Thursday, 10 February 2022

Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu.

Nhiều năm trước, trong một diễn đàn Phật giáo tiếng Anh, một vị sư đề cập đến bài kinh nầy, nhưng không nêu rõ xuất xứ, về một hiện tượng tâm lý rất phổ thông xảy ra trong tăng chúng cũng như trong xã hội từ thời xưa cho đến thời nay. Người ta thường tụ hội thành từng nhóm vì cùng chung một mục đích nào đó hay khuynh hướng nào đó, thiện hay bất thiện. 

Tôi thích bài kinh đó nhưng rồi quên đi. Thỉnh thoảng nhớ lại, nhưng không tìm được nguồn gốc chính xác. Sáng nay có lẽ đã đủ duyên, đến nhờ bác Gờ giúp và tìm được bài kinh. Xin ghi lại đây bản dịch Việt và Anh. 

*

 CÙNG KHUYNH HƯỚNG  (Caṅkama Sutta, SN 14.15)

Một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), tại núi Gijjakūta (Linh Thứu). Lúc bấy giờ, Tôn giả Sāriputta cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành, không xa Thế Tôn bao nhiêu.

Tôn giả Mahāmoggallāna cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành, không xa Thế Tôn bao nhiêu.

Tôn giả Mahākassapa cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành,  không xa Thế Tôn bao nhiêu.

Tôn giả Anuruddha cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành, không xa Thế Tôn bao nhiêu.

Tôn giả Puṇṇa Mantāniputta cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành, không xa Thế Tôn bao nhiêu.

Tôn giả Upāli cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành, không xa Thế Tôn bao nhiêu.

Tôn giả Ānanda cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành, không xa Thế Tôn bao nhiêu.

Tôn giả Devadatta cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành, không xa Thế Tôn bao nhiêu.

Rồi Thế Tôn gọi các tỳ-khưu: 

– Này các tỳ-khưu, các ông có thấy Sāriputta cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành?
– Thưa có, bạch Thế Tôn.
– Này các tỳ-khưu, tất cả vị tỳ-khưu ấy là bậc đại trí tuệ.

– Này các tỳ-khưu, các ông có thấy Moggallāna cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành?
– Thưa có, bạch Thế Tôn
– Này các tỳ-khưu, tất cả vị tỳ-khưu ấy là bậc đại thần thông.

– Này các tỳ-khưu, các ông có thấy Kassapa cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành?
– Thưa có, bạch Thế Tôn.
– Này các tỳ-khưu, tất cả vị tỳ-khưu ấy chủ trương hạnh đầu đà.

– Này các tỳ-khưu, các ông có thấy Anuruddha cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành?
– Thưa có, bạch Thế Tôn.
– Này các tỳ-khưu, tất cả vị tỳ-khưu ấy là bậc có thiên nhãn.

– Này các tỳ-khưu, các ông có thấy Puṇṇa Mantāniputta cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành?
– Thưa có, bạch Thế Tôn.
– Này các tỳ-khưu, tất cả vị tỳ-khưu ấy là bậc thuyết pháp.

– Này các tỳ-khưu, các ông có thấy Upāli cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành?
– Thưa có, bạch Thế Tôn.
– Này các tỳ-khưu, tất cả vị tỳ-khưu ấy là bậc trì luật.

– Này các tỳ-khưu, các ông có thấy Ānanda cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành?
– Thưa có, bạch Thế Tôn.
– Này các tỳ-khưu, tất cả vị tỳ-khưu ấy là bậc đa văn.

– Này các tỳ-khưu, các ông có thấy Devadatta cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành?
– Thưa có, bạch Thế Tôn.
– Này các tỳ-khưu, tất cả vị tỳ-khưu ấy là ác dục.

Này các tỳ-khưu, tùy thuộc theo giới, các chúng sinh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau. Chúng sinh liệt ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sinh liệt ý chí. Chúng sinh thiện ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sinh thiện ý chí.

Này các tỳ-khưu, tùy thuộc theo giới thời quá khứ, các chúng sinh đã cùng hòa hợp, đã cùng đi với nhau. Chúng sinh liệt ý chí đã cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sinh liệt ý chí. Chúng sinh thiện ý chí đã cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sinh thiện ý chí.

Này các tỳ-khưu, tùy thuộc theo giới thời vị lai, các chúng sinh sẽ cùng hòa hợp, sẽ cùng đi với nhau. Chúng sinh liệt ý chí sẽ cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sinh liệt ý chí. Chúng sinh thiện ý chí sẽ cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sinh thiện ý chí.

Này các tỳ-khưu, tùy thuộc theo giới hiện tại, các chúng sinh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau. Chúng sinh liệt ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sinh liệt ý chí. Chúng sinh thiện ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sinh thiện ý chí.

- (Hòa thượng Minh Châu dịch Việt, Bình Anson hiệu đính)

 *----------*

WALKING TOGETHER (Caṅkama Sutta, SN 14.15)

At one time the Buddha was staying near Rājagaha, on the Vulture’s Peak Mountain. Now at that time Venerable Sāriputta was walking together with several mendicants not far from the Buddha. Venerable Mahāmoggallāna was doing likewise, as were Venerable Mahākassapa, Venerable Anuruddha, Venerable Puṇṇa Mantāniputta, Venerable Upāli, Venerable Ānanda, and Devadatta.

Then the Buddha said to the mendicants, “Mendicants, do you see Sāriputta walking together with several mendicants?”

“Yes, sir.”

“All of those mendicants have great wisdom. Do you see Moggallāna walking together with several mendicants?”

“Yes, sir.”

“All of those mendicants have great psychic power. Do you see Kassapa walking together with several mendicants?”

“Yes, sir.”

“All of those mendicants advocate austerities. Do you see Anuruddha walking together with several mendicants?”

“Yes, sir.”

“All of those mendicants have clairvoyance. Do you see Puṇṇa Mantāniputta walking together with several mendicants?”

“Yes, sir.”

“All of those mendicants are Dhamma speakers. Do you see Upāli walking together with several mendicants?”

“Yes, sir.”

“All of those mendicants are experts in monastic law. Do you see Ānanda walking together with several mendicants?”

“Yes, sir.”

“All of those mendicants are very learned. Do you see Devadatta walking together with several mendicants?”

“Yes, sir.”

“All of those mendicants have bad desires.

Sentient beings come together and converge because of an element. Those who have a bad attitude come together and converge with those who have a bad attitude. Those who have a good attitude come together and converge with those who have a good attitude.

In the past, in the future, and also in the present, sentient beings come together and converge because of an element. Those who have a bad attitude come together and converge with those who have a bad attitude. Those who have a good attitude come together and converge with those who have a good attitude.”

 - Translated by Bhikkhu Sujato

*----------*



Wednesday, 2 February 2022

BỐN NHIẾP PHÁP: Bố thí, Ái ngữ, Lợi hành và Đồng sự

Kinh Nhiếp Pháp
(Saṅgaha Sutta, AN 4.32, AN 4.253, DN 30, DN 33)

“Này các tỳ-khưu, có bốn nhiếp pháp này. Thế nào là bốn?

“Bố thí và ái ngữ,
Lợi hành và đồng sự
Hỡi các vị tỳ-khưu,
Ðây là bốn nhiếp pháp.

“Bố thí và ái ngữ,
Lợi hành và đồng sự,
Ðối với những pháp này,
Ở đời đối xử nhau,
Chỗ này và chỗ kia,
Như vậy thật tương xứng.

“Và bốn nhiếp pháp này,
Như đỉnh đầu trục xe,
Nếu thiếu nhiếp pháp này,
Thời cả mẹ lẫn cha
Không được các người con
Tôn trọng và cung kính.

“Do vậy bậc Hiền trí,
Ðồng đẳng nhìn nhiếp pháp
Nhờ vậy họ đạt được,
Sự cao lớn, tán thán.”

*

Ghi thêm: 

Theo Hòa thượng Giác Giới, trong tập sách Kho Tàng Pháp Học, bốn nhiếp pháp (cattāri saṅgahavatthū) là bốn pháp nhiếp phục nhân tâm, bốn pháp cảm hóa người khác. Đó là:

1. Bố thí (dāna): Tâm rộng rãi xả tài, luôn chia sẻ tài sản vật chất của mình đến người khác, không keo kiết bỏn xẻn.

2. Ái ngữ (peyyavajja): Có lời nói nhẹ nhàng, nói lời hòa nhã êm ái, thông cảm, làm người nghe có ấn tượng thiện cảm.

3. Lợi hành (atthacariyā): Có tâm vị tha phục vụ, làm lợi ích cho người khác, dẫn dắt mọi người an trú vào thiện pháp.

4. Đồng sự (samānattatā): Đối xử hòa đồng, hòa hợp với mọi người; xử sự đồng đẳng, cộng vui cộng khổ; biết nhìn những điểm tương đồng để sống với mọi người.

*




Tuesday, 1 February 2022

LÁ THƯ NGÀY TẾT NHÂM DẦN, Thích Tuệ Sỹ

Phật lịch 2565 
Tuế thứ Tân Sửu 28.12 - Dương lịch 30.01.2022

LÁ THƯ NGÀY TẾT NHÂM DẦN

Nam-mô Long Hoa Hội, Đương lai Hạ sanh Di-lặc Tôn Phật

Kinh gởi:

Chư Tôn Trưởng Lão, Chư Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng-già nhị bộ; cùng Bốn Chúng Đệ tử.

Trong sát-na nhiệm mầu của tâm tịnh tín, khoảnh khắc khép lại quá khứ đen tối bi thương, hướng đến không gian biến mãn tâm từ vô lượng, bằng chút thiện căn công đức đã được gieo trồng trong quá khứ, kính dâng lên Đấng Chí Tôn Vô Năng Thắng, hồi hướng công đức này đến pháp giới chúng sinh đồng miễn trừ bệnh khổ.

Kính thưa Chư Hiền, cùng Bốn Chúng đệ tử.

Thời gian đến, thời gian đi. Thời gian nấu chín sinh vật. Thời gian hối thúc sinh loại. Thời gian thức tỉnh con người.

Thời gian, một năm qua, trôi nhanh theo âm thanh cuồng nộ của những đợt sóng kinh hoàng từ bóng ma đại dịch, vang vọng tiếng kêu thống thiết từ những đoàn người xuôi ngược đào vong trên chính trên quê hương của mình.

Trong cảnh tượng ấy, trong cảnh giới hàn băng địa ngục giữa cõi nhân sinh ấy, nơi mà tình người, được lịch sử nhầm lẫn trao tay cho thế lực cuồng vọng tham lam, đã đóng băng thành mặt nước đại dương rập rình hiểm họa.

Thế nhưng, trong thế giới địa ngục trần gian ấy, vẫn còn những tấm lòng nhân ái, giữ cho đốm lửa thiện căn từ giác tính uyên nguyên vẫn còn lấp lánh trong lịch sử tồn sinh của dân tộc. Chúng đệ tử Phật góp nhặt công đức thiện hành và tùy hỷ thiện tâm của những tấm lòng nhân ái tương thân tương trợ trong cảnh khốn cùng bức bách, để kết thành một đóa hoa mai tỏa sáng sắc hương tâm từ vô lượng, dâng lên cúng dường đức Từ Tôn Vô Năng Thắng, trang nghiêm ngày Hội Long Hoa, cho một thế giới an lành tịnh lạc trong chu kỳ thành trụ hoại không vô tận của vô biên thế giới. 

Chúng đệ tử Phật, trong ngày hội truyền thống, cùng chung niềm vui chung của dân tộc, cùng cất đi gánh nặng khổ nhục đày đọa hình hài và tâm trí của một năm tai dịch hoành hành; một năm vinh quang ảo tưởng cho những tham tàn vô đạo phi nhân. Chúng đệ tử cùng chung sức góp nhặt chút công đức, từ thiện căn đã được gieo trồng trên mảnh đất cùng khốn này, để vun bồi thiện tâm lớn mạnh dựng lại những gì đã sụp đổ, để nối lại đức từ nhân ái của một thời độc lập và tự chủ - hào hùng nhưng khiêm tốn, ngoan cường nhưng bao dung - đã bị đứt đoạn bởi những thế hệ thừa kế tự tôn vinh, được kích động bởi tham vọng lịch sử, được trang nghiêm bằng ý thức khoa trương kiêu ngạo.

