Friday, 4 November 2022

Đám tang đơn giản nhưng có ý nghĩa.

Tôi đến Trung tâm Phật giáo Dhammaloka, Perth, Tây Úc, tham dự đám tang một chị Phật tử người Thái vừa qua đời 5 ngày trước. Đám tang đơn giản vì gia đình đơn chiếc, chỉ có chị ấy và người con gái sống tại Perth. Bốn vị sư được thỉnh đến tụng kinh và có một bài pháp thoại ngắn về nghiệp và sự liên hệ ràng buộc giữa những người trong gia đình. Chết không phải là hết, mà chỉ là đánh dấu một giai đoạn trong cuộc hành trình tái sinh luân hồi. Đây là lúc chúng ta tưởng nhớ lại những việc làm thiện lành của người quá cố, hoan hỷ với các việc làm đó, và cầu chúc người ấy được tái sinh về nơi an lành.

Sau đó, bạn bè đến nhìn mặt, tiễn đưa lần cuối. Nhân viên công ty tống táng đem quan tài ra xe và đưa đến lò hỏa thiêu. Bạn bè ở lại, ăn bánh, uống trà, trò chuyện chia buồn với người con gái.

Đám tang đơn giản, nhanh gọn, không rườm rà tốn kém, không buồn rầu khóc than, không trống kèn ồn ào, không tụng kinh ê a, không điếu văn ai oán, nhưng đầy đủ ý nghĩa. Tôi thích cách sắp xếp như thế, và tôi dặn dò người thân trong nhà nên thực hiện phương cách đơn giản tương tự khi tôi qua đời.

*


Tuesday, 1 November 2022

Những lời đáng suy gẫm của Hòa thượng THÍCH CHƠN THIỆN (1942-2016)

 Những lời đáng suy gẫm của Hòa thượng THÍCH CHƠN THIỆN (1942-2016)

1. Bí mật của hạnh phúc không phải là ở trong tay một đấng quyền năng nào, cũng không phải ở ngoại giới, mà ở trong chính ta, trong chính cái nhìn của ta.

2. Con người xưa nay chịu khổ đau vì tự giam hãm mình trong cái nhìn hữu ngã, chấp trước mọi hiện hữu đều có tự ngã. Do thấy hiện hữu có tự ngã mà lòng dấy khởi lên tham lam, sân hận, tà kiến, sợ hãi, kiêu mạn, thị phi... làm nên dòng cuồng lưu sanh tử, và con người tự nhận mình chìm trong ấy.

3. Kinh nghiệm sống phát biểu rằng người khác phái không trói buộc người nhìn, mà chính cái nhìn của người nhìn trói buộc họ, đưa đẩy đến tình trạng ‘ngồi tù trong đáy mắt’ ai.

4. Một cách thật tổng quát, một đường hướng giáo dục quan tâm nhiều đến tinh thần giáo dục sáng tạo là một đường hướng giáo dục tốt, nhân bản. Nhấn mạnh tinh thần sáng tạo là nhấn mạnh tinh thần tự tri, tự trách nhiệm, tự chủ, tự tín, tự hướng dẫn tinh thần độc lập..., những tinh thần giáo dục con người trở về chính mình.

5. Nếu hiểu đạo đức đồng nghĩa với hạnh phúc thì đạo đức của Phật giáo là nếp sống đem lại an lạc, hạnh phúc cho mỗi người, mỗi loài chúng sinh. Nếp sống đó đã được Đức Phật giáo dục, xây dựng trên căn bản hiếu hạnh và lòng từ bi, vô ngã, vị tha (bố thí và trì giới) mà nói gọn là tình người đích thực, không lạc vào một hư tưởng nào.

6. Con đường sống đạo đức là con đường dẫn tới hạnh phúc cho mình và người trong từng bước đi, hay chính đạo đức ấy là hạnh phúc.

7. Nói đến giáo dục là nói đến niềm tin căn bản của nó, cái niềm tin mở hướng phát triển muôn thuở cho giáo dục, tin tưởng rằng trong con người có khả năng gần như vô tận, có thể tiếp thu nhiều kiến thức và có thể điều chỉnh mọi lệch lạc của tâm lý, vật lý, sinh lý và tư duy của tự thân.

8. Sống có nghĩa là sống với hiện tại, sống vào hiện tại, hay nói cách khác, chỉ có hiện tại là sống. Sống ngay với hiện tại là tinh thần thiết thực. Than thở, tiếc nuối quá khứ, hay mơ ước tương lai, chẳng những để mình rơi vào chỗ phi thực mà còn để mình vướng mắc vào rối loạn tâm lý, khổ đau, và đánh mất hiện tại đang là cái hiện tại sống động, mới mẻ đầy sáng tạo, đầy nghĩa sống, và có thể hiện tại trở thành vĩnh cửu nếu mình biết nhiếp phục cái tâm chấp ngã tướng.

9. Do vì cái nhìn về con người, thế giới, giá trị, và hạnh phúc khác nhau mà có sự khác biệt về cội nguồn đạo đức và chuẩn mực đạo đức.

10. Ngay cả khi con người đang ở trong hạnh phúc, nỗi lo sợ vô thường xảy đến cũng đủ gây đau nhức tâm thức con người.

11. Công phu thiền định là công phu đi thẳng vào nguồn an lạc, hạnh phúc ngay trong hiện tại và tại đây, sống với từng hơi thở hạnh phúc.

12. Ở cuối đường vào hạnh phúc miên viễn cái nhìn và hạnh phúc là một, con đường là đích đến.

13. Điểm khác biệt rất đặc biệt giữa Phật giáo và các tôn giáo triết thuyết khác, và chính là điểm đặc biệt của nếp sống đạo đức Phật giáo tự giác tự nguyện vắng bóng tất cả mọi mệnh lệnh, mọi tín điều, mọi giáo điều, mọi sức ép.

14. Với ai mà tu giữ ý thức được thanh tịnh, giác tỉnh thì hẳn nhiên người ấy có giới thể được tròn đầy.

15. Giữ giới là giữ gìn nguồn an lạc hạnh phúc ấy; phạm giới là gây tổn hại đến nguồn an lạc, hạnh phúc ấy.

16. Giới không phải dành riêng cho hàng xuất gia hay chỉ dành riêng cho hàng Phật tử tại gia, cũng không phải chỉ dành riêng cho những người lớn tuổi mà là chung cho tất cả mọi người trong mọi lứa tuổi, cho những ai muốn sống đem lại an lạc, hạnh phúc cho mình và người trong hiện tại và trong cả tương lai.

17. Nếu hạnh phúc là đối tượng mà nhân loại mãi đi tìm, thì hẳn đúng Giới là những gì mà nhân loại cần nắm giữ trên đường đi đến hạnh phúc ấy. Đã đến lúc con người cần loại bỏ hết thảy ngộ nhận về Giới của giáo lý Phật giáo để tiến lại gần hơn với Giới và nắm giữ Giới thân ái như nắm giữ hạnh phúc của mình.

- Thích Pháp Hỷ sưu tập.
Nguồn: Giác Ngộ Online, 12/11/2021 

https://giacngo.vn/17-loi-dang-suy-gam-cua-hoa-thuong-thich-chon-thien-1942-2016-post37237.html

*-----*



Saturday, 29 October 2022

Nhầm lẫn giữa cây SALA và cây ĐẦU LÂN (Hàm Rồng)

 Sala (Ta-la, Tha-la) có nhiều tên gọi: Sāla, Sal, Shorea robusta, là một loại cây tìm thấy ở Ấn Độ, miền nam dãy núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalaya), về sau được trồng nhiều nơi ở Nam Á và Đông Nam Á, và ngày nay là một loại cây được trồng để cung cấp gỗ cứng (hard wood). Sala (Shorea robusta) là một loại cây thuộc chi họ Shorea, là một trong 16 chi họ của họ thực vật Dipterocarpaceae. Ở Việt Nam, chúng ta thường thấy loại cây Chò Nâu (Dipterocarpus retusus), cây Dầu Rái (Dipterocarpus alatus) và cây Sao Đen (Hopea odorata) đều thuộc họ thực vật Dipterocarpaceae nầy.

Trong kinh điển Phật giáo, Đức Phật đản sinh ở gốc cây Sala, trong vườn Lumbini (Lâm-tì-ni), và nhập diệt giữa hai cây Sala tại Kusinara (Kushinagar, Câu-thi-na). Vì thế, ngày nay, ngoài cây bồ-đề (Bodhi tree, Bo tree, Ficus religiosa), cây Sala được trồng tại khuôn viên của các chùa, và được giới Phật tử quý trọng.

