Thursday, 9 February 2017

Các vị Tăng Thống của Phật giáo Thái Lan (Supreme Patriarch of Thailand)

Supreme Patriarch (Sangharaja) of Thailand: 

1. Somdet Phra Ariyavongsanana I (Sri), Sri, from 1782/83 (2325 BE) to 1794/75 (2337 BE), Order: Maha Nikaya, Temple: Wat Rakhang Khositaram.

2. Somdet Phra Ariyavongsanana II (Suk), Suk, from 1794/75 (2337 BE) to 1816/87 (2359 BE), Order: Maha Nikaya, Temple: Wat Mahathat Yuwaratrangsarit.

3. Somdet Phra Ariyavongsanana III (Mee), Mee, from 1816/87 (2359 BE) to 1819/20 (2362 BE), Order: Maha Nikaya, Temple: Wat Mahathat Yuwaratrangsarit.

4. Somdet Phra Ariyavongsanana IV (Suk Nyanasamvara), Suk, from 1820/21 (2363 BE) to 1822/23 (2365 BE), Order: Maha Nikaya, Temple: Wat Mahathat Yuwaratrangsarit.

5. Somdet Phra Ariyavongsanana V (Don), Don, from 1822/23 (2365 BE) to 1842/43 (2385 BE), Order: Maha Nikaya, Temple: Wat Mahathat Yuwaratrangsarit.

6. Somdet Phra Ariyavongsanana VI (Nag), Nag, from 1843/44 (2386 BE) to 1849/50 (2392 BE), Order: Maha Nikaya, Temple: Wat Ratchaburana.

7. Somdet Phra Maha Samana Chao Kromma Phra Paramanuchitchinorot (HRH Prince Vasugri Suvaṇṇaraṃsi), HRH Prince Vasugri, from 1851/52 (2394 BE) to 1853/54 (2396 BE), Order: Maha Nikaya, Temple: Wat Phra Chetuphon Vimolmangklararm.

8. Somdet Phra Maha Samana Chao Kromma Phraya Pavares Variyalongkorn (HRH Prince Rurk Paññāaggo), HRH Prince Rurk, from 1853/54 (2396 BE) to 1892/93 (2435 BE), Order: Dhammayuttika Nikaya, Temple: Wat Bowonniwet Vihara.

9. Somdet Phra Ariyavongsagatanana I (Sa Pussadevo), Sa, from 1893/94 (2436 BE) to 1899/1900 (2442 BE), Order: Dhammayuttika Nikaya, Temple: Wat Ratchapradit Sathit Mahasimaram.

10. Somdet Phra Maha Samana Chao Kromma Phraya Vajirananavarorasa (HRH Prince Manusyanagamanob Manussanāgo), HRH Prince Manusyanagamanob, from 1910/11 (2453 BE) to 1921/22 (2464 BE), Order: Dhammayuttika Nikaya, Temple: Wat Bowonniwet Vihara.

11. Somdet Phra Sangharaja Chao Kromma Luang Jinavorn Sirivaddhana (HRH Prince Bhujong Jombunud Sirivaḍḍhano), HSH Prince Bhujong Jombunud, from 1921/22 (2464 BE) to 1937/38 (2480 BE), Order: Dhammayuttika Nikaya, Temple: Wat Ratchabophit Sathit Maha Simaram.

12. Somdet Phra Ariyavongsagatanana II (Phae Tissadevo), Phae Phongpala, from 1938/39 (2481 BE) to 1944 (2487 BE), Order: Maha Nikaya, Temple: Wat Suthat Thepphaararam.

13. Somdet Phra Sangharaja Chao Kromma Luang Vajirananavongs (HH Prince Chuen Navavongs Sucitto), Mom Rajavongse Chuen Navavongs, from 1945 (2488 BE) to 1958 (2501 BE), Order: Dhammayuttika Nikaya, Temple: Wat Bowonniwet Vihara.

14. Somdet Phra Ariyavongsagatanana III (Plod Kittisobhaṇo), Plod Ketuthat, from 1960 (2503 BE) to 1962 (2505 BE), Order: Maha Nikaya, Temple: Wat Benchamabophit Dusitvanaram.

15. Somdet Phra Ariyavongsagatanana IV (Yoo Ñāṇodayo), Yoo Changsopha (Sae-Chua), from 1963 (2506 BE) to 1965 (2508 BE), Order: Maha Nikaya, Temple: Wat Saket.

16. Somdet Phra Ariyavongsagatanana V (Chuan Uṭṭhāyī), Chuan Sirisom, from 1965 (2508 BE) to 1971 (2514 BE), Order: Dhammayuttika Nikaya, Temple: Wat Makut Kasattriyaram.

17. Somdet Phra Ariyavongsagatanana VI (Pun Puṇṇasiri), Pun Sukcharoen, from 1972 (2515 BE) to 1973 (2516 BE), Order: Maha Nikaya, Temple: Wat Phra Chetuphon Vimolmangklararm.

18. Somdet Phra Ariyavongsagatanana VII (Vasana Vāsano), Vasana Nilprapha, from 1973 (2516 BE) to 1988 (2531 BE), Order: Dhammayuttika Nikaya, Temple: Wat Ratchabophit Sathit Maha Simaram.

19. Somdet Phra Nyanasamvara (Charoen Suvaḍḍhano), Charoen Khachawat, from 1989 (2532 BE) to 2013 (2556 BE), Order: Dhammayuttika Nikaya, Temple: Wat Bowonniwet Vihara.

20. Somdet Phra Ariyavongsagatanana VIII (Amborn Ambaro), Amborn Prasatthaphong, from 2017 (2560 BE) to Present, Order: Dhammayuttika Nikaya, Temple: Wat Ratchabophit Sathit Maha Simaram.
*

20 vị Tăng Thống của Phật giáo Thái Lan (hình mới sưu tập, sẽ chỉnh sửa sau):


Nghiệp (SN 14.15)

Nhiều năm trước, trong một diễn đàn PG tiếng Anh, một vị sư đề cập đến bài kinh nầy, nhưng không nêu rõ xuất xứ, về một hiện tượng tâm lý rất phổ thông xảy ra trong tăng chúng cũng như trong xã hội từ thời xưa cho đến thời nay. Người ta thường tụ hội thành từng nhóm vì cùng chung một mục đích nào đó hay khuynh hướng nào đó, thiện hay bất thiện.

Tôi thích bài kinh đó nhưng rồi quên đi. Thỉnh thoảng nhớ lại, nhưng không tìm được nguồn gốc chính xác. Sáng nay có lẽ đã đủ duyên, đến nhờ bác Gờ giúp và tìm được. Xin ghi lại đây bản dịch Việt và Anh. Trong tương lai sẽ đóng góp thêm vài suy tư.

*

NGHIỆP 
(SN 14.15) (Tạp, Ðại 2, 115a) (S.ii,155)

Một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), tại núi Gijjakūta (Linh Thứu). Lúc bấy giờ, Tôn giả Sāriputta cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành, không xa Thế Tôn bao nhiêu.

Tôn giả Mahāmoggallāna cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành, không xa Thế Tôn bao nhiêu.
Tôn giả Mahākassapa cùng với ... không xa Thế Tôn bao nhiêu.
Tôn giả Anuruddha cùng với ... không xa Thế Tôn bao nhiêu.
Tôn giả Puṇṇa Mantāniputta cùng với ... bao nhiêu.
Tôn giả Upāli cùng với ... bao nhiêu.
Tôn giả Ānanda cùng với ... bao nhiêu.
Tôn giả Devadatta cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành, không xa Thế Tôn bao nhiêu.

Rồi Thế Tôn gọi các tỳ-khưu:
– Này các tỳ-khưu, các Ông có thấy Sāriputta cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành?
– Thưa có, bạch Thế Tôn.
– Này các tỳ-khưu, tất cả vị tỳ-khưu ấy là bậc đại trí tuệ.

Này các tỳ-khưu, các Ông có thấy Moggallāna cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành?
– Thưa có, bạch Thế Tôn
– Này các tỳ-khưu, tất cả vị tỳ-khưu ấy là bậc đại thần thông.

Này các tỳ-khưu, các Ông có thấy Kassapa cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành?
– Thưa có, bạch Thế Tôn.
– Này các tỳ-khưu, tất cả vị tỳ-khưu ấy chủ trương hạnh đầu đà.

Này các tỳ-khưu, các Ông có thấy Anuruddha cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành?
– Thưa có, bạch Thế Tôn.
– Này các tỳ-khưu, tất cả vị tỳ-khưu ấy là bậc có thiên nhãn.

Này các tỳ-khưu, các Ông có thấy Puṇṇa Mantāniputta cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành?
– Thưa có, bạch Thế Tôn.
– Này các tỳ-khưu, tất cả vị tỳ-khưu ấy là bậc thuyết pháp.

Này các tỳ-khưu, các Ông có thấy Upāli cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành?
– Thưa có, bạch Thế Tôn.
– Này các tỳ-khưu, tất cả vị tỳ-khưu ấy là bậc trì luật.

Này các tỳ-khưu, các Ông có thấy Ānanda cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành?
– Thưa có, bạch Thế Tôn.
– Này các tỳ-khưu, tất cả vị tỳ-khưu ấy là bậc đa văn.

Này các tỳ-khưu, các Ông có thấy Devadatta cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành?
– Thưa có, bạch Thế Tôn.
– Này các tỳ-khưu, tất cả vị tỳ-khưu ấy là ác dục.

Này các tỳ-khưu, tùy thuộc theo giới, các chúng sinh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau. Chúng sinh liệt ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sinh liệt ý chí. Chúng sinh thiện ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sinh thiện ý chí.

Này các tỳ-khưu, tùy thuộc theo giới thời quá khứ, các chúng sinh đã cùng hòa hợp, đã cùng đi với nhau. Chúng sinh liệt ý chí đã cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sinh liệt ý chí. Chúng sinh thiện ý chí đã cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sinh thiện ý chí.

