát, sự không chấp thủ. Đây gọi là đặt gánh nặng xuống.

Bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

Năm uẩn là gánh nặng,
Kẻ gánh nặng là người;
Mang lấy gánh nặng lên,
Chính là khổ ở đời.
Còn đặt gánh nặng xuống,
Tức là lạc, không khổ,

Ðặt gánh nặng xuống xong,
Không mang thêm gánh khác.
Nếu nhổ khát ái lên,
Tận cùng đến gốc rễ,
Không còn đói và khát,
Ðược giải thoát tịnh lạc!


— SN 22.22 (HT Minh Châu dịch Việt)


* * *

"Monks, I will teach you the burden, the carrier of the burden, the taking up of the burden, and the casting off of the burden. Listen and pay close attention. I will speak."

"As you say, lord," the monks responded.

The Blessed One said, "And which is the burden? 'The five clinging-aggregates,' it should be said. Which five? Form as a clinging-aggregate, feeling as a clinging-aggregate, perception as a clinging-aggregate, fabrications as a clinging-aggregate, consciousness as a clinging-aggregate: This, monks, is called the burden.

"And which is the carrier of the burden? 'The person,' it should be said. This venerable one with such a name, such a clan-name: This is called the carrier of the burden.

"And which is the taking up of the burden? The craving that makes for further becoming — accompanied by passion and delight, relishing now here and now there — i.e., craving for sensual pleasure, craving for becoming, craving for non-becoming: This is called the taking up of the burden.

"And which is the casting off of the burden? The remainderless dispassion-cessation, renunciation, relinquishment, release, and letting go of that very craving: This is called the casting off of the burden."

— SN 22.22 (trans. by Thanissaro Bhikkhu)

*

Monday, 1 August 2011

Vô ngã (Anattā)

ANĀTMAN/ĀTMAN (NO-SELF/SELF – ANĀTTA/ĀTTA)
K. T. S. SARAO
in “Encyclopedia of Buddhism”, ed. R. Buswell (2004)

The Vedic Sanskrit term ātman (Pāli, attā), literally meaning breath or spirit, is often translated into English as self, soul, or ego. Etymologically, anātman (Pāli, anattā) consists of the negative prefix an plus ātman (i.e., without ātman) and is translated as no-self, nosoul, or no-ego. These two terms have been employed in the religious and philosophical writing of India to refer to an essential substratum within human beings. The idea of ātman was fully developed by the Upanisadic and Vedāntic thinkers who suggested that there does exist in one’s personality, a permanent, unchanging, immutable, omnipotent, and intelligent ātman, which is free from sorrow and leaves the body at death. The Chāndogya Upanisad, for instance, states that the ātman is “without decay, death, grief.” Similarly, the Bhagavadgīta calls the ātman “eternal ... unborn ... undying ... immutable, primordial ... all-pervading.” Some Upanisads hold that the ātman can be separated from the body like the sword from its scabbard and can travel at will away from the body, especially in sleep. But Buddhism maintains that since everything is conditioned, and thus subject to ANITYA (imparmanence), the question of ātman as a self-subsisting entity does not arise. The religion points out that anything that is impermanent is inevitably DUHKHA (suffering) and out of our control (anātman), and thus cannot constitute an ultimate self.

