Friday, 3 January 2025

24 bệnh thường gặp ở người cao tuổi

 24 BỆNH THƯỜNG GẶP Ở NGƯỜI CAO TUỔI 
Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
tamanhhospital.vn/benh-thuong-gap-o-nguoi-cao-tuoi/  

*

Tìm hiểu thông tin về các bệnh thường gặp ở người cao tuổi, cách phòng ngừa bệnh người già hay gặp có thể giúp chủ động phòng tránh bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tốt hơn.

Những bệnh thường gặp ở người cao tuổi có thể khiến người bệnh giảm chất lượng cuộc sống, sức khỏe suy yếu nhanh, thậm chí giảm tuổi thọ. Mỗi người cần tìm hiểu nguyên nhân cũng như cách phòng ngừa các bệnh lý thường gặp ở người cao tuổi từ sớm để có những điều chỉnh, can thiệp phù hợp.

VÌ SAO NGƯỜI CAO TUỔI THƯỜNG DỄ MẮC BỆNH?

Khi già đi, cơ thể bắt đầu lão hoá, trở nên kém hiệu quả hơn trong việc điều chỉnh nhiệt độ, chống lại nhiễm trùng và các bệnh lý khác. Lúc này, người cao tuổi dễ bị chấn thương, tai nạn, mắc bệnh hơn so với những người trẻ tuổi. 

Cụ thể, khi càng lớn tuổi thì các mảng mỡ tích tụ trong động mạch ngày càng nhiều, làm tăng nguy cơ xơ vữa động mạch. Lão hóa khiến cơ thể của người trung niên và người cao tuổi mất đi lượng canxi cùng các khoáng chất khác. Sự suy giảm mật độ xương tăng nhanh do lão hoá khiến xương trở nên mỏng và yếu hơn.  

Người cao tuổi còn dễ mắc bệnh hơn do lão hoá làm cho các tế bào dễ bị tổn thương hơn, quá trình phục hồi chậm hơn, sức đề kháng suy giảm. Những bệnh lý thường gặp ở người cao tuổi cũng có nhiều khả năng phát triển hơn do người cao tuổi dễ mệt mỏi, ít vận động tập thể dục, ngồi hoặc nằm nhiều … 

CÁC BỆNH THƯỜNG GẶP Ở NGƯỜI CAO TUỔI

Một số bệnh thường gặp ở người cao tuổi có thể kể đến như:

1. Tiểu đường (đái tháo đường) - Diabetes

Bệnh tiểu đường là một căn bệnh mạn tính ở người lớn tuổi, ảnh hưởng đến khoảng 33% số người từ 65 tuổi trở lên. Tình trạng này xảy ra khi cơ thể không sản xuất đủ insulin hoặc không thể sử dụng insulin đúng cách, hoặc kết hợp cả hai vấn đề trên. Khi cơ thể gặp vấn đề với insulin, cơ thể có lượng glucose trong máu tăng cao (tăng đường huyết), điều này diễn ra trong thời gian dài gây tàn phá sức khỏe. (1)

Các triệu chứng bệnh tiểu đường ở người lớn tuổi có thể diễn ra từ nhẹ đến nặng, bao gồm khát nước và đi tiểu nhiều, mờ mắt, mệt mỏi, chóng mặt, ngất xỉu… Không phải người lớn tuổi nào bị tiểu đường cũng có toàn bộ các triệu chứng này. Tùy theo từng mức độ nghiêm trọng của bệnh mà người bệnh có thể gặp một hoặc nhiều triệu chứng cùng lúc. Các yếu tố quan trọng dẫn đến bệnh tiểu đường là do sự thiếu hụt bài tiết insulin phát triển theo tuổi tác, tình trạng kháng insulin ngày càng tăng do thay đổi thành phần cơ thể và thiểu cơ. (2)

2. Suy giảm trí nhớ (Bệnh Alzheimer) - Alzheimer's disease and dementia

Bệnh Alzheimer là một căn bệnh thường gặp ở người cao tuổi gây sa sút trí tuệ và bệnh diễn ra ngày càng nghiêm trọng hơn khi người bệnh ngày càng lớn tuổi. Ở giai đoạn đầu, tình trạng mất trí nhớ xảy ra với mức độ nhẹ. Ở giai đoạn cuối, người bệnh thậm chí có thể bị mất khả năng giao tiếp và phản ứng với môi trường.

Tốc độ tiến triển của bệnh Alzheimer rất khác nhau. Trung bình, những người mắc bệnh Alzheimer sống được từ 3 đến 11 năm sau khi được chẩn đoán. Nhưng một số người bệnh vẫn có thể sống được 20 năm hoặc hơn. (3)

3. Suy giảm thính lực - Hearing loss

Suy giảm thính lực là tình trạng mất thính lực dần dần ở cả hai tai. Đây là một trong các bệnh thường gặp ở người cao tuổi liên quan đến vấn đề lão hoá. Các khảo sát cho thấy, ⅓ người cao tuổi trên 65 tuổi gặp vấn đề liên quan đến suy giảm thính lực. Tình trạng suy giảm này không diễn ra đột ngột mà thay đổi dần dần nên thậm chí một số người còn không nhận ra vấn đề sức khỏe của mình. (4)

Nguyên nhân phổ biến dẫn đến căn bệnh người già hay gặp này chính là do những thay đổi ở tai trong xảy ra khi già đi. Ngoài ra, các vấn đề liên quan đến di truyền và thói quen khi còn trẻ (thường xuyên đeo tai nghe, nghe âm thanh quá lớn…) cũng làm tăng nguy cơ bị suy giảm thính lực khi về già.

4. Đục thủy tinh thể - Cataracts

Trong các bệnh thường gặp ở người già thì đục thuỷ tinh thể cũng là một căn bệnh phổ biến. Người bệnh có thể bị mờ một phần hoặc toàn bộ thuỷ tinh thể. Đây là căn bệnh không thể phục hồi và diễn ra ngày càng nghiêm trọng, dẫn đến mất thị lực hoàn toàn. Khoảng 20% những người từ 65 tuổi trở lên bị đục thủy tinh thể. Khoảng một nửa số người từ 75 tuổi trở lên bị đục thủy tinh thể. (5)

5. Loãng xương - Osteoporosis

Người cao tuổi cũng có nguy cơ gặp các vấn đề về xương khớp do tình trạng suy giảm mật độ xương cũng như việc xương mất đi lượng canxi và khoáng chất cần thiết khiến xương mỏng manh hơn, yếu hơn. Người cao tuổi thường dễ bị loãng xương hơn.

Để củng cố sức khỏe xương khớp và giảm nguy cơ mắc bệnh loãng xương, người cao tuổi cần tập thể dục với cường độ phù hợp, tiêu thụ thực phẩm giàu canxi, vitamin D.

6. Viêm khớp - Arthritis

Một căn bệnh mạn tính ảnh hưởng đến nhiều người lớn tuổi là viêm khớp, gây đau khớp, cứng khớp và sưng tấy ở các khớp. Viêm khớp là một trong những phản ứng tự nhiên của cơ thể trước bệnh tật hoặc chấn thương, xuất hiện phổ biến, đặc biệt là khi già đi.

Mặc dù hiện tại không có cách chữa dứt điểm bệnh viêm xương khớp nhưng một số phương pháp điều trị có thể làm giảm bớt triệu chứng. Trong đó, tập thể dục là một phương pháp giúp làm giảm các triệu chứng của bệnh thường gặp ở người cao tuổi. Tập thể dục giúp bôi trơn các khớp và tăng cường cơ bắp xung quanh khớp.

7. Bệnh tim mạch - Ischemic heart disease (coronary heart disease)

Một trong các bệnh thường gặp ở người cao tuổi nguy hiểm và đe dọa đến tính mạng là những bệnh lý tim mạch như đau tim, đột quỵ, bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn tính … Tình trạng tích tụ mảng bám có thể làm tăng độ xơ cứng trong động mạch - một trong những thay đổi phổ biến mà người cao tuổi gặp phải. Mặc dù không thể kiểm soát những thay đổi liên quan đến tuổi tác nhưng người cao tuổi vẫn có thể áp dụng lối sống khoa học để làm giảm nguy cơ mắc các bệnh lý tim mạch, chẳng hạn như hạn chế ăn thức ăn nhiều dầu mỡ hoặc chất béo, tập thể dục mỗi ngày. 

8. Bệnh ung thư - Cancer

Ung thư có thể phát triển ở mọi lứa tuổi, nhưng tỷ lệ mắc bệnh ung thư tăng lên đáng kể ở “giai đoạn sau” của cuộc đời. Thống kê của GLOBOCAN 2022 thuộc WHO đưa ra thông tin, vào năm 2022, khoảng 53% số người mắc bệnh ung thư là từ 65 tuổi trở lên. Điều này cho thấy, có mối quan hệ mật thiết giữa căn bệnh ung thư và lão hóa.

Đặc biệt, tuổi tác cũng làm tăng thêm sự phức tạp khi sống chung với bệnh ung thư. Nhiều bệnh ung thư ở người lớn tuổi được chẩn đoán vào giai đoạn muộn, vì các triệu chứng ung thư sớm có thể bị nhầm lẫn với những tình trạng bệnh nhẹ liên quan đến tuổi già. Do đó, việc điều trị ung thư thường bắt đầu muộn, tăng sự phức tạp, tăng nguy cơ xảy ra các tác dụng phụ nghiêm trọng và làm giảm cơ hội điều trị thành công.

9. Viêm phổi - Lung infections

Khi bước vào giai đoạn trung niên và cao tuổi, ngoài những vấn đề liên quan đến thần kinh, tim mạch hay xương khớp… bạn có thể phải đối diện với nhiều bệnh lý hô hấp. Trong đó, viêm phổi là một trong những bệnh thường gặp ở người cao tuổi. Dấu hiệu bệnh viêm phổi ở người lớn tuổi là gì? Đó chính là ho có đờm và sốt. Ngoài ra, khi bị viêm phổi, người cao tuổi cũng có thể bị tiêu chảy hoặc lú lẫn nếu không được điều trị kịp thời khiến bệnh diễn tiến nặng.

10. Phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) - Chronic obstructive pulmonary disease

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là bệnh thường gặp ở người lớn tuổi có thói quen hút thuốc lá, thuốc lào thường xuyên.

Các triệu chứng chính của COPD bao gồm khó thở, đặc biệt là khi hoạt động, ho dai dẳng có đờm, thở khò khè dai dẳng… Nếu không điều trị, các triệu chứng thường diễn ra ngày càng nặng hơn. Vào những đợt bùng phát, bệnh có thể đe dọa đến tính mạng.

11. Viêm phế quản mạn tính - Chronic Bronchitis

Viêm phế quản có thể diễn ra ở dạng cấp tính hoặc mạn tính. Viêm phế quản cấp tính ở người cao tuổi thường khỏi sau khoảng 10 ngày. Viêm phế quản mạn tính ở người lớn tuổi diễn ra nghiêm trọng hơn vì người cao tuổi có thể có hệ thống miễn dịch suy yếu hoặc đang có các bệnh lý nền, các vấn đề sức khỏe tiềm ẩn, cùng với tình trạng phổi bị lão hóa theo độ tuổi. Các triệu chứng viêm phế quản ở người cao tuổi thường bao gồm:

- Ho dai dẳng.
- Ho ra đờm màu vàng hoặc xanh hoặc ho ra máu.
- Cảm thấy khó thở hoặc thở nhanh và nông.
-Thở khò khè.
- Sốt.

12. Tăng huyết áp - Hypertension

Trong các bệnh người cao tuổi thường gặp thì tăng huyết áp là một vấn đề phổ biến. Mạng lưới mạch máu của cơ thể (hệ thống mạch máu) thay đổi theo tuổi tác. Động mạch trở nên cứng hơn, khiến huyết áp tăng cao. Điều này có thể đúng ngay cả với những người có thói quen tốt cho tim.

13. Trầm cảm - Depression

Trong 10 người lớn tuổi thì luôn có lớn hơn 1 người bị trầm cảm. Người cao tuổi có nguy cơ bị trầm cảm cao do nhiều yếu tố tác động. Trong đó, việc mắc các bệnh lý khác có thể gây trầm cảm trực tiếp và gián tiếp. Cụ thể, sức khỏe kém có thể thay đổi cách cơ thể hoạt động, gây trầm cảm. Các tình trạng bệnh lý cũng khiến người cao tuổi gặp khó khăn trong sinh hoạt, dễ gây bức bối và trầm cảm. Khi lớn tuổi, việc không được ở gần con cháu, không thuận tiện để gặp gỡ bạn bè, thiếu sự tiếp xúc với xã hội, cảm giác bản thân vô dụng, đang làm phiền con cháu… khiến người cao tuổi dễ bị trầm cảm hơn. (6)

14. Mỡ máu cao - High cholesterol

Mỡ máu cao (tình trạng cholesterol cao) là một vấn đề thường gặp ở những người trung niên và cao tuổi. Nếu không điều trị kịp thời, mỡ máu cao dẫn đến xơ cứng động mạch cũng như các mảng bám tích tụ có thể gây tắc nghẽn mạch máu, từ đó dẫn đến đột quỵ.

15. Bệnh thận mạn tính - Chronic kidney disease (CKD)

Người cao tuổi thường mắc những bệnh lý nào? Bệnh thận mạn tính cũng nằm trong nhóm bệnh thường gặp ở người cao tuổi. Những người mắc bệnh thận mạn tính có nguy cơ bị đau tim cao gấp hai đến ba lần và bệnh tim mạch vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho những người chạy thận nhân tạo, người được ghép thận.