Này các tỳ-khưu, tùy thuộc theo giới thời vị lai, các chúng sinh sẽ cùng hòa hợp, sẽ cùng đi với nhau. Chúng sinh liệt ý chí sẽ cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sinh liệt ý chí. Chúng sinh thiện ý chí sẽ cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sinh thiện ý chí.

Này các tỳ-khưu, tùy thuộc theo giới hiện tại, các chúng sinh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau. Chúng sinh liệt ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sinh liệt ý chí. Chúng sinh thiện ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sinh thiện ý chí.

– (Hòa thượng Minh Châu dịch Việt, Bình Anson hiệu đính)

*

Source: Sutta Central, http://awake.kiev.ua/dhamma/tipitaka/2Sutta-Pitaka/3Samyutta-Nikaya/Samyutta2/13-Dhatu-Samyutta/02-Sattadhatuvaggo-e.html 

KAMMAṂ (CAṄKAMA) - ACCORDING TO ACTIONS (THOUGHTFULLY WALKING)

At one time, the Blessed One lived among the Gijjha peaks in Rajagaha. At that time, venerable Sāriputta was walking thoughtfully in the vicinity of the Blessed One followed by many bhikkhus.

Venerable Mahāmoggallāna was walking thoughtfully in the vicinity of the Blessed One followed by many bhikkhus.
Venerable Mahākassapa was walking thoughtfully in the vicinity of the Blessed One followed by many bhikkhus.
Venerable Anuruddha was walking thoughtfully in the vicinity of the Blessed One followed by many bhikkhus.
Venerable Puṇṇa Mantāniputta was walking thoughtfully in the vicinity of the Blessed One followed by many bhikkhus.
Venerable Upāli was walking thoughtfully in the vicinity of the Blessed One followed by many bhikkhus.
Venerable Ānanda was walking thoughtfully in the vicinity of the Blessed One followed by many bhikkhus.
Devadatta too was walking thoughtfully in the vicinity of the Blessed One followed by many bhikkhus.

Then the Blessed One addressed the bhikkhus:
“Bhikkhus, do you see Sāriputta walking thoughtfully followed by many bhikkhus?”
“Yes, venerable sir.”
“Bhikkhus, all those bhikkhus are very wise.

“Bhikkhus, do you see Moggallāna walking thoughtfully, followed by many bhikkhus?”
“Yes, venerable sir.”
“Bhikkhus, all those bhikkhus have great psychic powers.

“Bhikkhus, do you see Kassapa walking thoughtfully, followed by many bhikkhus?”
“Yes, venerable sir.”
“Bhikkhus, all those bhikkhus observe austerities.”

“Bhikkhus, do you see Anuruddha walking thoughtfully, followed by many bhikkhus?”
“Yes, venerable sir.”
“Bhikkhus, all those bhikkhus have developed the divine eye.

“Bhikkhus, do you see Puṇṇa Mantāniputta walking thoughtfully, followed by many bhikkhus?”
“Yes, venerable sir.”
“Bhikkhus, all those bhikkhus converse about ethical problems.

“Bhikkhus, do you see Upāli walking thoughtfully, followed by many bhikkhus?”
“Yes, venerable sir.”
“Bhikkhus, all those bhikkhus know the discipline.

“Bhikkhus, do you see Ānanda walking thoughtfully, followed by many bhikkhus?”
“Yes, venerable sir.”
“Bhikkhus, all those bhikkhus are learned.

“Bhikkhus, do you see Devadatta walking thoughtfully, followed by many bhikkhus?”
“Yes, venerable sir.”
“Bhikkhus, all those bhikkhus are with evil desires.”

“Bhikkhus, beings get together and agree according to the elements. Those with inferior inclinations get together and agree with others of inferior inclinations and those with virtuous inclinations get together and agree with others of virtuous inclinations.

“Bhikkhus, even in the past beings got together and agreed according to the elements. Those with inferior inclinations got together and agreed with others of inferior inclinations and those with virtuous inclinations got together and agreed with others of virtuous inclinations.

“Bhikkhus, even in the future beings will get together and agree according to the elements. Those with inferior inclinations will get together and agree with others of inferior inclinations and those with virtuous inclinations will get together and agree with others of virtuous inclinations.

“Bhikkhus, even at present beings get together and agree according to the elements. Those with inferior inclinations get together and agree with others of inferior inclinations and those with virtuous inclinations get together and agree with others of virtuous inclinations.”

*

Tuesday, 7 February 2017

Thầy GỜ yêu mến của tôi

Thầy GỜ yêu mến của tôi
(Google Search)

Tôi rất tri ân ông thầy thầm lặng của tôi, tôi thường gọi là bác Gờ (Google). Hầu như ngày nào tôi cũng đến thăm bác ấy và tham vấn nhiều vấn đề, từ tôn giáo đến khoa học, chính trị, kinh tế, v.v. Đa số các hình ảnh và thông tin đưa vào trang FB, trang Blog cá nhân nầy đều do bác ấy cung cấp. Các thuật ngữ Phật học, Việt-Anh-Pali-Hán, cũng nhờ bác ấy giải thích. Ngay cả việc dịch thuật, từ những tự điển trực tuyến đến bản dịch sơ thảo qua Google Translate – dù đa phần rất ngô nghê, buồn cười – tôi cũng nhờ bác ấy, giúp mình nhiều ý tưởng khá hay.

Nhưng phải biết cách hỏi, cách đặt câu hỏi, cách truy tầm, mới có được thông tin tốt. Đó là qua kinh nghiệm và thói quen khi làm việc với bác ấy. Lúc nào cũng phải nhớ câu GIGO (Garbage In, Garbage Out – Rác vào, rác ra), hỏi vớ vẩn sẽ được trả lời vớ vẩn. Và quan trọng nhất, ĐỪNG VỘI TIN THEO BÁC ẤY! Phải biết cân nhắc, lọc lựa, kiểm chứng, so sánh đối chiếu nhiều nguồn thông tin khác nhau.

Cũng đừng chủ quan, đừng bao giờ cho rằng nhận định, kết luận của mình là chân lý, là đúng, là chính xác 100%, không bao giờ thay đổi. Nên nhớ mình vẫn còn là một phàm phu tục tử, vẫn còn vô minh, vì thế, sự hiểu biết của mình – và các tri thức, thông tin bác Gờ cung cấp – chỉ là những hạt cát nhỏ bé trong sa mạc bao la.

Điều nầy rất quan trọng. Bây giờ người ta sống vội vã hời hợt, trong thời đại “mì ăn liền”, muốn có câu trả lời tức khắc, không chịu khó nhẫn nại suy tư, xét đoán. Nhận được thông tin nào đó, giải thích nào đó từ bác Gờ là thấy thỏa mãn, tự hào, tự kiêu, rồi cho mình là “học giả”, sao chép cắt dán các thông tin đó vào chỗ này chỗ kia, như thể một hành giả đã đắc đạo. Đây là một trong những căn bệnh của thời đại hôm nay.

*

Friday, 3 February 2017

Nguồn gốc tấm hình Đức Phật nổi tiếng của bác Phạm Kim Khánh

Ngoài tài năng dịch thuật, bác Phạm Kim Khánh (1921-2011) còn có tài chụp ảnh. Vào năm 1961, trong dự án xây dựng Thích Ca Phật Đài ở Vũng Tàu, Giáo hội Tăng già Nguyên thủy VN có đặt thiết kế một tượng Phật màu trắng, lộ thiên, cao 6 mét đặt trên tòa sen có đường kính 4 m, bệ cao 7 m, mà chúng ta thấy được ngày nay. Trước đó, một tượng mẫu nhỏ hơn, cao 1.2 m, được nhà điêu khắc Phúc Điền tạo ra để thỉnh ý chư Tăng.

Bác Khánh đến cơ xưởng của nhà điêu khắc để xem xét, và chụp một tấm hình của tượng mẫu này. Tấm hình được dùng làm bìa cho cuốn “Đức Phật và Phật Pháp” do bác dịch từ cuốn "The Buddha and his Teachings" của ngài Hòa thượng Narada. Từ đó, tấm hình trở nên nổi tiếng và quen thuộc với cộng đồng PG chúng ta, được nhiều Phật tử VN khắp nơi trên thế giới ưa thích, phóng to thành ảnh để tôn thờ Đức Phật

Tấm hình nầy đã được nhiều người vẽ lại, tô màu, thêm hào quang, in ra phổ biến khắp nơi để tôn thờ. Nhưng ngày nay hầu như ít ai biết được nguồn gốc xuất xứ của tấm hình.

*


*


Wednesday, 1 February 2017

Nắm lá trong tay

Nắm lá trong tay
Paul Chee-Kuan 
(Bình Anson lược dịch)

*

Kinh Lá rừng Simsapā (Tương ưng 56.31):

… Một thời, Đức Thế Tôn trú ở Kosambi, tại rừng Simsapā. Ngài lấy tay nhặt lên một ít lá Simsapā, rồi bảo các tỳ-khưu:

- "Này các tỳ-khưu, các ông nghĩ thế nào, cái gì là nhiều hơn, số lá Simsapā mà Ta nắm lấy trong tay, hay số lá trong rừng Simsapā?"

- "Bạch Thế Tôn, số lá Simsapā mà Ngài nắm lấy trong tay thật là quá ít, còn số lá trong rừng Simsapā thật là quá nhiều."

- "Này các tỳ-khưu, cũng giống như những gì Ta đã biết rõ mà không giảng dạy cho các ông thật là quá nhiều; còn những gì mà Ta đã giảng dạy thật là quá ít. Tại sao Ta không giảng dạy tất cả những điều ấy? Bởi vì có những điều không liên hệ đến mục đích, không phải là căn bản cho đời sống thanh cao, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Ta không giảng dạy những điều ấy.

"Này các tỳ-khưu, Ta giảng dạy những điều gì? 'Ðây là Khổ', là điều Ta giảng dạy. 'Ðây là Khổ tập', là điều Ta giảng dạy. 'Ðây là Khổ diệt', là điều Ta giảng dạy. 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt', là điều Ta giảng dạy.

