Thursday, 2 January 2025

Vài ghi nhận về nguồn gốc và sự phân chia xá-lợi dựa theo Chánh tạng

VÀI GHI NHẬN VỀ NGUỒN GỐC VÀ PHÂN CHIA XÁ-LỢI
DỰA THEO CHÁNH TẠNG (TẠNG KINH VÀ TẠNG LUẬT)
Bình Anson

(1) Có nhiều truyền thuyết, huyền thoại về câu chuyện hai thương buôn Tapassu và Bhallika đến gặp Đức Phật sau khi Ngài thành đạo và được cho mấy sợi tóc. Theo truyền thuyết Miến Điện thì hai thương buôn này trở về xứ đó, tạo dựng tháp thờ tóc và còn lưu truyền cho đến ngày nay. Còn truyền thuyết của Sri Lanka thì cho rằng các sợi tóc đó được đem sang đảo quốc Sri Lanka và được tôn thờ cho đến bây giờ.

Tuy nhiên, tạng Kinh và tạng Luật không thấy ghi thông tin nào về câu chuyện các sợi tóc của Đức Phật. Đại phẩm, tạng Luật (Kd 1.4), có ghi chuyện hai thương buôn Tapassu và Bhallika đến gặp Đức Phật sau khi Ngài thành đạo, dâng cúng thức ăn, rồi xin quy y Đức Phật và Giáo Pháp. Lúc ấy, Tăng đoàn chưa thành lập, cho nên hai vị này xem như hai cư sĩ đầu tiên xin quy y Nhị Bảo (Phật Bảo và Pháp Bảo). 

Tăng chi bộ, tạng Kinh (AN 1.248) có ghi sự kiện hai vị này là hai đệ tử cư sĩ đầu tiên của Đức Phật. Tăng nhất A-hàm (EĀ 1.1) của Hán tạng cũng ghi tương tự, nhưng gộp hai tên Tapassu và Bhallika thành tên phiên âm là “Tam-quả”.

(2) Sau khi Đức Phật nhập diệt, lễ trà-tỳ được chư tăng và dân chúng Mallā tổ chức tại Kusinārā, sau khi hỏa thiêu, Đại kinh Bát-niết-bàn (DN 16, Trường bộ) ghi rằng “thân Thế Tôn cháy, từ da ngoài cho đến da mỏng, thịt, dây gân hay nước giữa khớp xương, tất cả đều cháy sạch không có tro, không có than, chỉ có xương xá-lợi còn lại”. Bà-la-môn Doṇa đứng ra phân chia xá-lợi cho tám nhóm để dựng tháp thờ:

- Vua Ajātasattu  của nước Magadha,
- Những người Licchavī ở Vesāli,
- Những người Sākya ở Kapilavatthu,
- Những người Bulī ở Allakappa, 
- Những người Koliya ở Rāmagāma,
- Bà-la-môn Vethadīpaka ở Vethadīpa,
- Những người Mallā ở Pāvā,
- Những người Mallā ở Kusinārā.

Bà-la-môn Doṇa nhận bình chứa dùng để đong chia xá-lợi để dựng tháp thờ, và những người Moriyā ở Pipphalivana nhận than tro từ củi đốt để dựng tháp thờ. 

Bài kinh kết thúc bằng các câu kệ có ghi thêm thông tin rằng răng, tóc và lông của Đức Phật được Long vương và chư Thiên mang đi khắp vũ trụ. Tuy nhiên, Luận sư Buddhaghosa trong Chú giải Trường bộ nhận định rằng các câu kệ đó là do các vị Trưởng lão Sri Lanka về sau ghi thêm vào.

Bài kinh tương đương trong Trường A-hàm của Hán tạng, kinh Du hành (DĀ 2) cũng ghi thông tin tương tự. Sau khi trà tỳ, Bà-la-môn Hương Tánh (Doṇa) phân chia xá-lợi cho tám nhóm, ông ấy nhận bình chứa xá-lợi, còn tro than từ củi đốt thì chia cho dân chúng thôn Tất-bát (Pipphalivana). Kinh có ghi thêm rằng tóc Phật khi còn tại thế thì được tôn thờ trong một tháp khác, nhưng không thấy đề cập gì về nơi chốn và người nhận tóc đó. Có lẽ chi tiết này về sau được ghi thêm vào bài kinh.