16. Cúm - Flu, Influenza

Người lớn tuổi có nguy cơ mắc bệnh cúm nghiêm trọng hơn và các biến chứng liên quan đến cúm cũng diễn ra nghiêm trọng hơn đối với nhóm đối tượng này. Cúm làm tăng nguy cơ đau tim lên 3 - 5 lần và tăng nguy cơ đột quỵ lên 2 - 3 lần trong 2 tuần đầu nhiễm bệnh đối với những người trên 65 tuổi. (7)

17. Đột quỵ - Stroke

Khi bạn càng lớn tuổi thì nguy cơ đột quỵ càng cao do mạch máu mỏng và yếu đi, làm tăng nguy cơ vỡ mạch máu dẫn đến xuất huyết não. Các mảng bám tích tụ trong mạch máu gây xơ vữa mạch cũng là một yếu tố làm tăng nguy cơ đột quỵ ở người cao tuổi do tắc nghẽn mạch máu não. Các bệnh mạn tính như đái tháo đường, tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu không được kiểm soát tốt là yếu tố nguy cơ gây bệnh đột quỵ ở người già.

Các yếu tố về lối sống từ khi còn trẻ như ít vận động, uống nhiều rượu bia, ăn những loại thực phẩm nhiều dầu mỡ hay thường xuyên căng thẳng, ngủ không đủ giấc… đều làm tăng nguy cơ đột quỵ khi về già.

Người cao tuổi có thể bị đột quỵ tái phát nhiều lần nếu không tầm soát sức khỏe định kỳ và điều trị các bệnh lý làm tăng nguy cơ đột quỵ. Đột quỵ có thể để lại những biến chứng nặng nề, khiến người cao tuổi bị rối loạn ngôn ngữ, mất khả năng vận động, sống đời sống thực vật… hay thậm chí tử vong. Đột quỵ còn làm tăng gánh nặng về mặt tài chính, tâm lý cho người bệnh, gia đình và xã hội.

18. Nhiễm trùng đường tiểu - Urinary tract infection (UTI)

Nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI) là một bệnh nhiễm trùng thường gặp ở người cao tuổi, chủ yếu do các yếu tố nguy cơ liên quan đến tuổi tác như suy dinh dưỡng, đái tháo đường không được kiểm soát tốt, kiểm soát bàng quang kém dẫn đến bí tiểu hoặc tiểu không tự chủ, táo bón, nằm viện dài ngày, teo âm đạo, phì đại tuyến tiền liệt… Các triệu chứng ở người cao tuổi bị nhiễm trùng đường tiểu bao gồm: nóng rát khi đi tiểu, đi tiểu thường xuyên hoặc cần đi tiểu gấp, cảm giác bàng quang không hoàn toàn trống, đau bụng dưới hoặc vùng chậu, sốt, ớn lạnh, mệt mỏi khó chịu…

19. Rối loạn tiêu hóa - Gastrointestinal disorders

Nói đến các bệnh thường gặp ở người cao tuổi thì không thể không nói đến rối loạn tiêu hóa. Trong đó, trào ngược axit dạ dày, táo bón, hội chứng ruột kích thích, xuất huyết tiêu hóa… là những vấn đề thường gặp. Những thay đổi quan trọng về mặt lâm sàng trong chức năng đường tiêu hóa khi già đi bao gồm giảm ngưỡng vị giác, giảm acid clohydric do viêm dạ dày teo. Đây là những yếu tố tác động làm tăng nguy cơ bị rối loạn tiêu hóa ở người cao tuổi.

20. Bệnh Zona - Shingles, Herpes zoster

Đối với người lớn tuổi, bệnh zona gây ra những vấn đề nguy hiểm đặc biệt, tăng nguy cơ dẫn đến đau sau zona và biến chứng thần kinh của bệnh zona. Các triệu chứng điển hình ở người mắc bệnh zona bao gồm: có cảm giác nóng rát hoặc ngứa ran trên da tại một bộ phận của cơ thể, phát ban, ngứa da, có mụn nước, sốt, buồn nôn…

21. Bệnh Parkinson - Parkinson's disease

Khi đề cập đến các bệnh thường gặp ở người cao tuổi thì không thể không kể đến bệnh Parkinson. Tại Mỹ, bệnh Parkinson ảnh hưởng đến khoảng hai triệu người. Phần lớn số người bệnh đều từ 60 tuổi trở lên. Tuổi thọ trung bình của người cao tuổi mắc bệnh Parkinson là bao nhiêu? Trung bình, một người mắc bệnh Parkinson có thể sống đến hơn 80 tuổi. Tuy nhiên, bệnh gây ra những bất tiện trong cuộc sống, ảnh hưởng đến trí não và chức năng vận động, tâm lý của người bệnh khiến quãng đời sau này của người cao tuổi không còn được thoải mái.

22. Bệnh hen suyễn - Asthma

Một số người lớn tuổi mắc bệnh hen suyễn đã mắc bệnh này từ khi còn nhỏ. Những người khác bị hen suyễn khi trưởng thành.

Các dấu hiệu và triệu chứng hen suyễn ở người lớn tuổi cũng giống như những triệu chứng hen suyễn gặp ở các nhóm tuổi khác. Các dấu hiệu của bệnh hen suyễn ở người lớn tuổi bao gồm: thở hụt hơi, ho, tức ngực, đau ngực, thở khò khè… Bệnh này còn dễ khiến người bệnh thức giấc vào ban đêm và gây mất ngủ, khó ngủ.

23. Béo phì - Obesity

Tỷ lệ béo phì ở người già đang gia tăng và hiện là mối đe dọa toàn cầu lớn ở cả các nước phát triển, đang phát triển. Người cao tuổi ít vận động hơn, ăn nhiều thực phẩm bổ dưỡng với hàm lượng chất béo cao hơn nên nguy cơ béo phì cũng gia tăng. Béo phì là một yếu tố nguy cơ dẫn đến các bệnh lý tim mạch, thần kinh và đột quỵ, có thể dẫn đến tử vong.

24. Bệnh da liễu - Skin diseases

Người cao tuổi cũng có nguy cơ đối mặt với những vấn đề liên quan đến sức khỏe làn da. Khi già đi, các tế bào da cũng dễ bị tổn thương, rách và nhiễm trùng hơn, dẫn đến các vết lở loét trên da. Các tế bào lúc này cũng chậm lành hơn. Người cao tuổi có thể dễ bị nhiễm trùng và loét do tỳ đè.

YẾU TỐ NGUY CƠ KHIẾN NGƯỜI GIÀ DỄ MẮC BỆNH

Ngoài yếu tố lão hóa làm cho các tế bào cơ thể bị suy yếu và dễ tổn thương, hệ miễn dịch suy giảm thì người ở tuổi trung niên, cao tuổi có nguy cơ mắc các bệnh lý cao hơn do:

- Kém vận động: Người cao tuổi ít vận động, hay nằm hoặc ngồi một chỗ. Đây là yếu tố dễ gây béo phì, mỡ máu cao và dẫn đến các bệnh lý khác.

- Yếu tố tâm lý: Cảm giác phụ thuộc vào con cháu, vô dụng, cô đơn… khiến người cao tuổi dễ buồn bã, rầu rĩ. Sức khỏe tinh thần không ổn định cũng có ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất của người cao tuổi.

- Lối sinh hoạt chưa phù hợp: Người cao tuổi thường có tâm lý thoải mái hơn về lối sống và sinh hoạt, ít duy trì lịch ăn uống hoặc nghỉ ngơi đều đặn. Đây cũng là một yếu tố nguy cơ dẫn đến các bệnh thường gặp ở người cao tuổi.

Có rất nhiều bệnh thường gặp ở người cao tuổi và các bệnh lý này nhìn chung đều có thể gây ra biến chứng ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng. Tốt hơn hết, người cao tuổi nên chủ động thăm khám sức khỏe định kỳ để tầm soát bệnh, sớm phát hiện các yếu tố nguy cơ gây bệnh để kịp thời can thiệp điều trị. 

*  Nguồn tham khảo:

(1) Learn 10 warning signs of diabetes in older adults. National Council on Aging (NCOA).  
https://www.ncoa.org/article/what-are-10-warning-signs-of-diabetes-in-older-adults

(2) Mordarska, K., & Godziejewska-Zawada, M. (2017). Diabetes in the elderly. Przeglad Menopauzalny, 2, 38-43. National Library of Medicine.
https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC5509969/

(3) Alzheimer’s stages: How the disease progresses. (2023, June 7). Mayo Clinic.
https://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/alzheimers-disease/in-depth/alzheimers-stages/art-20048448

(4) Age-Related hearing loss (Presbycusis). (2023, January 6). Johns Hopkins Medicine.
https://www.hopkinsmedicine.org/health/conditions-and-diseases/presbycusis

(5) Cataracts. Aging & Health A-Z. American Geriatrics Society. Health in Aging Foundation. 
https://www.healthinaging.org/a-z-topic/cataracts

(6) Depression in older people. Causes, Symptoms, Treatment. Healthdirect Australia.  
https://www.healthdirect.gov.au/depression-in-older-people

(7) Flu and Older Adults. National Foundation for Infectious Diseases (NFID). 
https://www.nfid.org/infectious-diseases/flu-and-older-adults/    

*-----*




Thursday, 2 January 2025

Vài ghi nhận về nguồn gốc và sự phân chia xá-lợi dựa theo Chánh tạng

VÀI GHI NHẬN VỀ NGUỒN GỐC VÀ PHÂN CHIA XÁ-LỢI
DỰA THEO CHÁNH TẠNG (TẠNG KINH VÀ TẠNG LUẬT)
Bình Anson

(1) Có nhiều truyền thuyết, huyền thoại về câu chuyện hai thương buôn Tapassu và Bhallika đến gặp Đức Phật sau khi Ngài thành đạo và được cho mấy sợi tóc. Theo truyền thuyết Miến Điện thì hai thương buôn này trở về xứ đó, tạo dựng tháp thờ tóc và còn lưu truyền cho đến ngày nay. Còn truyền thuyết của Sri Lanka thì cho rằng các sợi tóc đó được đem sang đảo quốc Sri Lanka và được tôn thờ cho đến bây giờ.

Tuy nhiên, tạng Kinh và tạng Luật không thấy ghi thông tin nào về câu chuyện các sợi tóc của Đức Phật. Đại phẩm, tạng Luật (Kd 1.4), có ghi chuyện hai thương buôn Tapassu và Bhallika đến gặp Đức Phật sau khi Ngài thành đạo, dâng cúng thức ăn, rồi xin quy y Đức Phật và Giáo Pháp. Lúc ấy, Tăng đoàn chưa thành lập, cho nên hai vị này xem như hai cư sĩ đầu tiên xin quy y Nhị Bảo (Phật Bảo và Pháp Bảo). 

Tăng chi bộ, tạng Kinh (AN 1.248) có ghi sự kiện hai vị này là hai đệ tử cư sĩ đầu tiên của Đức Phật. Tăng nhất A-hàm (EĀ 1.1) của Hán tạng cũng ghi tương tự, nhưng gộp hai tên Tapassu và Bhallika thành tên phiên âm là “Tam-quả”.

(2) Sau khi Đức Phật nhập diệt, lễ trà-tỳ được chư tăng và dân chúng Mallā tổ chức tại Kusinārā, sau khi hỏa thiêu, Đại kinh Bát-niết-bàn (DN 16, Trường bộ) ghi rằng “thân Thế Tôn cháy, từ da ngoài cho đến da mỏng, thịt, dây gân hay nước giữa khớp xương, tất cả đều cháy sạch không có tro, không có than, chỉ có xương xá-lợi còn lại”. Bà-la-môn Doṇa đứng ra phân chia xá-lợi cho tám nhóm để dựng tháp thờ:

- Vua Ajātasattu  của nước Magadha,
- Những người Licchavī ở Vesāli,
- Những người Sākya ở Kapilavatthu,
- Những người Bulī ở Allakappa, 
- Những người Koliya ở Rāmagāma,
- Bà-la-môn Vethadīpaka ở Vethadīpa,
- Những người Mallā ở Pāvā,
- Những người Mallā ở Kusinārā.

Bà-la-môn Doṇa nhận bình chứa dùng để đong chia xá-lợi để dựng tháp thờ, và những người Moriyā ở Pipphalivana nhận than tro từ củi đốt để dựng tháp thờ. 

Bài kinh kết thúc bằng các câu kệ có ghi thêm thông tin rằng răng, tóc và lông của Đức Phật được Long vương và chư Thiên mang đi khắp vũ trụ. Tuy nhiên, Luận sư Buddhaghosa trong Chú giải Trường bộ nhận định rằng các câu kệ đó là do các vị Trưởng lão Sri Lanka về sau ghi thêm vào.

Bài kinh tương đương trong Trường A-hàm của Hán tạng, kinh Du hành (DĀ 2) cũng ghi thông tin tương tự. Sau khi trà tỳ, Bà-la-môn Hương Tánh (Doṇa) phân chia xá-lợi cho tám nhóm, ông ấy nhận bình chứa xá-lợi, còn tro than từ củi đốt thì chia cho dân chúng thôn Tất-bát (Pipphalivana). Kinh có ghi thêm rằng tóc Phật khi còn tại thế thì được tôn thờ trong một tháp khác, nhưng không thấy đề cập gì về nơi chốn và người nhận tóc đó. Có lẽ chi tiết này về sau được ghi thêm vào bài kinh.

Kèm theo dưới đây là các đoạn kinh trích từ tạng Kinh (Tăng chi bộ, Trường bộ, Trường A-hàm) và tạng Luật (Đại phẩm).

Bình Anson,
Perth, Tây Úc 
01/01/2025

*-----*

 

I- VỀ HAI ÔNG TAPASSU VÀ BHALLIKA, ĐỆ TỬ ĐẦU TIÊN QUY Y NHỊ BẢO (PHẬT VÀ PHÁP)

(1) Tăng chi bộ, tạng Kinh (AN 1.248):

Này các tỳ-khưu, trong các vị đệ tử nam cư sĩ của Ta đã quy y đầu tiên, tối thắng là các thương buôn Tapassu và Bhallika. – (AN 1.248) 

(2) Đại phẩm, tạng Luật (Kd 1.4):

(Giảng về cây Rājāyatana, tuần lễ thứ tư sau khi thành tựu quả vị Chánh Đẳng Giác – Tỳ-khưu Indacanda dịch)

1. Sau đó khi bảy ngày trôi qua, đức Thế Tôn đã xuất khỏi định ấy rồi từ cội cây Mucalinda đã đi đến cây Rājāyatana, sau khi đến đã ngồi xuống với một tư thế kiết già ở cội cây Rājāyatana trong bảy ngày, hưởng niềm an lạc của sự giải thoát.