Tuy nhiên, ngày nay, người ta thường nhầm lẫn cây Sala với cây Ngọc Kỳ Lân, Đầu Lân hay Hàm Rồng (Cannonball tree, Couroupita guianensis), tiếng Trung là Pháo Đạn Thụ (炮弹树 - Cây Đạn Pháo). Cây Sala là loại cây nguyên sinh ở Ấn Độ; còn cây Đầu Lân là cây nguyên sinh ở Nam Mỹ và ngày nay được đem trồng khắp nơi.

Sự nhầm lẫn nầy bắt nguồn từ thế kỷ 17 khi người Bồ Đào Nha đem giống cây Đầu Lân từ Nam Mỹ trồng tại nhiều nơi và nhiều chùa ở đảo Tích Lan (Sri Lanka). Từ đó, nhiều người Sri Lanka lầm tưởng cây nầy là cây Sala trong kinh điển, và mang phổ biến trồng tại các chùa khác trong vùng Đông Nam Á. Gần đây, một số chùa tại Việt Nam cũng đem về trồng vì lầm tưởng là cây Sala. Giống cây Đầu Lân nầy trở nên phổ thông vì dễ trồng, lớn nhanh, thích hợp với khí hậu ẩm ướt miền nhiệt đới, và trổ hoa có màu sắc hình thù đẹp mắt.

Dưới đây là các hình ảnh của cây và hoa Sala, và cây Đầu Lân.

1) Sala 







      
2) Đầu Lân (Hàm Rồng)





Friday, 28 October 2022

Nhạc Việt: Tiếng hát Mộng Thủy - Đừng Xa Nhau (2019)

Đây là một giọng hát hải ngoại tôi yêu thích. Giọng hát nhẹ nhàng, trong trẻo, rõ ràng, nhưng tự nhiên, không uốn éo, sửa giọng như các ca sĩ được huấn luyện trong các lò thanh nhạc chuyên nghiệp.

Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps:
nviet71.zip (126 MB) – Tiếng hát Mộng Thủy, Đừng Xa Nhau (2019)

=> https://tinyurl.com/434smvf3

Tiếng hát Mộng Thuỷ - CD Đừng xa nhau (2019)

01) Trong nỗi nhớ muộn màng - Ngô Thụy Miên
02) Tuổi đá buồn - Trịnh Công Sơn
03) Đừng xa nhau - Phạm Duy
04) Thú đau thương - Phạm Duy & Lưu Trọng Lư
05) Mắt biếc - Cung Tiến
06) Nếu một mai em sẽ qua đời - Phạm Duy
07) Tình khúc mùa đông - Thanh Trang
08) Rồi em đã xa tôi - Phạm Anh Dũng
09) Suối mơ - Văn Cao & Phạm Duy
10) Buồn đêm mưa - Phạm Đình Chương & Huy Cận
11) Tình thu - Phạm Duy

*-----*



Sunday, 2 October 2022

TỈNH THỨC TRƯỚC CÁI CHẾT (2). Hòa thượng Gunaratana (2017)

 TỈNH THỨC TRƯỚC CÁI CHẾT (2)
Hòa thượng Gunaratana (2017)
Bình Anson trích dịch (2020)

Khi tôi chết, tôi không muốn có những nghi lễ phô trương. Tôi đã viết di chúc dặn dò nếu tôi chết trong vòng năm mươi dặm của Trung tâm Thiền quán Bhavana (West Virginia, Hoa Kỳ), những người trong đạo tràng nên thu xếp hỏa táng thân xác tôi và sau đó, tùy ý xử lý tro cốt. Tôi không quan tâm. Nếu tôi chết ở nơi khác, họ có thể thu xếp thực hiện bất cứ cách nào họ muốn.

Sự thật là ngay bây giờ, tôi không thể kiểm soát được thân thể này khi vẫn còn sống, huống hồ gì sau khi chết? Cho nên tôi không có một ước muốn đặc biệt nào về cách thức và thời điểm về cái chết của tôi. Tôi sẽ ra đi như khi tôi đến với cuộc đời này, không có kế hoạch hay lời mời nào.

Tôi mong rằng những thành viên trong đạo tràng này sẽ không quá đau buồn về cái chết của tôi. Con người chúng ta gắn bó với nhau, và sự gắn bó này làm chúng ta đau buồn khi người mình yêu thương qua đời. Nhưng sự gắn bó, bám víu đó không phải là một thực tại. Đó chỉ là một ý nghĩ đơn thuần.

Chúng ta thật sự có thể bám víu vào bất cứ điều gì hay bất cứ người nào không? Không thể được. Bởi vì chúng ta – và những người ấy, những thứ ấy – luôn luôn thay đổi. Chúng ta không thể kiểm soát được. Dù vậy, bất chấp sự thật này, chúng ta phát sinh ý tưởng muốn bám chặt vào đó. Điều này xảy ra vì chúng ta không thấy được “anicca” – bản chất vô thường. Nếu chúng ta bắt đầu thấy sự vô thường, chúng ta có thể rèn luyện tâm ý của mình để có ý tưởng khác đi, ý tưởng từ bỏ và buông xả. 

Khi nhìn lại đời mình, tôi thấy tất cả như là một giấc mơ. Hàng ngàn người tôi đã từng quen biết bây giờ đã qua đời, những người cùng làng nơi tôi sinh ra, cùng nơi tôi xuất gia, cùng nơi tôi tu học. Hàng ngàn người ở Sri Lanka, Ấn Độ, Malaysia, Hoa Kỳ, châu Âu, Nam Mỹ, khắp nơi trên thế giới, họ đều qua đời, không để lại dấu vết gì, ngoại trừ trong trí nhớ của tôi. Giống như những giấc mơ khi tôi ngủ. Khi tôi thức dậy, tôi có thể nhớ lại các giấc mơ đó, nhưng tôi biết chúng không có thật. Rất nhiều người tôi đã từng gặp, nơi chốn tôi đã đi qua, các bài thuyết giảng tôi đã trình bày, những gì tôi đã thấy: Tất cả đều đã trôi qua, biến mất. Như giấc mộng. 

Bây giờ, trong tuổi già, tôi hiểu về sự vô thường rõ ràng hơn. Khi tôi thức dậy vào nửa đêm, tôi tập trung tâm ý vào các sự thay đổi tôi đang trải nghiệm ngay lúc đó. Có thể đó là một cảm giác ngứa ran trên cơ thể, đau nhức hay đau nhói nơi thân, cảm giác trong tâm trí khi vừa thức giấc và nhận thức về hơi thở đang đi ra, đi vào buồng phổi.  Ngay lúc đó, tôi cảm thấy hoan hỷ vì tôi thấy được mọi sự việc thay đổi rất nhanh, và tôi biết điều này giúp tôi hiểu thêm rõ hơn về sự vô thường.

Có khi một cảm thọ lóe lên như một tia sáng nhỏ, trong đó có kèm theo tưởng, hành và thức. Bắt đầu là xúc, khi căn và trần đến với nhau. Ngay lúc đó có sự nhận biết, rồi khởi sinh thọ và tưởng. Những điều này xảy ra rất nhanh, ta không thể tách rời chúng được. Chúng ta dùng từ ngữ để tách rời chúng, nhưng sự trải nghiệm chính nó thì không thể. Tâm trí không thể phân biệt được. Do đó, không có lý do gì chúng ta phải sợ chết hay thương tiếc về cái chết. Chuỗi thay đổi xảy ra liên tục, và kết thúc của chuỗi đó được gọi là chết.

Ngay cả một đứa bé cũng có thể hiểu được điều đó. Ta bảo nó: “Hãy nhìn vào cái hoa này. Hãy ngắm nhìn nó từ sáng đến tối.” Vào buổi sáng, các cánh hoa còn tươi đẹp. Đến chiều tối thì khô héo. Chuyện gì xảy ra? Sự tươi sáng đó, màu sắc đó, vẻ đẹp đó đã bị thay đổi bởi thực tế của vô thường. Hoa đó đã thay đổi, cũng như mọi thứ khác trên đời.

Thật là ngộ nghĩnh trong thời đại công nghệ cao này của lịch sử loài người, chúng ta vẫn còn giữ được một cỗ máy lỗi thời để chỉ cho ta thấy sự vô thường: Đó là cái đồng hồ! Tiếng kêu tích tắc không ngừng không những chỉ cho thấy thời gian trôi qua, mà còn cho thấy sự thật về vô thường. Ta học được bài học quan trọng từ cái đồng hồ: Mỗi thời khắc hiện tại là khác biệt với thời khắc trước đó, và cũng khác biệt với thời khắc tiếp theo, và thời khắc sau đó.