Kèm theo dưới đây là các đoạn kinh trích từ tạng Kinh (Tăng chi bộ, Trường bộ, Trường A-hàm) và tạng Luật (Đại phẩm).

Bình Anson,
Perth, Tây Úc 
01/01/2025

*-----*

 

I- VỀ HAI ÔNG TAPASSU VÀ BHALLIKA, ĐỆ TỬ ĐẦU TIÊN QUY Y NHỊ BẢO (PHẬT VÀ PHÁP)

(1) Tăng chi bộ, tạng Kinh (AN 1.248):

Này các tỳ-khưu, trong các vị đệ tử nam cư sĩ của Ta đã quy y đầu tiên, tối thắng là các thương buôn Tapassu và Bhallika. – (AN 1.248) 

(2) Đại phẩm, tạng Luật (Kd 1.4):

(Giảng về cây Rājāyatana, tuần lễ thứ tư sau khi thành tựu quả vị Chánh Đẳng Giác – Tỳ-khưu Indacanda dịch)

1. Sau đó khi bảy ngày trôi qua, đức Thế Tôn đã xuất khỏi định ấy rồi từ cội cây Mucalinda đã đi đến cây Rājāyatana, sau khi đến đã ngồi xuống với một tư thế kiết già ở cội cây Rājāyatana trong bảy ngày, hưởng niềm an lạc của sự giải thoát.

2. Vào lúc bấy giờ, có các thương buôn Tapassu và Bhallika đang đi đường xa từ Ukkalā đến khu vực ấy. Khi ấy, vị Thiên thần là thân quyến cùng huyết thống của các thương buôn Tapassu và Bhallika đã nói với các thương buôn Tapassu và Bhallika điều này: “Này các bác, đức Thế Tôn này đang ngự ở cội cây Rājāyatana là vị đầu tiên được hoàn toàn giác ngộ. Hãy đi và bày tỏ lòng thành kính đến đức Thế Tôn ấy với bánh bột gạo và mật viên. Điều ấy sẽ đem lại cho các bác sự lợi ích và sự an vui lâu dài.”

3. Khi ấy, các thương buôn Tapassu và Bhallika đã mang theo bánh bột gạo và mật viên đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng ở một bên. Khi đã đứng một bên, các thương buôn Tapassu và Bhallika đã nói với đức Thế Tôn điều này: - “Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy thọ lãnh bánh bột gạo và mật viên của chúng tôi. Điều ấy sẽ đem lại cho chúng tôi sự lợi ích và sự an vui lâu dài.”

4. Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Các đức Như Lai không thọ lãnh ở (hai) tay, vậy ta nên thọ lãnh bánh bột gạo và mật viên bằng vật gì?” Khi ấy, bốn vị Đại Thiên Vương dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đức Thế Tôn nên đã dâng lên đức Thế Tôn bốn cái bình bát làm bằng đá từ ở bốn phương (nói rằng): “Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy thọ lãnh bánh bột gạo và mật viên ở đây.” Đức Thế Tôn đã thọ lãnh bánh bột gạo và mật viên trong bình bát mới[2] làm bằng đá, và sau khi thọ lãnh đã thọ dụng.

5. Sau đó, các thương buôn Tapassu và Bhallika đã nói với đức Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, chúng con đây xin đi đến nương nhờ đức Thế Tôn và Giáo Pháp. Xin đức Thế Tôn chấp nhận chúng con là các nam cư sĩ đã đã đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến trọn đời.” Và họ đã trở thành những nam cư sĩ đọc hai câu (nương nhờ)[*] đầu tiên ở thế gian. – (Kd 1.4)

Chú thích:

[*] Nghĩa là đi đến nương nhờ đức Thế Tôn và đi đến nương nhờ Giáo Pháp, vì hội chúng tỳ-khưu vào lúc bấy giờ chưa được hình thành (Tỳ-khưu Indacanda).

*-----*

II- PHÂN CHIA XÁ LỢI THEO ĐẠI KINH BÁT-NIẾT BÀN (TRƯỜNG BỘ, DN 16)
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

Vua nước Magadha tên là Ajātasattu Vedehiputta nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinārā, liền gởi một sứ giả đến các người Mallā ở Kusinārā: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, ta cũng là người Sát-đế-lỵ. Ta cũng xứng đáng được một phần Xá-lợi của Thế Tôn. Ta cũng dựng tháp và tổ chức nghi lễ đối với Xá-lợi của Thế Tôn.”