2. Vào lúc bấy giờ, có các thương buôn Tapassu và Bhallika đang đi đường xa từ Ukkalā đến khu vực ấy. Khi ấy, vị Thiên thần là thân quyến cùng huyết thống của các thương buôn Tapassu và Bhallika đã nói với các thương buôn Tapassu và Bhallika điều này: “Này các bác, đức Thế Tôn này đang ngự ở cội cây Rājāyatana là vị đầu tiên được hoàn toàn giác ngộ. Hãy đi và bày tỏ lòng thành kính đến đức Thế Tôn ấy với bánh bột gạo và mật viên. Điều ấy sẽ đem lại cho các bác sự lợi ích và sự an vui lâu dài.”

3. Khi ấy, các thương buôn Tapassu và Bhallika đã mang theo bánh bột gạo và mật viên đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng ở một bên. Khi đã đứng một bên, các thương buôn Tapassu và Bhallika đã nói với đức Thế Tôn điều này: - “Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy thọ lãnh bánh bột gạo và mật viên của chúng tôi. Điều ấy sẽ đem lại cho chúng tôi sự lợi ích và sự an vui lâu dài.”

4. Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Các đức Như Lai không thọ lãnh ở (hai) tay, vậy ta nên thọ lãnh bánh bột gạo và mật viên bằng vật gì?” Khi ấy, bốn vị Đại Thiên Vương dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đức Thế Tôn nên đã dâng lên đức Thế Tôn bốn cái bình bát làm bằng đá từ ở bốn phương (nói rằng): “Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy thọ lãnh bánh bột gạo và mật viên ở đây.” Đức Thế Tôn đã thọ lãnh bánh bột gạo và mật viên trong bình bát mới[2] làm bằng đá, và sau khi thọ lãnh đã thọ dụng.

5. Sau đó, các thương buôn Tapassu và Bhallika đã nói với đức Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, chúng con đây xin đi đến nương nhờ đức Thế Tôn và Giáo Pháp. Xin đức Thế Tôn chấp nhận chúng con là các nam cư sĩ đã đã đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến trọn đời.” Và họ đã trở thành những nam cư sĩ đọc hai câu (nương nhờ)[*] đầu tiên ở thế gian. – (Kd 1.4)

Chú thích:

[*] Nghĩa là đi đến nương nhờ đức Thế Tôn và đi đến nương nhờ Giáo Pháp, vì hội chúng tỳ-khưu vào lúc bấy giờ chưa được hình thành (Tỳ-khưu Indacanda).

*-----*

II- PHÂN CHIA XÁ LỢI THEO ĐẠI KINH BÁT-NIẾT BÀN (TRƯỜNG BỘ, DN 16)
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

Vua nước Magadha tên là Ajātasattu Vedehiputta nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinārā, liền gởi một sứ giả đến các người Mallā ở Kusinārā: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, ta cũng là người Sát-đế-lỵ. Ta cũng xứng đáng được một phần Xá-lợi của Thế Tôn. Ta cũng dựng tháp và tổ chức nghi lễ đối với Xá-lợi của Thế Tôn.”

Những người Licchavī ở Vesālī nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinārā, liền gởi một sứ giả đến các người Mallā ở Kusinārā: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần Xá-lợi của The Tôn. Chúng tôi cũng dựng tháp và tổ chức nghi lễ đối với Xá-lợi của Thế Tôn”.

Các người Sākya ở Kapilavatthu nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinārā, liền gởi một sứ giả đến các người Mallā ở Kusinārā: “Thế Tôn là người bà con tối tôn của chúng tôi. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần Xá-lợi của Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với Xá-lợi của Thế Ton”.

Những người Bulī ở Allakappa nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinārā, liền gởi một sứ giả đen các người Mallā ở Kusinārā: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần Xá-lợi của Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với Xá-lợi của Thế Tôn.”

Những người Koliya ở Rāmagāma nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinārā, liền gởi một sứ giả đến các người Mallā ở Kusinārā: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần Xá-lợi của Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với Xá-lợi của Thế Tôn.”

Bà-la-môn Vethadīpaka nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinārā, liền gởi một sứ giả đến các người Mallā ở Kusinārā: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Tôi cũng xứng đáng được một phần Xá-lợi của Thế Tôn. Tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với Xá-lợi của Thế Tôn.”

Các người Mallā ở Pāvā nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinārā, liền gởi một sứ giả đến các người Mallā ở Kusinārā: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần Xá-lợi của Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với Xá-lợi của Thế Tôn.”

Khi được nghe nói vậy, các người Mallā ở Kusinārā liền tuyên bố giữa đại chúng: 

– Thế Tôn đã diệt độ tại làng vườn của chúng tôi, chúng tôi sẽ không cho phần Xá-lợi nào của Thế Tôn.

Khi nghe vậy, Bà-la-môn Doṇa nói với họ: 

– Tôn giả, hãy nghe lời tôi nói! 

Phật dạy chúng ta phải kham nhẫn, 
Thật không tốt nếu có tranh giành,
Khi chia Xá-lợi bậc Thượng Nhân.
Chúng ta hãy đoàn kết nhất tâm,
Hoan hỷ chia Xá-lợi tám phần.
Chúng ta hãy dựng tháp mọi phương,
Đại chúng mười phương tin Pháp Nhãn...

– Này Tôn giả Bà-la-môn, Ngài hãy phân chia Xá-lợi ra tám phần đồng đều.

– Xin vâng, các Tôn giả.

Bà-la-môn Doṇa vâng lời hội chúng ấy, phân chia Xá-lợi của Thế Tôn thành tám phần đồng đều rồi thưa hội chúng:

– Các Tôn giả, hãy cho tôi cái bình dùng để đong chia Xá-lợi này. Tôi sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ cho cái bình.

Và hội chúng ấy tặng Bà-la-môn Doṇa cái bình.

Và người Moriyā ở Pipphalivana nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinārā, liền gởi một sứ giả đến các người Mallā ở Kusinārā:

– Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chung tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được hưởng một phần Xá-lợi của Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với Xá-lợi của Thế Tôn.

– Nay không còn phần Xá-lợi nào của Thế Tôn. Xá-lợi của Thế Tôn đã được phân chia, hãy lấy tro còn lại.

Rồi các vị này lấy các than tro còn lại. 

Và vua nước Magadha tên là Ajātasattu, con bà Videhi, xây dựng tháp trên Xá-lợi của Thế Tôn tại Vương Xá và tổ chức lễ cúng dường.

Những người Licchavī ở Vesāli cũng xây dựng tháp trên Xá-lợi của Thế Tôn tại Vesālī và tổ chức lễ cúng dường.

Những người Sākya ở Kapilavatthu cũng xây dựng tháp trên Xá-lợi của Thế Tôn tại Kapilavatthu và to chức lễ cúng dường.

Những người Bulī ở Allakappa cũng xây dựng tháp trên Xá-lợi của Thế Tôn tại Allakappa và tổ chức lễ cúng dường.

Những người Koliya ở Rāmagāma cũng xây dựng tháp trên Xá-lợi của Thế Tôn tại Rāmagāma và tổ chức lễ cúng dường.

Bà-la-môn Vethadīpaka cũng xây dựng tháp trên Xá-lợi của Thế Tôn tại Vethadīpa và lễ chức lễ cúng dường.

Những người Mallā ở Pāvā cũng xây dựng tháp trên Xá-lợi của Thế Tôn tại Pāvā và to chức lễ cúng dường.

Những người Mallā ở Kusinārā cũng xây dựng tháp trên Xá-lợi của Thế Tôn tại Kusinārā và tổ chức lễ cúng dường.

Bà-la-môn Doṇa cũng xây dựng tháp trên bình [dùng để đong chia Xá-lợi] và tổ chức lễ cúng dường.

Những người Moriyā ở Pipphalivana cũng xây dựng tháp trên những than tro và tổ chức lễ cúng dường.

Như vậy, có tám tháp Xá-lợi, tháp thứ chín trên bình [dùng để đong chia Xá-lợi] và tháp thứ mười trên tro [Xá-lợi].

Đó là truyền thống thời xưa như vậy. [*]

Đấng Pháp Nhãn Vô Thượng,
Xá-lợi phân tám phần,
Bảy phần được cúng dường,
Tại Jambudīpa.
Một phần Long vương cúng,
Tại Rāmagāma.

Một răng Phật được cúng,
Cho chư thiên ba cõi,
Một tại Gandhāra,
Một tại Kāliṅga.
Một răng cho Long vương,
Tự mình riêng cúng dường.

Quả đất được chói sáng,
Với hào quang Xá-lợi,
Với lễ vật cúng dường,
Hạng thượng phàm, thượng đẳng.
Xá-lợi đấng Pháp Nhãn,
Như vậy được cúng dường,
Bởi những bậc tôn trọng.

Cung kính lễ cúng dường,
Bởi thiên, long, nhơn chủ,
Các bậc tối thượng nhơn.
Các ngươi hãy chắp tay,
Cung kính lễ cúng dường.

Khó thay sự chiêm ngưỡng!
Tôn nhan bậc Như Lai,
Trải nhiều nhiều trăm kiếp,
May lắm được một lần.

Bốn mươi răng đều nhau,
Chư Thiên đã mang đi,
Cùng với tóc và lông,
Đến khắp các vũ trụ.

*

Chú thích:

[*] Luận sư Buddhaghosa, trong Chú giải Trường bộ, cho biết câu kết “Đó là truyền thống thời xưa như vậy” (Evametaṁ bhūtapubbanti) được thêm vào trong kỳ Kết tập Kinh điển III, còn các câu kệ tiếp theo là do các vị trưởng lão ở xứ Sri Lanka ghi thêm vào (DA ii, 615).

*-----*

III- PHÂN CHIA XÁ-LỢI THEO KINH DU HÀNH, TRƯỜNG A-HÀM (MĀ 2)
Trung tâm Dịch thuật Trí Tịnh dịch

Bấy giờ, chúng Mạt-la nước Ba-bà nghe Phật diệt độ tại rừng Song Thọ, đều tự nghĩ: “Chúng ta nên đến đó xin phần Xá-lợi, thỉnh về nước dựng tháp cúng dường.”

Họ liền hạ lệnh tập hợp bốn quân chủng là quân voi, quân ngựa, quân xe và quân bộ kéo đến thành Câu-thi, rồi sai sứ giả đến thưa:

– Chúng tôi nghe tin đấng Chúng Hựu [1] diệt độ tại đây, Phật cũng là Thầy chúng tôi, vì lòng kính mộ Ngài, chúng tôi đến xin phần Xá-lợi, thỉnh về nước dựng tháp cúng dường.

Vua nước Câu-thi đáp:

– Đúng vậy! Quả thật như lời Ngài nói nhưng vì Thế Tôn giáng lâm tại đây và diệt độ cũng tại đây, nhân dân nước tôi tự lo cúng dường, khỏi phiền các ngài ở xa. Việc phân chia Xá-lợi e rằng không thể được.

Bấy giờ, chúng Bạt-ly [2], nước Già-la-phả [3], chúng Câu-lợi [4], nước La-ma-già [5], chúng Bà-la-môn nước Tỳ-lưu-đề [6], chúng Thích-ca nước Ca-duy-la-vệ [7], chúng Ly-xa [8] nước Tỳ-xá-ly, Vua A-xà-thế [9] nước Ma-kiệt-đà, nghe tin Như Lai diệt độ tại rừng Song Thọ thành Câu-thi đều tự nghĩ: “Chúng ta hãy nên đến đó để chia phần Xá-lợi.”

Thế rồi, Vua A-xà-thế bèn hạ lệnh dẫn bốn quân chủng là quân voi, quân ngựa, quân xe và quân bộ tiến qua sông Hằng, sai Bà-la-môn Hương Tánh [10]: “Ngươi hãy nhân danh ta, vào thành Câu-thi vấn an sức khỏe các vị Mạt-la: Sinh hoạt thường ngày có thảnh thơi không? Đi đứng có được nhẹ nhàng không? Và nói rằng ta với quý ngài ấy xưa nay vốn kính trọng lẫn nhau, láng giềng hòa nghị, chưa từng tranh chấp. Nay nghe Như Lai diệt độ tại quý quốc, đối với Thế Tôn, ta vô cùng tôn kính nên từ xa đến đây muốn thỉnh phần Xá-lợi đem về nước dựng tháp cúng dường. Nêu nhận lời, ta sẽ hiến quốc bảo cho.”

Bấy giờ, Bà-la-môn Hương Tánh vâng lệnh nhà vua, đến thành Câu-thi thưa với các Mạt-la rằng:

– Đại vương nước Ma-kiệt kính lời vấn an sức khỏe các Ngài: “Sinh hoạt thường ngày có thảnh thơi không? Đi đứng có được nhẹ nhàng không? Và nói rằng Đại vương với quý ngài xưa nay kính trọng lẫn nhau, láng giềng hòa nghị, chưa từng tranh chấp. Nay nghe Như Lai diệt độ tại quý quốc, đối với

Thế Tôn, Đại vương vô cùng tôn kính, nên từ xa đến đây muốn thỉnh phần Xá-lợi đem về nước dựng tháp cúng dường. Nếu nhận lời, Đại vương sẽ hiến quốc bảo cho.”

Lúc đó, các Mạt-la trả lời Bà-la-môn Hương Tánh:

– Đúng vậy! Quả thật như lời ngài nói nhưng vì Thế Tôn giáng lâm tại đây và diệt độ cũng tại dây, nhân dân nước tôi tự lo cúng dường, khỏi phiền các ngài ở xa. Việc phân chia Xá-lợi e rằng không thể được.