Bốn nghìn năm lịch sử dựng nước. Hai nghìn năm Đạo Pháp hưng suy theo vận nước thăng trầm vinh nhục. Một nghìn năm Thăng Long đứng vững trước mọi phong ba của thời đại. Năm mươi năm hòa bình thống nhất, dù với ước vọng đấu tranh xây dựng một xã hội công bằng văn minh, xóa đi quá khứ người bóc lột người; nhưng bóng ma quá khứ ấy bỗng chốc biến thể, thay đổi hình hài, tự thăng hoa và tiến bước theo hướng đi dọn sẵn của một thứ tồn tại vô hình đang thách thức đỉnh cao trí tuệ của nhân loại văn minh. Những giá trị nhân sinh cần được định nghĩa lại: Phẩm giá con người? Văn minh tiến bộ?

Trong nỗi kinh hoàng dưới những hình thái bức hiếp, bóc lột kiểu mới, vẫn thấp thoáng những bàn tay nhân ái đã và đang nâng đỡ những thân hình bạc nhược, tâm tư suy sụp, vì đói khát và đợi chờ; đã và đang xoa dịu những trái tim nhức nhối trong cô đơn, tuyệt vọng trước nẻo đường phân ly sống chết; đã và đang dìu dắt những trẻ thơ mất cha, mất mẹ, mất cả mọi nguồn yêu thương thân thiết, bị vất bỏ giữa chợ đời hiểm ác, mà không biết vì đâu. Thiện căn từng được ươm mầm trong chuỗi dài lịch sử rồi cũng đến lúc nẩy chồi, chen chúc để vươn lên dưới ánh sáng uyên nguyên của mặt trời tuệ giác trong cánh đồng đang trổ đầy hoa trái độc. Một trang lịch sử đau thương, khổ nhục, cần được khép lại. Tâm từ cần được khơi nguồn để mỗi người con thân yêu của đất nước tự tâm cảm nghiệm ân đức bao dung và tha thứ của Cha Ông một thời đã làm nên lịch sử, định hướng đi cho dân tộc trụ vững giữa những tham vọng điên cuồng thống trị thế giới, những cơn lốc tranh chấp ý thức hệ phân chia quyền lực, những tiến bộ đảo điên trong lịch sử văn minh tiến hóa của loài người.

Hãy khép lại hận thù quá khứ, được gieo rắc từ những áp bức, bóc lột, bất công. Nghiệp ác, bất thiện đã được tạo tác, và được tích lũy trong kho tàng tâm thức, thành di sản mà chủ nhân của nó cũng chính là người thừa tự. Không phải vì được quên hay được nhớ mà nghiệp ác bất thiện sẽ mất hay còn. Kẻ gây ác cảm thấy có vị ngọt trong hành vi ác; cho đến khi quả ác chín muồi, vị ngọt biến chất thành độc tố thiêu đốt thân tâm của nó. Các vị Tổ Thiền của chúng ta thường nói "thời tiết nhân duyên mà thôi vậy". Những biến đổi xã hội, cũng đồng như sự thay đổi biến chuyển trong cơ thể sinh vật, trong thủ uẩn của chúng sanh, không chuyển biến nhất thời để cho quả. Khi nhân duyên hội đủ, đến thời cho quả chín, một thế hệ mới, từ lòng đất, qua vô số kiếp hành Bồ-đề nguyện, đột nhiên xuất hiện, ngăn chặn những dòng nước lũ độc hại đang làm ô nhiễm thế gian, phá sập và dẹp bỏ những gì đã mục nát, rỗng ruột.

Trong lịch sử của các dân tộc cũng vậy. Một chế độ mới được dựng lên, hứa hẹn một thời đại công bình chính trực, không tham tàn bóc lột, không bức hiếp bạo hành; nhưng rồi, chính cái thế lực tự xưng cứu tinh dân tộc tự nó biến thể thành tập đoàn hung ác bạo ngược không kém gì thế lực mà nó thay thế. Trong lịch sử tiến hóa của các cộng đồng dân tộc dưới gầm trời này, có lẽ khó tìm thấy một dân tộc nào an ổn đứng ngoài quy luật tiến hóa ấy. Vậy thì, có gì mà phải thất vọng hay tuyệt vọng? Hãy làm những gì, bằng trí tuệ sáng suốt phân biệt thiện ác, những gì tăng ích an lạc trong đời này và nhiều đời sau, cho ta và những người khác.

Thế nhưng, trí tuệ sáng suốt không phải là giá trị được ban tặng bởi ai đó bên ngoài ta hay trên ta, mà đó là công phu tu dưỡng không phải một sớm một chiều. Mọi tôn giáo, các Thánh triết Đông Tây, đều nói nhiều đến tình yêu, nhưng không đâu tìm thấy lời dạy cụ thể, thiết thực, làm thế nào để phát triển tình yêu rộng lớn. Tình yêu, tuy là phẩm tính hiện thực của con người đấy, nhưng nếu không được tu tập, bồi dưỡng, thì cũng không khác gì ngọn lửa không được rót thêm nhiên liệu, độ sáng trước như thế và sau vẫn như thế, rồi tàn lụi dần. Đức Phật không chỉ nói suông tình yêu; Ngài cũng nói, hãy ngồi xuống, an tịnh thân hành, thực hành thuận tự quá trình tu tập bốn vô lượng tâm. Cái gì là tập quán của thân, và cái gì là huân tập của tâm; công năng sai biệt trong chuỗi tương tục của hai thứ này không tồn tại với thời và thế như nhau.

Tâm từ, tâm bi vô lượng, không chỉ là nguồn an lạc cho mỗi cá nhân tu tập. Đó là nguồn suối đại hành tâm, bằng tâm nguyện Bồ-đề, nguyện thêm vui bớt khổ cho chúng sinh, dẫu biết rằng hư không vô biên, chúng sinh giới vô tận, nghiệp và phiền não của chúng sinh cũng không cùng tận.

Đại hành tâm, với thệ nguyện bao la hoằng vĩ, nhưng lại bắt đầu từ việc nhỏ: chia nửa manh áo cho người đang lạnh, chia nửa nắm cơm cho người đang đói. Phật dạy, bố thí là pháp hành cho người tại gia lăn lóc trong đường đời đầy bụi bám, từ đó mà thứ tự tùy thuận, lần lượt tăng trưởng trí tuệ, cho đến viên mãn Đại Bồ-đề.

Bố thí là khởi đầu của Bồ-đề hành, Bồ-tát đạo. Bằng bố thí mà trang nghiêm cõi Phật. Bằng bố thí mà dẫn đạo chúng sanh thuần thục trong Thánh đạo.

Bố thí, trong ý nghĩa kinh tế, là hoạt động tái phân phối thu nhập, để rút ngắn khoảng cách giàu nghèo, giảm bớt áp lực bất công xã hội. Bố thí trong quan hệ tương tác như lý bình đẳng giữa người cho, vật cho và người nhận, tất yếu dẫn đến sự tăng trưởng của giới, và đó là sự thăng hoa phẩm giá con người, nền tảng của đạo đức xã hội, thiết lập định chế công bình chính trực bảo đảm an ninh trật tự cho những cộng đồng đa dạng trong một xã hội đa nguyên; bao dung, điều hòa những mâu thuẫn giữa các nguồn tư duy triết học, tín ngưỡng tôn giáo dị biệt. Chính trong quan hệ tương tác giữa người cho, vật cho và người nhận mà quy luật tồn tại được quán sát, được chiêm nghiệm. Không phải như nhà kinh tế học ngồi trước các bảng thống kê, trước những con số của bài toán xác suất, mà bằng sự rung cảm, đồng cảm trước cảnh đời khốn khổ, bất lực, không đủ sức tự mình đứng dậy để tự mưu sinh; và bằng quyết trạch trí thấy biết đâu là nhân tập khởi của những bất công xã hội.

Bố thí là nền tảng cho an ninh và trật tự xã hội. An ninh và trật tự xã hội được duy trì bền vững bằng đạo đức và bao dung, tức bằng giới và nhẫn. Viên mãn thí, giới, nhẫn hợp thành điều kiện tất yếu để phát triển trí tuệ, ngọn đuốc soi đường và định hướng cho văn minh tiến bộ của nhân loại.

Vậy cho nên, khi chứng kiến một người cùng khổ đang chia nửa manh áo rách, nửa phần cơm hẩm cho người cùng khổ hơn mình, Thánh nhân thấy biết rõ thiên giới hay nhân giới đang được định hướng. Và chính nơi đây, trong cái cảnh những kẻ tham tàn tự khoác áo bào nhân nghĩa không chút do dự rút tỉa xương tủy của đồng bào ruột thịt đang thất cơ thất sở lăn lóc trên các vỉa hè đường phố, trong cảnh tượng khiến tê tái quặn thắt tim người của những ai còn chút lương tri, vẫn không hề thiếu vắng những bàn tay sung mãn tình người để cho và nhận, hiển hiện ánh sáng đức từ đã và sẽ soi đường và định hướng cho lịch sử tồn vong của dân tộc.

Chúng đệ tử Phật, đã cùng chung cộng nghiệp với dân tộc này, trong đất nước này, trong khoảnh khắc thời thiết nhân duyên đã chung đúc thành truyền thống thiêng liêng của dân tộc này, nguyện cùng đại khối dân tộc đồng hành trong ánh sáng của đức từ nhân ái, bao dung và tha thứ, dọn đường cho các thế hệ tiếp nối thăng tiến trong phẩm giá cao quý của con người.

Xin hãy khép lại quá khứ hận thù, nghi kỵ!

Xin hãy mở rộng tâm tình bao dung nhân ái!

Cầu nguyện tất cả con dân trong đại khối dân tộc, một năm mới, ngày đêm thường an lành; tất cả mọi thời đều an lành. Cầu nguyện đất nước thanh bình, nhân dân an lạc.

Thị ngạn am – Vô trụ xứ.  Âl. 28–12–Tân sửu.
Khâm thừa Di chúc,
Bỉnh pháp Tỳ-kheo
Thiện thệ tử Thích Tuệ Sỹ

*






Sunday, 30 January 2022

Luận án Tiến sĩ - PhD Thesis (1981)

 Đại học Murdoch (Murdoch University), Perth, Western Australia, báo cho biết sau 40 năm, họ vừa scan và số hóa Luận án Tiến sĩ của tôi -- hoàn tất năm 1981, và đưa vào trang web của Đại học. Ngày xưa, các luận án được đánh máy trên giấy thành 4 bản, đóng tập và trình lên Hội đồng Thẩm duyệt Luận án của trường Đại học.

Anson, Binh (1981). Neutralisation of acid wastewater by limestone-bearing sand. PhD thesis, Murdoch University.
(Sự trung hòa nước thải axít bằng cát có đá vôi).

Link: https://researchrepository.murdoch.edu.au/id/eprint/52400/ 

Bản PDF (71 MB):
1) https://tinyurl.com/yfh7wv79
2) https://mega.nz/file/i4BAhbrD#ryAEBoQ4dL1gQyuZGgUdag8NiARA0OKMO0wBOeKsVtM

*




Tuesday, 18 January 2022

Về già, chúng ta dựa vào ai?

VỀ GIÀ, CHÚNG TA DỰA VÀO AI?

Huỳnh Mai
 05/01/2022

*

Khoảng chục năm nay chúng tôi bắt đầu nghĩ về cuộc sống khi về già. Ở cùng con là lựa chọn truyền thống và phổ biến nhất từ trước tới nay ở Việt Nam. Nhưng ở  thế hệ chúng tôi, lựa chọn này đã không còn dễ dàng như với các thế hệ trước.