Bất cứ khi nào ta nhắm mắt hành thiền, ta không trải nghiệm gì khác ngoài sự thay đổi. Cho dù đó là một ý nghĩ, một cảm giác, một ý tưởng, một hồi tưởng, hay cơn đau nhức trên thân – tất cả đều đến rồi đi, đến rồi đi, liên tục như thế. Trong khoảnh khắc tiếp theo, nếu tất cả đều ngưng lại, thì đó gọi là chết. Không có gì lạ lùng, không có gì mà không quen thuộc. Đây chỉ là sự thật của vô thường. Và chúng ta phải làm quen với sự thật này. 

Nếu được như thế, cuối cùng rồi là chấm dứt sự sợ hãi của chúng ta về cái chết. Chỉ khi đó, đau khổ của chúng ta mới chấm dứt.

– Hòa thượng Gunaratana,
Journey to Mindfulness (2017)
(Hành trình đến tỉnh thức)
Bình Anson trích dịch (2020).

*


Thursday, 29 September 2022

HÀNH HƯƠNG PHẬT QUỐC (ẤN ĐỘ & NEPAL)

 HÀNH HƯƠNG PHẬT QUỐC (ẤN ĐỘ & NEPAL)

Dưới đây là liệt kê các địa điểm lịch sử, gồm bốn nơi động tâm và các thánh tích quan trọng tại Ấn Độ và Nepal, mà các bạn có thể đối chiếu và góp ý với ban tổ chức các chuyến hành hương. Nếu khéo sắp xếp, có thể viếng thăm các địa điểm này trong 10-14 ngày. Bao gồm các địa danh quan trọng:

(A) Ưu tiên hàng đầu – BỐN NƠI ĐỘNG TÂM:

1. Lâm-tì-ni (Lumbini, Nepal): nơi Đức Bồ-tát đản sinh.

2. Bồ-đề Đạo tràng (Bodh Gaya): nơi Đức Phật thành đạo.

3. Lộc Uyển (Sarnath): nơi Đức Phật chuyển Pháp luân (giảng bài pháp đầu tiên).

4. Câu-thi-na (Kushinagar, Kusinara): nơi Đức Phật nhập diệt.

(B) Các địa điểm lịch sử khác:

5. Thành Xá-vệ (Savatthi, Sravasti): Kỳ viên Tinh xá, nơi Đức Phật thường ngự trong 20 năm cuối.

6. Thành Ca-tì-la-vệ (Kapilavatsu): kinh đô của bộ tộc Thích Ca.

7. Vương Xá (Rajgir, Rajagahar), núi Linh Thứu, Trúc Lâm Tinh xá, Đại học Phật giáo Nalanda.

8. Sông Hằng (Gange River).

9. Thành Ba-la-nại (Benares, Varanasi), Câu-diệm-bi (Kosambi), Vệ-xá-li (Vesali, Vaishali).

10. Thành phố Delhi: Chiêm bái xá-lợi Phật tại Bảo tàng Quốc gia và viếng đồi East Kailash, nơi Đức Phật giảng bài kinh Lập niệm (Tứ niệm xứ) cho bộ tộc Kuru.


Dưới đây là các lộ trình nghị gợi ý, để giúp các bạn Phật tử sắp xếp chương trình hành hương của mình.

Lộ trình 1

Ngày 1: Đến Ấn Độ, thủ đô Delhi. Tham quan thành phố. Nghỉ đêm tại Delhi

Ngày 2: Đáp máy bay đi Varanasi. Xe đưa đi tham quan Sarnath, nơi Chuyển Pháp Luân, tháp Dhamekh, chùa Đại Bồ Đề, viện Bảo tàng. Tối nghỉ tại Varanasi.

Ngày 3: Sáng sớm đi tham quan sông Hằng. Xe đưa đi Savatthi, hành trình mất 10 giờ. Nghỉ đêm tại chùa Miến Điện hoặc nhà khách Sri Lanka.

Ngày 4: Thăm viếng Savatthi (Kỳ viên Tinh xá), nhà ông Cấp Cô Độc và Angulimala, chùa Thái, chùa Miến Điện, v.v. Trở về nghỉ đêm tại nhà khách.

Ngày 5: Lên đường đi Nepal.  Thăm Lumbini. Nghỉ đêm tại khách sạn ở Nepal.

Ngày 6: Sáng sớm trở lại Lumbini, viếng chùa VN và các chùa khác. Lên đường về Ấn Độ. Tối đến Kusinara (Kushinagar), nghỉ đêm tại chùa Thái Lan.

Ngày 7: Thăm Chùa Niết Bàn, nơi Trà Tỳ, chùa Miến Điện, v.v. Lên đường đến Bồ Đề Đạo Tràng (Bodh Gaya). Chiều đến khách sạn. Tham quan & tụng kinh tại Bồ Đề Đạo Tràng.

Ngày 8: Tham quan Bồ đề Đạo Tràng, sông Ni Liên, các chùa, và vùng lân cận. Nghỉ đêm tại Bồ Đề Đạo Tràng.

Ngày 9: Đến Vương Xá, núi Linh Thứu, Trúc Lâm, đại học Nalanda. Trở về Bồ Đề Đạo Tràng. Tham quan và tụng kinh tại Bồ Đề Đạo Tràng.

Ngày 10: Sáng đáp máy báy về Delhi. Tham quan viện Bảo Tàng Quốc Gia, chiêm bái xá lợi Phật. Đến vùng East Kailash, viếng nơi Đức Phật giảng kinh Tứ Niệm Xứ. Nghỉ đêm tại Delhi (hoặc ra phi trường, rời Ấn Độ).

Ngày 11: Rời Ấn Độ.


Lộ trình 2

Ngày 1: Rời Bangkok bay thẳng đến phi trường Gaya, Ấn Độ. Đến khách sạn tại Bodh Gaya. Tham quan sông Ni Liên, làng Sujata. Trở về Bodh Gaya. Cơm tối, rồi tụng kinh hành thiền tại Bodh Gaya.

Ngày 2: Bodh Gaya. Thăm viếng các chùa, động Khổ Hạnh Lâm. Nghỉ đêm tại Bodh Gaya.

Ngày 3: Lên đường đi Rajgir (Vương Xá). Viếng núi Linh Thứu, Trúc Lâm tinh xá, Đại học Phật giáo Nalanda. Nghỉ đêm tại khách sạn ở Patna.

Ngày 4: Viếng Vesali. Đến Kushinagar, viếng khu di tích Phật bát niết bàn. Tháp trà tỳ Makutabandhana. Nghỉ đêm tại chùa Thái Lan.

Ngày 5: Lên đường đi Nepal. Đến Lumbini, nơi Đức Phật đản sinh. Thăm các chùa. Nghỉ đêm tại khách sạn.

Ngày 6: Trở về Ấn Độ, thăm thành Kapilavatsu (Piprahwa và Ganwaria). Đến Xá Vệ (Savatthi), viếng thăm Kỳ Viên Tinh xá. Nhà ông cấp Cô Độc, tháp Angulimala, viện Bảo tàng, chùa Thái và Miến. Nghỉ đêm tại Nhà khách Sri Lanka.

Ngày 7: Lên đường đi Varanasi, tiến thẳng đến Sarnath, nơi Chuyển Pháp Luân. Viếng tháp Dhamekh, viện Bảo tàng, chùa Đại Bồ Đề, chùa Thái Lan. Nghỉ đêm tại Varanasi.

Ngày 8: Sáng sớm viếng sông Hằng. Viếng Kosambi. Nghỉ đêm tại Kanpur.

Ngày 9: Viếng Sankasya (Sankassa, nơi Đức Phật giảng Vi Diệu Pháp) trên đường đến Delhi. Nghỉ đêm tại Delhi.

Ngày 10: Tham quan thành phố Delhi. Viếng Viện Bảo Tàng Quốc Gia, chiêm bái xá lợi Phật. Đến viếng đồi East Kailash, nơi Đức Phật giảng kinh Tứ Niệm Xứ. Tối ra phi trường quốc tế, rời Ấn Độ.


Lộ trình 3

Ngày 1: Rời Bangkok bay thẳng đến phi trường Gaya, Ấn Độ. Đến khách sạn tại Bodh Gaya. Tham quan thánh tích Bồ Đề Đạo Tràng. Trở về khách sạn. Cơm tối, rồi tụng kinh hành thiền tại Bodh Gaya.

Ngày 2: Bodh Gaya. Thăm viếng các chùa, sông Ni Liên, làng Sujata, động Khổ Hạnh Lâm (Dongkasiri). Nghỉ đêm tại Bodh Gaya.

Ngày 3: Lên đường đi Rajgir (Vương Xá). Viếng núi Linh Thứu, Trúc Lâm tinh xá, Đại học Phật giáo Nalanda. Trở về Bodh Gaya, nghỉ đêm tại khách sạn.