Những người Licchavī ở Vesālī nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinārā, liền gởi một sứ giả đến các người Mallā ở Kusinārā: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần Xá-lợi của The Tôn. Chúng tôi cũng dựng tháp và tổ chức nghi lễ đối với Xá-lợi của Thế Tôn”.

Các người Sākya ở Kapilavatthu nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinārā, liền gởi một sứ giả đến các người Mallā ở Kusinārā: “Thế Tôn là người bà con tối tôn của chúng tôi. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần Xá-lợi của Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với Xá-lợi của Thế Ton”.

Những người Bulī ở Allakappa nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinārā, liền gởi một sứ giả đen các người Mallā ở Kusinārā: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần Xá-lợi của Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với Xá-lợi của Thế Tôn.”

Những người Koliya ở Rāmagāma nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinārā, liền gởi một sứ giả đến các người Mallā ở Kusinārā: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần Xá-lợi của Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với Xá-lợi của Thế Tôn.”

Bà-la-môn Vethadīpaka nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinārā, liền gởi một sứ giả đến các người Mallā ở Kusinārā: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Tôi cũng xứng đáng được một phần Xá-lợi của Thế Tôn. Tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với Xá-lợi của Thế Tôn.”

Các người Mallā ở Pāvā nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinārā, liền gởi một sứ giả đến các người Mallā ở Kusinārā: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần Xá-lợi của Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với Xá-lợi của Thế Tôn.”

Khi được nghe nói vậy, các người Mallā ở Kusinārā liền tuyên bố giữa đại chúng: 

– Thế Tôn đã diệt độ tại làng vườn của chúng tôi, chúng tôi sẽ không cho phần Xá-lợi nào của Thế Tôn.

Khi nghe vậy, Bà-la-môn Doṇa nói với họ: 

– Tôn giả, hãy nghe lời tôi nói! 

Phật dạy chúng ta phải kham nhẫn, 
Thật không tốt nếu có tranh giành,
Khi chia Xá-lợi bậc Thượng Nhân.
Chúng ta hãy đoàn kết nhất tâm,
Hoan hỷ chia Xá-lợi tám phần.
Chúng ta hãy dựng tháp mọi phương,
Đại chúng mười phương tin Pháp Nhãn...

– Này Tôn giả Bà-la-môn, Ngài hãy phân chia Xá-lợi ra tám phần đồng đều.

– Xin vâng, các Tôn giả.

Bà-la-môn Doṇa vâng lời hội chúng ấy, phân chia Xá-lợi của Thế Tôn thành tám phần đồng đều rồi thưa hội chúng:

– Các Tôn giả, hãy cho tôi cái bình dùng để đong chia Xá-lợi này. Tôi sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ cho cái bình.

Và hội chúng ấy tặng Bà-la-môn Doṇa cái bình.

Và người Moriyā ở Pipphalivana nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinārā, liền gởi một sứ giả đến các người Mallā ở Kusinārā:

– Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chung tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được hưởng một phần Xá-lợi của Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với Xá-lợi của Thế Tôn.

– Nay không còn phần Xá-lợi nào của Thế Tôn. Xá-lợi của Thế Tôn đã được phân chia, hãy lấy tro còn lại.

Rồi các vị này lấy các than tro còn lại. 

Và vua nước Magadha tên là Ajātasattu, con bà Videhi, xây dựng tháp trên Xá-lợi của Thế Tôn tại Vương Xá và tổ chức lễ cúng dường.

Những người Licchavī ở Vesāli cũng xây dựng tháp trên Xá-lợi của Thế Tôn tại Vesālī và tổ chức lễ cúng dường.

Những người Sākya ở Kapilavatthu cũng xây dựng tháp trên Xá-lợi của Thế Tôn tại Kapilavatthu và to chức lễ cúng dường.

Những người Bulī ở Allakappa cũng xây dựng tháp trên Xá-lợi của Thế Tôn tại Allakappa và tổ chức lễ cúng dường.

Những người Koliya ở Rāmagāma cũng xây dựng tháp trên Xá-lợi của Thế Tôn tại Rāmagāma và tổ chức lễ cúng dường.

Bà-la-môn Vethadīpaka cũng xây dựng tháp trên Xá-lợi của Thế Tôn tại Vethadīpa và lễ chức lễ cúng dường.