Chúng tôi đi học xa nhà từ 18 tuổi rồi tự lập luôn ở thành phố lớn, hầu như không có bà con họ hàng, quê hương… bên cạnh. Rồi con cái cũng vậy, chúng hầu hết đều đi học ở nước ngoài và không muốn về Việt Nam. Thế hệ chúng tôi lại ít con, mỗi nhà hai đứa là nhiều nhất, và cũng không ít người không lập gia đình hay không có con. Cho nên khi bọn nhỏ muốn định cư ở nước ngoài thì cha mẹ hầu như đều được khuyên rằng về già thì theo con sang đó sống.

ĐỊNH CƯ THEO CON RỒI NGỒI TRONG BỐN BỨC TƯỜNG

Nhưng, thế hệ chúng tôi hiểu rõ sự quý báu của cuộc sống có tự do cá nhân. Cha mẹ chúng tôi thường sống với những người con khác ở quê hương-những đứa con không đi xa và có nhiều thời gian hơn để chăm sóc cha mẹ. Khoảng cách thế hệ vốn đã lớn thì còn lớn hơn với những đứa con trưởng thành và sống xa cha mẹ, do không sống chung nên cũng khó hiểu nhau và thiếu thốn những ký ức chung.

Thế thì con cái chúng tôi-những đứa trẻ trưởng thành ở Anh, Mỹ, Úc… thực chất hầu như đều đã trở thành những quả chuối (da vàng nhưng bên trong thì “trắng”) làm sao chúng có thể chăm sóc cha mẹ già Việt Nam trăm phần trăm? Mà lại là Việt Nam đã bị bứng ra khỏi hoàn cảnh và môi trường sống quen thuộc từ tấm bé, với bạn bè, họ hàng, đồng nghiệp cũ…, để sang sống ở một môi trường hoàn toàn lạ lẫm, thậm chí ngôn ngữ cũng không thông thạo? Nhiều đứa sẽ lấy vợ, lấy chồng Tây, khoảng cách thế hệ, văn hóa và dân tộc tính ngày càng lớn nhưng thời gian dành cho gia đình ngày càng ít, liệu cha mẹ già có thể sống vui với chúng những ngày cuối đời? Những người chúng tôi quen biết thân quý thì chúng không biết, và ngược lại. Những gì đã tạo nên ký ức của chúng tôi không có giá trị tương tự với chúng, và ngược lại

Có thể nói, khi sang nước ngoài sống cùng với con thì chúng tôi là cái cây bị bứt hết gốc rễ. chỉ còn phụ thuộc vào mỗi một mình con cái. Nếu chúng “trở mặt”, không dành đủ thời gian hay không chăm sóc được như ý, cha mẹ sẽ tủi thân vô cùng vì không có ai khác để chia sẻ. Cô đơn trong bốn bức tường thôi.

Rất nhiều đứa bé được cho đi học xa nhà từ tuổi thiếu niên hầu như đều cảm thấy Việt Nam không còn là nhà của nó nữa. Mọi thứ đều xa lạ, trừ cha mẹ. Bạn bè, thầy cô, khí hậu, thời tiết, thức ăn, văn hóa, lối sống… những gì nó quen thuộc và thích nhất đều ở bên kia đại dương cả rồi.

Cha mẹ nài nỉ: Con đi đâu thì cứ đi nhưng mai mốt ba mẹ già rồi thì về Việt Nam ở với ba mẹ. Ba mẹ có một mình con!

Nó trả lời: Con xin lỗi nhưng con  cũng không lựa chọn làm con một của cha mẹ (tức là việc cha mẹ do chỉ có một đứa con nên suy luận rằng nó phải có nghĩa vụ tuân theo cha mẹ là không hợp lý).

Sợ cha mẹ buồn, nó nói rõ: Sẽ chăm lo cha mẹ khi về già, nhưng nó không ở Việt Nam như ý cha mẹ muốn.

Không đi theo con thì về già sống ra sao? Rất nhiều người trong chúng tôi tính sẽ vào nhà dưỡng lão. Ngay cả những gia đình con cái đều ở Việt Nam thì hầu hết cũng nghĩ sẽ vào nhà dưỡng lão khi già yếu, cũng với những lý do đó.

NHÀ DƯỠNG LÃO Ở VIỆT NAM

Mô hình nhà dưỡng lão đã được đặt ra từ hai, ba mươi năm nay, nhất là khi dân số già ở Việt Nam ngày càng tăng. Nhưng vì nhiều lý do nên nó vẫn chưa phổ biến.

Tôi cho rằng tài chính là lý do lớn nhất. Phần đông người Việt Nam vẫn sống dưới mức trung lưu. Người bình dân thường thường sẽ sống như tập quán là sống cùng con cháu khi về già. Những người giàu có, chủ doanh nghiệp hay có nhiều tài sản cũng vậy, con cháu họ sẽ chăm sóc.

Số đông là tầng lớp công chức và trí thức trung lưu mong muốn cuộc sống độc lập, tự do không phụ thuộc con cháu thì lương hưu quá thấp. Nếu chỉ dựa vào lương hưu thì không đủ trả chi phí cho nhà dưỡng lão (lương hưu thấp nhất khoảng 4 triệu đồng, cao là khoảng 6-7 triệu đồng/tháng, trong khi phí trả cho nhà dưỡng lão thấp nhất khoảng 7 triệu đồng/tháng (nhu cầu cơ bản, thường phải cộng thêm các phí khác, tổng khoảng 10 triệu cho gói thấp nhất), trung bình khoảng 12-15 triệu/tháng). Hoặc phải bán nhà cửa đi (thường tầng lớp này cũng chỉ có một tài sản lớn nhất nhà cửa), nhưng thế thì con cháu sinh sống chỗ nào? Văn hóa làm cha mẹ của người Việt là phải để lại tài sản cho con, thế cho nên dù chật chội, thiếu thốn thì nhiều người già vẫn không bán tài sản để hưởng thụ cá nhân mà chọn cách ở với con cháu cho đến khi nhắm mắt xuôi tay.

Thứ hai, chưa có niềm tin vào nhà dưỡng lão. Tôi có người bạn đã gửi ba của nó vào một nhà dưỡng lão tư nhân ở Củ Chi, ven Sài Gòn. Chi phí thấp nhất (phòng năm giường) là 10 triệu đồng/tháng. Cao nhất (phòng riêng) là 18 triệu đồng/tháng, chưa kể phụ phí đồng phục, chăm sóc khi bị bệnh và trong các ngày lễ tết.

Bạn tôi là con gái một. Mẹ bị tâm thần đã vài chục năm, không hung dữ phá phách nhưng suốt ngày đi lang thang rồi ghé tiệm của con xin tiền. Khi bạn tôi có bầu đồng thời ba nó bị đột quỵ, không còn cách nào khác, nó phải gởi ba vào nhà dưỡng lão. Hai ngày đi cùng nó lên thăm cha, tôi đã đủ ngậm ngùi.

Nhà dưỡng lão chia làm bốn loại khách hàng: Thứ nhất là các cụ ông/cụ bà còn tương đối khỏe mạnh và minh mẫn. Thứ hai là các cụ yếu hơn nhưng vẫn đi đứng được, có người lúc tỉnh lúc lẫn. Thứ ba, các cụ phải chăm sóc gần như toàn bộ, ăn phải có người đút, hầu hết không tự di chuyển được hoặc khá yếu nên phải ngồi xe lăn. Thứ tư là các cụ gần như chỉ còn sống thực vật, cho ăn qua ống.

Các ông bà cụ trong nhà dưỡng lão này không được mặc áo quần riêng, cũng không được dùng đồ cá nhân. Vào đây, họ đều được phát mấy bộ đồ đồng phục bằng thun dày màu cam, cổ tròn, cả ống tay áo và ống quần đều được may ngắn hơn bình thường để đỡ vướng. Tóc thì húi cua sạch cả cụ ông lẫn cụ bà, nên nhìn vào gần như chẳng phân biệt được bà hay ông. Bát chén riêng không được dùng mà ăn bằng cái tô inox của Nhà dưỡng lão.

Mỗi tuần, con cháu được lên thăm các cụ vào thứ bảy và chủ nhật. Đó là những ngày rộn ràng, vui tươi nhất của các cụ. Khi người thân đến nơi, bảo vệ sẽ báo vào bên trong (người thân không được vào khu lưu trú). Bảo mẫu sẽ săn sóc, chải tóc, thay quần áo cho các cụ nếu cần, rồi đẩy xe lăn ra sảnh tiếp đón. Khu này rộng, có mái che, nhiều bàn ghế, lại gần một hồ sen, có cây cảnh, tượng Phật nên thoáng mát và có thiên nhiên để ngắm nhìn. Thường các gia đình mang rất nhiều thức ăn đủ loại lên để “thăm nuôi” ông bà cha mẹ. Vô số thức ăn bày trên bàn, người này mở, người kia giục, người nọ xúc… ông bà vừa ăn chưa hết miếng này thì con cháu đã mở hộp thức ăn khác, xúc miếng khác..

Đến xế chiều, con cháu lần lượt ra về. Các cụ trở vào khu lưu trú. Khi hai cánh cửa mắt cáo ngăn cách hai khu khép lại cũng là lúc các cụ thầm đếm xem còn bao nhiêu buổi sáng, buổi chiều và buổi tối thì đến ngày được gặp con cháu lần nữa.

Tôi may mắn được chứng kiến bữa cơm của họ. Bữa cơm gồm hai món: canh rau và một món mặn.  Tất cả đều được nhân viên nấu nóng trong bếp, nhưng tất cả đều mang một cái màu: màu … cháo lòng, và một cái mùi: mùi thức ăn ít gia vị, nhạt nhẽo và được nấu lâu trên bếp.

Cơm trong nhà dưỡng lão đều từ nhão đến rất nhão, để các cụ già dễ nuốt. Canh cũng quanh đi quẩn lại  bí đỏ, bí xanh, bắp cải… tất cả đều lõng bõng và chín nhừ. Thức ăn mặn thường là cá, trứng chiên hoặc ít thịt nạc kho nhạt. Các cụ khỏe còn tự xúc ăn được. Các cụ còn lại thì nhân viên sẽ đổ hết tất cả thức ăn, cả canh lẫn thịt vào một cái tô và xúc cho họ. Nhiều ông bà cụ nhai móm mém chưa xong miếng trước đã phải há miệng ra để nhận tiếp miếng sau.

Nhà dưỡng lão cho biết do lo ngại bụng dạ các cụ yếu nên thức ăn nấu rất nhạt và hầu như không có gia vị. Thành ra nhìn các cụ sau khi vào trại thì đều hồng hào, tăng cân (có lẽ một phần do ít vận động chăng), nhưng không cụ nào tỏ vẻ thích bữa ăn của trại. Họ đều mong chờ những ngày con cháu đến thăm, mang thức ăn hợp khẩu vị. Có cụ có tiền thì có thể mua thêm ít thức ăn vặt, nhưng rất hãn hữu.

Vài cụ ông còn khỏe mạnh thì nghe radio (tự mang vào), hoặc đọc báo. Nhưng báo cũng có rất ít loại. Sách không thấy cuốn nào. Không có thư viện mặc dù số người còn đọc được cũng khá đông. Nhà dưỡng lão có các hoạt động văn nghệ nhưng tôi không gặp.

Phòng ngủ thường có 4 giường sắt cỡ 80 cm, đệm bọc simili thường gặp ở bệnh viện. Toilet chung nằm ở bên ngoài. Tuần hai hoặc ba lần, các cụ được tắm. Nhà tắm là một phòng chung rất đơn giản chia làm hai phần, bên trong là khu vực tắm với mấy vòi nước, thông thống không có gì che chắn. Nhân viên sẽ đẩy ba cụ vào một lần, xối nước tắm rồi đẩy ra ngoài, lau khô, mặc áo quần. Không còn gì là riêng tư nữa. Tôi cho rằng điều đó gây tổn thương nhân phẩm của các cụ và nó làm tôi đau lòng.

Với 18 triệu đồng, các cụ sẽ được một phòng riêng, rất nhỏ nhưng có máy lạnh và toilet trong phòng.