According to Buddhism, beings and inanimate objects of the world are constructed (samskr ta), as distinguished from NIRVĀNA, which is unconstituted (asam skr ta). The constituted elements are made up of the five skandha (aggregates) or building blocks of existence: the physical body (rū pa), physical sensation (vedanā), sensory perception (samjñā, saññā), habitual tendencies (samskāra, samkhāra), and consciousness (vijñāna, viññāna). The last four of these skandhas are also collectively known as nā ma (name), which denotes the nonmaterial or mental constituents of a being. Rūpa represents materiality alone, and inanimate objects therefore are included in the term rūpa. A living being composed of five skandhas is in a continuous state of flux, each preceding group of skandhas giving rise to a subsequent group of skandhas. This process is going on momentarily and unceasingly in the present existence as it will go on also in the future until the eradication of avidyā (ignorance) and the attainment of nirvāna. Thus, Buddhist analysis of the nature of the person centers on the realization that what appears to be an individual is, in fact, an everchanging combination of the five skandhas. These aggregates combine in various configurations to form what is experienced as a person, just as a chariot is built of various parts. But just as the chariot as an entity disappears when its constituent elements are pulled apart, so does the person disappear with the dissolution of the skandhas. Thus, what we experience to be a person is not a thing but a process; there is no human being, there is only becoming. When asked who it is, in the absence of a self, that has feeling or other sensations, the Buddha’s answer was that this question is wrongly framed: The question is not “who feels,” but “with what as condition does feeling occur?” The answer is contact, demonstrating again the conditioned nature of all experience and the absence of any permanent substratum of being.

Just as the human being is analyzed into its component parts, so too is the external world with which one interacts. This interaction is one of consciousness (vijñāna) established through cognitive faculties (indriya) and their objects. These faculties and their objects, called spheres (āyatana), include both sense and sense-object, the meeting of which two is necessary for consciousness. These three factors that together comprise cognition—the sense-faculty, the sense-object, and the resultant consciousness—are classified under the name dhātu (element). The human personality, including the external world with which it interacts, is thus divided into skandha, āyatana, and dhātu. The generic name for all three of them is dharma, which in this context is translated as “elements of existence.” The universe is made up of a bundle of elements or forces (samskāras) and is in a continuous flux or flow (santāna). Every dharma, though appearing only for a single instant (ksan a), is a “dependently originating element,” that is, it depends for its origin on what had gone before it. Thus, existence becomes “dependent existence,” where there is no destruction of one thing and no creation of another. Falling within this scheme, the individual is entirely phenomenal, governed by the laws of causality and lacking any extraphenomenal self within him or her.

In the absence of an ātman, one may ask how Buddhism accounts for the existence of human beings, their identity, continuity, and ultimately their religious goals. At the level of “conventional truth” (samvrtisatya), Buddhism accepts that in the daily transactional world, humans can be named and recognized as more or less stable persons. However, at the level of the “ultimate truth” (paramārthasatya), this unity and stability of personhood is only a sense-based construction of our productive imagination. What the Buddha encouraged is not the annihilation of the feeling of self, but the elimination of the belief in a permanent and eternal “ghost in the machine.” Thus, the human being in Buddhism is a concrete, living, striving creature, and his or her personality is something that changes, evolves, and grows. It is the concrete human, not the transcendental self, that ultimately achieves perfection by constant effort and creative will.

The Buddhist doctrine of rebirth is different from the theory of reincarnation, which implies the transmigration of an ātman and its invariable material rebirth. As the process of one life span is possible without a permanent entity passing from one thought-moment to another, so too is a series of life-processes possible without anything transmigrating from one existence to another. An individual during the course of his or her existence is always accumulating fresh karma (action) affecting every moment of the individual’s life. At death, the change is only comparatively deeper. The corporeal bond, which held the individual together, falls away and his or her new body, determined by karma, becomes one fitted to that new sphere in which the individual is reborn. The last thought-moment of this life perishes, conditioning another thoughtmoment in a subsequent life. The new being is neither absolutely the same, since it has changed, nor totally different, being the same stream (santāna) of karmic energy. There is merely a continuity of a particular lifeflux; just that and nothing more. Buddhists employ various similes to explain this idea that nothing transmigrates from one life to another. For example, rebirth is said to be like the transmission of a flame from one thing to another: The first flame is not identical to the last flame, but they are clearly related. The flame of life is continuous, although there is an apparent break at so-called death. As pointed out in the Milindapanha (Milinda’s Questions), “It is not the same mind and body that is born into the next existence, but with this mind and body … one does a deed ... and by reason of this deed another mind and body is born into the next existence.” The first moment of the new life is called consciousness (vijñāna); its antecedents are the sam skāras, the prenatal forces. There is a “descent” of the consciousness into the womb of the mother preparatory to rebirth, but this descent is only an expression to denote the simultaneity of death and rebirth. In this way, the elements that constitute the empirical individual are constantly changing but they will never totally disappear till the causes and conditions that hold them together and impel them to rebirth, the craving (trsnā ; Pāli, tanhā ), strong attachment (upādāna) and the desire for reexistence (bhava), are finally extinguished.