Ngày 4: Lên đường đi Varanasi, nghỉ đêm tại Varanasi.

Ngày 5: Sáng sớm viếng sông Hằng. Tiến thẳng đến Sarnath, nơi Chuyển Pháp Luân. Viếng tháp Dhamekh, viện Bảo tàng, chùa Đại Bồ Đề, chùa Thái Lan. Quay về nghỉ đêm tại Varanasi.

Ngày 6: Đến Kushinagar, viếng khu di tích Phật bát niết bàn. Tháp trà tỳ Makutabandhana. Nghỉ đêm tại chùa Thái Lan.

Ngày 7: Lên đường đi Nepal. Đến Lumbini, nơi Đức Phật đản sinh. Thăm các chùa. Nghỉ đêm tại khách sạn.

Ngày 8: Trở về Ấn Độ, thăm thành Kapilavatsu (Piprahwa và Ganwaria). Đến Xá Vệ (Savatthi), viếng thăm Kỳ Viên Tinh xá. Nhà ông cấp Cô Độc, tháp Angulimala, viện BảoTàng, chùa Thái và Miến. Nghỉ đêm tại nhà khách Sri Lanka.

Ngày 9: Lên đường đi Lucknow. Đáp máy bay đến Delhi.

Ngày 10: Tham quan thành phố Delhi. Viếng Viện Bảo tàng Quốc Gia, chiêm bái xá lợi Phật. Đến viếng đồi East Kailash, nơi Đức Phật giảng kinh Tứ Niệm Xứ. Tối ra phi trường quốc tế, rời Ấn Độ.


Lộ trình 4

Ngày 1: Đến Ấn Độ, thủ đô Delhi. Tham quan thành phố. Nghỉ đêm tại Delhi.

Ngày 2: Đáp máy bay đi Lucknow. Đi xe đến Balrampur. Đến Xá Vệ (Savatthi), viếng thăm Kỳ Viên Tinh xá. Nhà ông cấp Cô Độc, tháp Angulimala, viện Bảo tàng, chùa Thái và Miến. Nghỉ đêm tại khách sạn Balrampur.

Ngày 3: Lên đường đi Nepal. Đến Lumbini, nơi Đức Phật đản sinh. Thăm các chùa. Nghỉ đêm tại khách sạn.

Ngày 4: Trở về Ấn Độ, thăm thành Kapilavatsu (Piprahwa và Ganwaria). Đến Kushinagar, viếng khu di tích Phật bát niết bàn và tháp trà tỳ Makutabandhana. Nghỉ đêm tại chùa Thái Lan hay khách sạn.

Ngày 5: Lên đường đi Patna. Trên đường đi ghé thăm Vesali. Đến Patna, viếng viện Bảo Tàng. Nghỉ đêm tại khách sạn.

Ngày 6: Lên đường đi Bồ Đề Đạo Tràng. Ghé thăm Đại học Nalanda, Vương Xá, núi Linh Thứu, Trúc Lâm. Buổi chiều đến Bồ Đề Đạo Tràng. Nghỉ đêm tại khách sạn.

Ngày 7: Tham quan Bồ Đề Đạo Tràng, sông Ni Liên, các chùa, và vùng lân cận. Cơm tối, rồi tụng kinh hành thiền tại Bồ Đề Đạo Tràng.

Ngày 8: Lên đường đi Varanasi, tiến thẳng đến Sarnath, nơi Chuyển Pháp Luân. Viếng tháp Dhamekh, viện Bảo Tàng, chùa Đại Bồ Đề, chùa Thái Lan. Nghỉ đêm tại Varanasi.

Ngày 9: Sáng sớm viếng sông Hằng. Trưa đáp máy bay về Delhi. Nghỉ đêm tại khách sạn.

Ngày 10: Tham quan thành phố Delhi. Viếng viện Bảo Tàng Quốc Gia, chiêm bái xá lợi Phật. Đến viếng đồi East Kailash, nơi Đức Phật giảng kinh Tứ Niệm Xứ. Tối ra phi trường quốc tế, rời Ấn Độ.


Lộ trình 5

Ngày 1: Rời Bangkok bay thẳng đến phi trường Gaya, Ấn Độ. Đến khách sạn tại Bodh Gaya. Viếng chùa Đại Giác (Mahabodhi Temple) và cổ thụ Bồ-đề. Viếng các chùa quốc tế. Cơm tối, rồi tụng kinh hành thiền tại Bodh Gaya.

Ngày 2: Lên đường đi Rajgir (Vương Xá). Viếng núi Linh Thứu, Trúc Lâm tinh xá, Đại học Phật giáo Nalanda. Trở về Bodhg Gaya. Nghỉ đêm tại khách sạn.

Ngày 3: Viếng động Khổ Hạnh Lâm tại Gaya. Lên đường đi Varanasi (Ba-la-nại). Viếng sông Hằng. Nghỉ đêm tại khách sạn ở Varanasi.

Ngày 4: Viếng Sarnath, nơi Chuyển Pháp Luân. Lên đường đến Kushinagar. Nghỉ đêm tại chùa Thái Lan, Kushinagar.

Ngày 5: Viếng khu di tích Phật bát-niết-bàn. Tháp trà tỳ Makutabandhana. Lên đường đi Nepal. Đến Lumbini. Nghỉ đêm tại khách sạn.

Ngày 6: Viếng nơi Đức Phật đản sinh tại Lumbini. Thăm các chùa quốc tế. Trở về Ấn Độ. Tiếp tục đến Savatthi. Nghỉ đêm tại khách sạn. 

Ngày 7: Viếng Kỳ Viên Tinh xá, nhà ông cấp Cô Độc, tháp Angulimala, nơi Đức Phật thực hiện phép song thông. Lên đường đi Kanpur, nghỉ đêm tại khách sạn.

Ngày 8: Viếng Sankasya (Sankassa, nơi Đức Phật giảng Vi Diệu Pháp). Tiếp tục đến Agra.

Ngày 9: Viếng Taj Mahal -- kỳ quan thế giới, và thành Agra. Nghỉ đêm tại khách sạn.

Ngày 10: Lên đường đến thủ đô Delhi. Đến viếng đồi East Kailash, nơi Đức Phật giảng kinh Tứ Niệm Xứ. Viếng Viện Bảo Tàng Quốc Gia, chiêm bái xá lợi Phật.

Ngày 11: Ra phi trường quốc tế, rời Ấn Độ.


Lộ trình 6
(Đây là lộ trình chúng tôi thực hiện vào tháng 11, 2010)

Ngày 1: Rời Bangkok, đáp máy bay đến Delhi, Ấn Độ. Ăn trưa tại một nhà hàng Tàu, chuyển sang máy bay nội địa, đến thành phố Patna, bang Bihar. Nghỉ đêm tại khách sạn (Chanakya Hotel).

Ngày 2: Lên xe bus, ăn sáng trên xe, lên đường đi Bodhgaya, bắt đầu cuộc hành trình đường bộ 10 ngày.

- Đến Bodhgaya, vào khách sạn (Tokyo Hotel), ăn trưa.
- Đến Bồ đề đạo tràng, nơi Đức Phật thành đạo. Tụng kinh tại cổ thụ bồ đề, cúng dường y tại chánh điện chùa Mahabodhi (Đại Giác). Viếng các nơi Phật ngự trong 7 tuần lễ sau khi giác ngộ.
- Lên xe, viếng Dhungeswara Cave (Khổ hạnh lâm), sông Ni-liên-thuyền, tháp Sujata.
- Sau cơm tối, đến Bồ đề đạo tràng tụng kinh, hành thiền.

Ngày 3: Lên đường đi Vương xá (Rajgir). Gridhrakuta Hill – Núi Linh-thứu; nhà tù Bimbisara, bệnh xá Jivaka; Veluvana Monastery – Tinh xá Trúc lâm do vua Bình-sa cúng dường; suối nước nóng; Nalanda University – Đại học Nalanda. Trở về Bodhgaya, nghỉ đêm.

Ngày 4: Sáng, tụng kinh tại cổ thụ bồ đề. Ăn trưa. Lên đường đi Varanasi (Ba-la-nại). Nghỉ đêm tại khách sạn (Ramada Hotel).

Ngày 5: Sáng sớm viếng sông Hằng. Lên đường đi Sarnath, viếng Lộc Uyển – nơi Đức Phật chuyển Pháp luân. Viếng viện Bảo tàng Sarnath. Tiếp tục đi đến Kusinara (Câu-thi-na). Nghỉ đêm tại chùa Thái, Wat Thai Kusinara.