Ở một nhà dưỡng lão khác quảng cáo là do Nhật đầu tư, tình hình vui vẻ hơn rất nhiều. Các cụ được mặc dùng tư trang cá nhân như áo quần riêng, bát chén, chăn gối…, tất cả. Chất lượng bữa ăn phong phú và ngon hơn, được đổi bữa thường xuyên, lượng trái cây và sữa cũng nhiều hơn. Các cụ ở trong phòng riêng một hoặc hai người, đầy đủ tiện nghi. Giờ ăn, họ ngồi quanh một bàn ăn ấm cúng giống như ở nhà. Nhân viên vẫn tắm cho các cụ nhưng tắm riêng từng người một, trong phòng tắm kín. Sự riêng tư được tôn trọng. Chất lượng cuộc sống và phục vụ ở đây tốt hơn hẳn so với nhà dưỡng lão Việt Nam, nhưng tất nhiên giá tiền cũng cao hơn. Và do họ không có cơ sở rộng nên nhà dưỡng lão chỉ nhận rất ít người.

Tất cả là nhà dưỡng lão tư nhân. Ở thành phố Sài Gòn có một nhà dưỡng lão của nhà nước, gọi là Nhà dưỡng lão Thị Nghè. Vào đây, ngoài tiền còn phải đáp ứng một số yêu cầu như là cán bộ có quá trình cống hiến cho nhà nước.

NGƯỜI GIÀ DỰA AI?

Có những nhóm bạn thấy rõ thực tế của cuộc sống xa con sau này, đồng thời cũng sợ hãi sự cô độc và thiếu thốn ở nhà dưỡng lão nên bàn nhau xây dựng các nhóm dưỡng lão gia đình. Chung tiền thuê một ngôi nhà có vườn gần biển hoặc gần núi tùy thích, sống chung với nhau và thuê người chăm sóc. Chi phí tất nhiên là cao, nhưng lúc ấy bán hết tài sản đi để lấy tiền sống những ngày cuối đời thì chẳng cần phải băn khoăn. Đó có lẽ là mô hình tốt nhất.

Hoặc cũng có thể thuê người giúp việc sống với mình, nhưng như vậy sẽ rất buồn bã và cô đơn vì không có bạn bè; các nhu cầu tối quan trọng như dinh dưỡng, y tế cũng không đảm bảo.

Ở Việt Nam không có chế độ phúc lợi thuê người giúp việc chăm sóc người già yếu neo đơn, cho nên chỗ dựa cho người già hầu như chỉ có một cái gậy duy nhất: TIỀN.

Nếu con cháu có hiếu và có đủ điều kiện (thời gian, tiền bạc, tâm trí) để người già sống quây quần cùng con cháu đến cuối đời thì đó là cuộc sống hạnh phúc nhất. Tứ đại đồng đường, cha mẹ con cháu đều được nương tựa vào nhau cả về tinh thần và vật chất.

Có lần trong bệnh viện tôi gặp một đôi vợ chồng già không có con. Ông bệnh, bà vào chăm sóc nhưng chủ yếu động viên tinh thần. Hai cụ già đều trên 80 tuổi không thể chạy đi mua thức ăn hay các việc lặt vặt khác được. Có một anh con trai là cháu của ông bà hàng ngày mua thức ăn vào, nhưng anh cũng không sốt sắng gì lắm, chỉ làm theo trách nhiệm rồi về.

Bà cười nhạt nói với tôi: “Già dựa ai? Dựa tiền. Ai nuôi? Tiền nuôi. Mình có tiền còn sai nó làm được, chớ không thì nó cũng bỏ thôi, con à.”

*

Chúng ta rồi ai cũng già đi, không chừa một ai, rồi ai cũng sẽ đến ngày mắt mờ, tai điếc, chân run và tè dầm ra tã. Bạn đời, bạn bè, đồng nghiệp, người hâm mộ đều đã mất đi hoặc đều run rẩy như ta cả.

Nhưng có ai nghĩ đến điều đó? Khi chúng ta còn trẻ như lũ con cháu bây giờ, chúng ta cũng y như chúng, không có lấy một giây nghĩ rằng sẽ có ngày bản thân già đi.

HUỲNH MAI
05/01/2022

*---------*



Monday, 17 January 2022

Bước đầu tập hành thiền - Hòa thượng Gunaratana

 BƯỚC ĐẦU TẬP HÀNH THIỀN

Hòa thượng Gunaratana (2014)
Bình Anson lược dịch (2022)

Trích: Bhante Gunaratana (2014), Meditation on Perception (Hành thiền quán tưởng).

*

Trong nhiều bài kinh về pháp niệm hơi thở (MN 118, AN 10.60), Đức Phật dạy:

…”Ở đây, vị tỳ-khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến nơi thanh vắng, ngồi xuống, chân xếp chéo, giữ thân thẳng và thiết lập niệm luôn hiện diện. Có niệm vị ấy thở vào, có niệm vị ấy thở ra.

Trong khi thở vào dài, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào dài.’
Trong khi thở ra dài, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở ra dài.’
Trong khi thở vào ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào ngắn.’
Trong khi thở ra ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở ra ngắn.’ …”

Dựa vào những lời dạy đó, chúng ta có thể bắt đầu tập hành thiền như sau:

* ĐI ĐẾN MỘT NƠI YÊN LẶNG. Mặc dù Đức Phật đề nghị một khu rừng, gốc cây hay một nơi thanh vắng, trong hoàn cảnh hiện tại của đa số chúng ta, nơi hành thiền đơn giản là nơi chúng ta có thể ngồi thực hành một mình, tránh xa những bận rộn hằng ngày. Rất khó phát triển định tâm nếu chúng ta ngồi cạnh máy điện thoại di động hay máy tính cá nhân! Để tập trung tâm ý, ta cần phải tránh mọi náo động, bên trong lẫn bên ngoài.

* CHỌN TƯ THẾ NGỒI THOẢI MÁI VÀ VỮNG VÀNG. Đức Phật dạy chúng ta ngồi xuống, chân xếp chéo, giữ lưng thẳng. Tuy nhiên, ngày nay có nhiều người ngồi dưới đất, chân xếp chéo với một cái gối nhỏ kê mông. Cũng có thể ngồi trên ghế, giữ lưng thẳng để hành thiền, hoặc trong những trường hợp bất khả kháng, có thể hành thiền trong tư thế đứng, trong lúc đi, hay khi nằm xuống. Mục đích là giữ thân nhẹ nhàng, thoải mái trong một tư thế nào có thể giúp ta chịu đựng trong một thời gian dài mà không di chuyển hay điều chỉnh.

* CHÚ TÂM VÀO THỜI KHẮC HIỆN TẠI. Như Đức Phật dạy trong đoạn kinh trên, hành giả phải giữ niệm luôn hiện diện, hay giữ niệm trước mặt. Chúng ta thực hành theo lời dạy này bằng cách ghi nhớ rằng quá khứ đã qua rồi, còn tương lai thì chưa đến. Thời khắc thực sự hiện hữu là ở ngay trước mặt, thời khắc của những gì đang xảy ra ngay bây giờ.

* ĐEM TÂM CHÚ Ý VÀO HƠI THỞ, HƠI THỞ ĐI VÀO VÀ ĐI RA. Chọn một điểm duy nhất để ta chú ý vào đó giúp tâm được an định. Thông thường, nơi dễ theo dõi sự chuyển động ra vào của hơi thở là ở chóp mũi, nơi luồng không khí chạm vào ống mũi khi thở vào và thở ra.

* ĐỂ TÂM GHI NHẬN HƠI THỞ CÓ KHI DÀI, CÓ KHI NGẮN. Lời dạy này không có nghĩa là ta phải kiểm soát hơi thở, ép hơi thở vào ra phải là hơi dài hay hơi ngắn. Ở đây, hành giả chỉ đơn thuần ghi nhận hơi thở ra vào tự nhiên, có khi dài, có khi ngắn. Quán niệm hơi thở trong Phật giáo không phải là bài tập thể dục huấn luyện hơi thở. Ở đây, chúng ta dùng hơi thở, lúc nào cũng có mặt với chúng ta, như là một điểm chú tâm để giúp chúng ta phát triển tâm định và niệm.

* NHẸ NHÀNG VÀ NHẤT QUÁN. Thiền là phải thực hành. Không nên mong đợi kết quả nhanh chóng sau một buổi tập đầu tiên, hay ngay cả sau hai, ba, hay mười buổi tập. Nếu có thể, nên chọn thời gian hành thiền mỗi ngày khi vắng lặng, không có những xáo trộn. Nhiều người chọn hành thiền vào buổi sáng sớm, trước khi bận rộn vào những công việc ban ngày, hay vào buổi tối, nếu đó là khoảng thời gian mà họ cảm thấy vẫn còn tỉnh táo, nhanh nhẹn. Thiết lập một thời gian nhất định tại một nơi cố định để hành thiền đều đặn mỗi ngày là một đường lối nhẹ nhàng để khuyến khích và trợ giúp công phu hành thiền của mỗi người.

* LINH ĐỘNG VÀ LẠC QUAN. Điều chỉnh buổi hành thiền để giúp tâm có đủ thời gian để lắng động. Nhiều người thấy rằng dành ra hai mươi đến ba mươi phút mỗi ngày để hành thiền mang đến kết quả tốt, nhưng ngay cả khi hành thiền trong năm hoặc mười phút cũng là điều tốt trong những ngày ta có nhiều việc bận rộn. Ta phải cảm thấy thư giãn và thoải mái khi ngồi theo dõi hơi thở, càng lâu càng tốt. Nhưng không nên xem hành thiền là một công việc lặt vặt hay một sự bó buộc. Cần phải xem đó như là một sinh hoạt tốt, đáng ưa thích để giúp thư giãn và đem niềm vui đến thân và tâm, và từ đó giúp ta tăng trưởng tâm linh.

-- Hòa thượng GUNARATANA (2014)

*-----*



Monday, 20 December 2021

Niệm: Bài thi trắc nghiệm hằng ngày

 NIỆM: BÀI THI TRẮC NGHIỆM HẰNG NGÀY.
 Bình Anson

Cũng như đa số những người lớn tuổi khác, càng già thì mắt mờ, thị lực yếu đi. Đi đâu, làm gì thì cũng cần có cặp kính. Có người cần đến 2 cặp kính để nhìn xa, nhìn gần. Nhất là bây giờ, hầu như người nào cũng có máy điện thoại thông minh bỏ trong túi quần, túi áo để liên lạc, lướt web, trao đổi buôn bán, đọc tin nhắn của bạn bè khắp nơi trên thế giới. Với những dòng chữ tí hon hiển thị trên màn hình điện thoại, hầu như người nào, kể cả các bạn trẻ, đều cần có cặp kính. Đối với những ai bị cận thị và phải đeo kính từ nhỏ thì có lẽ đã quen, không có vấn đề. Nhưng đối với những người chỉ mang kính để đọc sách hay đọc chữ trên màn hình như tôi thì đeo kính là một cực hình. Cảm thấy nặng nề, khó chịu. Nếu không cần thiết thì tôi thường gỡ ra, bỏ xuống. 

Từ đó, nảy sinh vấn đề khác: Thất niệm. Không nhớ mình vừa đặt cặp kính ở đâu, quay đi tìm kiếm. Bệnh này càng ngày càng gia tăng, nhất là trong vài năm qua … Có khi đặt xuống ở một góc bàn làm việc để đứng lên đi làm chuyện gì đó, khi quay trở lại là quên mất, không nhớ vừa để cặp kính ở đâu. Buồn cười nhất là nhiều khi bỏ vào túi áo trước ngực, hay đeo ở trên đầu, đeo vào cổ mà cũng không nhớ, quay đi tìm cặp kính khắp nơi mà không thấy. Mãi một chặp sau mới nhớ là nó ở ngay trên thân mình! 