Lúc đó, vua các nước bèn triệu tập quần thần, bàn bạc:

Chúng ta hòa hiếu,
Xa đến đảnh lễ,
Khiêm tốn thỉnh cầu,
Nếu không chấp nhận,
Bốn binh đã sẵn,
Không tiếc thân mạng,
Dùng nghĩa không được,
Tất phải dùng sức.

Khi ấy vua nước Câu-thi liền triệu tập quần thần, cùng nhau bàn bạc, rồi đáp trả rằng:

Từ xa khổ nhọc,
Các vị đến xin,
Di thể Như Lai,
Nhưng không cho được.
Nếu muốn dùng binh,
Ta đây cũng sẵn,
Chống trả đến cùng,
Chưa từng biết sợ.

Lúc ấy, Bà-la-môn Hương Tánh đứng ra phủ dụ mọi người:

– Chư Hiền! Lâu nay chúng ta lãnh thọ lời Phật dạy, miệng tụng pháp ngôn, tâm theo nhân nghĩa. Tất cả chúng sanh đều muốn an lành, nay chẳng lẽ vì tranh giành Xá-lợi Phật mà tàn hại lẫn nhau? Đối với di thể Như Lai, nếu muốn có được lợi ích rộng rãi thì nên phân chia ra thành nhiều phần.

Mọi người đều khen là phải, lại bàn luận với nhau: “Ai là người đủ khả năng phân chia?” Rồi tất cả đều cho rằng Bà-la-môn Hương Tánh là người nhân trí công tâm, có thể đứng ra phân chia.

Thế rồi, các quốc vương liền bảo Hương Tánh:

– Ông hãy chia Xá-lợi Phật thành tám phần bằng nhau cho chúng tôi.

Bà-la-môn Hương Tánh vâng lệnh, liền đến chỗ Xá-lợi, cúi đầu đảnh lễ xong, tiến lên nhặt chiếc răng trên của Phật để riêng một bên, rồi sai sứ giả đưa đến chỗ Vua A-xà-thế. Ông bảo sứ giả:

– Ngươi hãy thay mặt ta tâu với Đại vương rằng: “Sinh hoạt thường ngày có thảnh thơi không? Đi đứng có được nhẹ nhàng không? Xá-lợi chưa đến, chắc ngài mong đợi lắm? Nay giao sứ giả đem răng trên của Như Lai đến trước để Đại vương có thể cúng dường, thỏa lòng trông mong. Khi sao Mai [11] mọc, phân chia xong Xá-lợi, thần sẽ đích thân đến dâng.”

Sứ giả vâng lời, đến chỗ Vua A-xà-thế tâu:

– Bà-la-môn Hương Tánh kính lời thỉnh an Đại vương: “Sinh hoạt thường ngày có thảnh thơi không? Đi đứng có được nhẹ nhàng không? Xá-lợi chưa đến, chắc ngài mong đợi lắm? Nay giao sứ giả đem răng trên của Như Lai đến trước để Đại vương có thể cúng dường, thỏa lòng trông mong. Khi sao Mai mọc, phân chia xong Xá-lợi, Bà-la-môn Hương Tánh sẽ đích thân đến dâng.”

Bấy giờ, Bà-la-môn Hương Tánh dùng cái bình đựng khoảng một thạch để đong chia Xá-lợi, phân thành tám phần bằng nhau xong, nói với mọi người:

– Tôi muốn xin cái bình này đem về nhà dựng tháp cúng dường.

Mọi người đều bảo:

– Thật là có trí, thật là hợp lý, chúng tôi đồng ý!

Lúc đó người trong thôn Tất-bát cũng đến xin:

– Hãy cho chúng tôi phân tro còn sót lại dưới đất kia để đem về xây tháp cúng dường. 

Mọi người lúc đó đều chấp thuận. Bấy giờ, người nước Câu-thi được chia phần Xá-lợi, liền dựng tháp trong nước cúng dường. Người nước Ba-bà, Già-la, La-ma-già, Tỳ-lưu-đề, Ca-duy-la-vệ, Tỳ-xá-ly và Vua A-xà-thế nước Ma-kiệt khi nhận được phần Xá-lợi, đều thỉnh về nước, xây tháp cúng dường. Bà-la-môn Hương Tánh ôm bình về nhà dựng tháp miếu cúng dường. Người dân thôn Tất-bát cũng đem phần tro còn lại về dựng tháp miếu cúng dường.

Như vậy, Xá-lợi Như Lai được chia thờ tại tám tháp, tháp thứ chín thờ bình, tháp thứ mười thờ tro và tháp thứ mười một thờ tóc Phật khi còn tại thế.

----------------

Chú thích:

[1] Chúng Hựu (眾祐). Theo Tứ phần luật danh nghĩa tiêu thích, 四分律名義標釋 (X.44. 0744.19. 0544c20), do có nhiều phước đức tự bảo hộ cho mình và còn có thể phù hộ tất cả chúng sanh nên gọi là Chúng Hựu. Hựu giống như sự trợ giúp vậy. (謂有眾德自祐.復能祐諸有情.故稱眾祐.祐猶助也).
[2] Bạt-ly (跋離, Bulī).
[3] Già-la-phả, Già-la (遮羅頗, Allakappa).
[4] Câu-lợi (拘利, Koliya).
[5] La-ma-già (羅摩伽, Rāmagāma).
[6] Tỳ-lưu-đề (毘留提, Vethadīpa).
[7] Kinh Đại bổn ghi: Ca-tỳ-la-vệ (迦毗羅衛, Kapilavatthu).
[8] Ly-xa (離車, Licchavī).
[9] A-xà-thế (阿闍世, Ajātasattu).
[10] Hương Tánh (香姓, Doṇa).
[11] Nguyên tác: Minh tinh (明星, Aruṇa), tức Thái Bạch tinh, còn gọi sao Kim, sao Hôm, sao Mai, sao Phất.

Ba-bà: Pāvā
Câu-thi, Câu-thi-na: Kusinārā
Ma-kiệt, Ma-kiệt-đà: Magadha
Mạt-la: Malla
Tất-bát: Pipphalivana
Tỳ-xá-ly: Vesālī

*-----*




Monday, 30 December 2024

Sutta-Nipata, Kinh tập - Bản tiếng Anh

 SUTTANIPĀTA – KINH TẬP
Bản dịch tiếng Anh 

Kinh tập thuộc Tiểu bộ của tạng Pāli đã được dịch sang tiếng Anh nhiều lần trong 100 năm qua. Tôi có sưu tập được một số bản dịch dạng PDF và đưa vào Thư viện BuddhaSasana. Xin giới thiệu ở đây để tải về máy tính:

Sutta-Nipāta: Collection of English translations

1. Bhikkhu Bodhi [en169_1.pdf]
   https://tinyurl.com/4d6t2pyh  

2. Bhikkhu Candana [en169_2.pdf]
   https://tinyurl.com/33s5hpas   

3. Laurence Khantipalo Mills [en169_3.pdf]
   https://tinyurl.com/84ha5y6w   

4. Lebkowicz & Ditrich [en169_4.pdf]
   https://tinyurl.com/4sa4y3vc  

5. Fausboll [en169_5.pdf]
   https://tinyurl.com/yck3hy9m  

6. Norman [en169_6.pdf]
   https://tinyurl.com/3ed7e4tk  

7. Bhikkhu Saddhatissa [en169_7.pdf]
    https://tinyurl.com/3apkjas9 

8. Bikkhu Sujato [en169_8.pdf]
   https://tinyurl.com/3dnh98jh   

9. Bhikkhu Thanissaro [en169_9.pdf]
    https://tinyurl.com/mu2uxy4m  

*-----*



Saturday, 28 December 2024

Tam tạng Thái Lan

 TAM TẠNG TIẾNG THÁI
 พระไตรปิฎกภาษาไทย

Theo thông tin của trang web Tipitaka Online พระไตรปิฎกออนไลน์, có 3 bản dịch Tam tạng Pāli sang tiếng Thái trong lịch sử truyền dịch kinh điển của Phật giáo Thái Lan:

1) Ấn bản Tam tạng Hoàng gia Thái (พระไตรปิฎกภาษาไทยฉบับหลวง, Royal Thai Edition Tipitaka). 45 tập.

Bản dịch này có văn phong cổ xưa, hiện nay không còn lưu hành.

2) Ấn bản Tam tạng Thái của Đại học Mahamakut Rajavidyalaya (พระไตรปิฎกภาษาไทยฉบับมหามกุฏราชวิทยาลัย - Thai Tipitaka of Mahamakut Rajavidyalaya University Edition). Bản dịch này có kèm theo Chú giải của Luận sư Buddhaghosa. Gồm có 91 tập:

- Tạng Luật: 10 tập
- Tạng Kinh: 64 tập
- Tạng A-tỳ-đàm (Vi diệu pháp): 17 tập.

3) Ấn bản Tam tạng Thái của Đại học Mahachulalongkorn Rajavidyalaya (พระไตรปิฎกภาษาไทยฉบับมหาจุฬาลงกรณราชวิทยาลัย - Thai Tipitaka of Mahachulalongkorn Rajavidyalaya University University Edition). Đây là bản dịch mới nhất, tương đối dễ đọc vì có văn phong và từ ngữ hiện đại, và có thêm nhiều ghi chú ở mỗi trang dịch khi cần thiết. Ấn bản này chỉ dịch Tam tạng Pāli sang tiếng Thái, không dịch các Chú giải. Gồm có 45 tập:

- Tạng Luật: 8 tập
- Tạng Kinh: 25 tập
- Tạng A-tỳ-đàm (Vi diệu pháp): 12 tập.

* THAM KHẢO

1) Tam tạng Thái của Đại học Mahamakut Rajavidyalaya 
Tripitaka91 - พระไตรปิฎกและอรรถกถาแปล ชุด 91 เล่ม ฉบับมหามกุฏราชวิทยาลัย (เล่มสีน้ำเงิน) พร้อมหัวข้อธรรมจากพระไตรปิฎก
https://www.tripitaka91.com/tripitaka91_showall.php

2) Tam tạng Thái của Đại học Mahachulalongkorn Rajavidyalaya
Tipitaka Online – พระไตรปิฎกออนไลน์
https://tripitaka-online.blogspot.com/2016/09/tpd-main.html

*-----*



Friday, 27 December 2024

Tam tạng Sri Lanka

 TAM TẠNG TIẾNG SINHALA (SRI LANKA)

Công trình dịch thuật Tam tạng Pāli sang tiếng Sinhala bản địa đầu tiên do Giáo sư AGAMPODI PAULUS DE ZOYSA (1890–1968) đề xướng, thực hiện dự án SINHALA TRIPIṬAKAYA (Tam tạng tiếng Sinhala). Công trình bắt đầu từ năm 1950 và hoàn tất năm 1964. Tổng cộng có 48 tập được ấn hành, gồm Chánh tạng (38 tập) và Chú giải (10 tập):

1) Chánh tạng (38 tập)

- Tạng Luật: 4 tập,
- Tạng Kinh: 26 tập,
- Tạng A-tỳ-đàm (Vi diệu pháp): 8 tập.

2) Chú giải (10 tập)

- Thanh tinh đạo: 2 tập,
- Chú giải Trường bộ: 3 tập,
- Chú giải Trung bộ: 4 tập,
- Chú giải Tương ưng bộ: 1 tập.

Đồng thời, vào năm 1956, Bộ Tôn giáo của Chính phủ Sri Lanka hỗ trợ một công trình khác để phiên dịch Tam tạng Pāli – BUDDHA JAYANTĪ TRIPIṬAKA GRANTHAMĀLĀ. Công trình hoàn tất vào năm 1990. Gồm có 57 tập, ấn hành dạng song ngữ Pāli-Sinhala:

- Tạng Luật: 9 tập,
- Tạng Kinh: 35 tập,
- Tạng A-tỳ-đàm (Vi diệu pháp): 13 tập.

* Tham khảo:

1) Mahinda Deegalle (2022). The First Sinhala Tripiṭakaya Translation: De Zoysa’s ‘Protestant’ Buddhist Project for Mass Literacy in Twentieth Century Sri Lanka.
2) https://en.wikipedia.org/wiki/Pali_Canon
3) https://en.wikipedia.org/wiki/Sinhala_language
4) https://en.wikipedia.org/wiki/A._P._de_Zoysa
5) https://www.sjp.ac.lk/news/download-theravada-tripitaka/
6) https://www.buddhistculture.net/tipitaka-download.html
7) https://tipitaka.wordpress.com/
8) https://www.aathaapi.org/Thripitaka.php

*-----*



Wednesday, 25 December 2024

Hán dịch Nam truyền Đại tạng kinh

 HÁN DỊCH NAM TRUYỀN ĐẠI TẠNG KINH 
漢譯南傳大藏經 - Chinese Translation of the Pali Tipiṭaka  

Toàn bộ Tam tạng Pāli và một số kinh văn phụ thuộc đã được dịch sang tiếng Trung hiện đại, gồm 70 tập, do chùa Nguyên Hanh (元亨寺), Cao Hùng, Đài Loan, xuất bản trong những năm 1990-1998. Bản dịch này là dựa theo bản dịch của Nhật Bản do Giáo sư Takakusu Junjirō (高楠順次郎 – Cao Nam Thuận Thứ Lang) chủ biên và lần lượt xuất bản trong những năm 1935-1941.

Ấn bản tiếng Trung cũng được số hóa và đưa vào trang web CBETA để mọi người có thể truy cập trực tuyến và tải về các bản kinh dạng PDF.

Mục lục tổng quát:

Tập 01-04: Luật tạng.