"Nhưng tại sao Ta giảng dạy những điều ấy? Bởi vì những điều ấy liên hệ đến mục đích, là căn bản cho đời sống thanh cao, đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Ta giảng dạy những điều ấy.

"Vì thế, này các tỳ-khưu, các ông cần phải nỗ lực để biết rõ: 'Ðây là Khổ', cần phải nỗ lực để biết rõ: 'Ðây là Khổ tập', cần phải nỗ lực để biết rõ: 'Ðây là Khổ diệt', cần phải nỗ lực để biết rõ: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'”.

*
Vài suy tư:

Trong bài kinh, Đức Phật nói rằng Ngài biết rất nhiều, về đời sống, về thế giới vũ trụ, về mọi sự việc trong thế gian, nhưng Ngài không truyền giảng tất cả những điều đó. Ngài không dạy chúng ta phải biết rõ tất cả mọi sự việc trên đời, bởi vì có những sự hiểu biết thật ra không liên hệ, không giúp ích chi cho con đường đưa đến giải thoát. Đây là điểm quan trọng mà hành giả trên con đường tu học cần phải ghi nhớ.

Những gì Ngài đã truyền giảng, như đã ghi lại trong Kinh tạng giáo điển – tạng Nikāya và tạng A-hàm – bao gồm các chủ đề quan trọng, cần thiết, quý giá để chúng ta tìm hiểu, suy tư, và áp dụng. Đây là một phước duyên to lớn cho chúng ta, khi hầu như toàn bộ giáo điển đó đã được các vị tăng sĩ gìn giữ, lưu truyền qua nhiều thế hệ, và ngày nay chuyển dịch sang ngôn ngữ hiện đại để chúng ta học tập và ghi nhớ. Mặc dù một số bài kinh có nội dung giống nhau, có vẻ trùng lặp, nhưng điều đó chứng tỏ rằng các chủ đề đó quả thật là số lá rừng trong nắm tay để chúng ta chuyên chú, tập trung học tập.

Còn vô số lá cây trong rừng kia là những gì Đức Phật không truyền dạy cho các đệ tử của Ngài – mà ngày nay, chúng ta thường thấy chúng được thu gom vào trong kho tàng thư văn Phật giáo. Trong kho tàng bao hàm này, chúng ta thấy có rất nhiều luận giải, bình giải, giáo thuyết hậu kỳ của mọi trường phái, tông phái đã khai triển từ khi Đức Phật nhập diệt, kể cả các luận thuyết siêu hình, các lý thuyết về nhân tính, các phân giải tỉ mỉ về tâm thức và sự vận hành tâm, các cõi trời và nhiều phân hạng bồ-tát, các dạng thức trung chuyển khi tái sinh, các câu chú niệm huyền bí, các hình thức nghi lễ phức tạp, những luận giải vượt ngoài nội dung của các bài kinh giảng, v.v.

Không có nghĩa là các tài liệu đó hoàn toàn sai lạc hay hoàn toàn không có cơ sở. Tuy nhiên, dù chúng có đúng hay sai, cũng không có ích lợi chi cho con đường giải thoát. Nếu chúng quả thật có ích lợi cho sự tu tập, ắt hẳn Đức Phật đã giảng dạy cho hàng đệ tử của Ngài – vì Đức Phật tuyên bố Ngài đã giảng Chánh pháp rõ ràng, như một vị đạo sư với bàn tay mở rộng, không bí mật, không che giấu (Đại kinh Bát-niết-bàn, Trường bộ 16), và từ đó được ghi nhớ và truyền tụng trong các bài kinh, và được kết tập trong Kinh tạng.

Suy ngẫm về các lời dạy của Đức Phật trong bài kinh Lá rừng Simsapā giúp ta tiết kiệm được thì giờ. Chúng ta không phí thì giờ để theo đuổi những câu hỏi vô ích. Chúng ta tránh được việc dính mắc vào các kiến giải hoang vu, không tưởng. Bài kinh nhắc nhở ta tập trung vào những lời dạy chính yếu của Đức Phật, và áp dụng chúng trong công phu tu tập. Chúng ta không cần phải tranh luận nhiều lý thuyết khác nhau, không cần phí thì giờ tìm hiểu chúng. Thì giờ là quý báu, đời sống rất ngắn ngủi, sinh được làm người là điều hiếm có, và ta phải biết sử dụng thì giờ và công sức cho có lợi lạc trên con đường tâm linh.

Khi ta hiểu rằng những gì không được Đức Phật truyền giảng khi Ngài còn tại thế là những gì không liên hệ đến mục đích giải thoát tối hậu, ta nhận ra ngay rằng không có những giáo thuyết bí mật, không có những giáo thuyết đã được giấu đi ở một thế giới nào đó để tái xuất hiện sau này, hoặc là giáo thuyết được Ngài truyền giảng ở một cõi trời nào đó, v.v. Đức Phật đã giảng như thật, như chân. Ngài đã giảng rõ ràng và đầy đủ cho chúng ta trên địa cầu này, cho những ai đến để nghe.

Có nhiều vị đệ tử của Ngài đã ghi nhớ, thông hiểu, tu tập, và nhập dòng thánh giải thoát – và ngay cả những vị này cũng chưa hẵn đã học hết toàn bộ Kinh tạng. Quên lãng các bài kinh giảng và tầm cầu các luận thuyết khai triển vượt qua những gì Đức Phật đã truyền dạy là không nhận thức được ý nghĩa sâu sắc của những điều Ngài đã thật sự chỉ dạy cho các vị thánh đệ tử đó.

Vì vậy, ta không cần phải vướng mắc vào các điều gì khác. Nhiệm vụ của chúng ta là thực hiện những gì đã được Đức Phật giảng rõ ràng trong bài kinh: "… Cần phải nỗ lực để biết rõ: Đây là khổ. Cần phải nỗ lực để biết rõ: Đây là nguồn gốc của khổ. Cần phải nỗ lực để biết rõ: Đây là sự diệt khổ. Cần phải nỗ lực để biết rõ: Đây là con đường tu tập để diệt khổ.” Những gì Đức Phật đã giảng dạy trong suốt 45 năm hoằng truyền Chánh pháp – từ bài kinh đầu tiên đến bài kinh cuối cùng – là liên hệ đến nhiệm vụ này, đó là thẩm thấu, thông hiểu, và thực chứng Tứ Thánh Đế. Những gì Ngài không truyền giảng, ta nên bỏ chúng lại trong rừng sâu.

-- Paul Chee-Kuan
(Bình Anson lược dịch, tháng 4-2008)

* Ghi chú:
Simsapā: Indian Rosewood (Dalbergia sissoo). Ngày nay loại cây nầy được trồng rất nhiều ở Lumbini (Lâm-tỳ-ni), Nepal, nơi ngài Bồ-tát đản sinh.

*
*
Rừng cây Simsapa ở Lumbini, Nepal (hình chụp năm 2010)

Tuesday, 31 January 2017

Nhập dòng giải thoát - Về bốn quả Thánh

Nhập dòng giải thoát
Bình Anson

Trong kinh điển thường đề cập đến bốn quả vị mà người con Phật phải nhắm đến trên đường giải thoát, đưa đến Niết-bàn. Các quả vị nầy được xem như là các dấu mốc - hoặc các chặng đường - trên hành trình thanh lọc tâm ý, tiêu diệt các ô nhiễm ngủ ngầm trong tâm, thường được gọi là mười kiết sử hay thằng thúc (samyojana), trói buộc chúng sinh vào vòng luân hồi.

Bốn quả vị đó là:

- Dự lưu (Sotàpanna, Tu-đà-hoàn),
- Nhất lai (Sakadàgàmi, Tư-đà-hàm),
- Bất lai (Anàgàmi, A-na-hàm),
- A-la-hán (Arahat, Ứng cúng).

Mười kiết sử là:

- thân kiến (sakkàya-ditthi),
- hoài nghi (vicikicchà),
- giới cấm thủ (silabata-paràmàsa)
- dục ái, tham đắm vào cõi dục (kàma-ràga)
- sân hận (vyàpàda),
- sắc ái, tham đắm vào cõi sắc (rùpa-ràga),
- vô sắc ái, tham đắm vào cõi vô sắc (arùpa-ràga),
- mạn (màna),
- trạo cử vi tế (uddhacca),
- si vi tế (avijjà).

Trong nhiều bài kinh, Đức Phật thường tóm tắt về bốn quả thánh đó như sau:

- "Có những Tỳ-khưu là những vị A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn trừ, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, gánh nặng đã đặt xuống, mục đích đã thành đạt, hữu kiết sử đã được đoạn tận, được giải thoát nhờ chánh trí.

Có những Tỳ-khưu là những vị Bất lai, đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, ở đấy được nhập Niết-bàn, không còn phải trở lại đời này nữa.

Có những Tỳ-khưu là những vị Nhất lai, đã đoạn trừ ba kiết sử, đã làm cho muội lược tham, sân, si, sau khi sanh vào đời này một lần nữa, sẽ đoạn tận khổ đau.

Có những Tỳ-khưu là những vị Dự lưu, đã đoạn trừ ba kiết sử, không còn đọa vào ác đạo, chắc chắn sẽ được giác ngộ". - (Trung bộ, MN 118)

*

Người đạt quả Dự lưu là người đã đoạn trừ ba kiết sử đầu tiên: thân kiến, hoài nghi, và giới cấm thủ. Người nầy được xem như là một người đã nhập vào dòng giải thoát, tùy theo hạnh nghiệp và tinh tấn mà chỉ tái sinh làm người hoặc trong các cõi trời, tối đa là bảy kiếp, vì vậy có sách gọi là quả Thất lai hay Thất sinh. Người nầy còn được gọi là đã mở "Pháp nhãn", vì người ấy đã bắt đầu có thanh tịnh về quan kiến, đã trực nhận rõ ràng Chánh Pháp của Ðức Phật. Người đó không còn xem mình như là một bản thể riêng biệt và thường tồn, kể cả hình sắc và tâm thức. Người đó không còn một chút nghi ngờ nào về sự hiện hữu và lợi ích của Tam Bảo: không còn hoài nghi về sự giác ngộ của Ðức Phật, không còn hoài nghi về con đường mà Ðức Phật đã vạch ra để đi đến giác ngộ, không còn hoài nghi về những đệ tử của Ngài đã đi theo con đường ấy và đã đạt được sự giải thoát tối hậu. Người ấy cũng không còn có ảo tưởng rằng Niết-bàn có thể đạt được bằng cách ép mình vào các hình thức lễ nghi phiến diện hay các điều lệ ước định nào đó.