Chuyện này vừa xảy ra hôm nay: Sáng ngủ dậy tìm cặp kính để đọc tin tức, thông tin trên máy quẹt iPad, mà không thấy nó ở đâu. Tìm khắp nơi ở  những góc nhà, góc bàn quen thuộc mà cũng không thấy. Chán nản, pha một tách café nhâm nhi, ngồi ngẫm nghĩ. Thôi chết rồi! Hôm qua cùng với gia đình cô Hai đi ra ngoài ăn tiệc mừng Giáng sinh với các gia đình láng giềng Úc cùng ở trên một đường phố. Tôi nhớ lại là đã bỏ cặp kính vào túi quần, rồi đi ngủ vì tiệc tàn quá khuya. Sáng nay, thấy bà chủ nhà gom mấy bộ quần áo dơ đem bỏ vào máy giặt! Lật đật đến phòng giặt quần áo xem thử thì máy giặt cũng vừa dừng lại. Moi móc ra thì thấy cặp kính nằm trong đó. Cũng may là không hề gì, không bị hư hại. 

Những chuyện nhỏ nhặt như thế thường xảy ra cho những ai không giữ niệm, không ghi nhớ, không để tâm đến những hành động hằng ngày, nhất là những người lớn tuổi, tâm trí có phần xao lãng. Riêng tôi, một người đang cố gắng tu tập, đó là những bài trắc nghiệm thường xuyên để nhắc nhở mình. Thứ nhất, trí óc mình đang ở trong tiến trình lão hóa, không còn nhanh nhẹn, nhạy bén như xưa. Thứ hai, quan trọng hơn, mình cần phải luyện tập, trau dồi “niệm” – sati, mindfulness. Nghĩa là phải cố gắng để ý, ghi nhớ mỗi mỗi động tác, hành động của mình ngay bây giờ, tại nơi đây. Ở đây chỉ nói về NIỆM, chưa nói gì về CHÁNH NIỆM (samma sati, right mindfulness). Không có niệm thì bàn về chánh niệm là vô nghĩa, vô ích. Đa phần Phật tử chúng ta thích bàn về “chánh niệm” nghe cho có vẻ sang chảnh, mà thật ra, bàn luận lung tung với những thuật ngữ rỗng tuếch, quên đi định nghĩa căn bản, quan trọng mà Đức Phật đã đề cập trong nhiều bài kinh. Chánh niệm phải bao gồm đầy đủ bốn yếu tố là tinh cần, niệm, tỉnh giác, chế ngự tham ưu trên đời. 

Quỹ thời gian ngày càng cạn dần, không nên phung phí vào những chuyện trên trời, dưới đất vô tích sự, không có ý nghĩa thiết thực. Bây giờ, tôi không còn ham hố muốn biết nhiều chuyện trên đời nữa, mà chỉ tập trung vào những chuyện thực tế có lợi cho quãng đời còn lại và cho đời sau. Một trong những chuyện đó là cố gắng giữ “niệm” trong mọi hành động, hay nói theo ông bà mình thường hay nhắc nhở: “Làm việc gì cũng phải có ý, có tứ.” 

­-- Một chiều cuối năm 2021,
Bình Anson
Redlynch, Cairns, Queensland, Australia

*



 

 

 

Saturday, 11 December 2021

Tóm tắt kinh Hạnh Phúc (kinh Điềm Lành - Mangala Sutta, Sn 2.4, Khp 5)

Tóm tắt kinh Hạnh Phúc
(kinh Điềm Lành - Mangala Sutta, Sn 2.4, Khp 5)

Lộ trình tu tập

1) Không gần kẻ ngu si,
Thân cận người hiền trí,
Cúng dường bậc xứng đáng,
Là điềm lành tối thượng

Đầu tiên là 3 điềm lành: tránh xa kẻ ngu (bāla, fool, ignorant), thân cận người hiền trí, thiện tri thức (pandita), cúng dường (pūjā) những bậc xứng đáng để được cúng dường. Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Người ngu ở đây là người không biết phân biệt thiện ác và có khuynh hướng theo các điều xấu ác. Bậc trí hiền là những người có đạo đức, tinh cần học và hành trong giáo pháp. Tôn kính và dâng tặng phẩm vật đến các bậc tôn túc, phẩm hạnh thanh cao là một điều quý nên làm.

2) Ở trú xứ thích hợp,
Quá khứ tạo nhân lành,
Hướng tâm theo lẽ chánh,
Là điềm lành tối thượng

Có 3 điềm lành:

- Trú xứ (desa) thích hợp (patirūpa) là những nơi có môi trường văn hóa xã hội tốt cho sự tu tập. Ở bầu thì dài, ở ống thì tròn. Chúng ta thường bị tác động bởi hoàn cảnh xã hội. Ở những nơi chỉ chuộng hình thức hào nhoáng bên ngoài, hưởng thụ vật chất, chạy theo nhu cầu dục lạc, lễ nghi rườm rà, chuộng các lời hoa mỹ rỗng tuếch thì cũng khó tu tập.

- Nếu trong quá khứ của đời này, hay trong các đời trước, đã tạo các công đức (katapuññatā), nay, quả phước lành sẽ được gặt hái trong hiện tại. Đây là một điềm lành. Bằng không, hãy nỗ lực làm việc thiện, để tạo nhân lành cho tương lai.

- Một điềm lành khác là tâm ta có định hướng chân chánh, đúng đắn (sammāpanidhi), hiệp theo lẽ đạo. Đây là điều quan trọng, phải có tác ý đúng.

3) Học nhiều, nghề nghiệp giỏi,
Giới luật biết tu tập,
Có những lời khéo nói,
Là điềm lành tối thượng

Có 4 điềm lành ở đây: được học và có nhiều hiểu biết (bāhu-saccam) , có nghề nghiệp tốt (sippam), biết hành trì các nguyên tắc giới luật đạo đức (vinayo), và biết dùng ngôn từ hòa ái, chân thật.

4) Hiếu dưỡng mẹ và cha,
Biết nuôi nấng vợ con.
Việc làm không xung khắc,
Là điềm lành tối thượng

Có 3 điềm lành: phụng dưỡng cha mẹ (mātāpitu), nuôi nấng gia đình (puttadārassa), có công việc làm không gây xung đột (anākulā) với người khác.

5) Bố thí, hành đúng pháp,
Giúp quyến thuộc họ hàng,
Hành xử không tỳ vết,
Là điềm lành tối thượng

Có 4 điềm lành: có lòng bố thí rộng rãi (dānā), có phẩm hạnh trong sạch theo giáo pháp (dhammacariyā), biết giúp đỡ bà con họ hàng (ñātakā), có những hành động giao tiếp trong sạch, không bị chê trách (anavajjā).

6) Ghê sợ, tránh điều ác
Không nghiện ngập rượu chè,
Tinh tấn hành thiện pháp,
Là điềm lành tối thượng

Có 4 điềm lành: biết ghê sợ (āratī) tội lỗi, biết tránh xa (viratī) tội lỗi (viratī pāpā), không rượu chè say sưa làm u mê (majjapānā), tinh tấn (appamādo) làm các điều lành, thiện pháp (dhammesu).

7) Sống lễ độ, khiêm cung,
Tri túc và tri ân,
Đúng thời, nghe giảng Pháp,
Là điềm lành tối thượng.

Có 5 điềm lành: thái độ lễ phép có văn hóa (gāravo), tính khiêm hạ (nivāto), biết sống đủ, tri túc (santutthī), biết nhớ ơn, tri ân (kataññutā), và biết đến nghe Pháp (dhammassavanam) đúng thời, đúng lúc (kālena).

8) Kham nhẫn, biết phục thiện,
Thường đến gặp Sa-môn,
Ðúng thời, đàm luận Pháp,
Là điềm lành tối thượng

Có 4 điềm lành: biết kiên nhẫn (khantī) và chịu đựng, biết phục thiện dễ dạy (sovacassatā), thường thân cận các bậc tu hành (samana), và đàm luận, trao đổi học Pháp (dhammasākacchā).

9) Tự chế, sống phạm hạnh,
Thấy chân lý nhiệm mầu.
Thực chứng quả Niết Bàn
Là điềm lành tối thượng

Có 4 điềm lành: sống tinh cần tự chế (tapo), sống đời sống phạm hạnh (brahmacariya), thẩm thấu chân lý nhiệm mầu (ariyasaccā) – tức là tứ thánh đế, thực chứng Niết bàn (nibbāna sacchikiriyā).

10) Khi xúc chạm việc đời,
Tâm không động, không sầu,
An nhiên, không uế não,
Là điềm lành tối thượng

Có 4 điềm lành: Tâm bất động, không lay chuyển khi bị gió đời hay pháp thế gian (lokadhamma) – khen chê, được mất, vinh nhục, buồn vui – thổi đến. Ba điềm lành khác: không còn sầu não (asoka), sống an nhiên (khema), không còn uế nhiễm (virajam).

Kết luận:
11) Ai sống được như thế,
Đến đâu không thối thất,
Đến đâu cũng an toàn,
Những điềm lành tối thượng.

Được như thế là đã nhập dòng thánh giải thoát. Khi ấy, cho dù sống trong dòng đời, đi đến đâu cũng không bao giờ bị tham sân si đánh bại (sabbattha aparājitā), đi đến đâu cũng bình an tự tại, an toàn (sabbattha sotthim gacchanti). Đó là điềm lành cao quý nhất.

– Bình Anson,
Perth, Tây Úc
16/04/2017

* * *



Friday, 10 December 2021

Nên đọc kinh như thế nào? Bhante Sujato

NÊN ĐỌC KINH NHƯ THẾ NÀO? 
How to Read the Suttas

Bhante Sujato
Nhóm Phật tử Bắc Mỹ dịch Việt

Từ những ngày mới bắt đầu thực hành Phật Pháp, tôi đã thấy các bộ kinh Phật là nơi nương tựa tuyệt vời. Nơi ấy có biết bao điều uyên thâm, kỳ diệu – thật là một kho tàng vô tận về Giáo Pháp. Tôi muốn khuyến khích mọi Phật tử nên hàng ngày mở kinh ra đọc, hay ít nhất là hàng tuần.

Kinh Phật không có sức lôi cuốn tức khắc. Trái lại, thường lập đi lập lại, và có thể không có gì hấp dẫn. Nhưng cái hay đẹp của kinh rất tinh tế. Nó tiềm ẩn trong sự quân bình, trong cách cấu trúc rõ ràng, trong sự hợp lý, trong bản chất thanh tịnh và trí tuệ của Đức Phật trước mọi tình huống có thể tưởng tượng được.

Tốt nhất là nên đọc mỗi lần một ít. Mỗi lần đọc kinh thì nên đọc một đoạn kinh dài trung bình là lý tưởng nhất. Đọc từ từ, cẩn trọng. Để ý xem có chỗ nào mình không hiểu – và cẩn thận xem xét lại cả những chỗ mình nghĩ là mình đã hiểu. Đọc xong rồi nên kiểm lại với những chú thích cuối trang hay những hướng dẫn khác để thông hiểu . Tránh không phân tích quá chi li – hãy cố gắng thâm nhập trọn vẹn cốt lõi của lời kinh. Nếu chúng ta đọc kinh trước khi ngồi thiền, nó có thể giúp ta hứng khởi, tâm tư trong sáng, ý nghĩa trong kinh sẽ rõ ràng hơn.

Nên nhớ là chúng ta đang đọc bản dịch. Đừng vướng mắc, bận tâm vào những thuật ngữ này nọ – đó chỉ là sự chọn lựa chữ dùng của dịch giả. Nên tập làm quen, mỗi lần một chữ, với các từ Pali hay Sanskrit vốn là nền tảng của lời Phật dạy. Lại càng nên đề phòng thói quen hay diễn giải quá lố từng chữ một: ý nghĩa đích thực của bài kinh thoát ra từ ngữ cảnh và kinh nghiệm, không phải nơi từ ngữ chuyên khoa.

Lắng nghe những cảm xúc của chính mình: điều gì cho mình cảm hứng, điều gì thấy nhàm chán, điều gì mơ hồ, không rõ. Cái phản ứng đó là của bạn, không phải là từ bài kinh.