* * *

Sunday, 31 July 2011

Ở sao cho vừa lòng người

*
"Ở sao cho vừa lòng người,
ở rộng người cười, ở hẹp người chê,
cao chê ngỏng, thấp chê lùn,
béo chê béo trục béo tròn,
gầy chê xương sống xương sườn phơi ra."

*

Thursday, 28 July 2011

Giới cấm thủ, giới luật thủ, giới lễ nghi thủ, ...?

"Giới cấm thủ" ( 戒禁取 ) thường được xem là dịch từ chữ "sīlavata-parāmāsa" (sīlabbata-parāmāsa, sīlavata-upādāna), có nghĩa là chấp thủ vào giới điều, lễ nghi. Đây là một trong mười sợi dây trói buộc (kiết sử, thằng thúc - samjoyana), trói buộc con người trong vòng sinh tử luân hồi.

Sīla dịch là giới (hay giới đức), vata dịch là điều lệ (hay nghi thức), parāmāsa dịch là chấp thủ. Sīlavata-parāmāsa có thể dịch là chấp thủ vào giới điều, lễ nghi, hình thức, v.v... Không hiểu chữ "cấm" là dịch từ đâu?

Nhận được những thông tin, hình ảnh ngày càng phong phú, đa dạng về các sinh hoạt Phật giáo nặng phần lễ nghi tụng niệm hình thức hào nhoáng, màu mè, rườm rà, tôi bâng khuâng, không hiểu đó có phải là những dạng thái giới cấm thủ không? Nếu không cắt bỏ được sợi dây trói buộc nầy thì không thể nào nhập được vào dòng sông giải thoát.

Xin trích vài định nghĩa Việt và Anh, tìm từ các trang web Phật giáo trên mạng Internet:

* * *

Chữ "giới cấm thủ" (sīlabbata-parāmāsa) thường bị hiểu lầm. Trừ khử "giới cấm thủ" không có nghĩa là một thái độ buông lơi, phóng túng, dễ duôi, không giữ gìn giới hạnh. Trái lại, nó có nghĩa là một thái độ minh triết, xem giới luật như là một phương tiện tốt, cần thiết để luyện tâm, nhưng lại không mù quáng, không quá lệ thuộc vào các hình thức giáo điều. Một người không còn giới cấm thủ là một người lúc nào cũng có giới đức trong sạch, nhưng sống thảnh thơi trong giới luật đạo hạnh, không còn coi đó là một gánh nặng trên con đường hành trì của mình. Trong nhiều bài kinh (Tương Ưng Bộ, Phẩm Dự Lưu), Đức Phật thường đề cập đến bốn yếu tố chính đưa đến quả Dự lưu là niềm đướ,tín thành bất động nơi Tam Bảo và có giới đức cao thượng, lúc nào cũng được các bậc chân nhân khen ngợi. (– Bình Anson, 2004)