Tập 05-47: Kinh tạng

Tập 48-60: Luận tạng (A-tỳ-đàm tạng)

Tập 61-70: Luận sự, Sử truyện, Ký sự

Tham khảo:

1) Thích Nhật Từ (2021). Sổ tay Mục lục Tam tạng Pali.
2) Sujato Bhikkhu (2014). Chinese translation of the whole Pali Tipiṭaka is now online at CBETA.
https://suttacentral.userecho.com/communities/1/topics/9-chinese-translation-of-the-whole-pali-tipitaka-is-now-online-at-cbeta
3) 漢譯南傳大藏經 Chinese Translation of the Pali Tipiṭaka (Hán dịch Nam truyền Đại tạng kinh). Các links để tải 70 Tập, dạng PDF:
http://tripitaka.cbeta.org/N  
4) CBETA (2013). Mục lục Hán dịch Nam truyền Đại tạng kinh  
https://www.cbeta.org/news/20121225.php#english  

*-----*



Tuesday, 24 December 2024

Dịch giả bốn bộ A-hàm tiếng Hán

DỊCH GIẢ BỐN BỘ A-HÀM TIẾNG HÁN
Bình Anson

*

1) TRƯỜNG A-HÀM KINH (長阿含經 - Dīrgha Āgama, T-0001) do ngài Phật-đà-da-xá và ngài Trúc Phật Niệm dịch từ Phạn văn sang Hán văn vào đời Hậu Tần, vào khoảng năm 413 TL. Bộ kinh này được xem như tương đương với Trường bộ kinh (Dīgha Nikāya) của tạng Pāli Nam truyền. 

Pháp sư PHẬT-ĐÀ-DA-XÁ (佛陀耶舍 - Buddhayaśas, Hán dịch là Giác Minh) là người nước Kế-tân (Kashmir), bắc Ấn Độ. Ngài xuất gia năm 13 tuổi, năm 27 tuổi mới thọ giới Cụ túc. Ngài chuyên cần tu tập, đọc tụng kinh điển, thông suốt cả Đại thừa và Tiểu thừa. Ngài là thầy của Pháp sư Cưu-ma-la-thập (La-thập, 羅什). Năm 408 TL, đời vua Diêu Tần, theo lời thỉnh cầu của ngài La-thập, ngài đến Trường An, hỗ trợ ngài La-thập trong công tác dịch thuật kinh điển. Ngài dịch kinh Thập trụ, Tứ phần tăng giới bản, Tứ phần luật, rồi cùng với ngài Trúc Phật Niệm dịch kinh Trường A-hàm. Về sau, ngài quay trở về Thiên Trúc. 

Pháp sư TRÚC PHẬT NIỆM (竺佛念) là người ở Lương Châu (涼州, nay là Võ Uy, Cam Túc). Ngài xuất gia từ lúc còn nhỏ, chí nghiệp kiên cố, ngoài việc tụng kinh ra, ngài còn siêng năng học tập ngoại điển. Ngài đến Trường An trong khoảng năm 365-384 TL, phụ giúp các Pháp sư Tăng-già-đề-bà (僧伽提婆) và Đàm-ma-nan-đề (曇摩難提) dịch thuật kinh điển, trong đó có bộ kinh Trung A-hàm và Tăng nhất A-hàm. Về sau, ngài phụ giúp Pháp sư Phật-đà-da-xá dịch bộ Trường A-hàm. Ngài còn dịch nhiều bộ kinh Đại thừa khác, tổng cộng 12 bộ, 74 quyển. Ngài thị tịch tại Trường An, không rõ năm tháng.

*

2) TRUNG A-HÀM KINH (中阿含經 - Madhyama Āgama, T-0026) do ngài Tăng-già-đề-bà (僧伽提婆) dịch từ Phạn văn sang Hán văn vào đời Đông Tấn vào khoảng năm 408 TL. Bộ kinh này được xem như tương đương với Trung bộ kinh (Majjhima Nikāya) của tạng Pāli Nam truyền.

Pháp sư TĂNG-GIÀ-ĐỀ-BÀ (僧伽提婆 - Saṅghadeva, Hán dịch là Chúng Thiên) là người nước Kế-tân (Kashmir), bắc Ấn Độ. Ngài là người thông minh tuấn tú, uy nghi đĩnh đạc, bản tính khiêm cung, học thông ba tạng, nhưng chuyên tâm nghiên cứu A-tì-đàm tâm luận của Hữu bộ. Trong khoảng năm Kiến Nguyên (365-384 TL) đời Tiền Tần, ngài đến Trường An. Sau đó, Pháp sư tham gia công tác dịch thuật cùng với các ngài Tăng-già-bạt-trừng, Đàm-ma-nan-đề, Trúc Phật Niệm. Vào năm 397 TL, ngài đến Kiến Khang (nay là Nam Kinh), được các vương công, danh sĩ rất quý trọng. Thượng thư Vương Tuân thỉnh ngài giảng dạy luận A-tì-đàm. Nhận thấy các bản dịch Trung và Tăng nhất A-hàm chưa được hoàn chỉnh,  Vương Tuân tổ chức dịch trường, thỉnh ngài dịch lại Trung A-hàm và hiệu chính, biên tập lại Tăng nhất A-hàm.

Về công trình kinh luận của ngài, Xuất tam tạng kí tập quyển 2 liệt kê ngài dịch 6 bộ 116 quyển, còn Khai nguyên thích giáo lục thì liệt kê 5 bộ 118 quyển.

*

3) TẠP A-HÀM KINH (雜阿含經 - Saṃyukta Āgama, T-0099) do ngài Cầu-na-bạt-đà-la dịch từ Phạn văn sang Hán văn vào khoảng năm 435-436 TL, đời Lưu Tống, tại chùa Kỳ Hoàn ở Nam Kinh. Bộ kinh này được xem như tương đương với Tương ưng bộ kinh (Saṃyutta Nikāya) của tạng Pāli Nam truyền.

Pháp sư CẦU-NA-BẠT-ĐÀ-LA (求那跋陀羅 - Guṇabhadra, Hán dịch là Công Đức Hiền, 394-468 TL) là người gốc Trung Ấn, thuộc dòng dõi Bà-la-môn. Thuở nhỏ ngài được học các luận thư, các môn thiên văn, thư số, y phương, chú thuật v.v Về sau, do tình cờ được đọc A-tì-đàm Tạp tâm luận, tỏ ngộ được Chánh pháp, trở nên sùng tín đạo Phật, rồi cạo tóc xuất gia và thọ giới Cụ túc. Ngài là người hiền hòa kính thuận, chuyên cần học tập, trước học giáo pháp Tiểu thừa, thông suốt ba tạng, sau chuyển sang học giáo pháp Đại thừa, rồi đọc tụng tuyên giảng, đồng thời, đem Phật pháp khuyến hóa cha mẹ. Cha mẹ của ngài về sau cũng chuyển sang theo đạo Phật.

Năm 435 TL đời Lưu Tống, ngài đến Quảng Châu bằng đường biển, vua Văn Đế sai sứ ra rước về chùa Kỳ Hoàn ở Kiến Khang để tham gia việc dịch kinh. Cùng với các tăng sĩ Trung Quốc, ngài dịch bộ Tạp A-hàm kinh và nhiều kinh điển tiếng Phạn khác. Công trình dịch thuật tổng cộng là 52 bộ và 134 quyển. Vào năm 468 TL đời vua Minh Đế, ngài thị tịch, hưởng thọ 75 tuổi.

*

4) TĂNG NHẤT A-HÀM KINH (增壹阿含經 - Ekottara Āgama, T-0125) do ngài Đàm-ma-nan-đề dịch vào khoảng năm 384 TL, sau đó được ngài Tăng-già-đề-bà hiệu chính, biên tập lại vào năm 398 TL. Bộ kinh này được xem như tương đương với Tăng chi bộ kinh (Aṅguttara Nikāya) của tạng Pāli Nam truyền.

Pháp sư ĐÀM-MA-NAN-ĐỀ (曇摩難提 - Dharmanandi, Hán dịch là Pháp Hỷ) là người nước Đâu-khư-lặc  (兜佉勒 – Tukhāra, Tokharistan). Ngài xuất gia từ thuở nhỏ, thông minh đĩnh ngộ, học suốt ba tạng kinh điển, hiểu sâu các bộ A-hàm. Năm 384 TL, đời Tiền Tần, ngài đến Trường An, rồi cùng với các tăng sĩ Trung Quốc phiên dịch Trung A-hàm và Tăng nhất A-hàm. Về sau, các bản dịch này được Pháp sư Tăng-già-đề-bà hiệu chính, biên tập lại, tức là bản dịch lưu hành hiện nay. Ngoài ra, ngài Đàm-ma-nan-đề còn dịch kinh A-dục vương tức hoại mục nhân duyên 1 quyển, kinh Tăng-già La-sát 2 quyển, luận Tam pháp độ 2 quyển, và nhiều bản kinh khác.

Pháp sư TĂNG-GIÀ-ĐỀ-BÀ (僧伽提婆 - Saṅghadeva, Hán dịch là Chúng Thiên) – Xem tiểu sử trong phần Trung A-hàm kinh ở trên.

*

Tham khảo:  
1) Tuệ Sỹ (2008). Trường A-hàm Tổng mục lục.
2) Tuệ Sỹ (2009). Trung A-hàm Tổng mục lục.
3) Tuệ Sỹ (2010). Tạp A-hàm Tổng mục lục.
4) Tuệ Sỹ (2011). Tăng nhất A-hàm Tổng mục lục.
5) Từ điển Phật Quang
6) Từ điển Phật học Tinh tuyển
7) Nguyễn Minh Tiến & Nguyễn Minh Hiển (2004). Mục lục Đại chánh Tân tu Đại tạng kinh.
8) Thích Nhật Từ (2021). Mục lục Tam tạng Đại chánh.

Ghi thêm: Bốn bộ A-hàm tiếng Hán này đã được dịch sang tiếng Việt. Có ba bản dịch:
1) Bản Việt dịch của Hòa thượng Thích Thiện Siêu, Hòa thượng Thích Trí Tịnh và Hòa thượng Thích Thanh Từ,
2) Bản Việt dịch của Hòa thượng Thích Tuệ Sĩ và Hòa thượng Thích Đức Thắng, và
3) Bản Việt dịch của Trung tâm Dịch thuật Trí Tịnh.

*-----*









Saturday, 21 December 2024

Các nhóm hành giả Theravada ở phương Tây

 CÁC NHÓM HÀNH GIẢ THERAVADA Ở PHƯƠNG TÂY

Dr David Snyder, chủ nhân trang web Dhamma Wiki, https://dhammawiki.com/, phân chia các nhóm Theravada hiện đang sinh hoạt trong xã hội phương Tây theo các khuynh hướng như sau:

1. KHUYNH HƯỚNG THIỀN THƯ GIÃN: Những người này chỉ thích hành thiền để thư giãn tâm trí, giảm stress, để dễ tập trung vào các công việc hàng ngày. Đa số không phải là Phật tử, hầu như không đi chùa. Chỉ trao đổi trên các mạng xã hội hay tại một phòng tập yoga nào đó. Họ hầu như không tin vào thuyết tái sinh và luân hồi. Ngoài hành thiền, họ không quan tâm đến khía cạnh nào khác của Phật giáo.

2. KHUYNH HƯỚNG THIỀN VIPASSANA: Họ hành thiền quán Vipassana hoặc thêm một pháp thiền định, thiền quán tưởng nào đó dựa theo kinh điển Theravada. Họ thường tham dự các khóa thiền do các cư sĩ thiền sư hướng dẫn tại các trung tâm thiền do cư sĩ quản lý, hoặc qua các buổi họp mặt tại một hội trường hay tại nhà của một cư sĩ. Thông thường, người lãnh đạo là một cư sĩ có việc làm riêng, và chỉ hướng dẫn hành thiền trong thời gian nghỉ việc của vị ấy.

3. KHUYNH HƯỚNG TỰ VIỆN TRUYỀN THỐNG: Họ là những Phật tử chính thức quy y Tam Bảo và thọ trì Ngũ Giới, thường đi đến các chùa do các nhóm di dân thành lập từ các nước theo truyền thổng Theravada. Họ tham gia các khóa lễ cầu an, cầu siêu, các lễ hội truyền thống do các vị tu sĩ Phật giáo điều hành.

4. KHUYNH HƯỚNG THERAVADA TÂN THỜI: Những người này tập trung học tập kinh điển của tạng Kinh Pāli, được dịch sang tiếng bản địa. Có khi họ được gọi là những người theo khuynh hướng EBT (Early Buddhist Texts – Kinh văn Phật giáo Sơ kỳ). Họ cũng tìm hiểu sơ lược về tạng A-tỳ-đàm và các Chú giải nhưng họ chú tâm nhiều hơn đến năm bộ Nikaya của tạng Kinh. Những người này đa số là Phật tử, chấp nhận thuyết tái sinh, đơn thuần tập trung vào các bài kinh nguyên thủy, không chú tâm đến các kinh văn hậu tác.

5. KHUYNH HƯỚNG THERAVADA CỔ ĐIỂN: Họ là những Phật tử thích tìm hiểu và chú tâm học tập cả 3 Tạng của kinh điển nguyên thủy. Họ cũng chú tâm đến các luận giải của Luận sư Buddhaghosa, nhất là cuốn Thanh Tịnh Đạo, và các Chú giải khác.

Đây chỉ là một nhận xét tổng quát, sơ lược về các sinh hoạt Phật giáo ở phương Tây bắt nguồn từ truyền thống Theravada. Dĩ nhiên là có những hành giả, tùy theo hoàn cảnh và nghiệp duyên, kết hợp nhiều khuynh hướng khác nhau khi đến với Đạo Phật.