Ngày 6: Viếng chùa và tháp Đại Niết-bàn (Parinibbana) – nơi Đức Phật nhập diệt. Viếng tháp Trà tỳ, tụng kinh, hành thiền. Lên đường đến biên giới Ấn Độ - Nepal. Vào Nepal, nghỉ đêm tại Lumbini, khách sạn Nhật bản (Lumbini Hoke Hotel).

Ngày 7: Viếng thánh địa Lâm-tỳ-ni, chùa Mayadevi – nơi Đức Phật đản sinh, và trụ đá Asoka. Viếng chùa Thái và chùa Việt Nam (VN Phật Quốc Tự). Trở về Ấn Độ. Đến Sravasti (Xá-vệ), nghỉ đêm tại khách sạn Nhật bản (Lotus Hotel).

Ngày 8: Viếng Tinh xá Kỳ-viên (Jetavana, do ông Cấp-cô-độc cúng dường) – nơi Đức Phật ngụ trong 19 năm cuối cùng, tụng kinh hành thiền. Viếng tháp Cấp-cô-độc và tháp Angulimala. Viếng chùa Thái Lan. Lên đường đến Lucknow, nghỉ đêm tại Piccadilly Hotel.

Ngày 9: Lên đường đến Sankasya, nơi Đức Phật trở về địa cầu sau 3 tháng giảng Vi diệu pháp trên cung trời Đao-lợi. Đến thành phố Agra, nghỉ đêm tại khách sạn (Jaypee Palace Hotel).

Ngày 10: Viếng đền Taj Mahal (đá trắng, một kỳ quan thế giới) và thành Agra Fort (sa thạch đỏ). Trở về khách sạn nghỉ đêm.

Ngày 11: Lên đường đến Delhi. Ăn trưa tại một nhà hàng Tàu. Chiêm bái xá lợi Phật tại Viện Bảo tàng. Mua sắm. Nghỉ đêm tại khách sạn (Avalon Delhi Hotel).

Ngày 12: Viếng đồi East Kailash, nơi Đức Phật giảng kinh Quán Niệm (Satipatthana Sutta) cho bộ tộc Kuru. Ra phi trường quốc tế, đáp máy bay trở về Thái Lan.



Saturday, 17 September 2022

Các Nhạc sĩ Việt tôi mến mộ

Nhiều năm trước tôi có dịp nói chuyện với một vị giáo sư người Pháp. Ông nói rằng tiếng Việt nghe như hát vì có dấu giọng. Có lẽ đó là nhận xét đúng, vì ông ấy hoàn toàn không biết tiếng Việt, chỉ nghe âm thanh thôi. Và có lẽ cũng vì vậy, đa số người Việt chúng ta thích âm nhạc, ca hát, trong đó có tôi.

Tôi chỉ biết đàn hát nghêu ngao cho vui, hát một mình hoặc hát chung với bạn bè, không phải là dân chuyên nghiệp, nhà nghề. Cũng không khó tính, vì vui là chính. Lang thang xứ người trong gần 50 năm qua, nên tôi chỉ nhớ và quen thuộc với các bài hát trước 1975. Sau nầy, khi về VN vào các quán cafe nhạc – hay lang thang trên Net, nghe qua các bài nhạc sáng tác sau 1975, tôi cảm thấy không thích lắm. Có lẽ vì bây giờ mình già rồi, không còn nhiều cảm xúc như xưa, và cũng có lẽ mình không thực sự sống trong môi trường đó, nên không hoàn toàn cảm thông được.

Kèm theo đây là hình các vị nhạc sĩ có những bản nhạc tôi thích hát (hình ảnh sưu tầm trên Net). Trong số nầy, thật ra, tôi chỉ được gặp mặt 4 vị (Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Lê Uyên Phương, Nguyễn Đức Quang). Còn các vị khác thì tôi chỉ thấy trong hình, qua các tập nhạc xưa, hoặc trên Net. Quý vị có nhận ra được các vị nhạc sĩ nầy không?

Từ trái qua phải:

- Hàng trên: Trịnh Công Sơn, Lê Uyên Phương, Ngô Thụy Miên
- Hàng giữa: Nguyễn Đức Quang, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Nguyễn Ánh 9
- Hàng dưới: Phạm Duy, Đoàn Chuẩn, Lam Phương, Y Vân

*



Thursday, 15 September 2022

Sách ấn tống: VỀ QUẢ VỊ DỰ LƯU (200 trang)

 Sách ấn tống: 

VỀ QUẢ VỊ DỰ LƯU 
Bình Anson biên soạn (2022, 200 trang)
Nxb Tôn Giáo

Quả vị Dự lưu, là cấp bậc đầu tiên trong bốn cấp  bậc giác ngộ được đề cập trong Phật giáo Sơ kỳ. Tên gọi của quả vị nầy là từ ý nghĩa của một hành giả nhập vào dòng chảy  không thối chuyển đưa đến giải thoát hoàn toàn. Dòng chảy nầy chính là đường thánh tám chi, là dòng sông hướng đến Niết-bàn, cũng giống như sông Hằng chảy ra biển cả. Thời gian cần thiết để dòng sông nầy tiến đến mục tiêu tối hậu là tối đa bảy kiếp sống, không kiếp nào tái sinh trong cõi giới thấp hơn cõi người. –  (Tỳ-khưu Anālayo)

*

Dự kiến sách sẽ được in xong vào đầu tháng 10-2022. Trong mùa Dâng Y Kathina sắp tới, nhóm ấn tống sẽ gửi sách cúng dường đến các chùa, đạo tràng và các trường Phật học theo yêu cầu. 

Tải bản ebook, dạng PDF:
=> https://tinyurl.com/y42y6zmy

*-----*

VỀ QUẢ VỊ DỰ LƯU - Mục lục

Phần I. TUYỂN TẬP CÁC BÀI VIẾT

01. Về bốn quả Thánh 
02. Quả Dự lưu: Tiến trình tu tập 
03. Về quả vị Dự lưu 
04. Thân kiến, Sakkāyadiṭṭhi 
05. Hoài nghi, Vicikicchā 
06. Giới cấm thủ, giới lễ nghi thủ - Sīlavata-parāmāsa 
07. Bốn quả thánh: Vài thuật ngữ 
08. Tóm lược về các hạng người 
09. Làm thế nào để giác ngộ? 
10. Thiền-na và đệ tử cư sĩ, theo các bài kinh Pāli 

Phần II. TRÍCH LỤC KINH ĐIỂN PĀLI

Giới thiệu Tương ưng Dự lưu, Tỳ-khưu Bodhi
Phẩm I - Cổng tre
.   Kinh 55:1-10 

Phẩm II – Một ngàn, hay vườn hoàng gia
.   Kinh 55:11-20

Phẩm III – Sarakāni
.   Kinh 55:21-30

Phẩm IV – Phước đức tràn đầy
.   Kinh 55:31-40

Phẩm V – Phước đức tràn đầy có kệ 
.   Kinh 55:41-50

Phẩm VI – Người có trí tuệ 
.   Kinh 55:51- 61

Phẩm VII – Đại trí tuệ
.   Kinh 55:62-74 

Tương ưng Nhân Duyên 
Tương ưng Thông đạt 
Tương ưng Uẩn 
Tương ưng Kiến 
Tương ưng Nhập 
Tương ưng Căn 

Tăng chi bộ 
Trung bộ 
Trường bộ 

*-----*





Wednesday, 14 September 2022

Sách: Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam Sử lược (2019)

Sách:

Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam Sử lược 
Tập 1 &2 (2019)
Hòa thượng Giới Đức
Chùa Huyền Không sơn Thượng, Huế 

Tải về bản PDF:

Tập 1 (41.7 MB): https://tinyurl.com/msp43xxp 
Tập 2 (43.5 MB): https://tinyurl.com/3hzvtsaj

*-----* 



Wednesday, 7 September 2022

Thiền-na (Jhāna) trong Kinh tạng Nikāya

 I. Trong Trung bộ (Majjhima Nikāya), dựa theo bảng Danh mục (Index), bản dịch tiếng Anh của Bhikkhu Ñāṇamoli và Bhikkhu Bodhi (1995), tôi tìm thấy thiền-na (jhāna) được đề cập đến trong những bài kinh sau đây:

1. MN 4 - Bhayabherava Sutta, Kinh Sợ hãi và khiếp đảm.
2. MN 6 - Ākankheyya Sutta, Kinh Ước nguyện.
3. MN 8 - Sallekha Sutta, Kinh Đoạn giảm.
4. MN 13 - Mahādukkhakkhandha Sutta, Đại kinh Khổ uẩn.
5. MN 25 - Nivāpa Sutta, Kinh Bẫy mồi.
6. MN 26 - Ariyapariyesanā Sutta, Kinh Thánh cầu.
7. MN 27 - Cūḷahatthipadopama Sutta, Tiểu kinh Ví dụ dấu chân voi.
8. MN 30 - Cūḷasāropama Sutta, Tiểu kinh Ví dụ lõi cây.
9. MN 31 - Cūḷagosinga Sutta, Tiểu kinh Khu rừng sừng bò.
10. MN 36 - Mahāsaccaka Sutta, Đại kinh Saccaka.
11. MN 39 - Mahā-Assapura Sutta, Đại kinh Xóm ngựa.
12. MN 43 - Mahāvedalla Sutta, Đại kinh Phương quảng.
13. MN 44 - Cūḷavedalla Sutta, Tiểu kinh Phương quảng.
14. MN 45 - Cūḷadhammasamādāna Sutta, Tiểu kinh Pháp hành.
15. MN 51 - Kandaraka Sutta, Kinh Kandaraka.
16. MN 52 - Aṭṭhakanāgara Sutta, Kinh Bát thành.
17. MN 53 - Sekha Sutta, Kinh Hữu học.
18. MN 59 - Bahuvedanīya Sutta, Kinh Nhiều cảm thọ.
19. MN 64 - Mahāmālunkya Sutta, Đại kinh Mālunkyāputta.
20. MN 65 - Bhaddāli Sutta, Kinh Bhaddāli.
21. MN 66 - Laṭukikopama Sutta, Kinh Ví dụ chim cáy.
22. MN 76 - Sandaka Sutta, Kinh Sandaka.
23. MN 77 - Mahāsakuludāyi Sutta, Đại kinh Sakuludāyin.
24. MN 78 - Samaṇamaṇḍikā Sutta, Kinh Samaṇamaṇḍikāputta.
25. MN 79 - Cūḷasakuludāyi Sutta, Tiểu kinh Sakuludāyin.
26. MN 101 - Devadaha Sutta, Kinh Devadaha.
27. MN 107 - Gaṇakamoggallāna Sutta, Kinh Gaṇaka Moggallāna.
28. MN 108 - Gopakamoggallāna Sutta, Kinh Gopaka Moggallāna.
29. MN 111 - Anupada Sutta, Kinh Bất đoạn.
30. MN 113 - Sappurisa Sutta, Kinh Chân nhân.
31. MN 118 - Ānāpānasati Sutta, Kinh Nhập tức xuất tức niệm. [*]
32. MN 119 - Kāyagatāsati Sutta, Kinh Thân hành niệm.
33. MN 139 - Araṇavibhanga Sutta, Kinh Vô tránh phân biệt.
34. MN 141 - Saccavibhanga Sutta, Kinh Phân biệt về sự thật.

[*] Theo Chú giải, phát triển thiền-na trong 12 bước đầu tiên của quán niệm hơi thở. Bốn bước sau cùng (13-16) là phát triển tuệ quán.

II. Trong Trường bộ (Dīgha Nikāya), các bài kinh sau đây đều có đề cập đến thiền-na (jhāna) - tổng cộng 19 kinh trong số 34 bài kinh:
DN 2, 3, 4, 5, 6, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 15, 16, 17, 21, 22, 26, 29, 33.

III. Trong Tương ưng bộ (Saṃyutta Nikāya), có 2 chương về thiền-na: Chương 34 - Tương ưng Thiền (Jhānasaṃyutta), thiên Uẩn (55 bài kinh) và Chương 53 - Tương ưng Thiền (cùng tên), thiên Đại phẩm (54 bài kinh).

IV. Trong Tăng chi bộ (Aṅguttara Nikāya), thiền-na (jhāna) được đề cập đến trong 24 bài kinh sau đây:
AN 2.13, AN 3.58, AN 3.63, AN 4.123, AN 4.164, AN 4.190, AN 4.198, AN 4.41, AN 4.78, AN 5.14, AN 5.272, AN 5.28, AN 6.60, AN 8.11, AN 9.34, AN 9.35, AN 9.36, AN 9.40, AN 9.41, AN 9.42, AN 9.73, AN 9.74, AN 11.16, AN 11.67.

*-----*




Sunday, 4 September 2022

Vài gợi ý khi đọc sách.

 Vài gợi ý khi đọc sách.

“… Cần phải thận trọng và sáng suốt. Đừng chỉ tin vào một bài viết nào hay một đoạn văn nào vì nó được trích ra từ một cuốn sách, vì nó được viết bởi một tác giả danh tiếng, vì nó được liệt kê trong danh mục được giới thiệu bởi người nào đó, vì nó được ai đó nhiệt tình giới thiệu, vì nó từ một cuốn sách với hình bìa đẹp mắt, và quan trọng nhất, vì nó nói cho bạn những gì bạn muốn nghe.

“Cần phải thận trọng khi đọc sách. Đọc các sách về tâm linh thì phải chậm rải, thong thả. Cần phải suy tư. Cần có thời gian để nghiền ngẫm. Đọc để học những điều mới lạ, để gia tăng mức độ hiểu biết thâm sâu hơn, để nhắc nhở mình về những điểm quan trọng. Đừng ngại ngùng khi đọc những gì có vẻ khó hiểu.” 

Bhante Sujato (04/01/2021)  

----------

* Ghi thêm: Cũng trong tinh thần đó, nên xem những gì viết ở trên của Sư Sujato chỉ là những gợi ý. Đừng vội tin theo mà cũng đừng vội bác bỏ. Suy tư, cân nhắc, rồi mỗi người phải tự vạch ra đường lối riêng cho mình. (Bình Anson).

*



Friday, 2 September 2022

Giới thiệu năm bộ kinh Nikaya

 Giới thiệu năm bộ kinh Nikaya:

1- Dẫn luận kinh Trường bộ. Thích Nhật Từ (2019).
https://tinyurl.com/mv3due66

2- Dẫn luận kinh Trung bộ. Thích Nhật Từ (2019).
https://tinyurl.com/5n8a2rap

3- Dẫn luận kinh Tương ưng bộ. Thích Minh Thành (2019).
https://tinyurl.com/yuxf3etz

4- Dẫn luận kinh Tăng chi bộ. Thích Minh Thành (2020).
https://tinyurl.com/mty3zbe5

5- Tổng quan kinh Tiểu bộ. Thích Nhật Từ (2021). 
https://tinyurl.com/2reab64j

TIỂU BỘ:
- Dẫn luận Tiểu tụng, Pháp cú, Phật tự thuyết, Phật thuyết như vậy, Kinh tập. Thích Nhật Từ (2021).
https://tinyurl.com/32wyrkr2   

- Dẫn luận Chuyện thiên cung, Chuyện ngạ quỷ, Trưởng lão tăng kệ, Trưởng lão ni kệ. Thích Nhật Từ (2021).
https://tinyurl.com/kuze5h98     

- Dẫn luận Chuyện tiền thân. Thích Minh Thành (2021).
https://tinyurl.com/2spkz8ks    

- Giới thiệu Diễn giải, Phân tích đạo, Thánh nhân ký sự, Phật sử, Hạnh tạng, Milinda vấn đạo. Tỳ-khưu Indacanda (2018). 
https://tinyurl.com/2ejd5tur   

*-----*



Thursday, 1 September 2022

Hãy trich lời Đức Phật

 HÃY TRÍCH LỜI ĐỨC PHẬT

Hỏi: – Sư thường khuyến khích các vị đệ tử nên trích dẫn lời của Đức Phật, không trích dẫn lời của Sư. Tại sao Sư đặc biệt nhấn mạnh điều này, trong khi người ta thường thích quy chiếu về những lời nói và giảng dạy của những vị thầy của họ?

Đáp: – Tôi thường nói với mọi người ở đây, tại Hội Thiền Quán (Bhavana Society), rằng: “Khi các bạn giảng pháp, đừng trích lời của Sư G (*)! Đừng nói ‘Sư G đã giảng, đã nói như thế này …, thế này …’ Hãy trích dẫn lời Đức Phật! Đức Phật nói như thế này ..., thế này ... Các bạn ghi nguồn, xuất xứ trong tạng Nikaya và cho biết tên bài kinh liên quan.”

Tại sao?

Khi bạn trích dẫn lời của một vị thầy Phật giáo, như thể sao chép. Từ bản đầu tiên bạn tạo ra một bản sao khác. Từ bản sao thứ hai, bạn tạo ra thêm một bản sao khác nữa, rồi cứ tiếp tục như thế. Khi đến bản thứ 100, nó chỉ còn là một tờ giấy trắng. Bạn không còn có thể đọc được một chữ nào!