Hãy coi chừng cái tâm có thói hay phê phán lời người khác. Mặc dù chính tôi tin rằng việc học hỏi, nghiên cứu, phê bình lời kinh là việc quan trọng, đây là sau nhiều năm nghiên cứu và tu tập. Cần phải có thời gian mới thấm được ý nghĩa. Nên thương yêu, quý mến lời kinh. Đọc với lòng nâng niu, trìu mến, như là ta đang lắng nghe người bạn thiết tha trò chuyện. Lời lẽ trong kinh được hình thành từ truyền thống truyền khẩu, xảy ra từ một thuở đã xa xưa, ở một nơi xa xôi lắm. Nó còn được lưu truyền đến ngày nay đã là một phép lạ, vì thế chúng ta không nên nản lòng cho dù đôi khi cách diễn đạt có vẻ xa lạ với chúng ta.

Một điều nữa có lẽ còn nguy hại hơn, đó là ý muốn hiểu kinh theo nghĩa đen hay cứ chấp chặt theo một cách giảng giải riêng biệt nào đó. Trong kinh Phật cũng có một chữ để chỉ thái độ ấy: idasaccabhinivesa – khăng khăng cho rằng “chỉ điều này mới là sự thật”. Lời kinh nào cũng có thể có nhiều cách giảng khác nhau, đặt trọng tâm vào những chỗ khác nhau. Rất dễ thấy trường hơp các vị sư hiện thời, hay các trường phái truyền thống giảng dạy những điều khác biệt với kinh tạng. Điều không dễ gì hiểu được, nhưng rất đáng quan tâm, là những sự đổi thay ấy do đâu mà có, và những khía cạnh nào của giáo pháp có thể bị ảnh hưởng đến. 

Nếu bạn hoang mang, hãy nhớ đến tinh thần bình thản mà kinh Phật vẫn nhắc đến: “Không chấp nhận, cũng không chối từ, tôi sẽ tìm hiểu ý nghĩa…” Trong đạo Phật, chúng ta không nhất thiết phải hoàn toàn tin vào từng chi tiết của kinh điển; nhưng nếu ai đọc kinh với thái độ bới lông tìm vết, thì người ấy sẽ chẳng bao giờ thực sự hiểu được.

Ở bất cứ khía cạnh nào của Pháp – dù là thiền, là triết lý, là đạo đức, luân lý, là những câu chuyện đầy cảm hứng – không gì sánh được với những trải nghiệm của chính bản thân. Hãy thử sống theo lời dạy trong kinh rồi xem nó ảnh hưởng như thế nào đến cuộc đời bạn. Hãy quán niệm về nó. Tôi đã làm điều ấy 18 năm, và chưa lần nào bị thất vọng. Lỗi lầm gì của tôi, tất cả đều xảy ra do tôi không sống được đúng theo Pháp, chứ chẳng khi nào là do sai lầm của Pháp. 

Một nhóm Phật Tử Bắc Mỹ chuyển dịch

---------------------------- 

How to Read the Suttas
Bhante Sujato

https://discourse.suttacentral.net/t/how-to-read-the-suttas/6676

Since I started practicing Buddhism, I have found the Suttas to be an invaluable refuge. There is so much wisdom, so many amazing things – they are an inexhaustible trove of Dhamma. I encourage all Buddhists the have the habit of daily, or at least weekly, reading the Suttas.

The Suttas are not immediately striking. They are often repetitive, and can be mundane. But their beauty is a subtle thing. It lies in the balance, the sense of form, the reasonableness, the Buddha’s serenity and wisdom in every imaginable situation. 

It’s best to read them a little at a time. One middle-length Sutta is ideal for one session. Read it slowly, carefully. Notice if there are things that you don’t understand—and beware of what you think you already understand. When you have finished, check any footnotes or other guides to comprehension. Don’t get too analytic about it—try to soak in the whole essence of the teaching. If you read a Sutta before meditation, it can uplift and inspire your mind, and the meaning becomes clear.

Remember you are reading a translation. Don’t get hung up on the specific connotations of terminology—that’s just the choices of the translator. Become familiar, one word at a time, with the Pali/Sanskrit terms that underlie all Buddhist teachings. But beware of over-interpreting individual words: the true meaning of a spiritual text emerges from context and experience, not from etymology.

Notice your own response to the text: what is inspiring, what is boring, what is dubious. Your responses belong to you, not the text.

Beware of the mind that wants to criticize the text. Even though I myself believe in the importance of text-critical studies, this is after many years of study and reflection. It takes time to get a sense for these things. Have compassion for the text. Read it kindly, as if you were listening to a beloved friend. It was composed in an oral tradition in a far off time and place. It is a miracle that it exists at all, and we should not be put off if some of the modes of expression are alien to us.

Perhaps a bigger problem is the desire to literalize or insist on a particular reading. The Suttas have a word for this: idasaccabhinivesa—the insistence that “this alone is the truth”. Any text is open to different readings and emphases. It is easy enough to find cases where modern teachers or traditional schools teach things that differ from the Suttas. It is not so easy, but far more valuable, to understand why these changes came to be made, and to understand what aspect of Dhamma is at stake.

If you are in doubt, remember the poised attitude that the Suttas themselves speak of: “Neither accepting nor rejecting, I will inquire about the meaning…”. In Buddhism, we are not expected to believe literally every detail of the scriptures; but if we read them with a fault-finding mind, we will never really get it.

Whatever aspect of Dhamma—whether meditation, philosophy, ethics, or inspiring stories—there’s nothing like the real thing. Take the text, and live it. Try it out and see what it does in your life. Meditate on it. I’ve been doing this for 18 years now, and I’ve never been let down. Whatever faults I have, they’re all because of my failing to live up to the Dhamma, not because of the Dhamma itself.

-----------



Thursday, 9 December 2021

Chuyện thiền: Gia đình lên núi

 Chuyện thiền: Gia đình lên núi

Trưa hôm nay tôi đến chùa tham dự buổi thiền do ngài Ajahn Brahm hướng dẫn, từ 3.00 đến 4:00 giờ. Cảm thấy nhẹ nhàng an vui.

Trước khi bắt đầu hành thiền, ngài kể một câu chuyện vui. Người ta thường thắc mắc về lối dạy hành thiền của ngài là theo pháp hành thiền Samatha (An chỉ) hay Vipassana (Minh quán), ngài trả lời là phương cách hành thiền của ngài giống như chuyện cặp vợ chồng cùng nhau lên núi chơi, dắt theo hai con chó.

Người chồng có tên là Sâm (Samatha, an chỉ), người vợ có tên là Vi (Vipassana, minh quán), hai con chó có tên là Na (Anapanasati, niệm hơi thở) dẫn đường đi trước và Mít (Metta, niệm tâm từ) đi theo sau. Anh Sâm muốn lên núi để hưởng không khí an lành thanh vắng. Chị Vi muốn lên đó để ngắm cảnh đẹp. Thật ra, Sư dùng tên Úc nhưng tôi đổi thành tên Việt cho dễ nhớ.

Khi leo đến lưng chừng núi, con Na biến mất, chỉ còn con Mít chạy loanh quanh. Anh Sâm bắt đầu cảm thấy được sự yên tĩnh của núi rừng. Chị Vi bắt đầu thấy được vẻ đẹp của thiên nhiên. Hai vợ chồng rất phấn khởi, tiếp tục leo núi. 

Tiếp tục như thế cho đến khi lên đến đỉnh núi. Trời trong xanh, vắng lặng. Nhìn toàn cảnh bao la, màu sắc đẹp tuyệt vời. Anh Sâm thưởng thức thêm được vẻ đẹp của thiên nhiên và chị Vi thấy thêm được sự mầu nhiệm của không gian vắng lặng. Còn con Mít không chạy loanh quanh nữa, nằm yên dưới chân của hai vợ chồng. Không ai để ý, bận tâm đến con Na.

Câu chuyện ngắn gọn như thế nhưng đầy đủ ý nghĩa. Những ai thật sự hành thiền và có kinh nghiệm thực tế thì chắc là đã hiểu và cảm thông.   

*



Sunday, 21 November 2021

Sách: VÌ SAO TIN PHẬT - Hòa thượng K. S. Dhammananda Hòa thượng Thích Tâm Quang dịch.

Sách:

VÌ SAO TIN PHẬT
Hòa thượng K. S. Dhammananda
Hòa thượng Thích Tâm Quang dịch. 
(What Buddhists Believe) 

Tải về bản song ngữ Việt-Anh, dạng ebook PDF tại:
=> https://budsas.net/sach/vn212.pdf

* MỤC LỤC

PHẦN I: ĐỜI SỐNG VÀ THÔNG ĐIỆP CỦA ĐỨC PHẬT
CHƯƠNG 1: ĐỜI SỐNG VÀ THÔNG ĐIỆP
CHƯƠNG 2: THÔNG ĐIỆP CỦA ĐỨC PHẬT
CHƯƠNG 3: SAU KHI ĐỨC PHẬT NHẬP DIỆT

PHẦN II: PHẬT GIÁO: CỐT TỦY - SO SÁNH
CHƯƠNG 4: CHÂN LÝ BẤT DIỆT CỦA ĐỨC PHẬT
CHƯƠNG 5: HỌC THUYẾT CĂN BẢN
CHƯƠNG 6: ĐẠO PHẬT SO VỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT KHÁC

PHẦN III: SỐNG THEO CHÁNH PHÁP
CHƯƠNG 7: NỀN TẢNG ĐẠO ĐỨC CHO NHÂN LOẠI
CHƯƠNG 8: GIỚI HẠNH VÀ SỰ TU TẬP
CHƯƠNG 9: PHÁP VÀ NƠI NUƠNG TỰA
CHƯƠNG 10: CẦU NGUYỆN, THIỀN ĐỊNH VÀ TU TẬP

PHẦN IV: ĐỜI SỐNG TRONG XÃ HỘI
CHƯƠNG 11: ĐỜI SỐNG VÀ VĂN HÓA
CHƯƠNG 12: HÔN NHÂN, HẠN CHẾ SANH ĐẺ, VÀ CÁI CHẾT

PHẦN V: MỘT TÔN GIÁO CHO SỰ TIẾN BỘ THỰC SỰ CHO NHÂN LOẠI
CHƯƠNG 13: BẢN CHẤT, GIÁ TRỊ VÀ VIỆC LỰA CHỌN NIỀM TIN
CHƯƠNG 14: NGƯỜI ĐỀ XƯỚNG NỀN VĂN HÓA NHÂN BẢN
CHƯƠNG 15: CHIẾN TRANH VÀ HÒA BÌNH

PHẦN VI: THẾ GIỚI NẦY VÀ CÁC THẾ GIỚI KHÁC
CHƯƠNG 16: CÁC CẢNH GIỚI
CHƯƠNG 17: BÓI TOÁN VÀ MỘNG MỊ

*----------*



Saturday, 20 November 2021

Sách: Các dịch phẩm của Hòa thượng THÍCH TÂM QUANG (1924-2019)

Các dịch phẩm của Hòa thượng THÍCH TÂM QUANG (1924-2019)
Chùa Tam Bảo, Fresno, California, USA


1) K. S. Dhammananda, Thích Tâm Quang dịch. Khó khăn và trách nhiệm. 
(Problems and Responsibilities)
https://budsas.net/sach/vn207.pdf (Việt-Anh)

2) K. S. Dhammananda, Thích Tâm Quang dịch. Làm sao thực hành lời Phật dạy?  
(How to Practise Buddha's Teachings)
https://budsas.net/sach/vn208.pdf  (Việt-Anh)

3) K. S. Dhammananda, Thích Tâm Quang dịch. Mục đích và đường lối sống. 
(The Aim and Way of Life)
https://budsas.net/sach/vn209.pdf  (Việt-Anh)

4) Thích Tâm Quang dịch. Những chuyện luân hồi hiện đại. 
https://budsas.net/sach/vn210.pdf

5) Thích Tâm Quang dịch. Những hạt ngọc trí tuệ Phật giáo. 
(Gems of Buddhist Wisdom)
https://budsas.net/sach/vn211.pdf

6) Peter D. Santina (1984), Thích Tâm Quang dịch (2010). Nền tảng của đạo Phật. 
(Fundamentals of Buddhism)  
https://budsas.net/sach/vn122.pdf   (Việt-Anh)