*-----*



Friday, 20 December 2024

Sách: HUYỀN TRANG, NHÀ CHIÊM BÁI VÀ HỌC GIẢ. Thích Minh Châu

 Sách:

HUYỀN TRANG, NHÀ CHIÊM BÁI VÀ HỌC GIẢ 
Thích Minh Châu
Thích Nữ Trí Hải dịch Việt (1966)
(Bình Anson hiệu đính, tháng 12-2024)

Tải bản PDF:
https://tinyurl.com/22mhrkh9  (vn307.pdf, 1.4 MB)

* Nguyên tác Anh ngữ:
HSUAN-TSANG, THE PILGRIM AND SCHOLAR. Bhikshu Thich Minh Chau (1963)

* MỤC LỤC

Lời giới thiệu

I. Diện mạo và tác phong của Ngài Huyền Trang
II. Huyền Trang, nhà Chiêm bái
III. Huyền Trang, nhà Học giả
IV. Huyền Trang, nhà Thuyết giáo
V. Huyền Trang, nhà Hùng biện
VI. Huyền Trang, nhà Dịch thuật
VII. Huyền Trang, nhà Trước tác
VIII. Huyền Trang, nhà Thần bí
IX. Những ngày cuối cùng và sự viên tịch của Pháp sư

*-----*




Wednesday, 18 December 2024

Sách: PHÁP HIỂN, NHÀ CHIÊM BÁI. Thích Minh Châu

 Sách:


PHÁP HIỂN, NHÀ CHIÊM BÁI 
Thích Minh Châu
Thích Nữ Trí Hải dịch Việt (1997) 
(Bình Anson hiệu đính, tháng 12-2024)

Tải bản PDF:
https://tinyurl.com/2h6bjsd7 (vn306.pdf, 1.6 MB)

Nguyên tác Anh ngữ:
FA-HSIEN, THE UNASSUMING PILGRIM 
Thich Minh Chau (1963)
https://tinyurl.com/aaxjtbf7 (en338.pdf, 5.5 MB)  

*

MỤC LỤC

Lời nói đầu 

Phần I: Nhân cách của ngài Pháp Hiển và cuộc chiêm bái
1. Nhân cách và quan điểm 
2. Pháp Hiển, nhà chiêm bái
3. Pháp Hiển và những bạn đồng hành 

Phần II: Hoàn cảnh Phật giáo cùng đời sống của Tăng lữ tại Ấn Độ và Tích Lan vào thế kỷ thứ V TL do ngài Pháp Hiển ghi lại
1. Hoàn cảnh Phật giáo, tu viện và tu sĩ 
2. Ðời sống tu sĩ 
3. Các ngày lễ Phật 
4. Việc thờ cúng Xá-lợi 
5. Việc thờ tháp 

Phần III: Những dữ liệu lịch sử do ngài Pháp Hiển ghi lại
1. Lịch sử và huyền thoại về cuộc đời đức Phật 
2. Những tiền thân của đức Phật 
3. Các vị Phật khác và các vị A-la-hán 
4. Ðệ tử của đức Phật 

Phần IV: Những tư liệu địa hình 
1. Khía cạnh địa hình 
2. Dân cư 
3. Khí hậu và thảo mộc 

*-----*




Sunday, 15 December 2024

Trúng vé số độc đắc

 Hôm qua vợ chồng ngồi ăn cơm tối, bà xã cho biết có một chị bạn Phật tử gốc Thái quen biết ở Perth vừa trúng số Lotto, giải nhì, trị giá khoảng 15 ngàn đô-la Úc (10 ngàn đô-la Mỹ). Rồi tôi cũng có gửi tin nhắn mừng chị ấy.

Tôi rất ít khi nào mua vé số. Nếu có mua thì khi bà con bạn bè kêu gọi hùn hạp góp tiền để mua chơi cho vui. Hầu như trong suốt cuộc đời không bao giờ trúng số. Nếu có, chỉ là những giải rất nhỏ. Khi về VN thì tôi mua giúp những người bán vé số dạo, rồi đem vé số tặng lại cho các em bảo vệ khách sạn, không bao giờ quan tâm đến. 

Rồi nói với bà xã: Thật ra, mình còn ham hố chi nữa? Mình sống bình an trong một xã hội tương đối tốt lành, môi trường ngăn nắp sạch đẹp, trợ cấp người già đầy đủ, con cháu khỏe mạnh hạnh phúc, biết được Phật pháp, sống gần chùa, gần chư tăng ni và bạn đạo đều có tâm từ, có hạnh tu tốt là mình có đại phước duyên, xem như là đã trúng số độc đắc rồi. 

Chỉ nhiêu đó thôi là quá đủ. Không mong cầu gì hơn.

– Bình Anson,
Perth, Tây Úc. 
15/12/2023 

*



Thursday, 12 December 2024

Một đám tang đơn giản – Khun SUPARP DELANEY (1925-2024)

 Bà là một trong những hội viên lâu năm của Hội PG Tây Úc. Chúng tôi quen biết gia đình bà khi đến định cư tại Perth, Tây Úc. Nhìn lại cũng hơn 45 năm. Bà từng giảng dạy ở trường cao đẳng tại Bangkok nên người Thái gọi bà là Ajahn (Giáo sư), nhưng khi sinh hoạt trong chùa, chúng tôi thường gọi bà là Khun Pah Suparp (Dì Suparp), thân mật như người trong nhà. Thỉnh thoảng, bà mời chúng tôi đến nhà ăn cơm, trao đổi các kiến thức về Phật pháp và các thông tin sinh hoạt của Hội PG. Về sau này, chúng tôi thường gặp bà tại Tu viện Bodhinyana, tịnh tu ở dãy nhà dành riêng cho các nữ cư sĩ.

Khoảng 10 năm gần đây, bà bị bệnh mất trí nhớ (dementia, sa sút trí tuệ), rối loạn thần kinh, tay chân run rẩy, không cử động được bình thường, được đưa vào nhà dưỡng lão, và qua đời vào tuần lễ trước. Tang lễ được tổ chức hôm nay tại Trung tâm Phật giáo Dhammaloka gần nhà chúng tôi, do ngài Ajahn Brahm chủ trì. Con cháu và vài bạn đạo lần lượt phát biểu cảm tưởng, chia sẻ những kỷ niệm, những câu chuyện về bà. Ajahn Brahm có một bài pháp ngắn, rồi tụng một thời kinh cầu siêu. Mọi người lần lượt đến nhìn bà lần cuối rồi cùng nhau tiễn biệt, đưa quan tài ra xe tang để tiến thẳng đến lò hỏa thiêu. Khách tham dự được mời ở lại, ăn bánh, uống trà, chuyện trò và chia buồn với gia đình bà.

Một tang lễ đơn giản, nhanh gọn và đầy đủ ý nghĩa.

– Bình Anson,
Trung tâm Phật giáo Dhammaloka
Nollamara, Perth, Western Australia 
11/12/2024

*-----*



Một vị ân nhân: Giáo sư DESMOND O’CONNOR (1926-2023)

Prof. DESMOND O’CONNOR (1926-2023) 
Former Dean, School of Environmental and Life Sciences 
Murdoch University, Western Australia

Giáo sư là Khoa trưởng Khoa Môi trường và Sinh học của Đại học Murdoch, Tây Úc, từ năm 1975 đến 1988. Vào năm 1977, khi tôi được Đại học Murdoch cấp học bổng làm nghiên cứu sinh tiến sĩ, Giáo sư đã nhiệt tình giúp đỡ, can thiệp với Sứ quán Úc tại Bangkok để cấp chiếu khán và các giấy tờ cần thiết cho tôi được nhập cảnh và định cư tại Tây Úc.

Sau khi tốt nghiệp tiến sĩ và bắt đầu cuộc đời công chức, làm việc cho chính phủ bang Tây Úc, tôi không còn liên lạc và không có thông tin gì về ông. Không hiểu lý do gì mà tối nay, sau thời hành thiền, ngồi suy tưởng về cuộc đời của mình, về những vị ân nhân đã từng giúp đỡ mình, tôi chợt nhớ đến ông. Mở máy tính, vào Internet tìm thông tin về Giáo sư thì được biết ông đã từ trần vào tháng 6 năm ngoái – 2023, hưởng thọ 97 tuổi.

Xin chân thành tri ân Giáo sư. Nguyện cho ông sớm tái sinh về nhàn cảnh. 🙏🙏🙏

- Binh Anson 
Perth, Western Australia 
11/12/2024

*-----*



Wednesday, 11 December 2024

A-tỳ-đàm: Tổng quan & Nguồn gốc lịch sử

 Xin giới thiệu một bài viết bằng tiếng Anh của Wikipedia, chứa nhiều thông tin chi tiết và khách quan về A-tỳ-đàm (Abhidharma, Abhidhamma, Vi diệu pháp). Link của trang web:
https://en.wikipedia.org/wiki/Abhidharma

*



Sunday, 11 August 2024

Misbehaving monks are trashing Buddhism's reputation in Thailand

 MISBEHAVING MONKS ARE TRASHING BUDDHISM'S REPUTATION IN THAILAND  
Lauren Day and Matt Henry 
ABC News, 08/08/2024 

It was rumours of a sex scandal that first brought Phra Khom, a Buddhist monk famed throughout Thailand for his talents as a preacher, to the attention of police in April 2023.

But even hardened investigators were stunned by what they uncovered when they raided his temple, Wat Pa Thammakhiri, hidden in a green valley a few hours' drive from Bangkok.

Suitcases stuffed with cash. Gold bars buried in the hills. A paper trail of bank transfers to the monk's sister's account totalling $2.2 million.

In all, Phra Khom, along with his co-conspirators, had embezzled more than $12 million of temple donations from his many faithful followers.

He was arrested, along with six other monks, and sentenced earlier this year to 468 years in prison.

Phra Khom's fall from grace grabbed national headlines, but it wasn't the first time a member of the Thai Buddhist clergy had been caught committing crimes.

In Thailand, it can seem like barely a week goes by without reports of monks being charged with drug possession, drunk driving, corruption, violent crimes, even rape and murder.

That's not to mention a slew of less serious – but equally scandalous – reports of monk misbehaviour, such as the case of Phra Kato, a handsome young monk and social media influencer whose sexual tryst with a model was exposed in early 2022.

Their clandestine love affair briefly set the nation abuzz after they were caught discussing it on a leaked audio recording.

Phra Kato was promptly disrobed, but his disgrace only deepened when he was later accused of embezzling temple funds and attempting to pay "hush money" to his lover and a journalist pursuing the story – claims he has denied.

While some Thais have become desensitised to such stories, others see the resulting erosion of public faith in the monkhood as a problem of national significance.

In Thailand, where more than 90 per cent of people are Buddhists and monks are still treated with special reverence, Buddhism remains one of the key pillars of society.

But some fear that pillar is cracking under the weight of mounting scandals involving some of the nation's estimated 280,000 holy men.

Those who put on the saffron robes are expected to model lives of moderation and virtue, holding to Buddhism's central teachings – no killing, stealing, sex, lies or drugs and alcohol – and observing dozens more rules in their daily lives.

Phra Paisal Visalo, an abbot, or head monk, at one of the country's most respected monasteries in the north-eastern province of Chaiyaphum, is troubled by how many monks are failing to uphold that moral code.

"There is a lot of scandal," he says, sitting cross-legged on the floor of his monk's house, perched above a peaceful lake. 

"I would call the situation in Buddhism now, especially as far as the monks are concerned, is in crisis."

Phra Paisal, who has been a monk for four decades, is among those now calling for urgent reform to Thailand's religious institutions to fix what he sees as a growing crisis of faith.

"I'm afraid Buddhism in Thailand has no future," he says.

THE TEMPLE WITH NO MONKS

Moral lapses in the clergy aren't just limited to a few rogue monks. In some cases, whole temples have been corrupted, often with devastating effects for the faithful.

In November 2021, at a temple amid the swaying palm plantations of Chumphon province, in southern Thailand, all four monks including the abbot were swept up in a drug raid.

Police found methamphetamine pills, meth pipes and dozens of bottles of urine the monks had been storing in their sleeping quarters. The monks all tested positive for the drug and were disrobed.

"If you ask me, was I shocked? I could not imagine all the monks in this temple were addicted," says the local village chief, Terdsak Pudwanna, as we stand at the temple's front gate in the baking morning sun.

For a time, the temple was left without any monks at all.

Terdsak has seen how the scandal continues to reverberate through his community long after the initial shock.

Buddhists depend on the monks at their local temple to do daily alms collection for religious "merit making" and perform a range of other rites and ceremonies.

"When those monks were arrested for using narcotics, the villagers who still had faith felt like they had been betrayed," says Terdsak.

Many in the village have kept their family's ashes in burial boxes, known as "stupas", on the temple grounds for generations, but now feel they can't return.

For some, their ties to the temple have been severed, perhaps permanently.

At a roadside restaurant on the edge of a palm plantation, local waitress Ladawan says she remembers the day of the raid vividly – it was the day of her father's funeral.

"We were moving our father’s body from our home to the temple and I was surprised to see that there were police officers at the temple," she says.

Ladawan had hoped to one day lay her father's ashes to rest at the temple but after the drug bust, she decided against it.

"I feel upset," she says, her eyes welling with tears. "Tremendously upset. Because our ancestors, our burial stupas are there. I wish [to visit them] one day if it's meant to be."

THE BIG BUSINESS OF BUDDHISM

Misbehaving monks are not an entirely new phenomenon in Thailand. In the mid-1990s, the country was scandalised by reports from women who had had sexual encounters with Phra Yantra Amaro Bhikku, a charismatic Buddhist preacher who travelled the globe spreading the faith, until he was expelled from the monkhood.

Just over a decade ago, it was Wirapol Sukphol who shot to online infamy when a YouTube video of him seated in a private jet, holding a luxury designer bag and flicking through wads of cash, went viral.

Sukphol's lavish display of wealth provoked outrage, and later led to a criminal investigation, which found him guilty of money laundering and sexual offences.

Monks are strictly forbidden from accumulating personal wealth, but Phra Paisal Visalo fears some are immersing themselves too deeply in the culture of consumerism that surrounds them.

"In the past monks led the way for the laypeople," he says. "But now they do not lead the laypeople along the way of inner peace. They just follow the laypeople along the path of wealth and prosperity."

Coupled with Thailand's opaque system of temple accounting, the temptation to use the monkhood as a money spinner can be too much for some.

Thailand's 43,000 temples together raise an estimated $4 billion a year in donations from the public, while the government chips in an extra $170 million to help support them.

But keeping track of where the donation money goes is near impossible.