*

Giới cấm thủ: Khư khư giữ chặt một giới cấm không đưa đến giải thoát, tự trói buộc mình. Giới luật Phật chế là để giúp ta giải thoát ngay hiện tại. Tôn giả Udàyi một hôm thầm cảm ân đức của Thế Tôn đã thốt ra những lời cảm động như sau: “Thế Tôn thật sự đã đoạn trừ nhiều khổ pháp cho ta! Thế Tôn đã thật sự mang lại lạc pháp cho ta!”, vì nhờ giới luật chế không ăn phi thời, mà tôn giả tránh được bao nhiêu nhục nhã ê chề những lúc đi khất thực vào buổi tối. Kinh nghiệm đau đớn nhất cho ngài, như ta được nghe ngài kể lại với Đức Phật, là một hôm vào lúc sẫm tối, ngài ôm bát đứng trước một nhà nọ. Một người đàn bà từ trong đi ra, bỗng ngất xỉu vì hoảng sợ, tưởng con quỷ nào hiện hình quấy phá. Khi hoàn hồn, bà mắng nhiếc: “Cha Tỳ kheo hãy chết đi! Mẹ Tỳ kheo hãy chết đi! Thật tốt hơn cho ngươi là lấy con dao bén mổ cái bụng chết đi còn hơn vì lỗ miệng đi khất thực buổi tối làm cho người ta sợ hết hồn!” .

Chính vì những bất tiện ấy, Thế Tôn mới chế giới cho Tỳ kheo để được sống giải thoát an vui. Trái lại, giới cấm thủ là những kỷ luật phi lý không do một đấng giác ngộ lập ra, mà do những bậc thầy ngu si muốn lôi cuốn đệ tử bằng những điều luật khó theo, quái gở, lập dị, không vì mục đích giải thoát mà chỉ để lòe thiên hạ. (– Ni sư Trí Hải, Từ nguồn Diệu pháp, 2003)

*

Giới cấm thủ kiến là bảo thủ cái thấy về giới phải giữ. Cố bảo thủ cái thấy phải giữ giới mà không biết là giới đó có đem lại lợi ích hay không. Thí dụ giữ giới không nói láo, nên lúc nào cũng nói thật, nhưng không biết lợi hại của lời nói thật và dối, nên khi kẻ cướp nó hỏi cái gì thì cũng nói thật để nó làm hại người khác. Vậy là giới cấm thủ là một sai lầm từ cái thấy giữ giới mà không nhiêu ích hữu tình. Giới cấm thủ là đè nén và có cái thấy bị đè nén. Do vậy sự đè nén của giới cấm thủ đưa đến cái thấy bị đè nén do giữ giới. Cái đè nén này là sở tri chuớng có hại. Giới của Phật dạy là có động cơ của tình thương và vì sự lợi ích và hiểu biết của các chúng sanh. Vì vậy giới của Phật tử không do đè nén và đàn áp tao thành tri kiến ức chế. Có cái thấy ức chế khi giữ giới là giới cấm thủ kiến. (– Minh Đức, Thế trí biện thông)

*

Giới cấm thủ: sīlavata-upādāna (grasping of rules and customs): Chấp thủ các giới cấm ngoại đạo – không phải giới luật của bậc Thánh. (– Hòa thượng Chơn Thiện, 2002)

*

Chấp thủ vào luật lệ và nghi thức (sīlavata-upādāna) là một dạng tà kiến. Người ta bị dính mắc vào sợi dây ràng buộc này khi họ tin tưởng một cách sai lạc rằng để tu luyện con đường đưa đến giác ngộ, người ta phải tuân thủ một số qui luật như là kiêng không dùng một số thực phẩm nào đó, hoặc kiêng không đọc một số sách hay không được nói năng. Đến khi nào tà kiến đó chưa được trừ khử, người ta có nhiều hành động sai phạm, và có thể lầm tưởng những nghiệp hành đó là chánh nghiệp. Họ có thể chấp thủ vào những nơi chốn đặc biệt hay hoàn cảnh đặc biệt nào đó để phát triển niệm xứ. Họ tin rằng chỉ ở nơi đó hay trong hoàn cảnh đó thì mới có thể thiết lập niệm. Và như thế sẽ dễ đưa đến tu tập sai lầm. (– Nina Van Gorkom, Tk Thiện Minh dịch, Tâm sở)