7) Peter D. Santina (1997), Thích Tâm Quang dịch (2002). Cây Giác ngộ. 
(The Tree of Enlightenment)
https://budsas.net/sach/vn124.pdf  (Việt-Anh)

8) K. S. Dhammananda (1989), Thích Tâm Quang dịch (1997). Chết có thật đáng sợ không? 
(Is death really frightening?)
https://budsas.net/sach/vn125.pdf  (Việt-Anh)

9) K. S. Dhammananda (1989), Thích Tâm Quang dịch (1997). Các nghi thức thông thường trong đời sống. 
(The Buddhist Way)
https://budsas.net/sach/vn126.pdf   (Việt-Anh)

10) Bhikkhu Visuddhacara (1993), Thích Tâm Quang dịch (2004). Chết trong an bình. 
https://budsas.net/sach/vn127.pdf

Bản Anh ngữ: Loving and Dying.
https://budsas.net/sach/vn127_eng.pdf 

11) K. S. Dhammananda, Thích Tâm Quang dịch. Vì sao tin Phật.  
(What Buddhists Believe) 

*



Friday, 19 November 2021

Sách: Mục lục Tam tạng Đại Chánh (Đại Chánh Tân tu Đại tạng kinh). Thích Nhật Từ (2021)

 Sách:

Mục lục Tam tạng Đại Chánh
(Đại Chánh Tân tu Đại tạng kinh)
Thích Nhật Từ (2021)

Link để tải bản ebook PDF (20.8 MB):

1) https://tinyurl.com/h2r2fnyb

2) https://mega.nz/file/nhZzTCIZ#h7-2GnMYHsJWh4GI6YW5rD7O1qFef6ePFtVds-8HF8I

*




Sách: Sổ tay Mục lục Tam tạng Pali. Thích Nhật Từ (2021)

 Sách:

Sổ tay Mục lục Tam tạng Pali
Thích Nhật Từ (2021)

.... Quyển “Sổ tay mục lục Tam tạng Pāḷi” được biên soạn với mục đích giúp sinh viên khoa Phật học và người học Phật làm quen với văn học Pāḷi gồm Tam tạng, chú thích, sớ giải và văn học Pāḷi ngoài Tam tạng và các tác phẩm Pāḷi chưa phân loại. Hy vọng quyển sổ tay này giúp độc giả có thêm nềm vui thích trong việc học Phật, nghiền ngẫm chân lý Phật và thực hành chân lý Phật trong cuộc sống, nhằm đặt xuống gánh nặng khổ đau, trải nghiệm an vui, hạnh phúc trong đời.

- Chùa Giác Ngộ, ngày 11/11/2021,
THÍCH NHẬT TỪ.

Link để tải bản ebook PDF (9.6 MB):

1) https://tinyurl.com/23drdcne

2) https://mega.nz/file/WophmahR#qLZ7zcy5-sn1HklB64ThRakbBm53JWYgWIgLBUJSIac


*





Monday, 15 November 2021

Sách: TIN VÀO TRÁI TIM - Tỳ-khưu Thanissaro, Chân Giải Nghiêm dịch (2009)

 Sách:

TIN VÀO TRÁI TIM 
Tỳ-khưu Thanissaro,
Chân Giải Nghiêm dịch (2009)
Bình Anson hiệu đính và trình bày

Tải về bản ebook PDF, song ngữ Việt-Anh tại:
=> https://tinyurl.com/5n6arrne

MỤC LỤC 

01. Niết-bàn
02. Vô minh 
03. Giáo lý Vô thường 
04. Không có ngã hay Không phải ngã 
05. Pháp môn Không phải ngã 
06. Định nghĩa của Niệm 
07. Giáo dục lòng Từ Bi 
08. Tin vào Trái Tim: Giáo lý về Saṁvega & Pasāda 
09. Làm sao để hiểu tâm mình? 
10. Hoà Giải, Phải & Trái 
11. Gốc rễ của chủ nghĩa Lãng mạn Phật giáo

*

AFFIRMING THE TRUTHS OF THE HEART - BUDDHIST ESSAYS 
by Thanissaro Bhikkhu

CONTENTS

01. The Image of Nirvāṇa 
02. Ignorance
03. All About Change 
04. No-self or Not-self? 
05. The Not-self Strategy
06. Mindfulness Defined 
07. Educating Compassion 
08. Affirming the Truths of the Heart: The Buddhist Teachings on Saṁvega & Pasāda
09. How to Read Your Own Mind 
10. Reconciliation, Right & Wrong 
11. The Roots of Buddhist Romanticism

*-----*



Friday, 12 November 2021

Sách của Bình Anson, viết và dịch, dạng ebook PDF

 Sách của Bình Anson, viết và dịch, dạng ebook PDF đã được đưa vào trang web:
(cập nhật: 19/01/2024)

1) Căn bản hành thiền (2020)
https://tinyurl.com/2dj4x66w

2) Những lời Phật dạy (2016, 2023)
https://tinyurl.com/ju2p7k4p 

3) Lợi ích của thiền hành (1997, 2016)
https://tinyurl.com/3wa7zt9v   

4) Vì sao tôi theo Đạo Phật? (2020)
https://tinyurl.com/2p9h9wsc   

5) Mười pháp quán tưởng (2023)
https://tinyurl.com/44c6x79e 

6) Về quả vị Dự Lưu (2022)
https://tinyurl.com/y42y6zmy  

7) Căn bản Phật giáo (2005, 2020)
https://tinyurl.com/cvwndmd7   

8 ) Bốn bài thiền tập căn bản (2020)
https://tinyurl.com/2p7nf2sp   

9) Thương yêu là thông cảm (2005)
https://tinyurl.com/3vhcz3a3   

10) An bình tĩnh lặng (2005, 2013)
https://tinyurl.com/5n6u2kdy   

11) Giới thiệu Đạo Phật (2007)
https://tinyurl.com/46cn5pk2   

12) Phật pháp vấn đáp (2007, 2020)
https://tinyurl.com/4n9jz56j   

13) Lý thuyết và thực tế (2008, 2023)
https://tinyurl.com/2p9kucn9 

14) Tỉnh thức đối diện với bệnh tật và cái chết (2025)  
https://tinyurl.com/2h8xthh3

* Cập nhật (19/01/2024): 
Tôi đã kết hợp các tập sách trên và nén lại trong một tập tin dạng ZIP, dung lượng 25 MB. Có thể tải về máy một lần rồi giải nén. Link: 
http://tinyurl.com/2xw3kzy3 

*

*-----*









Sách: GIỚI THIỆU ĐẠO PHẬT - Bình Anson (2008)

 Sách:

GIỚI THIỆU ĐẠO PHẬT
Bình Anson (2008)

Tải về bản ebook dạng PDF tại link:
=> https://budsas.net/sach/vn201.pdf

MỤC LỤC

1. Giới thiệu đạo Phật
2. Cuộc đời Ðức Phật
3. Tam tạng kinh điển
4. Mahayana và Theravada: Cùng một cỗ xe
5. Đạo Phật Nguyên thủy tại Việt Nam
6. Ðạo Phật và chính trị
7. Nhân cách thăng bằng
8. Công dụng của giới đức 
9. Lòng hiếu thảo trong kinh điển Pali 
10. Duy thức trong Thắng Pháp
11. Chánh Niệm và Niết Bàn
12. Vô ngã và pháp hành thiền 
13. Mọi pháp đều vô ngã 
14. Ðạo và Quả 
15. Năm triền cái 
16. Tứ Niệm Xứ: Bốn nền tảng của Chánh Niệm 
17. Quán niệm hơi thở
18. Lợi ích của thiền hành 
19. Ba bài pháp về Thiền Quán 
20. So sánh tóm tắt các bộ Luật Tỳ-khưu
21. Quy ước trích dẫn kinh điển Nguyên thủy

*


Thursday, 11 November 2021

Sách: AN BÌNH TĨNH LẶNG - Bình Anson (2005)

 Sách:

AN BÌNH TĨNH LẶNG
Bình Anson (2005)

Tải về bản ebook PDF tại link:
=> https://budsas.net/sach/vn200.pdf

MỤC LỤC

01. Ba nơi nương tựa 
02. Năm học giới 
03. Lời khuyên thực tế  
04. Bước đầu hành thiền 

05. An bình không lay chuyển  
(Ajahn Chah, Thiện Nhựt dịch, Bình Anson hiệu đính)

... Lý thuyết và thực tế.
... Giới, Định, Tuệ.
... Các nguy cơ của chấp thủ.
... An bình không lay chuyển.
... Quyền năng của Định lực.
... Tu tập một cách tự nhiên.
... Thay đổi cách nhìn.
... Đi theo Trung đạo.

... Dốc lòng tu tập.
... Tôn trọng truyền thống.
... Trau dồi pháp hành thiền.

... Đối chiếu thuật ngữ

*


Wednesday, 10 November 2021

Sách: THƯƠNG YÊU LÀ THÔNG CẢM - Bình Anson (2005).

 Sách:

THƯƠNG YÊU LÀ THÔNG CẢM 
Mười bài viết ngắn
Bình Anson (2005)

Tải về bản ebook, dạng PDF:
=> https://budsas.net/sach/vn199.pdf

MỤC LỤC

01. Thương yêu là thông cảm
02. Trăng tròn tháng Giêng
03. Bốn sự thật cao quý
04. Ba giới, sáu đường
05. Bảy giai đoạn thanh tịnh
06. Năm chướng ngại
07. Duyên sinh
08. Nhập dòng giải thoát
09. Tản mạn về chữ Chánh
10. Thân bệnh, tâm an

*



Wednesday, 20 October 2021

Sách: BA NGÀY LUẬN ĐẠO. Maha ThongKham Medhivongs (1963)

 Sách:

BA NGÀY LUẬN ĐẠO
Maha ThongKham Medhivongs (1963, 2021)

Tải bản ebook PDF tại:

=> https://budsas.net/sach/vn197.pdf

*



Saturday, 16 October 2021

Những dấu chân trên con đường nhiệm màu đến Phật quả - Nā Uyane Ariyadhamma Mahāthera

Sách:

Những dấu chân trên con đường nhiệm màu đến Phật quả - Tự truyện
Hòa thượng NĀ UYANE ARIYADHAMMA MAHĀTHERA (Sri Lanka)

Bản tiếng Anh: 
Footprints on the wonderful path to Buddhahood – An autobiography

Tải về bản tiếng Việt, dạng PDF:
https://budsas.net/sach/vn196-viet.pdf

Tải về bản tiếng Anh, dạng PDF:
https://budsas.net/sach/vn196-eng.pdf

*-----*



Sunday, 3 October 2021

Thái độ con ẾCH

 Thái độ con ẾCH

Sáng nay bỗng nhiên nghĩ đến hai câu chuyện con ếch mà chắc ai cũng biết:

1) Ếch ngồi đáy giếng: Thu thập ba mớ kiến thức đâu đó, đọc vài ba cuốn sách nào đó, có được một vài kinh nghiệm hành thiền nào đó rồi cho là đã đầy đủ, là chân lý, là chân đế thâm sâu, không cần phải học thêm, không cần phải lắng nghe người khác nữa.

2) Ếch muốn to như bò: Học và hành chẳng đến đâu mà lại thích ba hoa chích chòe, nói năng chỉ dạy người khác như thể đã đắc đạo.

Nghĩ như thế để tự nhắc nhở mình rằng con đường tu học còn dài, cần phải nỗ lực hơn nữa, tránh thái độ tự mãn, chủ quan, kiêu mạn và thành kiến hẹp hòi.

- Bình Anson
Perth, tháng 10-2017.

*


Monday, 20 September 2021

Chỉ nhiêu đó thôi (2)

 CHỈ NHIÊU ĐÓ THÔI (2)

Ở nhà một mình mà không thấy buồn. Mỗi sáng tụng kinh, rồi ngồi hành thiền. Không khí vắng lặng. Hàng xóm còn ngủ, hoặc đã đi làm việc, đi học. Thỉnh thoảng chỉ nghe vài tiếng động của xe hơi chạy ngang qua. Ngồi đó theo dõi hơi thở. Thở vào, niệm “Chết, chết, chết, chết…”, thở ra, niệm “B… u… ô… n… g…”. Tự nhắc nhở mạng sống của mình chỉ kéo dài bằng một hơi thở. Chú tâm vào từng hơi thở, vì có thể đó là hơi thở cuối cùng của đời minh. Buông bỏ mọi chuyện lăng xăng lộn xộn khác.