In the case of Wat Pa Thammakhiri, officers with the Central Investigations Bureau (CIB) say Phra Khom neglected to set up a board of financial administrators or appoint a warden – structures that would have at least kept temple money at arm's length.

Instead, as the money poured in from donors, he was able to "manipulate the assets in large quantities without anyone knowing," says Lieutenant Colonel Parnumas Saengsong, part of the CIB team that raided the temple.

In the end, the staggering scale of his embezzlement was only revealed when Phra Khom made a rookie error, calling his monks from the police station where he was being questioned to tell them to hide the loot. Investigators pounced and caught them in the act.

"Some had hidden it in the bell tower, some had buried it in the hills behind the temple and covered it with monk robes," says Parnumas Saengsong. "Our investigation team was stunned. It was a huge amount. But these people took it for themselves."

Thailand's temples are required by law to open their books every year to the National Office of Buddhism, the government agency that's supposed to have oversight of their finances.

But the NOB's director, Intaporn Jan-Iaem, admits that doesn't always happen, as was the case with Wat Pa Thammakhiri.

"That is why the National Office of Buddhism had to cooperate with the authorities, in this case the CIB, who are able to call for witnesses and evidence for investigators to inspect," he says.

Intaporn Jan-Iaem says his agency has only limited powers to conduct its own investigations and that's something he wants to see changed.

"Right now, if monks commit wrongdoing, the National Office of Buddhism can only report that information and evidence to administrative monks to review. The monk process is slow, I must admit."

He says the National Office of Buddhism needs the power to "summons those monks for questioning right away without having to wait for any monks' council."

CLEANING UP THAILAND'S TEMPLES

Some believers aren't waiting, and are taking matters into their own hands instead.

Police lieutenant colonel Sayomphu Kauljittisirodom doesn't look much like a Buddhist monk, with a handgun slung at his hip, police-issue haircut and biceps bulging under his blue polo shirt.

But earlier this year, he passed himself off as one to make a daring series of arrests.

In March, feeling burnt out after a 20-year career in the Thai police, Sayomphu did what many Thai men will do at least once in their lives – ordained as a monk for a few weeks.

"Being a police officer, one has to be ready in both body and mind," he says. "The best thing for me was to try for once to become a monk."

But before he'd hung up his robes, Sayomphu's colleagues received a tip-off about a potential drug ring operating at a local temple.

Together they came up with an ingenious plan: Sayomphu would go undercover as a monk and wait at the temple to catch the crooks.

"I just covered myself with the robe," he says, swishing the saffron garment over his shoulder. "That way a weapon and camera could be hidden."

In the end, two monks were arrested for using meth, as well as two dealers who had sold it to them.

"Generally, the public appreciated what we did and admired us for eliminating an enemy of religion," he says.

Sayomphu has vowed to keep weeding out criminals hiding in temples to stop them giving Buddhism a bad name.

"In future, people may no longer respect them and that will affect the entire monkhood," he says.

Some believe fixing Thai Buddhism's problems requires more than individual heroics.

They point to flaws in the system of administration governing the clergy to explain why so many monks are going off the rails, arguing it protects them by maintaining a culture of fear, secrecy and impunity.

In Thailand, monks are governed by the Supreme Sangha Council, a small group of some of the country's most senior abbots with authority over religious matters.

Supporters of the status quo say the current system is well-equipped to reign in wayward monks, as long as abbots are willing to enforce the Sangha laws.

"If the abbot of every temple supervises the behaviour of the monks of each temple, I guarantee there wouldn't be any problems," says Luang Pi Namfon, the abbot at Wat Pai Lom in the town of Nakhon Pathom.

He's taken monitoring of his monks to what some might call extreme levels, drug testing them on a regular basis to make sure they are clean.

Phra Paisal Visalo disagrees. He says the system governing Buddhism in Thailand is long overdue for a significant overhaul if it's to deal with its monk problem.

"Corrupt monks are not punished so the system allows corrupt monks to be widespread," he says. "It needs reform. A comprehensive reform."

He wants to see it decentralised to allow participation from laypeople, as well as better vetting and education for men entering the monkhood.

But for now, he's just hoping this religion of reincarnation can change before it's too late.

"There's some aspects of teaching have been forgotten, especially about inner freedom, true happiness, the happiness that is beyond material happiness," he says. 

"It should be restored. It should be emphasised. This is my key idea about the reform."

* Watch on YouTube:
https://www.youtube.com/watch?v=jyJJmMSnqdM

*-----*





Wednesday, 10 July 2024

Một tang lễ giản dị, trang nghiêm, nhẹ nhàng

 Tôi đi dự đáng tang bà THERESE POGA (1932-2015)

Sáng nay, sau khi ăn điểm tâm, tôi lái xe đến dự tang lễ tại một nhà thờ đạo Thiên Chúa ở quận Subiaco, trong cùng thành phố Perth. Bà Poga là mẹ của một người bạn Úc tôi quen hơn 35 năm, từ khi chúng tôi đến định cư tại Tây Úc.

Ông bà Poga là người di dân tị nạn từ Latvia, đến định cư tại Úc trong thập niên 1950. Vì là người tị nạn, ông bà rất thông cảm với những người Việt đến định cư tại Úc sau 1975. Trong những năm đầu tại Perth, chúng tôi thường được ông bà mời đến nhà ăn cơm, và được giúp nhiều thông tin, ý kiến cố vấn, lời khuyên, để chúng tôi hòa nhập vào xã hội Úc.

Đám tang với nghi lễ đơn giản, tổ chức theo lời dặn của bà. Bạn tôi cho biết bà để lại một tờ giấy ghi 18 điểm, dặn dò con cái về cách thức tổ chức tang lễ của bà. Bà là một người ngoan đạo, đi nhà thờ mỗi tuần, nên có nhiều kinh nghiệm về các nghi thức trong đạo. Tang lễ chỉ có các bài thánh ca, vài tràng hoa trắng, và con cháu lần lượt đọc các đoạn trích trong Thánh Kinh mà bà đã chọn trước. Không đọc điếu văn ai oán.

Buổi lễ kết thúc sau 90 phút, và xe tống táng đưa quan tài đến lò hỏa thiêu. Mọi người đứng trước cửa Nhà Thờ để tiễn biệt, không đi theo xe. Đó là ý nguyện của bà. Tro cốt sau khi hỏa thiêu sẽ được đem về chôn tại sân vườn hoa hồng của Nhà Thờ.

Một tang lễ giản dị, trang nghiêm, nhẹ nhàng, không buồn rầu sầu khổ.

Bình Anson 
Perth, Tây Úc 
10/07/2015

*-----*





Saturday, 6 July 2024

TRƯỜNG A-HÀM & TRUNG A-HÀM: Bản Anh dịch

TRƯỜNG A-HÀM & TRUNG A-HÀM 
Bản Anh dịch   

1) Dīrgha Āgama - The Canonical Book of the Buddha's Lengthy Discourses (Trường A-hàm)

Tập I:
https://tinyurl.com/2hsdm4xy [en214-1.pdf] 

Tập II:
https://tinyurl.com/ryh7rtyx [en214-2.pdf]  

Tập III:
https://tinyurl.com/yr4jkuy3 [en214-3.pdf]  

2) Madhyama Āgama - The Middle Length Discourses (Trung A-hàm)

Tập I:
https://tinyurl.com/ymtfkxhb [en215-1.pdf] 

Tập II:
https://tinyurl.com/muwcw4db [en215-2.pdf] 

Tập III:
https://tinyurl.com/56my5adf [en215-3.pdf] 

Tập IV:
https://tinyurl.com/45nj72r6 [en215-4.pdf]     

Có thể tải về bản Anh dịch, dạng PDF, các kinh khác trong Hán tạng tại trang web của BDK America:
=>  https://www.bdkamerica.org/tripitaka-list/

*-----*



Saturday, 29 June 2024

Trở về với cát bụi

 TRỞ VỀ VỚI CÁT BỤI

Tại Úc, khi một người qua đời, sau tang lễ, sẽ được chôn cất tại các nghĩa trang do chính phủ tiểu bang quản lý, hoặc hỏa thiêu. Nếu chôn cất, tại Tây Úc, phải trả tiền thuê đất trong thời hạn 25 năm, và chỉ có thể gia hạn thêm 25 năm nữa. Nếu hỏa thiêu, hộp tro cốt có thể được chôn tại đất nghĩa trang, thường là tại một khu vườn có trồng hoa hồng, vẫn phải trả tiền thuê đất – nhưng rẻ hơn, và thời hạn cũng vẫn là 25 + 25 năm. Khuynh hướng ngày nay, 80% các đám tang tại Tây Úc là hỏa thiêu.

Sau khi hỏa thiêu, ngoài việc chôn tại vườn hoa nghĩa trang, có khi thân nhân đem hộp tro cốt về nhà, chôn ở sân vườn, hoặc đem tro cốt rải xuống sông, biển. Đối với một số Phật tử khác, có thể đem hộp tro cốt cất gửi ở chùa Việt hoặc đem về Việt Nam. Các chùa Việt ở đây đều có một phòng riêng để lưu các hộp tro cốt và hình ảnh người quá cố.

Riêng ở Tu viện Bodhinyana, bang Tây Úc, Phật tử có thể xin phép ngài Ajahn Brahm, đem tro cốt của người thân chôn ở dưới các gốc cây rải rác chung quanh hồ nước của Tu viện với khung cảnh thiên nhiên. Hoặc theo phong tục của Thái Lan, chôn vào vách tường rào quanh Tu viện. Hoàn toàn miễn phí, không phải trả tiền thuê đất và cũng không ấn định thời hạn như các nghĩa trang của chính phủ. 

Cũng có trường hợp gia đình đem tro cốt rải vào khu đất rừng hay rải xuống con suối chảy ngang đó. Tôi đã viết di chúc dặn dò thân nhân sau khi tôi chết, hỏa thiêu, rồi đem tro cốt rải vào khu đất rừng của Tu viện. Cát bụi trở về với cát bụi.

*




Tuesday, 4 June 2024

Các pháp hành đầu-đà phổ thông trong thời hiện đại

CÁC PHÁP HÀNH ĐẦU-ĐÀ PHỔ THÔNG TRONG THỜI HIỆN ĐẠI
Bình Anson

*

Theo Tiểu phẩm, tạng Luật (Parivāra, Vinayapiṭaka), Đức Phật giảng cho ngài Trường lão Upāli về mười ba pháp đầu-đà (dhutanga) như sau (Pvr 17.6 - Upālipañcaka):

(1) Hành pháp ngụ ở rừng,
(2) hành pháp đi khất thực,
(3) hành pháp ngụ ở gốc cây,
(4) hành pháp chỉ mặc y paṃsukūla (phấn tảo),
(5) hành pháp ngụ ở mộ địa,
(6) hành pháp ngụ ngoài trời,
(7) hành pháp mặc ba y,
(8) hành pháp đi khất thực theo từng nhà,
(9) hành pháp giữ oai nghi ngồi,
(10) hành pháp ngụ chỗ ở theo chỉ định,
(11) hành pháp một chỗ ngồi (khi thọ thực, nhất tọa thực),
(12) hành pháp không ăn vật thực dâng sau, và
(13) hành pháp thọ thực trong bình bát.

Ngài cũng giải thích có 5 hạng người thực hành mỗi pháp đầu-đà:

(1) Hạng người có bản tánh ngu khờ, có bản tánh si mê;
(2) hạng người có ước muốn xấu xa, bị thúc giục bởi ước muốn;
(3) hạng người do điên khùng, do mất trí;
(4) hạng người thực hành vì nghĩ rằng: ‘Như thế sẽ được chư Phật và chư Thinh Văn của đức Phật khen ngợi’; và
(5) hạng người thực hành vì ham muốn ít, vì tự biết đủ, vì sự từ khước, vì sự tách ly, vì lợi ích của pháp hành ấy.

Hạng người thứ (5) là hạng người được Đức Phật tán thán.

Trong thời hiện đại, các pháp hành đầu-đà này có vài thay đổi để thích nghi với hoàn cảnh văn hóa, xã hội của mỗi quốc độ. Trong nhiều năm qua, tôi có phước duyên được gần gũi, quan sát, và tìm hiểu sinh hoạt của chư Tăng Ni trong truyền thống Theravada và xin chia sẻ ở đây.

Ở Thái Lan, pháp hành đầu-đà được gọi là Tudong (tu-đông, thudong), phiên âm từ tiếng Pali “Dhutanga”. Chư Tăng Thái có những pháp hành đầu-đà khác nhau tùy theo ý nguyện của mỗi cá nhân. Có những vị sư phát nguyện giữ hạnh đầu-đà sống trong rừng, không có trú xứ nhất định (hạnh đầu-đà số 1). Các vị ấy thường đi du hành trong rừng núi, từ làng này đến làng kia. Ban đêm ngủ ở bìa làng, ban ngày đến từng nhà trong làng khất thực. Có vị lập một liêu cốc nhỏ bằng tre lá trong rừng, nhưng cách làng khoảng 1 hay 2 km để đi bộ đến khất thực mỗi ngày. Lưu tại đó một thời gian, rồi đi sang khu rừng khác.

Có vị lập nguyện sống trong các hang động trên núi, mỗi ngày đi bộ xuống làng để khất thực rồi trở về hang núi để tu thiền. Hạnh đầu-đà sống trong các hang núi cũng thường thấy ở Sri Lanka.

Tùy theo điều kiện khí hậu, các sư trong vùng nhiệt đới có thể lập nguyện mặc ba y (hạnh đầu-đà số 7) như tôi đã từng biết ở vài tu viện miền đông bắc Thái Lan. Nhưng hạnh đầu-đà này rất khó áp dụng ở những quốc gia có mùa đông với tuyết rơi băng giá.