Những người Mallā ở Pāvā cũng xây dựng tháp trên Xá-lợi của Thế Tôn tại Pāvā và to chức lễ cúng dường.

Những người Mallā ở Kusinārā cũng xây dựng tháp trên Xá-lợi của Thế Tôn tại Kusinārā và tổ chức lễ cúng dường.

Bà-la-môn Doṇa cũng xây dựng tháp trên bình [dùng để đong chia Xá-lợi] và tổ chức lễ cúng dường.

Những người Moriyā ở Pipphalivana cũng xây dựng tháp trên những than tro và tổ chức lễ cúng dường.

Như vậy, có tám tháp Xá-lợi, tháp thứ chín trên bình [dùng để đong chia Xá-lợi] và tháp thứ mười trên tro [Xá-lợi].

Đó là truyền thống thời xưa như vậy. [*]

Đấng Pháp Nhãn Vô Thượng,
Xá-lợi phân tám phần,
Bảy phần được cúng dường,
Tại Jambudīpa.
Một phần Long vương cúng,
Tại Rāmagāma.

Một răng Phật được cúng,
Cho chư thiên ba cõi,
Một tại Gandhāra,
Một tại Kāliṅga.
Một răng cho Long vương,
Tự mình riêng cúng dường.

Quả đất được chói sáng,
Với hào quang Xá-lợi,
Với lễ vật cúng dường,
Hạng thượng phàm, thượng đẳng.
Xá-lợi đấng Pháp Nhãn,
Như vậy được cúng dường,
Bởi những bậc tôn trọng.

Cung kính lễ cúng dường,
Bởi thiên, long, nhơn chủ,
Các bậc tối thượng nhơn.
Các ngươi hãy chắp tay,
Cung kính lễ cúng dường.

Khó thay sự chiêm ngưỡng!
Tôn nhan bậc Như Lai,
Trải nhiều nhiều trăm kiếp,
May lắm được một lần.

Bốn mươi răng đều nhau,
Chư Thiên đã mang đi,
Cùng với tóc và lông,
Đến khắp các vũ trụ.

*

Chú thích:

[*] Luận sư Buddhaghosa, trong Chú giải Trường bộ, cho biết câu kết “Đó là truyền thống thời xưa như vậy” (Evametaṁ bhūtapubbanti) được thêm vào trong kỳ Kết tập Kinh điển III, còn các câu kệ tiếp theo là do các vị trưởng lão ở xứ Sri Lanka ghi thêm vào (DA ii, 615).

*-----*

III- PHÂN CHIA XÁ-LỢI THEO KINH DU HÀNH, TRƯỜNG A-HÀM (MĀ 2)
Trung tâm Dịch thuật Trí Tịnh dịch

Bấy giờ, chúng Mạt-la nước Ba-bà nghe Phật diệt độ tại rừng Song Thọ, đều tự nghĩ: “Chúng ta nên đến đó xin phần Xá-lợi, thỉnh về nước dựng tháp cúng dường.”

Họ liền hạ lệnh tập hợp bốn quân chủng là quân voi, quân ngựa, quân xe và quân bộ kéo đến thành Câu-thi, rồi sai sứ giả đến thưa:

– Chúng tôi nghe tin đấng Chúng Hựu [1] diệt độ tại đây, Phật cũng là Thầy chúng tôi, vì lòng kính mộ Ngài, chúng tôi đến xin phần Xá-lợi, thỉnh về nước dựng tháp cúng dường.

Vua nước Câu-thi đáp:

– Đúng vậy! Quả thật như lời Ngài nói nhưng vì Thế Tôn giáng lâm tại đây và diệt độ cũng tại đây, nhân dân nước tôi tự lo cúng dường, khỏi phiền các ngài ở xa. Việc phân chia Xá-lợi e rằng không thể được.

Bấy giờ, chúng Bạt-ly [2], nước Già-la-phả [3], chúng Câu-lợi [4], nước La-ma-già [5], chúng Bà-la-môn nước Tỳ-lưu-đề [6], chúng Thích-ca nước Ca-duy-la-vệ [7], chúng Ly-xa [8] nước Tỳ-xá-ly, Vua A-xà-thế [9] nước Ma-kiệt-đà, nghe tin Như Lai diệt độ tại rừng Song Thọ thành Câu-thi đều tự nghĩ: “Chúng ta hãy nên đến đó để chia phần Xá-lợi.”