Vì thế tôi không thích trích dẫn lời của các vị thầy. Thay vào đó, tôi thích trích dẫn lời dạy nguyên thủy của Đức Phật. Lời dạy của Đức Phật được giữ nguyên, không thay đổi theo thời gian. Các bạn hãy tìm đọc các bản dịch giá trị từ bản Pali và trích dẫn từ nguồn đó. Như thế, cho dù bạn trích dẫn lời dạy hay các đệ tử của bạn trích dẫn, tất cả đều quy về cùng một nguồn.

Nếu làm khác đi – trích lời của vị thầy này của vị thầy kia của vị thày nọ … – cuối cùng rồi bạn sẽ không thấy được ý nghĩa thật sự. Như thể tìm cây kim trong đống rơm. Bạn không còn thấy được đạo Phật!

Đó là xu hướng ngày nay trong xã hội phương Tây. Người ta thích trích dẫn lời “thầy của tôi đã nói như thế này, thế này.” Có người chỉ viết những cuốn sách về thầy của họ. Chúng tôi có nhiều sách như thế trong thư viện ở đây. Họ không thích trích lời Phật dạy có lẽ là vì họ cho rằng các lời dạy đó đã xưa cũ, không theo trào lưu nữa.

Đôi khi tôi đến một nơi nào đó để thuyết pháp, nếu tôi đề cập đến Tứ Thánh đế, nhiều người phản ứng nói rằng: “Bạch Sư, điều đó quá sơ đẳng. Hãy bàn luận về những điều thâm sâu hơn!”

Bạn có thấy tâm trạng đó không, cho rằng lời dạy cốt lõi lại là “điều sơ đẳng”? Tôi hỏi lại: “Vậy thì điều thâm sâu thật sự là gì?”

Chúng ta cần phải nhớ rằng sau 45 năm truyền giảng giáo pháp, Đức Phật tuyên bố, “Này các tỳ-khưu, ta chỉ giảng dạy Khổ và sự Diệt khổ.” Đó là tất cả những gì Ngài đã dạy. Còn các điều khác chỉ là thứ yếu, phụ thuộc.

Tôi đã thấy chuyện này xảy ra trong suốt cuộc đời tôi. Do đó, chúng ta sẽ còn thấy vẫn tiếp tục trong tương lai.

(*) Sư G: “Bhante G”. Đây là tên gọi thân mật dành cho ngài Hòa thượng Gunaratana.

– Hòa thượng Gunaratana
“What, why, how: Answers to your questions about Buddhism, meditation, and living mindfully” (2020). 

*



Friday, 26 August 2022

Những hiểu lầm về Đạo Phật

  NHỮNG HIỂU LẦM VỀ ĐẠO PHẬT

Minh Đức Triều Tâm Ảnh

 Đạo Phật ngày càng suy đồi, tha hoá, mạt pháp”, nguyên nhân thì nhiều, nhưng đôi khi vì trong giới tu sĩ và cư sĩ không trang bị đủ kiến thức của giáo pháp như thực - tức là giáo pháp cội rễ - mà chỉ chạy theo cành, nhánh, ngọn lắm hoa và nhiều trái. Từ đấy, khó phân biệt đâu là đạo Phật chơn chánh, đâu là đạo Phật đã bị biến chất, chạy theo thị hiếu dung thường của thế gian. Đôi nơi đạo Phật còn bị trộn lẫn với tín ngưỡng duy linh và cả tín ngưỡng nhân gian nữa... Nhiều lắm, không kể xiết đâu.

Với cái nhìn “chủ quan” của một tu sĩ Theravāda, tôi xin mạo muội liệt kê ra đây những hiểu lầm tai hại và rất phổ biến của Phật giáo trong và ngoài nước để chư vị thức giả cùng thấy rõ như thực:

1- Tôn giáo: Đạo Phật có những sinh hoạt về tôn giáo nhưng đạo Phật không phải là tôn giáo, vì đạo Phật không có một vị thượng đế tối cao hoá sinh muôn loài và có quyền ban thưởng, phạt ác.

2- Tín ngưỡng: Đạo Phật có những sinh hoạt tín ngưỡng nhưng đạo Phật không phải là tín ngưỡng để mọi người đến van vái, cầu xin những ước mơ dung tục của đời thường.

3- Triết học: Đạo Phật có một hệ thống tư tưởng được rút ra từ Kinh, Luật và Abhidhamma, được gọi là “như thực, như thị thuyết” chứ không phải là một bộ môn triết học “chia” rồi “chẻ”, “phán” rồi “đoán” như của Tây phương.

4- Triết luận: Đạo Phật có tuệ giác để thấy rõ Cái Thực chứ không sử dụng lý trí phân tích, lý luận. Còn triết, còn luận là vì chưa thấy rõ Cái Thực. Đạo Phật là đạo như chơn, như thực. Kinh giáo của đức Phật luôn đi từ cái thực cụ thể để hướng dẫn mọi người tu tập, nó không có triết, có luận đâu. Ngay “thiền” mà còn “luận” (thiền luận) là đã đánh mất thiền rồi.

5- Từ thiện xã hội: Đạo Phật có những sinh hoạt từ thiện xã hội nhưng không coi từ thiện xã hội là tất cả, để hy sinh cuộc đời đầu tròn, áo vuông một cách uổng phí. Đạo Phật còn có những sinh hoạt cao cả hơn: Đó là giáo dục, văn hoá, nghệ thuật, tu tập thiền định và thiền tuệ nữa. Từ thiện xã hội thì ai cũng làm được, thậm chí người ta còn làm tốt hơn cả Phật giáo, ví dụ như Bill Gates. Còn giáo dục, văn hoá, nghệ thuật của đạo Phật là nền tảng Mỹ Học viết hoa (nội hàm các giá trị nhân văn, nhân bản) mà không một tôn giáo, môt chủ nghĩa, một học thuyết nào trên thế gian có thể so sánh được. Và đây mới là sự phụng hiến cao đẹp của đạo Phật cho thế gian. Còn nữa, nếu không có tu tập thiền định và thiền tuệ thì mọi hình thái sinh hoạt của đạo Phật, xem ra không phải là của đạo Phật đâu!

6- Cực lạc, cực hạnh phúc: Đạo Phật có nói đến hỷ, lạc trong các tầng thiền; có nói đến hạnh phúc siêu thế khi ly thoát tham sân, khổ lạc (dukkha), phiền não của thế gian - chứ không có một nơi chốn cực lạc, cực hạnh phúc được phóng đại như thế.

7- 8 vạn 4 ngàn pháp môn: Đạo Phật có nói đến 8 vạn 4 ngàn pháp uẩn (dhammakhandha) chứ không nói đến 8 van 4 ngàn pháp môn (dhammadvāra). Uẩn (khandha) ngoài nghĩa che lấp, che mờ và nghĩa chồng lên, chồng chất, còn có nghĩa là nhóm, liên kết, tập hợp ví như Giới uẩn (nhóm giới), Định uẩn (nhóm định), Tuệ uẩn (nhóm tuệ). Do từ uẩn (khandha) lại dịch lệch ra môn - cửa (dvāra), pháp môn nên ai cũng tưởng là có  8 vạn 4 ngàn pháp môn, tu theo pháp môn nào cũng được! Ai là người có thể đếm đủ 8 vạn, 4 ngàn cửa pháp này? Còn nữa, xin lưu ý, 8 vạn 4 ngàn chỉ là con số tượng trưng, có nghĩa là nhiều lắm, đếm không kể xiết theo truyền thống tôn giáo và tín ngưỡng Ấn Độ cổ thời. Ví dụ 84 ngàn lỗ chân lông, 84 ngàn vi trùng trong một bát nước, 84 ngàn phiền não, 84 ngàn cách tu...

8- Xin xăm, bói quẻ, cầu sao, giải hạn, xem ngày giờ tốt xấu: Những hình thức này không phải của đạo Phật. Trong kinh tụng Pāli có đoạn: “Sunakkhataṃ sumaṅgalaṃ supabhātaṃ suhuṭṭhitaṃ, sukhno ca suyiṭṭaṃ brahmacārisu. Padakkhinaṃ kāyakammaṃ vācākammaṃ padakkhinaṃ padakkhinaṃ manokammaṃ paṇidhī te padakkhinā...”

Có nghĩa là: Giờ nào (chúng ta) thực hành thân, khẩu, ý trong sạch; giờ đó được gọi là vận mệnh tốt, là giờ tốt, là khắc tốt, là canh tốt... Ngày đó gọi là có nghiệp thân phát đạt, nghiệp khẩu phát đạt, nghiệp ý phát đạt. Và nguyện vọng theo đó được gọi là nguyện vọng phát đạt. Người tạo nghiệp thân, nghiệp khẩu, nghiệp ý phát đạt như thế rồi sẽ được những lợi ích phát đạt (chữ phát đạt có thể có thêm nghĩa nhiêu ích).