Thân kiến, kiết sử đầu tiên, là sự hiểu sai lạc về cái gọi là Tự ngã, hay cái Tôi, đồng hóa nó với một trong năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Trong bài kinh số 44, thuộc Trung bộ (MN 44), Ni sư Dhammadina giảng rằng một người đã đoạn trừ thân kiến là một người "không xem sắc là tự ngã, không xem tự ngã là có sắc, không xem sắc là trong tự ngã, không xem tự ngã là trong sắc", tương tự như thế đối với bốn uẩn còn lại.

Có người thường hiểu lầm về chữ "hoài nghi" dùng ở đây. Tiếng Pàli là "vicikicchà", thường dùng để chỉ thái độ nghi ngờ về Phật Pháp Tăng và về lý Duyên sinh. Ngài Phật Âm (Buddhaghosa), trong bộ luận Thanh Tịnh Đạo, nói rằng vicikicchà còn là một thái độ do dự, không nhất quyết, không sẵn sàng tra vấn, học hỏi. Do đó cần phải đoạn trừ kiết sử nầy. Ðức Phật khuyến khích chúng ta phải biết nỗ lực suy tư, luận giải và chứng nghiệm ngay trong đời sống hằng ngày, vì Pháp là "mời mọi người đến xem xét" (ehipassika). Ðể rồi chúng ta thấy, biết rõ ràng sự ích lợi của Phật Pháp cho con đường hành trì của ta, và từ đó, có một niềm tin vững chắc vào Tam Bảo, không còn thắc mắc, phân vân, hay do dự gì nữa.

Chữ "giới cấm thủ" cũng thường bị hiểu lầm. Có lẽ nên dịch là "giới lễ nghi thủ, giới lễ thủ". Ở đây để chỉ thái độ mê tín mù quáng, bám thủ vào các hình thức lễ nghi, tin rằng làm như thế là đủ để thanh lọc tâm. Đoạn trừ giới cấm thủ không có nghĩa là một thái độ buông lơi, phóng túng, dễ duôi, không giữ gìn giới hạnh. Trái lại, nó có nghĩa là một thái độ minh triết, xem giới luật như là một phương tiện tốt, cần thiết để luyện tâm, nhưng lại không mù quáng, không quá lệ thuộc vào các hình thức giáo điều. Một người không còn giới cấm thủ là một người lúc nào cũng có giới đức trong sạch, nhưng sống thảnh thơi trong giới luật đạo hạnh, không còn xem đó là một gánh nặng trên con đường hành trì của mình.

Để trừ khử các kiết sử trên, Đức Phật khuyên chúng ta phải nỗ lực thực hành bốn điều: (1) thân cận bậc chân nhân, (2) lắng nghe diệu pháp, (3) như lý tác ý, và (4) thực hành pháp và tùy pháp, như đã ghi trong Tương ưng (SN 55.11):

"Thân cận bậc chân nhân là Dự lưu phần.
Nghe diệu pháp là Dự lưu phần.
Như lý tác ý là Dự lưu phần.
Thực hành pháp và tùy pháp là Dự lưu phần".

Rồi Ngài giảng về sự liên quan của bốn pháp trên:

- "Này các Tỳ-khưu, giao thiệp với bậc chân nhân được viên mãn thì làm viên mãn nghe diệu pháp; nghe diệu pháp được viên mãn thì làm viên mãn lòng tin; lòng tin được viên mãn thì làm viên mãn như lý tác ý; như lý tác ý được viên mãn thì làm viên mãn chánh niệm tỉnh giác; chánh niệm tỉnh giác được viên mãn thì làm viên mãn các căn được chế ngự; các căn được chế ngự được viên mãn thì làm viên mãn ba thiện hành; ba thiện hành được viên mãn thì làm viên mãn bốn niệm xứ; bốn niệm xứ được viên mãn thì làm viên mãn bảy giác chi; bảy giác chi được viên mãn thì làm viên mãn minh giải thoát" (Tăng chi, AN 10.61).

Về thân cận bậc chân nhân, Ngài giảng:

- "Thế nào là làm bạn với thiện? Ở đây, thiện nam tử sống tại làng hay tại thị trấn. Tại đấy có gia chủ hay con người gia chủ, những trẻ được nuôi lớn trong giới đức, hay những người lớn tuổi được lớn lên trong giới đức, đầy đủ lòng tin, đầy đủ giới đức, đầy đủ bố thí, đầy đủ trí tuệ, vị ấy làm quen, nói chuyện, thảo luận. Với những người đầy đủ lòng tin, vị ấy học tập với đầy đủ lòng tin. Với những người đầy đủ giới đức, vị ấy học tập với đầy đủ giới đức. Với những người đầy đủ bố thí, vị ấy học tập với đầy đủ bố thí. Với những người đầy đủ trí tuệ, vị ấy học tập với đầy đủ trí tuệ. Đây gọi là làm bạn với thiện" (Tăng chi, AN 8.54).

Rồi Ngài khuyên:

Nếu thấy bậc hiền trí,
Chỉ lỗi và khiển trách,
Như chỉ chỗ chôn vàng,
Hãy thân cận người trí.
Thân cận người như vậy,
Chỉ tốt hơn, không xấu. (Pháp cú, Dhp 76)

Chớ thân với bạn ác,
Chớ thân kẻ tiểu nhân.
Hãy thân người bạn lành,
Hãy thân bậc thượng nhân. (Pháp cú, Dhp 78)

Đức Phật đề cập đến 5 lợi ích của việc biết nghe diệu pháp: (1) được nghe điều chưa nghe, (2) làm cho trong sạch điều được nghe, (3) đoạn trừ nghi, (4) làm cho tri kiến chánh trực, và (5) làm cho tâm tịnh tín (Tăng chi, AN 5.202).

Trong kinh "Tất cả các lậu hoặc" (Trung bộ, MN 2), Đức Phật dạy về pháp như lý tác ý để điều hướng các sự suy nghĩ của mình sao cho có lợi lạc trên đường tu tập, như sau:

- "Này các Tỳ-khưu, thế nào là các pháp cần phải tác ý và vị ấy tác ý? Này các Tỳ-khưu, những pháp nào do vị ấy tác ý mà dục lậu chưa sinh không sinh khởi, hay dục lậu đã sinh được trừ diệt, hay hữu lậu chưa sinh không sinh khởi, hay hữu lậu đã sinh được trừ diệt, hay vô minh lậu chưa sinh không sinh khởi, hay vô minh lậu đã sinh được trừ diệt, đó là những pháp cần phải tác ý và vị ấy tác ý. Nhờ vị ấy không tác ý các pháp không cần phải tác ý, tác ý các pháp cần phải tác ý, nên các lậu hoặc chưa sanh không sinh khởi và các lậu hoặc đã sinh được trừ diệt.

Vị ấy như lý tác ý: Ðây là khổ; như lý tác ý: Ðây là khổ tập; như lý tác ý: Ðây là khổ diệt; như lý tác ý: Ðây là con đường đưa đến khổ diệt. Nhờ vị ấy tác ý như vậy, ba kiết sử được trừ diệt: thân kiến, nghi, giới cấm thủ. Này các Tỳ-khưu, các pháp ấy được gọi là pháp dùng tri kiến để đoạn trừ các lậu hoặc".

Khi Tỳ-khưu Kotthika hỏi ngài Trưởng lão Xá-lợi-phất cần phải như lý tác ý thế nào để được giải thoát, ngài đáp:

- "Này Hiền giả Kotthika, Tỳ-khưu giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.

Năm thủ uẩn đó là gì? Đó là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này Hiền giả Kotthika, vị Tỳ-khưu giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã" (Tương ưng, SN 22.122).

Về thực hành pháp và tùy pháp, ở đây được giảng rộng ra, bao gồm chánh niệm tỉnh giác, phòng hộ các căn, huân tập ba thiện hành (thân, khẩu, ý), thực hành bốn niệm xứ (thân, thọ, tâm pháp), và phát triển bảy giác chi (niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả).

Trong nhiều bài kinh (Tương ưng, phẩm Dự lưu), Đức Phật thường đề cập đến bốn đặc tính của một vị thánh Dự lưu là: niềm tín thành bất động nơi Đức Phật, nơi Giáo Pháp của Ngài, nơi đoàn thể các vị Thánh Tăng và có giới đức cao thượng, lúc nào cũng được các bậc chân nhân khen ngợi. Trong Tăng chi (AN 10.92), Ngài giảng:

- "Thế nào là thành tựu bốn Dự lưu phần? Ở đây, này Gia chủ, vị thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với Đức Phật: Ðây là Thế Tôn, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp: Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu. Vị ấy thành tựu tịnh tín bất động đối với chúng Tăng: Diệu hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Trực hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Ứng lý hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Chân chánh hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử Thế Tôn đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được đảnh lễ, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời. Vị ấy thành tựu với những giới đức được các bậc thánh ái kính, không bị phá hủy, không bị bể vụn, không bị điểm chấm, không bị uế nhiễm, đưa đến giải thoát, được bậc trí tán thán, không bị chấp trước, đưa đến thiền định."