*

Giới cấm thủ: nghĩa là làm theo lời răn cấm của ngoại đạo tà giáo. Nhưng sự răn cấm nầy nhiều khi thật vô lý, mê muội, dã man, không làm sao đưa người ta đến sự giải thoát được, thế mà vẫn có nhiều người tin và làm theo. Chẳng hạn như ở Ấn Độ, có phái ngoại đạo lấy đá dằn bụng, đứng một chân giữa trời nắng, nằm chỗ bẩn thỉu, leo lên cao nhảy xuống, gieo mình vào lửa, hay nhảy xuống sông trầm mình để được phước. Có đạo, mỗi năm lại bắt tín đồ giết một người để tế thần, hay như đạo của anh chàng Vô Não, phải giết một trăm người lấy một trăm ngón tay xâu làm chuỗi hạt mới đắc đạo. (– Hòa thượng Thiện Hoa, Phật học phổ thông)

*

Giới cấm thủ kiến: Giới đây là những kiêng cử, những cấm kỵ, những hình thức nghi lễ, những giáo điều hoặc những tín điều mà mình bị kẹt vào. Ví dụ mình tin rằng con bò là vật linh thiêng và mình không dám động tới nó. Hoặc tin rằng ông táo hay bình vôi là những vật thiêng liêng. Hoặc mình tin rằng tổ tiên mình là cây cau, mình không dám động tới cây cau. Xứ nào, dân tộc nào cũng có những niềm tin phát sinh do sự tưởng tượng hay do sự sợ hãi của con người xứ đó. Nghi lễ được đặt ra là để nhắm tới bảo vệ và làm cho mình an tâm. Nhưng rút cuộc mình bị kẹt vào trong nghi lễ. Giới cấm thủ kiến là sự bị kẹt vào các hình thức nghi lễ, giáo điều và tín điều không phù hợp và không có lợi ích gì cho việc thực tập chuyển hóa. (– Thiền sư Nhất Hạnh).

* * *

Trích các đoạn văn tiếng Anh:

Parāmāsa: touching, contact, being attached to, hanging on, being under the influence of, contagion.
Sīlabbata-parāmāsa: the contagion of mere rule and ritual, the infatuation of good works, the delusion that they suffice.
Sīlabbatupādāna: grasping after works and rites.
(– PTS Pali-English Dictionary)

*

Sīlabbata-parāmāsa, or sīlabbata-upādāna: "attachment (or clinging) to mere rules and ritual", is the 3rd of the 10 fetters (samyojana), and one of the 4 kinds of clinging (upādāna). It disappears on attaining to Stream-entry (Sotāpatti).

"What is the clinging to mere rules and ritual? The holding firmly to the view that through mere rules and ritual one may reach purification: this is called the clinging to mere rules and ritual.” (– Nyanatiloka Mahathera, Buddhist dictionary)

*

Attachment to rites and rituals (sīlabbata-parāmāso): Sīla refers to "moral conduct", vata (or bata) to "religious duty, observance, rite, practice, custom," and parāmāsa to "being attached to" or "a contagion" and has the connotation of "mishandling" the Dhamma. Altogether, sīlabbata-parāmāso has been translated as "the contagion of mere rule and ritual, the infatuation of good works, the delusion that they suffice" or, more simply, "fall[ing] back on attachment to precepts and rules."