9- Định mệnh: Đạo Phật có nói đến nghiệp, đến nhân quả nghiệp báo chứ không hề nói đến định mệnh. Theo đó, gây nhân xấu ác thì gặt quả đau khổ, gây nhân lành tốt thì gặt quả an vui - chứ không phải “cái tơ cái tóc cũng do trời định” như định mệnh thuyết của Khổng Nho hoặc định mệnh 4 giai cấp của Bà-la-môn giáo.

10- Siêu độ, siêu thoát: Không có bài kinh nào, không có uy lực của bất kỳ ông sư, ông thầy nào có thể tụng kinh siêu độ, siêu thoát cho hương linh, vong linh, chân linh cả. Thời Phật tại thế, nếu có đến nơi người mất, chư tăng chỉ đọc những bài kệ vô thường, khổ và vô ngã để thức tỉnh người sống; và hiện nay các nước Phật giáo Theravāda còn duy trì.  Có thể có hai trường hợp:

- Nếu vừa chết lâm sàng thì thần thức người chết vẫn còn. Vậy có thể đọc kinh, mở băng kinh, chuông mõ, hương trầm... để “thần thức người chết” hướng về điều lành... để thần thức tự tạo “cận tử nghiệp” tốt cho mình.

- Nếu thần thức đã lìa khỏi thân rồi – thì họ đã tái sanh vào cõi khác rồi, ngay tức khắc. Khi ấy thì gia đình làm phước để chư tăng tụng kinh hồi hướng phước ấy cho người đã mất.

Cả hai trường hợp trên đều không hề mang ý nghĩa siêu độ, siêu thoát mà chỉ có ý nghĩa gia hộ, gia niệm, gia lực mà thôi. Tu dựa vào tha lực cũng tương tự như vậy, nhưng cuối cùng cũng phải tự lực: “Tự mình thắp đuốc mà đi, tự mình là hòn đảo của chính mình”.

Chư thiên chỉ có khả năng hoan hỷ phước và báo truyền thông tin ấy cho người quá vãng mà thôi. Họ không có uy lực ban phước lành cho ai cả.

11- Huyền bí, bí mật: Giáo pháp của đức Phật không có cái gì được gọi là huyền bí, bí mật cả. Đức Phật luôn tuyên bố là “Như Lai thuyết pháp với bàn tay mở ra”; có nghĩa là ngài không có pháp nào bí mật để giấu kín cả!

12- Tâm linh: Ngày nay, người ta tràn lan lễ hội, tràn lan mọi loại điện thờ với những hình thức mê tín, dị đoan, sa đoạ văn hoá... mà ở đâu cũng rêu rao các giá trị tâm linh. Đạo Phật không hề có các kiểu tâm linh như vậy. Thuật ngữ tâm linh này được du nhập từ Trung Quốc. Và rất tiếc, tôi không hề tìm ra nguồn Phật học Pāli hay Sanskrit có từ nào tương thích với chữ “linh” này cả!

13- Niết-bàn: Nhiều người tưởng lầm Niết-bàn là ở một cõi nào đó, một nơi chốn nào đó; thậm chí là ở một thế giới ở ngoài thế gian này. Người nào tìm kiếm Niết-bàn kiểu ấy, thuật ngữ thiền tông có cụm từ “lông rùa, sừng thỏ” như ngài Huệ Năng đã nói rõ: “Phật pháp tại thế gian. Bất lý thế gian giác. Ly thế mịch bồ-đề. Cáp như tầm thố giác”. Thố giác là sừng thỏ. Và giác ngộ cũng vậy, chính ở trong khổ đau, phiền não mới giác ngộ bài học được.

14- Bỏ khổ, tìm lạc: Tu Phật không phải là bỏ khổ, tìm lạc. Xin lưu ý cho: Khổ và Lạc chính là căn bản của phiền não!

15- Tu để được cái gì! Có nhiều người nghĩ rằng, tu là để được cái gì đó. Xin thưa, được cái gì là sở đắc. Ai sở đắc? Chính là bản ngã sở đắc. Đạo Phật là vô ngã. Hãy xin đọc lại Bát-nhã tâm kinh.

16- Tu là sửa: Nếu tu là sửa thì mình đã từ “cái ta này” biến thành “cái ta khác”. Nếu tu là không sửa thì cứ để nguyên trạng tham sân si như vậy hay sao? Xin thưa, sửa hay không sửa đều trật. Đạo Phật quan trọng ở Cái Thấy! Có Cái Thấy mới nói đến giác ngộ và giải thoát. Không có Cái Thấy này thì tu kiểu gì cũng trệch hướng hoặc rơi vào phước báu nhân thiên.

17- Vía: Đạo Phật không có vía nào cả. Vía, hồn, phách là quan niệm của nhân gian. Ví dụ, ba hồn bảy vía. Ví dụ, nam thất, nữ cửu – nam bảy vía, nữ chín vía. Nếu là nam thất, nữ cửu thì nó trùng với nam 7 khiếu, nữ 9 khiếu. Vía là phần hồn. Không có cái hồn, cái linh hồn tự tồn tại nếu không có chỗ nương gá. Vía không độc lập được. Như danh - phần tâm, sắc - phần thân – luôn nương tựa vào nhau. Chỉ có năng lực thiền định mới tạm thời tách lìa danh ra khỏi sắc, như Cõi trời Vô tưởng của tứ thiền. Tuy nhiên, cõi trời Vô tưởng hữu tình này không phải là không có danh tâm mà chúng ở dạng tiềm miên.  Còn các Cõi trời Vô sắc thì sắc không phải là không có, chúng cũng ở dạng tiềm miên. Thật đáng phàn nàn, Phật và Bồ-tát đều có “vía” cả! Và cũng thật là “đau khổ” khi trong lễ an vị Phật, người ta còn hô “Thần nhập tượng” nữa chứ!

18- Bồ-tát: Bồ-tát là âm của chữ Bodhisatta: Chúng sanh có trí tuệ. Vậy, chúng ta tạm thời bỏ quên “khái niệm Bồ-tát” quen thuộc trong kinh điển mà trở về với nghĩa gốc là “chúng sanh có trí tuệ”. Và như vậy, sẽ có hạng chúng sanh có trí tuệ với nguyện lực Thanh Văn; chúng sanh có trí tuệ với nguyện lực Độc Giác; chúng sanh có trí tuệ với nguyện lực Chánh Đẳng Giác. Ngoài 3 loại chúng sanh có trí tuệ trên – không có loại chúng sanh có trí tuệ nào khác.

19- Phật: Phật là âm của chữ Buddha, nghĩa là người Giác ngộ. Vậy chúng ta nên tạm thời bỏ quên “khái niệm Phật” từ lâu đã mọc rễ trong tâm thức mà trở về nghĩa gốc là bậc Giác ngộ. Vậy, có người Giác ngộ do nghe pháp từ bậc Chánh Đẳng Giác, được gọi là Thanh Văn Giác. Có người Giác ngộ do tự mình tu tập vào thời không có đức Chánh Đẳng Giác, được gọi là Độc Giác. Có vị Giác ngộ do trọn vẹn 30 ba-la-mật, trọn vẹn minh và hạnh nên gọi là Chánh Đẳng Giác.

Không có vị Giác ngộ (Phật) nào ngoài 3 loại Giác ngộ trên.

20- Thể nhập: Tu là không thể nhập vào cái gì cả. Thể nhập là bỏ cái ngã này để nhập vào cái ngã khác. Cãi ngã khác ấy có thể là dòng sông, có thể là ngọn núi, có thể là một cội cây, có thể là một thần linh, thượng đế. Cái cụm từ “thể nhập pháp giới” rất dễ bị hiểu lầm. Khi đi, chánh niệm, tỉnh giác trọn vẹn với cái đi; khi nói, chánh niệm, tỉnh giác trọn vẹn với cái nói; khi ăn, chánh niệm, tỉnh giác trọn vẹn với cái ăn – thì đấy mới đúng nghĩa “thể nhập pháp giới”, ngay giây khắc ấy, mọi tham sân, phiền não không có chỗ để phan duyên, sanh khởi.

Ngoạ Tùng Am, Sơ Xuân 2015
Minh Đức Triều Tâm Ảnh (*)

------------------

(*) Bút hiệu của Hòa thượng Giới Đức, chùa Huyền Không Sơn Thượng, Huế

Nguồn: Thư viện Hoa Sen (11/03/2015)
 https://thuvienhoasen.org/a22571/nhung-hieu-lam-ve-dao-phat

 *