Mặc dù đoạn kinh trên thường được xem là các tiêu chuẩn căn bản của quả Dự lưu, trong kinh điển còn có ghi các danh sách khác, trong đó, tiêu chuẩn về giới hạnh được thay thế bằng tiêu chuẩn bố thí và trí tuệ:

- Bài kinh trong Tương ưng SN 55.32 ghi tiêu chuẩn thứ tư như sau: "Lại nữa, vị thánh đệ tử trú ở gia đình, với tâm thoát khỏi cấu uế của xan tham, bố thí dễ dàng, bàn tay rộng mở, thích thú từ bỏ, đáp ứng điều yêu cầu, thích thú chia xẻ vật bố thí."

- Bài kinh trong Tương ưng SN 55.33 ghi tiêu chuẩn thứ tư như sau: "Lại nữa, vị thánh đệ tử có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sinh diệt các pháp, trí tuệ các bậc thánh thể nhập các pháp, đưa đến chân chánh đoạn tận khổ đau."

Khi các danh sách liệt kê này được kết hợp lại, chúng ta có được bốn đức tính của vị thánh Dự lưu: (1) đầy đủ lòng tin, (2) đầy đủ giới đức, (3) đầy đủ bố thí, và (4) đầy đủ trí tuệ.

Đó cũng là bốn pháp đưa đến hạnh phúc tương lai, an lạc tương lai cho một cư sĩ Phật tử:

- "Có bốn pháp đưa đến hạnh phúc tương lai, an lạc tương lai cho thiện nam tử. Thế nào là bốn? Đó là đầy đủ lòng tin, đầy đủ giới đức, đầy đủ bố thí, đầy đủ trí tuệ" (Tăng chi, AN 8.54).

Ở đây, lòng tin nơi Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng) không phải chỉ đơn thuần là sự tin tưởng, sùng tín mù quáng. Vị Dự lưu thật sự tín nhiệm, tin tưởng nơi nguyên lý nghiệp quả - nguyên lý của hành động và hậu quả - vì vị ấy đã chứng nghiệm rõ ràng khi bắt đầu nhập dòng thánh.

*

Trong giai đoạn tu tập kế tiếp, khi dục ái (tham đắm vào dục giới) và sân hận được trừ khử một cách đáng kể thì người đó đắc quả Nhất lai, nghĩa là có thể còn tái sinh làm người hoặc trong cõi trời dục giới một lần nữa. Khi hai kiết sử dục ái và sân được loại bỏ hoàn toàn, thì người ấy đắc quả Bất lai, nghĩa là không còn tái sinh vào cõi dục giới nầy nữa. Năm kiết sử đầu tiên nầy gọi là hạ phần kiết sử (orambhàgiya-samyojana), cột trói chúng sinh trong cõi dục. Tùy theo trình độ chứng đạt, bậc thánh Bất lai sẽ thác sinh về Tịnh cư thiên thuộc cõi trời sắc giới (rùpa-loka), trước khi nhập Niết-bàn tối hậu. Ba quả vị Dự lưu, Nhất lai, Bất lai cũng thường được gọi chung là quả vị của bậc thánh Hữu học.

Người ấy tiếp tục hành trì thanh lọc tâm ý, và tinh tấn trừ khử năm kiết sử còn lại: tham đắm vào cõi sắc (sắc ái), tham đắm vào cõi vô sắc (vô sắc ái), trạo cử vi tế, mạn, và si vi tế. Năm kiết sử nầy gọi là thượng phần kiết sử (uddhambhàgiya-samyojana), cột trói chúng sinh trong cõi sắc và vô sắc. Ở đây, tham đắm vào cõi sắc và cõi vô sắc là sự tham đắm vào bốn tầng thiền-na hữu sắc (rùpa-jhàna) và bốn tầng thiền-na vô sắc (arùpa-jhàna). Trạo cử vi tế là trạng thái vẫn còn một vài giao động nhỏ trước trần cảnh, mạn (màna) là các ý tưởng so sánh, và si vi tế (avijjà) là một vài dấu vết vô minh ngăn che còn sót lại.

*

Ðến lúc đó, người ấy đã phá tung tất cả mười sợi dây trói buộc, trừ khử mười loại kiết sử ô nhiễm, lậu hoặc đã đoạn tận, tuệ giác khai mở, không còn tạo nghiệp, không còn phải tái sinh, luân hồi nữa. Nói một cách khác, như đã mô tả trong Trung bộ, bài kinh số 1 (kinh Pháp môn căn bản, MN 1), đối với người ấy: "các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, đạt chánh trí giải thoát". Người ấy trở thành bậc A-la-hán, bậc thánh Vô học, đắc đạo quả Niết-bàn, giải thoát rốt ráo tối hậu.

Bình Anson
Perth, tháng 10-2004
*
Dòng thánh giải thoát

*
Mười kiết sử

*
Bậc thánh Dự Lưu

*
Các bậc thánh nhân



Saturday, 28 January 2017

Nhạc Xuân - Hoa Xuân Ca

Mời tải về nghe tuyển tập các bản nhạc Xuân trong ngày Tết. Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps.

* nviet32.zip – Hoa Xuân ca (180 MB)
https://mega.nz/#!C4JCVIrb!Zyf-ZC9CxmLHGOVI9c8vYMDt73jwQFg9etnhbRqxWzs

*

Friday, 27 January 2017

Thân bệnh, tâm an

“PAIN IS INEVITABLE. SUFFERING IS OPTIONAL” (Đau đớn không thể tránh được, nhưng đau khổ là do chọn lựa) là câu nói thường được các vị thiền sư và các nhà tâm lý học phương Tây dùng để khuyến khích, an ủi chúng ta phấn đấu, đối diện với các cơn bệnh hành hạ thân xác. Nhiều người hiểu lầm cho rằng đó là một câu nói của Đức Phật.

Thật ra, Đức Phật có lời dạy với ý nghĩa tương tự trong một bài kinh ở Tương ưng bộ (Nakulapitā Sutta, SN 22:1). Khi ông Nakula đến gặp Ngài và xin một lời dạy để đối phó với các cơn bệnh đau yếu của tuổi già, Ngài khuyên: “THÂN CÓ ĐAU NHƯNG ĐỪNG ĐỂ TÂM ĐAU THEO” ('Dù thân tôi có bệnh, tâm sẽ không bị bệnh').

*

Nhạc Việt - Tiếng hát ANH NGỌC (1925-)

Ngày cuối năm mời tải về nghe tiếng hát Anh Ngọc mà có lẽ rất ít những người trẻ bây giờ biết đến. Đây là một giọng hát nam được nhiều người biết qua các chương trình âm nhạc của Đài Phát thanh Sài Gòn trước 1975. Ca sĩ Quỳnh Giao có một bài viết ca tụng ông là người có "giọng hát trượng phu". Riêng tôi, tôi cảm nhận đây là một giọng hát rất chuẩn của người Hà Nội xưa.

Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps.

nviet31.zip – Tiếng hát ANH NGỌC (2 CDs, 257 MB)
https://mega.nz/#!f5RDRSYZ!yg1OYXCezafTEQy5Gqw5M_ePd5W91O1nvp6hyX7OlbE

*
CD1: Anh Ngọc - Một Đời Tôi Hát (2000)

01 Đêm lạnh - Phạm Trọng
02 Ru em - Từ Huy
03 Đường về miền Bắc - Đoàn Chuẩn, Từ Linh
04 Dốc mơ - Ngô Thụy Miên
05 Gửi người em gái - Đoàn Chuẩn, Từ Linh
06 Một cõi đi về - Trịnh Công Sơn
07 Thì thầm - Lại Quốc Hùng
08 Tìm nơi em - Lê Trọng Nguyễn
09 Hình ảnh một buổi chiều - Lâm Tuyền
10 Một đời tôi hát - Thanh Trang
*
CD2: Anh Ngọc – Một thời để nhớ (2002)

01 Thiên thai - Văn Cao
02 Con thuyền không bến - Đặng Thế Phong
03 Khúc nhạc chiều - Ngọc Bích
04 Em tôi - Lê Trạch Lựu
05 Ngày về - Hoàng Giác
06 Tiếng hát biên thùy - Thiện tơ, Hoàng Giác
07 Đôi mắt huyền - Thông Đạt
08 Mùa thu chết - Phạm Duy
09 Nguyệt Cầm - Cung Tiến
10 Huyền - Thanh Trang
11 Vương tơ - Thẩm Oánh
12 Trở về mái nhà xưa - Curtiss, Phạm Duy
------------------------------

Mời đọc thêm:
1) Trường Kỳ: Anh Ngọc, Một đời để hát
2) Quỳnh Giao: Anh ngọc, Giọng hát trượng phu

*

Wednesday, 25 January 2017

Nhạc hòa tấu - Guitar Trữ tình

Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps:

* nht18.zip – Hòa tấu Guitar Trữ tình (2008, 2009) (271 MB)
=> https://mega.nz/#!SsYRXCTY!oOWZVXCIQEGYYzpEWyogpOsysglIkrr29qgEhmBaz1E

Guitar Trữ Tình (2008-2009)

CD1 (2008)
01 - Hoa mười giờ - Đài Phương Trang, Ngọc Sơn
02 - Áo em chưa mặc một lần - Hoài Linh
03 - Hoa sứ nhà nàng - Hoàng Phương
04 - Ai cho tôi tình yêu - Trúc Phương
05 - Tiếng hót chim đa đa - Võ Đông Điền
06 - Còn thương rau đắng mọc sau hè - Bắc Sơn
07 - Chuyện đêm mưa - Nguyễn Hiền, Hoài Linh
08 - Giọt lệ đài trang - Châu Kỳ
09 - Em đi trên cỏ non - Bắc Sơn
10 - Chim sáo ngày xưa - Nhất Sinh
11 - Sao chưa thấy hồi âm - Châu Kỳ
12 - Về quê ngoại - Hàn Châu