Thế rồi, Vua A-xà-thế bèn hạ lệnh dẫn bốn quân chủng là quân voi, quân ngựa, quân xe và quân bộ tiến qua sông Hằng, sai Bà-la-môn Hương Tánh [10]: “Ngươi hãy nhân danh ta, vào thành Câu-thi vấn an sức khỏe các vị Mạt-la: Sinh hoạt thường ngày có thảnh thơi không? Đi đứng có được nhẹ nhàng không? Và nói rằng ta với quý ngài ấy xưa nay vốn kính trọng lẫn nhau, láng giềng hòa nghị, chưa từng tranh chấp. Nay nghe Như Lai diệt độ tại quý quốc, đối với Thế Tôn, ta vô cùng tôn kính nên từ xa đến đây muốn thỉnh phần Xá-lợi đem về nước dựng tháp cúng dường. Nêu nhận lời, ta sẽ hiến quốc bảo cho.”

Bấy giờ, Bà-la-môn Hương Tánh vâng lệnh nhà vua, đến thành Câu-thi thưa với các Mạt-la rằng:

– Đại vương nước Ma-kiệt kính lời vấn an sức khỏe các Ngài: “Sinh hoạt thường ngày có thảnh thơi không? Đi đứng có được nhẹ nhàng không? Và nói rằng Đại vương với quý ngài xưa nay kính trọng lẫn nhau, láng giềng hòa nghị, chưa từng tranh chấp. Nay nghe Như Lai diệt độ tại quý quốc, đối với

Thế Tôn, Đại vương vô cùng tôn kính, nên từ xa đến đây muốn thỉnh phần Xá-lợi đem về nước dựng tháp cúng dường. Nếu nhận lời, Đại vương sẽ hiến quốc bảo cho.”

Lúc đó, các Mạt-la trả lời Bà-la-môn Hương Tánh:

– Đúng vậy! Quả thật như lời ngài nói nhưng vì Thế Tôn giáng lâm tại đây và diệt độ cũng tại dây, nhân dân nước tôi tự lo cúng dường, khỏi phiền các ngài ở xa. Việc phân chia Xá-lợi e rằng không thể được.

Lúc đó, vua các nước bèn triệu tập quần thần, bàn bạc:

Chúng ta hòa hiếu,
Xa đến đảnh lễ,
Khiêm tốn thỉnh cầu,
Nếu không chấp nhận,
Bốn binh đã sẵn,
Không tiếc thân mạng,
Dùng nghĩa không được,
Tất phải dùng sức.

Khi ấy vua nước Câu-thi liền triệu tập quần thần, cùng nhau bàn bạc, rồi đáp trả rằng:

Từ xa khổ nhọc,
Các vị đến xin,
Di thể Như Lai,
Nhưng không cho được.
Nếu muốn dùng binh,
Ta đây cũng sẵn,
Chống trả đến cùng,
Chưa từng biết sợ.

Lúc ấy, Bà-la-môn Hương Tánh đứng ra phủ dụ mọi người:

– Chư Hiền! Lâu nay chúng ta lãnh thọ lời Phật dạy, miệng tụng pháp ngôn, tâm theo nhân nghĩa. Tất cả chúng sanh đều muốn an lành, nay chẳng lẽ vì tranh giành Xá-lợi Phật mà tàn hại lẫn nhau? Đối với di thể Như Lai, nếu muốn có được lợi ích rộng rãi thì nên phân chia ra thành nhiều phần.

Mọi người đều khen là phải, lại bàn luận với nhau: “Ai là người đủ khả năng phân chia?” Rồi tất cả đều cho rằng Bà-la-môn Hương Tánh là người nhân trí công tâm, có thể đứng ra phân chia.

Thế rồi, các quốc vương liền bảo Hương Tánh:

– Ông hãy chia Xá-lợi Phật thành tám phần bằng nhau cho chúng tôi.