This fetter regarding rites and rituals likely refers to some practices of contemporary brahmanic authorities during the times of the Buddha. (– Wikipedia)

*

Clinging to morality and rules (sīlavata-parāmāsa, but sometimes sīlabbata-parāmāsa or sīlavata-upādāna) is a term often used by the Buddha (A.III,377; D.II,58; M.I,433). Sīla means moral behaviour as expressed in rules and precepts (e.g. the five Precepts), vata means vows, rules or rituals, and parāmāsa means clinging or grasping. The term refers to the mistaken belief that scrupulous adherence to moral rules or the exact performance of certain rituals, will lead to enlightenment. However, it has many other manifestations – being punctilious about minor rules while ignoring more important ones, confusing rules of etiquette for rules of morality, insisting that a rule be followed exactly while wheedling one’s way around it, strictly adhering to the outward form of a Precept but taking no account of its meaning and purpose. Mechanically reciting the Precepts thinking that that is sufficient, would likewise be examples of sīlavataparāmāsa. It may also include being smug and self-righteousness or even boasting about one’s moral uprightness (Sn.782). Unfortunately, Buddhism as it is traditional practised, offers many examples of such pettifogging and distorted understanding.

The person who is afflicted by sīlavataparāmāsa lacks flexibility, balance and the ability to get beyond the words or the outer form. Thus, despite perhaps being sincere and diligent, such a person never really penetrates the Dhamma at a deeper level. The Buddha identified clinging to morality and rules as one of the ten fetters (dasa samyojana, A.V,17) that hold a person back and prevents them from spiritually growing (appahāya abhabbo, A.V,145). (– Bhikkhu Dhammika, Guide to Buddhism)

*

The affection in the rites and in the ceremoniessīlavataparāmāsa – to grant (tune) a false confidence in the value of the rules and the rites (– Shinjin, Teachings of the Buddha)

*

Silabbata-paramasa: attachment to customs or traditions that are held to be good in this way or that. (– Ajahn Lee Dhammadharo, What is the Triple Gem?)

*
Rites and rituals in themselves are not harmful, only believing them to be part of the path to Nibbana is detrimental. They need not even be religious, although we usually think of them like that. Such as offering flowers and incense on a shrine, prostrating or celebrating certain festivals and believing that this will accumulate enough merit to go to the Deva realms. It's devotion, respect and gratitude to the Triple Gem, which count. But this belief is not only confined to religious activities. Everybody lives with rites and rituals, even though we may not be aware of them. In human relationships there are certain prescribed ways of acting in respect to one's parents, one's children, one's partners. How one relates in one's job, to friends and strangers, how one wants to be confirmed by others, all is connected to preconceived ideas of what is right and proper in a certain culture and tradition.

None of it has any basic truth in it, all is mind-made. The more ideas one has, the less one can see reality. The more one believes in them the harder it is to abandon them. As one imagines oneself to be a certain kind of person, one relates in that way in all situations. It doesn't have to be how we put flowers on a shrine, it can also be how we greet people, if we do it according to a certain stereotyped ritual and not the way an open heart and mind may dictate. (– Ayya Khema, All of us)

*
Wrong grasp of rules and observances (sīlabbata-parāmāsa) – the belief that mere external observances, particularly religious rituals and ascetic practices, can lead to liberation. (– Outline of Buddhism)

*

Sīlabbata-parāmāsa – holding to habits and customs, mere external observances, thinking they will bring release of themselves (– John Ireland, Samyutta Nikāya: An Anthology)

*

Sīlabbata-parāmāsa (chronic superstition): Have a look at yourself and see what sort of chronically superstitious behaviour is to be found in you. You have been taught to fear harmless little lizards and similar animals until it has become a habit. This is superstition. It is primitive and childlike. You have been brought up to believe in sacred trees, sacred mountains, sacred temples, sacred spirit houses: all this too is superstition. 

To sum up, sīlabbata-parāmāsa is superstition with regard to things one does oneself. Taking certain things which should be used in a particular way and using them in a different way – for instance, letting charitable deeds reinforce selfishness when they should be used to eliminate it – this is superstition. So there are charitable deeds which are superstition, and there is rigorous adherence to moral precepts by both bhikkhus and lay people which is superstition. Chronically superstitious and false understanding with respect to anything at all is covered by the term sīlabbata-parāmāsa. (– Buddhadasa Bihhkhu, Buddha-Dhamma for Students)

* * *
 
*

*