CD2 (2009)
01 - Ngọn trúc đào - Anh Bằng
02 - Cỏ úa - Lam Phương
03 - Tình đầu tình cuối - Trần Thiện Thanh
04 - Tình khúc cho em - Lê Uyên Phương
05 - Thương về miền Trung - Duy Khánh
06 - Cho vừa lòng em - Phan Trần
07 - Em về kẻo trời mưa - Ngân Giang
08 - Đôi ngả chia ly - Khánh Băng
09 - Hoa sứ nhà nàng - Hoàng Phương
10 - Em gái ngày xưa - Lê Quốc Thắng
11 - Con đường mang tên em - Trúc Phương

*

Sunday, 22 January 2017

Nhạc quốc tế - FRANK SINATRA (1915-1998)

Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps.

nqt16.zip – Frank Sinatra, Best of the Best (168 MB)
https://mega.nz/#!XxZ10BYI!ICvrhz9P1bUsr2794-Pf0_GHd_TRsdyZzNsl55zboyo

Frank Sinatra, Best of the Best (2011)
01- I've Got The World On A String
02- My Funny Valentine
03- Young At Heart
04- In The Wee Small Hours Of The Morning
05- Love And Marriage
06- You Make Me Feel So Young
07- I've Got You Under My Skin
08- The Lady Is A Tramp
09- Witchcraft
10- All The Way
11- Come Fly With Me
12- Angel Eyes
13- Nice 'N' Easy
14- Night And Day
15- The Way You Look Tonight
16- My Kind Of Town
17- Fly Me To The Moon (In Other Words)
18- It Was A Very Good Year
19- Strangers In The Night
20- Summer Wind
21- That's Life
22- My Way
23- Theme From New York, New York
*


Thursday, 19 January 2017

Nhạc hòa tấu - Harmonica TÒNG SƠN

Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps:

1) nht16.zip – Harmonica Tòng Sơn – CD1 & CD2 (228 MB)
https://mega.nz/#!qwowSBBL!JuMu8IiwD1zgfsuzOZWrjlQaSm5K8gvuq6eN7cGl9UE

2) nht17.zip – Harmonica Tòng Sơn ¬– CD3 & CD 4 (238 MB)
https://mega.nz/#!PhASAaKS!WxZdNyfo-pbN5zv4chXJ-VaeUJ01H_6vdLF1gU3_kP0

-------------------
Harmonica TÒNG SƠN

CD1: Những Tình Khúc Khó Quên
01 Besame Mucho
02 Hạ Trắng
03 Vùng Trời Bình Yên
04 Đêm Đông
05 Xóm Đêm
06 Đồng Xanh
07 Nhớ Mưa Sài Gòn
08 Mưa Trên Biển Vắng
09 Lệ Đá
10 Lời Buồn Thánh
11 Sài Gòn Đẹp Lắm

CD2: Dừng Bước Giang Hồ
01 Tạm Biệt Chim Én
02 Đời Gọi Em Biết Bao Lần
03 Và Con Tim Đã Vui Trở Lại
04 Sao Em Nỡ Vô Tình
05 Mặt Trời Bé Con
06 Dừng Bước Giang Hồ
07 Nhớ Mưa Sài Gòn
08 Lời Buồn Thánh
09 Tình Khúc Chiều Mưa
10 Riêng Một Góc Trời
11 Khúc Ngẫu Hứng

CD3: Vì Đó Là Em
01 Sầu Lẻ Bóng
02 Cho Vừa Lòng Em
03 Xin Thời Gian Qua Mau
04 Vì Đó Là Em
05 Mười Năm Tình Cũ
06 Thuở Ấy Có Em
07 Đôi Ngã Chia Ly
08 Thành Phố Buồn
09 Vết Thương Cuối Cùng
10 Tôi Đi Giữa Hoàng Hôn

CD4: Anh Còn Nợ Em
01 Anh Còn Nợ Em
02 Chiếc Lá Cuối Cùng
03 Cho Em Quên Tuổi Ngọc
04 Giận Hờn
05 Sang Ngang
06 Mùa Thu Chết
07 Niệm Khúc Cuối
08 Phố Buồn
09 Thuyền Viễn Xứ
10 Không Bao Giờ Quên Anh

* * *

Wednesday, 18 January 2017

Đóng góp và chia sẻ

Đóng góp và chia sẻ trong 20 năm qua.

*

Tuesday, 17 January 2017

Nhạc quốc tế - PETER, PAUL and MARY

Ban tam ca quen thuộc trong giới sinh viên, học sinh Sài Gòn trước 1975. Cho đến bây giờ, thỉnh thoảng tôi vẫn ôm đàn guitar ca hát nghêu ngao những bài hát của PP&M, nhẹ nhàng nhưng ý nghĩa.

Mary Travers đã qua đời năm 2009, chỉ còn Peter Yarrow và Paul Stookey thỉnh thoảng vẫn thấy trình diễn song ca.

Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps.

nqt15.zip – Peter, Paul and Mary: The Very Best (183 MB)
=> https://mega.nz/#!6lpjVBzQ!ywpS03BTTnj0uKY7TIN_f7tmcJ9Oph2AYNfw6-Kms5E

*
The Very Best of Peter, Paul and Mary

01 Early In the Morning
02 500 Miles
03 Lemon Tree
04 If I Had a Hammer
05 Where Have All the Flowers Gone

06 Puff, the Magic Dragon
07 Cruel War (Single Version)
08 This Land Is Your Land
09 Blowin' In the Wind
10 Stewball

11 Don't Think Twice, It's Alright
12 For Lovin' Me
13 For Baby (For Bobbie)
14 The Times They Are A-Changin' (Live)
15 Early Mornin' Rain

16 Leaving On a Jet Plane
17 I Dig Rock and Roll Music
18 Too Much of Nothing
19 The Great Mandella (The Wheel of Life)
20 Day Is Done

21 El Salvador
22 Wedding Song (There Is Love)
23 Follow Me
24 Weave Me the Sunshine
25 Don't Laugh At Me

*

Dòng thời gian

Saturday, 14 January 2017

Nhạc Việt - Tình khúc DIỆU HƯƠNG (1955- )

Tôi chỉ biết đến những bài tình ca của nhạc sĩ Diệu Hương trong khoảng 5 năm gần đây. Lần đầu tiên nghe bản "Phiến đá sầu", tôi rất ấn tượng. Sau đó là các bản: Ở lại ta đi, Cõi vắng, Chỉ có một thời, Vì đó là em... Mời các bạn tải về nghe trong ngày cuối tuần.

Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps:

nviet29.zip – Tình khúc Diệu Hương 1, 2, 3 (373 MB)
=> https://mega.nz/#!SwBVHALT!bM1XT1Mq-5u6dmxKw6hXWCx4POleqTPsAjIVj10hDmg

nviet30.zip – Tình khúc Diệu Hương 4, 5, 6 (357 MB)
=> https://mega.nz/#!fgoV0DDT!OmyX3PU5rykLuxhWvitwrvPzq4FnFxiK_3Q1dedHh9Q

* * *

Tk Diệu Hương 1 - Khắc khoải (2001)
01 Nơi Ðâu Hạnh Phúc ..... Diệu Hương
02 Khắc Khoải ..... Quang Dũng
03 Như Một Lần Nhớ Tiếc ..... Ý Lan
04 Phiến Ðá Sầu ..... Tuấn Ngọc
05 Mùa Thu Nơi Ðây ..... Diệu Hương
06 Lặng Nhìn Ta Thôi ..... Quang Tuấn
07 Ðà Lạt Trong Niềm Nhớ ..... Diễm Liên
08 Tình Xưa ..... Quang Dũng
09 Ðóa Hoa Hồng Cho Cha ..... Diệu Hương
10 Tôi Muốn Hỏi Tại Sao ..... Diệu Hương
*

Tk Diệu Hương 2 - Ở lại ta đi (2003)
01 Hát cho đời hát cho người ..... Diệu Hương & Quang Dũng
02 Bên anh ngày cuối ..... Ý Lan
03 Từ giã em ..... Quang Dũng
04 Mình ơi ..... Diệu Hương
05 Ở lại ta đi ..... Quang Dũng
06 Còn trong nỗi nhớ ..... Mỹ Tâm
07 Vì đó là em ..... Tuấn Ngọc
08 Mưa còn rơi mãi vì ai ..... Thái Hiền
09 Bài tình ca của em ..... Quang Dũng
10 Còn những bâng khuâng ..... Diệu Hương
11 Ở lại ta đi (Hòa tấu)
*

Tk Diệu Hương 3 - Giòng lệ khô (2004)
01 Cõi vắng ..... Quang Dũng
02 Còn nghe tiếng gọi ..... Diệu Hương
03 Tình vọng ..... Tuấn Ngọc
04 Chơi vơi ..... Thành Hà
05 Giòng lệ khô ..... Quang Dũng
06 Chợt thấy ..... Diệu Hương & Quang Dũng
07 Một đời vẫn nhớ ..... Don Hồ
08 Mưa chiều lặng lẽ ..... Mỹ Tâm
09 Những tâm hồn khát vọng ..... Nguyên Khang
10 Chỉ có một thời ..... Quang Dũng
11 Tình xưa ..... Quang Dũng
*

Tk Diệu Hương 4 - Cho dòng sông cuốn trôi (2006)
01 Đời Không Còn Nhau ..... Tuấn Ngọc
02 Nói Với Tôi Một Lời ..... Quang Dũng
03 Vũ Trụ Của Em ..... Thanh Hà
04 Cho Dòng Sông Cuốn Trôi ..... Don Hồ
05 Đêm Buồn ..... Ngọc Ánh
06 Vẫn Còn Yêu ..... Quang Dũng
07 Hỏi Tình ..... Hồ Hoàng Yến
08 Như Biển Đêm Nay ..... Anh Tuấn
09 Chút Nắng Hoàng Hôn ..... Diệu Hương
10 Dù Có Như Thế Nào ..... Quang Dũng
11 Xin Mãi Còn Bên Mẹ ..... Diệu Hương
12 Lời Kết
*