Tôi chỉ nghe nói nhưng chưa từng thấy vị sư nào chỉ mặc y paṃsukūla (phấn tảo, hạnh đầu-đà số 4). Nhiều năm trước, ở Tu viện Bodhinyana Tây Úc có một vị sư phương Tây phát nguyện không thay y mới. Tấm y rách đến đâu thì sư tự dùng kim chỉ để vá đến đó. Vá bằng đôi tay của sư, không dùng máy may. Sư dùng những tấm y cũ của các sư khác đã bỏ đi, cắt thành những mảnh vải để chắp vá y của sư. Dần dần, tấm y của của sư có nhiều mảnh chắp vá trên đó, trông rất ngộ nghĩnh. Tuy nhiên, chúng đều cùng có chung một màu vàng đất.

Pháp hành đi khất thực từng nhà (đầu-đà số 2 và số 8) rất phổ thông ở vùng thôn quê ở các quốc gia Đông Nam Á trong truyền thống Theravada (Thái Lan, Miến Điện, Lào).

Pháp đầu-đà chỉ ăn trong bình bát (đầu-đà số 13) cũng phổ thông khắp nơi, ngay cả tại một số tu viện ở phương Tây (Anh, Mỹ, Úc …). Tại Tây Úc, chư Tăng Ni tại Tu viện Bodhinyana và Ni viện Dhammasara đều tuân giữ hạnh đầu-đà này, chỉ ăn thức ăn để trong bình bát, không dùng chén đĩa bên ngoài. Sau khi đã bỏ đủ thức ăn vào bình bát, chư Tăng Ni chỉ ăn trong đó, không nhận thức ăn dâng thêm sau (đầu-đà số 12). Có những vị sư ở Thái Lan lập nguyện chỉ ăn mỗi ngày đúng một bữa, khoảng 9 giờ sáng, không ăn điểm tâm sáng (đầu-đà số 11).

Trong mùa an cư, chư Tăng Ni Tây Úc thường lập nguyện hành đầu-đà giữ oai nghi ngồi, không nằm, trong suốt 10 ngày hay 2 tuần lễ (đầu-đà số 9). Các vị chỉ đi, đứng và ngồi. Nếu có mệt hay buồn ngủ thì ngồi nghỉ, không nằm.

Một số Phật tử Nam tông ở Việt Nam và Thái Lan cũng nguyện giữ hạnh đầu-đà này trong các ngày trai giới hay trong các dịp lễ lớn. Phật tử đến chùa hành lễ, tụng kinh, nghe pháp, hành thiền suốt đêm, không nằm ngủ.

Có một hạnh đầu-đà khác thường được áp dụng ở Tây Úc là nhập thất tịnh tu. Trong mùa an cư, chư Tăng Ni luân phiên giữ hạnh đầu-đà này. Mỗi người phát nguyện nhập thất độc cư để tịnh tu khoảng 2 tuần lễ, hoàn toàn biệt lập, không tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Mỗi ngày, có vị sư bạn đem bình bát có thức ăn đến gần tịnh thất, đặt xuống ở gốc cây. Sư trong tịnh thất đi ra, nhận bình bát để ăn, lau rửa sạch sẻ rồi đặt lại ở gốc cây đó, để hôm sau có người đến lấy để bỏ thức ăn vào đó.

Khoảng 25 năm trước, ngài Ajahn Brahm cũng nhập thất tịnh tu như thế trong 6 tháng.

Trên đây là một số hạnh đầu-đà của chư Tăng Ni trong truyền thống Theravada mà tôi có hiểu biết và đã từng chứng kiến, ghi nhận. Xin chia sẻ ở đây.

- Bình Anson, Tây Úc
21/05/2024

* Ghi chú:

Luận sư Buddhaghosa trong cuốn Thanh tịnh đạo, Chương II, liệt kê 13 pháp hành đầu-đà, nhưng có thứ tự không giống như liệt kê trong Tiểu phẩm, tạng Luật, như sau:

1. Hạnh phấn tảo y (4)
2. Hạnh ba y (7)
3. Hạnh khất thực (2)
4. Hạnh khất thực từng nhà (8)
5. Hạnh nhất toạ thực (11)
6. Hạnh ăn bằng bát (13)
7. Hạnh không để dành đồ ăn (không nhận đồ ăn sau khi đã ăn xong) (12)
8. Hạnh ở rừng (1)
9. Hạnh ở gốc cây (3)
10. Hạnh ở giữa trời (6)
11. Hạnh ở nghĩa địa (5)
12. Hạnh nghỉ chỗ nào cũng xong (10)
13. Hạnh ngồi (không nằm) (9)

Số trong dấu ngoặc đơn (x) là số thứ tự tương ứng trong danh sách 13 pháp đầu-đà của tạng Luật.

* Tham khảo:

1) Tiểu phẩm II, tạng Luật - Parivāra, Vinayapiṭaka. Bhikkhu Indacanda dịch Việt.
https://tamtangpaliviet.net/VHoc/09/09_04.html#11.06

2) Thanh tịnh đạo (Visuddhi Magga), Ni trưởng Trí Hải dịch. Chương II - Hạnh Đầu-đà (Khổ hạnh).

3) Bhikkhu Khantipalo (1965, 1986). With Robes and Bowl: Glimpses of the Thudong Bhikkhu Life
(Với y và bát: Sơ lược về đời sống tỳ-khưu theo hạnh đầu-đà).

4) Kamala Tiyavanich (1997). Forest Recollections: Wandering Monks in Twentieth-Century Thailand
(Các kỷ niệm trong rừng: Du tăng ở Thái Lan trong thế kỷ 20).

*-----*




Sunday, 2 June 2024

Tam Tạng Thánh Điển Phật Giáo Việt Nam

TAM TẠNG THÁNH ĐIỂN PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành

Đề nghị các bạn tìm thỉnh mua 18 cuốn này (như trong ảnh kèm theo), do Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam (Thiền viện Vạn Hạnh, Q. Phú Nhuận, Sài Gòn) ấn hành trong năm 2020-2022. 

Đồng thời, tải về máy tính các tập tin dạng PDF để tham khảo.

I. TAM TẠNG THƯỢNG TỌA BỘ (Pāli tạng)

- Tập 01: Kinh Trường bộ [vn222-01.pdf], 668 trang, 70.2 MB
https://tinyurl.com/bdhztbu7

- Tập 02: Kinh Trung bộ [vn222-02.pdf], 1246 trang, 117.5 MB
https://tinyurl.com/5pb9yan8

- Tập 03: Kinh Tương ưng bộ [vn222-03.pdf], 1432 trang, 127.4 MB
https://tinyurl.com/ycyvnmne

- Tập 04: Kinh Tăng chi bộ [vn222-04.pdf], 1424 trang, 171.2 MB
https://tinyurl.com/ycyn3tej

- Tập 05: Kinh Tiểu bộ I [vn222-05.pdf], 1348 trang, 94.6 MB
https://tinyurl.com/56jm45em

- Tập 06: Kinh Tiểu bộ II [vn222-06.pdf], 1264 trang, 111.6 MB
https://tinyurl.com/y2xdry9c

- Tập 07: Kinh Tiểu bộ III [vn222-07.pdf], 1484 trang, 118.7 MB
https://tinyurl.com/bddxsk7f

- Tập 08: Kinh Tiểu bộ IV [vn222-08.pdf], 1218 trang, 125.3 MB
https://tinyurl.com/yc5cc6mn

- Tập 09: Kinh Tiểu bộ V [vn222-09.pdf], 1268 trang, 115.0 MB
https://tinyurl.com/29b3racx

- Tập 10: Luật tạng - Phân tích giới bổn [vn222-10.pdf], 914 trang, 84.6 MB
https://tinyurl.com/3fpk4h4u

- Tập 11: Luật tạng - Hợp phần, Tập yếu [vn222-11.pdf], 1502 trang, 140.4 MB
https://tinyurl.com/76f7fv4m

II. TAM TẠNG PHẬT GIÁO BỘ PHÁI (Hán tạng)

- Tập 17a: Kinh Trường A-hàm (CĐPH Huệ Nghiêm dịch), [vn222-17a.pdf], 50.8 MB
https://tinyurl.com/3n4xxvcn

- Tập 17b: Kinh Trường A-Hàm (Trung Tâm DT Trí Tịnh dịch), [vn222-17b.pdf], 54.3 MB
https://tinyurl.com/bddkxyde

- Tập 18: Kinh Trung A-Hàm (CĐPH Hải Đức dịch), [vn222-18.pdf], 119.1 MB
https://tinyurl.com/3ms6vrra

- Tập 19: Kinh Trung A-Hàm (Trung Tâm DT Trí Tịnh), [vn222-19.pdf], 145.9 MB
https://tinyurl.com/wfmxrh45

- Tập 20: Kinh Tạp A-Hàm (HT Thiện Siêu, HT Thanh Từ dịch), [vn222-20.pdf], 161.0 MB
https://tinyurl.com/22hbczks

- Tập 21: Kinh Tạp A-Hàm (Trung Tâm DT Trí Tịnh dịch), [vn222-21.pdf], 211.6 MB
https://tinyurl.com/3uhw4s2d

- Tập 22: Kinh Tăng Nhất A-Hàm (HT Thiện Siêu, HT Thanh Từ dịch), [vn222-22.pdf], 82.3 MB
https://tinyurl.com/5cd6xwtj

- Tập 23: Kinh Tăng Nhất A-Hàm (Trung Tâm DT Trí Tịnh), [vn222-23.pdf], 105.3 MB
https://tinyurl.com/2sdtuy26

*-----*


Ghi thêm:

Đề nghị liên hệ trực tiếp để thỉnh mua. Bìa sách phải có hình dạng thiết kế, các tựa đề in trên bìa sách có nội dung tương tự như hình kèm theo.

Phòng Phát Hành Sách
VIỆN NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC VIỆT NAM
Địa chỉ: Số 750, Nguyễn Kiệm, Quận Phú Nhuận, Sài Gòn
Điện thoại: (08) 38448893 – 39974447 - Email: vncphvn@gmail.com 
Trang web: https://vncphvn.com/






Hạnh đầu-đà của Trưởng lão Mahākassapa (Đại Ca-diếp)

HẠNH ĐẦU ĐÀ CỦA TRƯỞNG LÃO MAHĀKASSAPA (ĐẠI CA-DIẾP)
Bình Anson

1) Đức Phật khen Trưởng lão Mahākassapa:
– Trong các đệ tử tỳ-khưu khéo thuyết về hạnh đầu đà, tối thắng là Mahākassapa (AN 1.190).

2) Trưởng lão Mahākassapa trình bày với Đức Phật về nếp sống của mình:
– Bạch Thế Tôn, con là người đã lâu ngày sống ở rừng núi và tán thán hạnh ở rừng núi; con là người đi khất thực và tán thán hạnh khất thực; con là người mặc y phấn tảo và tán thán hạnh mặc y phấn tảo; con là người chỉ dùng ba y và tán thán hạnh chỉ dùng ba y; con là người thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục; con là người biết đủ và tán thán hạnh biết đủ; con là người sống độc cư và tán thán hạnh độc cư; con là người sống không dính mắc chuyện thế tục và tán thán hạnh không dính mắc chuyện thế tục; con là người tinh tấn và tán thán hạnh tinh tấn (SN 16.5).

3) Trưởng lão Mahākassapa trả lời Trưởng lão Sāriputta (Xá-lợi-phất) về các vị tỳ-khưu có khả năng làm sáng chói khu rừng Gosiṅga (MN 32):
– Ở đây, này hiền giả Sāriputta, vị tỳ-khưu tự mình sống ở rừng núi và tán thán hạnh ở rừng núi, tự mình đi khất thực, và tán thán hạnh khất thực, tự mình mặc y phấn tảo và tán thán hạnh mặc y phấn tảo, tự mình chỉ dùng ba y và tán thán hạnh chỉ dùng ba y, tự mình sống thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục, tự mình sống biết đủ và tán thán hạnh biết đủ, tự mình sống độc cư và tán thán hạnh sống độc cư, tự mình sống không dính mắc chuyện thế tục và tán thán hạnh không dính mắc chuyện thế tục, tự mình tinh tấn và tán thán hạnh tinh tinh tấn, tự mình thành tựu giới hạnh và tán thán sự thành tựu giới hạnh, tự mình thành tựu thiền định và tán thán sự thành tựu thiền định, tự mình thành tựu trí tuệ và tán thán sự thành tựu trí tuệ, tự mình thành tựu giải thoát và tán thán sự thành tựu giải thoát, tự mình thành tựu tri kiến của giải thoát và tán thán sự thành tựu tri kiến của giải thoát. Này hiền giả Sāriputta, hạng tỳ-khưu như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosiṅga.

4) Theo Tiểu phẩm, tạng Luật (Parivāra, Vinayapiṭaka), Đức Phật giảng cho ngài Trường lão Upāli về mười ba pháp đầu đà như sau (Pvr 17.6 - Upālipañcaka):

(1) Hành pháp ngụ ở rừng,
(2) hành pháp đi khất thực,
(3) hành pháp ngụ ở gốc cây,
(4) hành pháp chỉ mặc y paṃsukūla (phấn tảo),
(5) hành pháp ngụ ở mộ địa,
(6) hành pháp ngụ ngoài trời,
(7) hành pháp mặc ba y,
(8) hành pháp đi khất thực theo từng nhà,
(9) hành pháp giữ oai nghi ngồi,
(10) hành pháp ngụ chỗ ở theo chỉ định,
(11) hành pháp một chỗ ngồi (khi thọ thực, nhất tọa thực),
(12) hành pháp không ăn vật thực dâng sau, và
(13) hành pháp thọ thực trong bình bát.

5) Tôi không tìm thấy thông tin nào trong Chánh Tạng Pāli (tạng Kinh, tạng Luật, tạng A-tỳ-đàm) ghi rằng ngài Trưởng lão Mahākassapa thực hành cả 13 pháp đầu đà nêu trên.

Thêm vào đó, tôi cũng không thấy việc đi bộ du hành từ nơi nầy đến nơi khác được ghi trong 13 pháp đầu đà hay trong các đoạn kinh về nếp sống đầu đà của ngài Mahākassapa.

– Bình Anson
Perth, Western Australia
01/06/2024

*-----*