Nếu tâm chạy lang thang thì nhẹ nhàng kéo nó về hiện tại, nơi đây. Bây giờ cơ thể đã suy yếu trong tuổi già, lúc nào cũng có đau nhức nơi thân – khi thì ở bụng, khi thì ở trong răng, ở các bắp thịt, khớp xương. Lúc ngồi thiền là lúc các cảm giác ấy hiện ra rõ nhất. Đây là đề mục để theo dõi rất rõ, rất tốt. Đau chỉ là đau, khi lên khi xuống, khi nặng khi nhẹ. Lặng lẽ quán sát, ghi nhận mà không phản ứng.

Cứ như thế mà thời gian buổi thiền trôi qua rất nhanh. Rồi chuyển sang niệm tâm Từ. Mở lòng thương yêu phủ trùm toàn thân, từ đầu đến chân, nhẹ nhàng, thong thả, ấm áp, thư giãn. Rồi hướng đến những người khác – từ gần đến xa, từ thân yêu đến xa lạ, rồi đến tất cả các chúng sinh khác trên toàn thế giới. Nguyện cho tất cả đều an bình, hạnh phúc. Cuối cùng quay trở lại tấm thân ngũ uẩn này – điểm đầu tiên mà cũng là điểm cuối cùng. Rồi xả thiền. Ngước nhìn lên bàn Phật, tạ ơn Ngài. Đọc lên lời phát nguyện chỉ nương nhờ nơi Tam Bảo, không nương nhờ gì khác. Lễ ba lạy rồi đứng lên đi làm các công việc khác.

Chỉ vậy thôi. Không cần phải suy luận phân tích xa xôi, không cần phải đánh giá lượng định công phu của mình đã đến mức nào. Chỉ cảm thấy nhẹ nhàng, an vui là đủ. Sau mấy chục năm, tôi chỉ thực hành được có bấy nhiêu đó thôi. Hạnh phúc là ở tại nơi đây, ngay trong lúc này. Không cần phải tìm kiếm đâu xa, mà cũng không cần phải háo hức tìm gặp một cá nhân hay một đạo sư nào khác.

*



Lần đầu tiên tôi đọc Trung bộ kinh

 Lần đầu tiên tôi đọc TRUNG BỘ KINH
The Middle Length Sayings, I. B. Horner trans., Pali Text Society

Như đã trình bày trong một bài viết ngắn ("Tôi Đã Đến Với Phật Giáo Theravada Như Thế Nào?") tôi bắt đầu đến với truyền thống Theravāda vào năm 1979 tại Perth, Tây Úc và bắt đầu tìm đọc các cuốn sách cơ bản về Đạo Phật bằng tiếng Anh trong tủ sách của Hội Phật giáo Tây Úc.

Lúc ấy tôi còn là một nghiên cứu sinh trong chương trình tiến sĩ, khoa Môi trường, tại Đại học Murdoch. Một ngày nọ vào khoảng giữa năm 1980, tôi vào thư viện trong lúc nghỉ trưa để tìm đọc sách báo. Lang thang trong thư viện, nhìn hết kệ sách này sang kệ sách khác, không hiểu vì sao tôi lại đến các kệ sách dành cho khoa Á châu học (Asian Studies). Có đủ loại sách về châu Á, với các chủ đề văn minh, lịch sử, văn hóa, chính trị, xã hội, tôn giáo, … Trên kệ sách về tôn giáo, tôi thấy có các bộ sách tiếng Anh do hội Pali Text Society dịch và xuất bản, trong đó có bộ kinh Trung Bộ gồm 3 tập, do bà I.B. Horner dịch từ bản gốc Pali. Tò mò, tôi mở ra xem phần giới thiệu. Cảm thấy thích thú, tôi quyết định sẽ đọc bộ này.

Từ đó, trong suốt sáu tháng, trưa nào tôi cũng đến thư viện để đọc Trung Bộ, vì đây là sách tham khảo, phải đọc tại chỗ, không được mượn đem về nhà. Mò mẫm tự đọc, tự suy tư động não, vì lúc đó chưa có Tăng Ni trong truyền thống Theravada. Số bạn đạo thì rất ít, mà cũng không biết nhiều về kinh điển. Tại đại học không có ai dạy về Phật giáo. Khi tôi có dịp tiếp xúc và hỏi vị Trưởng khoa Á châu học thì ông không biết nhiều về Đạo Phật. Ông đề nghị thư viện đặt mua mấy bộ sách dịch của Pali Text Society là do sự giới thiệu của các giáo sư đồng nghiệp ở Anh quốc. Lúc ấy, có lẽ tôi là sinh viên duy nhất chịu khó cặm cụi đọc Trung Bộ Kinh mặc dù mình không phải là sinh viên của khoa ấy.

Lúc đầu, khi đọc các bản dịch, tôi thấy chán nản vì những đoạn văn lặp đi lặp lại theo lối truyền khẩu. Nhưng vì gốc là con mọt sách, đã quen lối đọc nhanh, đọc lướt qua, nên dần dần không còn cảm thấy khó khăn nữa. Hơn nữa, lúc ấy tôi nghĩ rằng đây không phải là loại sách tham khảo để thi cử, để làm luận án, mà là chỉ là để đọc cho biết, vì tò mò, nên cũng không cảm thấy phải gấp rút, phải hiểu cho nhanh, cho thấu đáo. Thêm vào đó, tôi nghĩ rằng nếu mình không nắm bắt được nội dung bài kinh, ít ra mình cũng học được thêm các thuật ngữ mới, làm giàu cho kho từ vựng tiếng Anh của mình. Không hiểu lý do gì mà càng đọc tôi càng thấy thích, có cảm giác như mình đang sống trở lại vào thời Đức Phật còn tại thế, như thể mình đang quan sát cảnh Đức Phật giảng kinh cho thính chúng thuộc nhiều thành phần khác nhau, tùy theo ngữ cảnh của bài kinh.

Có thể nói là tôi hoàn toàn không nắm bắt được nội dung chi tiết của các bài kinh Trung Bộ, chỉ biết sơ lược đại ý của mỗi bài. Đọc là vì tò mò muốn biết hương vị của kinh Nikaya là như thế nào và khung cảnh lịch sử khi Đức Phật giảng các bài kinh đó. Lần mò như thế mà tôi đọc xong 152 bài kinh trong 6 tháng. Nhưng rồi sau đó, tôi hầu như quên hết vì phải tập trung viết luận án tốt nghiệp, rồi tiếp theo là phải đi làm việc kiếm cơm.

Mãi về sau này, khoảng 15 năm sau đó, vào giữa thập niên 1990, tôi mới biết đến bản Việt dịch Trung Bộ Kinh của ngài Hòa thượng Thích Minh Châu và bản Anh dịch mới của quý ngài Bhikkhu Ñaṇamoli và Bhikkhu Bodhi. Lúc đó, tôi mới có cơ hội được tìm hiểu chi tiết hơn, dưới sự hướng dẫn của ngài Ajahn Brahm và chư Tăng Ni tại Perth. Đồng thời, việc truy cập Internet bắt đầu trở nên phổ biến và tôi có dịp tham gia vào các diễn đàn Phật giáo, trao đổi học hỏi với các bạn đạo quốc tế.

Bây giờ thì kinh sách được phổ biến rộng rải, từ dạng sách in đến dạng ebook, sách nói, người đọc không cần phải tốn công tìm kiếm như xưa. Thêm vào đó có sẵn các bài thuyết giảng được thu âm, thu hình và các sách tóm tắt lược trích, hướng dẫn đọc kinh. Với đầy đủ phương tiện như thế, theo tôi, chỉ cần có quyết tâm, trì chí và nhẫn nại, người nào cũng có thể đọc được các bộ Nikaya và A-hàm đã được dịch sang ngôn ngữ hiện đại. Còn hiểu nội dung kinh đến mức độ nào là tùy theo căn duyên và nỗ lực của mỗi người, tôi không dám lạm bàn ở đây.

*


Sunday, 12 September 2021

Tài liệu về A-TỲ-ĐÀM (ABHIDHAMMA, VI DIỆU PHÁP, THẮNG PHÁP)

 Tài liệu về A-TỲ-ĐÀM
(ABHIDHAMMA, VI DIỆU PHÁP, THẮNG PHÁP)

A. TIẾNG VIỆT

1) Tạng A-tỳ-đàm:

Bộ Pháp Tụ: 
https://budsas.net/sach/vn20_1.pdf

Bộ Phân Tích: 
https://budsas.net/sach/[vn20_2.pdf

Bộ Nguyên Chất Ngữ: 
https://budsas.net/sach/vn20_3.pdf

Bộ Nhân Chế Định: 
https://budsas.net/sach/vn20_4.pdf

Bộ Ngữ Tông: 
https://budsas.net/sach/vn20_5.pdf

Bộ Song Đối: 
https://budsas.net/sach/vn20_6.pdf

Bộ Vị Trí, quyển 1&2: 
https://budsas.net/sach/vn20_7a.pdf

Bộ Vị Trí, quyển 3&4: 
https://budsas.net/sach/vn20_7b.pdf

Bộ Vị Trí, quyển 5&6: 
https://budsas.net/sach/vn20_7c.pdf

2) Các tài liệu khác:

Vô tỷ pháp Tập yếu (Thắng pháp Tập yếu): 
https://budsas.net/sach/vn20_8.pdf

Phạm Kim Khánh dịch (2002). Vi Diệu Pháp Toát Yếu: 
https://budsas.net/sach/vn194.pdf

Pháp Triều dịch (2015). Cẩm nang Nghiên cứu Thắng Pháp. 
https://budsas.net/sach/vn187a.pdf
https://budsas.net/sach/vn187b.pdf
https://budsas.net/sach/vn187c.pdf

Pháp Triều dịch (2016). Lộ trình Tâm và Sắc pháp 
https://budsas.net/sach/vn23.pdf

Tỳ-khưu Siêu Thiện dịch (2016). Toát yếu Vô tỷ pháp của Đức Phật. 
https://budsas.net/sach/vn195.pdf

B. TIẾNG ANH

Dhammasangani, Compendium of States of Phenomena:
https://budsas.net/sach/en231-1.pdf

Vibhanga, Book of Analysis:
https://budsas.net/sach/en231-2.pdf

Dhatukatha, Discourse on Elements:
https://budsas.net/sach/en231-3.pdf

Puggala-Paññatti, Designation of Human Types:
https://budsas.net/sach/en231-4.pdf 

Kathavatthu, Points of Cotroversy:
https://budsas.net/sach/en231-5.pdf 

Yamaka, Book of Pairs:
https://budsas.net/sach/en231-6.pdf

Patthana, Conditional Relations:
https://budsas.net/sach/en231-7a.pdf
https://budsas.net/sach/en231-7b.pdf

Bhikkhu Bodhi, Ed. A Comprehensive Manual of Abhidhamma:
https://budsas.net/sach/en52.pdf

Sayādaw U Sīlānanda - Handbook of Abhidhamma Studies:
https://budsas.net/sach/en109a.pdf
https://budsas.net/sach/en109b.pdf
https://budsas.net/sach/en109c.pdf

Bhikkhu K.L. Dnammajoti. Sarvāstivāda Abhidharma:
https://budsas.net/sach/en208.pdf

Bhikkhu Analayo. The Dawn of Abhidharma:
https://budsas.net/sach/en210.pdf

Karunadasa, Y. The Theravada Abhidhamma, Its Inquiry into the Nature of Conditioned Reality:
https://budsas.net/sach/en107.pdf 

Mehm Tin Mon. Buddha Abhidhamma, Ultimate Science:
https://budsas.net/sach/en232.pdf 

Nyanatiloka Thera. Guide through the Abhidhamma Pitaka (1938, 2008):
https://budsas.net/sach/en233.pdf

*-----*