Tk Diệu Hương 5 - Hư ảo (2007)
01 Cho Một Lần Quên ..... Quang Dũng
02 Vì Đó Là Em ..... Diệu Hương
03 Hư Ảo ..... Trọng Bắc
04 Nỗi Buồn Còn Lại ..... Anh Tuấn
05 Tình Mãi Theo Ta ..... Ý Lan
06 Cõi Đời Vui ..... Đon Hồ
07 Cho Em Hỏi ..... Diễm Liên
08 Một Nửa Tâm Hồn ..... Nguyên Khang
09 Ngày Đó Không Bao Giờ Đến
10 Hạt Mưa Buồn ..... Trọng Bắc
*

Tk Diệu Hương 6 - Để mặc tôi yêu em (2011)
01 Để Mặc Tôi Yêu Em ..... Quang Dũng
02 Tại Sao Là Không? ..... Mỹ Tâm
03 Nước Mắt Người Cô Đơn ..... Don Hồ
04 Nhớ Người ..... Thanh Hà
05 Ám Ảnh ..... Trọng Bắc
06 Về Lại Cõi Sầu ..... Diệu Hương
07 Bất Chợt Ta Yêu Em ..... Quang Dũng
08 Tình Trai Xứ Quảng ..... Loan Châu
09 Vùng Nắng Cho Em ..... Anh Tuấn
10 Xin Đừng Quay Lại ..... Trọng Bắc

*

Thursday, 12 January 2017

Bận rộn của tuổi già

Sáng nay tôi có dịp nói chuyện với một chị bạn học ngày xưa sau gần 50 năm không liên lạc. Cũng như những cuộc tiếp xúc với các bạn học cũ, một trong những câu thường hỏi là bây giờ nghỉ hưu rồi thì tôi làm gì. Chẳng lẽ lại trả lời chỉ biết “làm biếng” và “làm thinh” như những lần trước (mời đọc thêm bài viết “Đôi lời tự thuật” tại trang blog http://budsas.blogspot.com.au/2013/11/oi-loi-tu-thuat-cua-mot-ke-rua-tay-gac.html ), tôi kể cho chị ấy nghe sơ lược về sinh hoạt hằng ngày của mình và xin chia sẻ ở đây.

Mỗi ngày tôi tụng kinh và hành thiền hai thời, sáng và tối. Rồi đi tưới cây, quét sân, cắt tỉa cành lá. Làm việc nhẹ nhàng thong thả. Nếu có hứng, ngắm nghía, lấy máy ảnh chụp vài tấm hình cây cảnh chung quanh nhà, cắt gọt, rồi chia sẻ đến bạn bè bốn phương qua Facebook. Sau đó là lướt web, xem thông tin thời sự đó đây. Nhờ thế mà tôi biết nhiều về tình trạng kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội tại những nơi mình quan tâm (Úc, Thái Lan, Việt Nam, Hoa Kỳ, v.v.), ghi nhận qua nhiều góc cạnh khác nhau, từ nhiều nguồn thông tin khác nhau, để có cái nhìn thực tế, khách quan và cân bằng. Nhưng rồi thôi, không quan tâm theo đuổi bình luận. Có khi cao hứng, lần mò vào các trang web âm nhạc, đọc thêm các chia sẻ thông tin và tải về những albums mình thích. Nhờ vậy mà bây giờ có được một kho nhạc đủ loại, khá phong phú.

Sau đó, tôi lái xe đến hồ bơi công cộng gần nhà, bơi lội trong nước như là một hình thức tập thể dục, giúp mạnh khỏe, ăn ngon, ngủ yên. Đây là nơi tôi gặp nhiều người Úc, đủ mọi thành phần trong xã hội, mọi nguồn gốc sắc tộc, mọi lứa tuổi. Cũng là một cơ hội để mình nhìn thấy thực tế rõ ràng về tấm thân tứ đại của con người, không che đậy bởi các loại y phục trang sức màu mè kiểu cọ. Tất cả đều là những bộ xương biết đi hay những túi da biết cử động. Thế thôi.

Trên đường về, có khi tôi ghé vào khu thương mại gần đó để mua sắm vài thứ lặt vặt, cần thiết. Đôi khi ngồi ở một quán càfê tại đó, vừa nhâm nhi, vừa ngắm nhìn người qua kẻ lại. Đây là khu gia cư của giới bình dân, tập trung nhiều sắc tộc sang định cư ở Tây Úc. Vì thế, hàng hóa và thức ăn rất quốc tế, rất đa dạng.

Những khi trời mát, không nắng gay gắt, tôi thường rảo bộ sau bữa ăn trưa, đi loanh quanh trong vùng, qua các công viên nhỏ, mang theo máy ảnh bỏ túi, chụp vài tấm hình phong cảnh cho vui. Tôi không phải là nhiếp ảnh gia nhà nghề nhưng thích chụp hình, giúp mình chú ý và thưởng thức được những góc cạnh của cảnh quang trong đời sống.

Về nhà, tôi tìm đọc kinh sách Phật giáo, tiếng Anh và tiếng Việt. Nếu có hứng, tôi dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt những bài tham luận ngắn của vị cao tăng học giả nào đó mà mình thấy hợp duyên. Làm lai rai thong thả, tùy duyên, tùy hứng, không ấn định một mốc thời gian nào. Vừa dịch vừa học thêm, giúp mình có nhiều hiểu biết thông thoáng hơn, tránh được các thái độ vội vã hời hợt một chiều, biên kiến, giáo điều, cực đoan, cuồng tín. Rồi lại lướt web, tìm đọc các thông tin về Phật giáo, nhất là tại các diễn đàn hay các trang web, trang blog Phật giáo mà mình đã chọn trước. Tôi thường đọc các trang tiếng Anh vì cảm thấy thảo luận, trao đổi ở đó có chiều sâu, khách quan, và có tinh thần xây dựng, tương kính hơn. Đây chỉ là một nhận xét dựa theo kinh nghiệm của riêng cá nhân tôi, có thể không hẵn hoàn toàn đúng.

Khi có vài ý tưởng nào đó về Phật pháp, hoặc vài mẫu chuyện trên đời có liên quan đến sự tu tập trong phạm vi của một phàm nhân cư sĩ, tôi thường ghi xuống, tìm vài tấm hình minh họa rồi gửi vào chia sẻ trong trang Facebook cá nhân. Tôi không thích kết bạn nhiều, giới hạn số bạn là 300, không còn ham thích tham gia vào các thảo luận, tranh cãi hơn thua, đúng sai. Nếu thấy cần thiết, chỉ đóng góp vài dòng rồi thôi, không tiếp tục. Đóng góp, chia sẻ cho vui, hoàn toàn không có ý định chỉ dạy, thuyết phục hay hướng dẫn người khác. Đó cũng là nguyên tắc tôi áp dụng khi trình bày một chủ đề Phật pháp nào đó mỗi tuần trên mạng truyền thông Paltalk.

Cuối tuần tôi đến phụ giúp làm vài việc lặt vặt tại chùa Dhammāloka gần nhà, đa phần là tại thư viện. Mỗi năm hai lần tôi phụ trách một khóa hướng dẫn hành thiền cho những người mới bắt đầu, trong bốn buổi tập vào chiều Thứ Bảy. Đôi khi ban Trị sự có những việc cấp bách nhưng thiếu nhân sự, các anh chị ấy gọi tôi đến phụ giúp vì nhà ở gần chùa, chỉ đi bộ khoảng 10 phút.

Trong mùa an cư 3 tháng của chư Tăng Ni, mỗi tuần vợ chồng tôi nấu thức ăn mang đến cúng dường Tu viện Bodhinyana và Ni viện Dhammasara, lái xe mất khoảng 1 giờ để đến hai nơi ấy. Trong các khóa thiền 10 ngày tổ chức tại Thiền trang Jhana Grove, gia đình chúng tôi tình nguyện nấu các món ăn trong ngày đầu tiên cúng dường chư Tăng Ni và thiền sinh tại đó. Thỉnh thoảng, khi Thiền trang Jhana Grove không có khóa thiền, tôi đến xin ở tịnh tu vài ngày, sống trong khung cảnh núi rừng vắng vẻ, làm bạn với loài két rừng và các cô chú kăng-ga-ru.

Hằng năm tôi đều có những chuyến du hành sang miền đông nước Úc, hay đi viếng các nước Phật giáo trong vùng Đông Nam Á và ghé vào viếng Việt Nam. Bây giờ tôi không còn hứng thú đi du lịch tham quan danh lam thắng cảnh hay những thành phố nổi tiếng ở các quốc gia khác. Chỉ thích đi viếng những nơi nào có liên quan đến lịch sử Phật giáo, nhất là trong truyền thống Theravada.

Hôm nay đi bơi, tình cờ gặp một anh bạn gốc Sri Lanka đã từng làm việc với tôi trong một dự án về quản lý nguồn nước. Chuyện trò thăm hỏi thông tin về bạn bè ở nhiệm sở cũ, rồi anh ấy hỏi tôi có thấy nhớ các công việc xưa không. Tôi trả lời là hầu như tôi đã quên hết. Ngày cuối cùng trước khi chia tay tại cơ quan đó, tôi nói với các bạn đồng nghiệp là một khi bước ra khỏi cửa nơi nầy, tôi sẽ không bao giờ quay trở lại. Xem như đã xong giai đoạn chén cơm manh áo trong cuộc đời, và tiến sang một giai đoạn khác. Dòng thời gian chỉ trôi chảy theo một hướng, không thể quay ngược trở lại.

Bình Anson
Perth, 11/01/2017

Cập nhật (24/03/2021):
Theo lời khuyên của bác sĩ, bây giờ vợ chồng tôi có thêm một chuyến đi bộ mỗi ngày, đi thong thả khoảng 20-30 phút chung quanh khu vực, bắt đầu là theo lộ trình chư Tăng Ni đi bát mỗi sáng Thứ Bảy, rồi uyển chuyển thay đổi, thêm bớt. Tổng cộng lộ trình khoảng 1 mile (1.600 - 1.800 mét), tương đương với một vòng ven Hồ Hoàn Kiếm Hà Nội, hay một vòng trên 4 con đường lớn chung quanh Dinh Độc Lập (Hội Trường Thống Nhất), Sài Gòn. Xem bản đồ bên dưới.

*

Bản đồ đi bộ mỗi ngày, khoảng 1.600-1.800 mét.



Tuesday, 10 January 2017

Nhạc Pháp - FRANÇOISE HARDY (1944- )

Tặng cho những ai thích nghe nhạc Pháp, nhất là những ai đã từng là học sinh, sinh viên ở Sài Gòn trước 1975 để nhớ lại một thời xa xưa...

Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps:

nqt13.zip – Françoise Hardy, Le Double Disque d’Or (143 MB)
https://mega.nz/#!30JGgLza!n-Ra0obvJK3kTubGWU8WBTZvMyjshstjS9lpgKKb1Ak

Françoise Hardy, Le Double Disque d’Or (1977)
01. Tous Les Garcons Et Les Filles
02. Le Temps De L'amour
03. Mon Amie La Rose
04. Le Premier Bonheur Du Jour
05. La Mer, Les Étoiles Et Le Vent
06. Fleur De Lune (Song Of Winter)
07. Ma Jeunesse Fout L'camp
08. Il Est Des Choses
09. Des Ronds Dans L'eau
10. Voila
11. Je Serai La Pour Toi
12. Au Fil Des Nuits Et Des Journées
13. Soleil (Sunshine)
14. La Question
15. Doigts
16. Mer
17. Prisons
18. Et Si Je M'en Vais Avant Toi
19. L'éclairage
20. Un Petit Sourire, Un Petit Mot
21. T'es Pas Poli (Featuring – Patrick Dewaere)
22. Il Voyage
23. Comment Te Dire Adieu (It Hurts To Say Goodbye)
24. Reve

* * *
  

Saturday, 7 January 2017

Nhạc hòa tấu - Guitar KIM TUẤN

Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps:

* nht15.zip – Guitar Kim Tuấn (2 CDs), 240 MB
https://mega.nz/#!CpBD2aQD!jxfhgIqJ0XBlLUy6NM5B7_qjLui-bQLSfu_ALB-W1C4

CD1: Kim Tuấn Guitar - Hòa tấu Guitar Trữ tình (2006)
01. Dấu Chân Địa Đàng
02. Lá Đổ Muôn Chiều
03. Phôi Pha
04. Bài Thánh Ca Buồn
05. Ai Đưa Em Về
06. Mộng Dưới Hoa
07. Tiếng Còi Trong Sương Đêm
08. Đêm Thấy Ta Là Thác Đổ
09. Dòng Sông Lơ Đãng
10. Lệ Đá

CD2: Kim Tuấn Guitar - Gọi tên bốn mùa, Tk Trịnh Công Sơn (2010)
01. Gọi Tên Bốn Mùa
02. Biển Nhớ
03. Nắng Thủy Tinh
04. Còn Tuổi Nào Cho Em
05. Như Cánh Vạc Bay
06. Một Cõi Đi Về
07. Hạ Trắng
08. Diễm Xưa
09. Cát Bụi
10. Mưa Hồng

*

Friday, 6 January 2017

Hình tướng Đức Phật

Về hình tướng của Đức Phật: Gs Schumann trong quyển “The Historical Buddha” (Đức Phật lịch sử) và Gs Warder trong quyển “Indian Buddhism” (Đạo Phật Ấn Độ) có đưa ra hai chi tiết để cho thấy dung mạo bề ngoài của Ngài không có nhiều khác biệt so với các vị sa-môn khác.

1) Trong kinh Sa-môn quả (Sāmaññaphala Sutta, DN 2), khi vua A-xà-thế lần đầu tiên đến thăm Đức Phật tại vườn xoài của y sĩ Jivaka ở thành Vương Xá, nhà vua thấy một nhóm các vị tỳ-khưu đang ngồi yên lặng và không nhận ra được Đức Phật. Y sĩ Jivaka chỉ cho vua thấy Đức Phật đang ngồi dựa cột ở chính giữa, mặt hướng phía Nam, ngồi trước mặt các vị sa-môn.

2) Trong tiểu kinh Rừng Sừng bò (Cūḷagosinga Sutta, MN 31), Đức Phật đến thăm ba vị trưởng lão Anuruddha, Nandiya, Kimbila đang trú tại vườn Gosinga có nhiều cây sala, người giữ vườn ngăn lại, không cho Ngài vào vì không nhận ra Ngài. Trưởng lão Anuruddha nghe được bèn đi đến và bảo người ấy: –“Này người giữ vườn, chớ có ngăn chận Thế Tôn. Thế Tôn, bậc Ðạo Sư của chúng tôi đã đến.”

----------
GHI THÊM: Ông David Snyder, chủ nhân trang web Dhammawiki (http://www.dhammawiki.com/index.php?title=32_signs_of_a_great_man) có đề cập đến bài kinh Phân tích Giới (Dhātuvibhanga Sutta, MN 140), khi Đức Phật còn ở thành Vương Xá, một đêm nọ Ngài đến tạm trú tại nhà người thợ đồ gốm Bhaggava và gặp sa-môn trẻ Pukkusāti. Vị sa-môn nầy tự ý xuất gia mà chưa hề thấy Đức Phật. Đức Phật và sa-môn Pukkusāti cùng ngồi thiền suốt đêm mà vị sa-môn trẻ vẫn không nhận ra Ngài. Đến khi gần sáng, thấy nhân duyên đã chín muồi, Ngài giảng cho sa-môn ấy nghe về sáu giới, sáu xúc xứ, mười tám ý hành, bốn thắng xứ, cách thức an trú tâm để phát sinh tuệ giác. Sau khi nghe xong, sa-môn trẻ Pukkusāti rất hoan hỷ và đoán được người giảng pháp ấy chính là Đức Phật. Điều nầy chứng tỏ dung mạo, ngoại hình của Ngài không có gì khác thường.


*

Thursday, 5 January 2017

Nhạc quốc tế - Blowing in the wind

Khi tôi mới bắt đầu học tiếng Anh, cô giáo khuyên nên cố gắng học đọc các bản tin ngắn trên báo chí để giúp tăng cường vốn liếng từ vựng và tập hát những bài hát tiếng Anh để giúp cho mình phát âm dễ dàng, trơn tru. Đó là lời khuyên quý giá mà tôi vẫn còn nhớ và áp dụng cho đến bây giờ.

Khi sang Thái Lan học chương trình Master, tôi thường ca hát nghêu ngao với các bạn học quốc tế, và một trong những bài hát tôi thích cho đến nay là bài "Blowing In The Wind" (Thổi theo gió bay) của Bob Dylan, sáng tác trong thập niên 1960.

Mời các bạn tải về nghe, cùng một bài hát do nhiều ca sĩ trình bày, mỗi người một vẻ. Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps.

nqt14.zip – Blowing in the Wind, Collection (93 MB)
https://mega.nz/#!i8Q31CgB!PUwRyvWF-BCWh1tEZ_Nt8ug5Kj0aLlBUvh_VbLoHTWg

Ca sĩ trình bày Blowing in the Wind:

01. Bob Dylan
02. Chet Atkins
03. Damian Luca
04. David Roth
05. Dionne Warwick
06. Felicia Wong
07. Guitar Seranade (hòa tấu)
08. Joan Baez
09. Lorie Line
10. Marlene Dietrich
11. Peter, Paul & Mary
12. The Brothers Four

* * *
BLOWING IN THE WIND 
Bob Dylan (1962, Rumba Bolero)

How many roads must a man walk down, before you call him a man?
How many seas must a white dove sail, before she sleeps in the sand?
How many times must the can-nonballs fly, before they're for-ever banned?
... The answer my friend, is blowing in the wind.
... The answer is blowing in the wind.


How many years must a mountain exist, before it’s washed to the sea?
How many years can some peo-ple exist, before they're allowed to be free?
How many times can a man turn his head, and pretend he just doesn't see?
... The answer my friend, is blowing in the wind.
... The answer is blowing in the wind.


How many times must a man look up, before he can see the sky?
How many ears must one man have, before he can hear people cry?
How many deaths will it take till he knows, that too many people have died?
... The answer my friend, is blowing in the wind.
... The answer is blowing in the wind. (x3)


--------------------------
CUỐN THEO GIÓ BAY
Lời Việt : Nguyễn Đăng Hưng (2008)

Bao nhiêu đôi mắt mãi chờ mong đã mõi mòn
Mà sao chưa thấy được trời xanh?
Còn phải nghe bao tiếng khóc, bao sầu đau để bom đạn,
Từ nay im đi tiếng thét gào
Và phải bao nhiêu tang tóc, bao vành khăn sô để tiếng cười,
Từ nay ấm mãi trên bờ môi
... Bạn ơi câu trả lời, chìm trong cơn gió vô tình
... Bạn ơi câu trả lời, chìm trong lặng câm


Bao nhiêu mưa nắng, bao thời gian đã mõi mòn
Mà sao chưa thấy, được trời cao?
Còn phải qua bao cay đắng, bao niềm đau để tiếng cười,
một hôm mới thoáng nở trên môi người
Và phải bao nhiêu mất mác, bao sầu thương để mẹ già,
giờ đây nước mắt phải cạn khô.
... Bạn ơi câu trả lời, bạn hỡi câu trả lời,
... Sẽ cuốn theo gió bay, lên trời xanh


Bao nhiêu thung lũng, phải vượt qua từ ngọn nguồn,
để ngày kia sông đỗ ra đại dương?
Bao nhiêu thiên niên kỷ, cơ đồ kia mới hình thành,
Để tự do mới thấy được trên đời?
Và phải bao nhiêu phen nữa, quay nhìn xem rõ phận người,
Mà nào đâu thấy hết, chưa hề nghe.
... Bạn ơi câu trả lời, bạn hỡi câu trả lời,
... Sẽ cuốn theo gió bay, lên trời xanh (x3)


* * *