Bà-la-môn Hương Tánh vâng lệnh, liền đến chỗ Xá-lợi, cúi đầu đảnh lễ xong, tiến lên nhặt chiếc răng trên của Phật để riêng một bên, rồi sai sứ giả đưa đến chỗ Vua A-xà-thế. Ông bảo sứ giả:

– Ngươi hãy thay mặt ta tâu với Đại vương rằng: “Sinh hoạt thường ngày có thảnh thơi không? Đi đứng có được nhẹ nhàng không? Xá-lợi chưa đến, chắc ngài mong đợi lắm? Nay giao sứ giả đem răng trên của Như Lai đến trước để Đại vương có thể cúng dường, thỏa lòng trông mong. Khi sao Mai [11] mọc, phân chia xong Xá-lợi, thần sẽ đích thân đến dâng.”

Sứ giả vâng lời, đến chỗ Vua A-xà-thế tâu:

– Bà-la-môn Hương Tánh kính lời thỉnh an Đại vương: “Sinh hoạt thường ngày có thảnh thơi không? Đi đứng có được nhẹ nhàng không? Xá-lợi chưa đến, chắc ngài mong đợi lắm? Nay giao sứ giả đem răng trên của Như Lai đến trước để Đại vương có thể cúng dường, thỏa lòng trông mong. Khi sao Mai mọc, phân chia xong Xá-lợi, Bà-la-môn Hương Tánh sẽ đích thân đến dâng.”

Bấy giờ, Bà-la-môn Hương Tánh dùng cái bình đựng khoảng một thạch để đong chia Xá-lợi, phân thành tám phần bằng nhau xong, nói với mọi người:

– Tôi muốn xin cái bình này đem về nhà dựng tháp cúng dường.

Mọi người đều bảo:

– Thật là có trí, thật là hợp lý, chúng tôi đồng ý!

Lúc đó người trong thôn Tất-bát cũng đến xin:

– Hãy cho chúng tôi phân tro còn sót lại dưới đất kia để đem về xây tháp cúng dường. 

Mọi người lúc đó đều chấp thuận. Bấy giờ, người nước Câu-thi được chia phần Xá-lợi, liền dựng tháp trong nước cúng dường. Người nước Ba-bà, Già-la, La-ma-già, Tỳ-lưu-đề, Ca-duy-la-vệ, Tỳ-xá-ly và Vua A-xà-thế nước Ma-kiệt khi nhận được phần Xá-lợi, đều thỉnh về nước, xây tháp cúng dường. Bà-la-môn Hương Tánh ôm bình về nhà dựng tháp miếu cúng dường. Người dân thôn Tất-bát cũng đem phần tro còn lại về dựng tháp miếu cúng dường.

Như vậy, Xá-lợi Như Lai được chia thờ tại tám tháp, tháp thứ chín thờ bình, tháp thứ mười thờ tro và tháp thứ mười một thờ tóc Phật khi còn tại thế.

----------------

Chú thích:

[1] Chúng Hựu (眾祐). Theo Tứ phần luật danh nghĩa tiêu thích, 四分律名義標釋 (X.44. 0744.19. 0544c20), do có nhiều phước đức tự bảo hộ cho mình và còn có thể phù hộ tất cả chúng sanh nên gọi là Chúng Hựu. Hựu giống như sự trợ giúp vậy. (謂有眾德自祐.復能祐諸有情.故稱眾祐.祐猶助也).
[2] Bạt-ly (跋離, Bulī).
[3] Già-la-phả, Già-la (遮羅頗, Allakappa).
[4] Câu-lợi (拘利, Koliya).
[5] La-ma-già (羅摩伽, Rāmagāma).
[6] Tỳ-lưu-đề (毘留提, Vethadīpa).
[7] Kinh Đại bổn ghi: Ca-tỳ-la-vệ (迦毗羅衛, Kapilavatthu).
[8] Ly-xa (離車, Licchavī).
[9] A-xà-thế (阿闍世, Ajātasattu).
[10] Hương Tánh (香姓, Doṇa).
[11] Nguyên tác: Minh tinh (明星, Aruṇa), tức Thái Bạch tinh, còn gọi sao Kim, sao Hôm, sao Mai, sao Phất.

Ba-bà: Pāvā
Câu-thi, Câu-thi-na: Kusinārā
Ma-kiệt, Ma-kiệt-đà: Magadha
Mạt-la: Malla
Tất-bát: Pipphalivana
Tỳ-xá-ly: Vesālī

*-----*




Monday, 30 December 2024

Sutta-Nipata, Kinh tập - Bản tiếng Anh

 SUTTANIPĀTA – KINH TẬP
Bản dịch tiếng Anh 

Kinh tập thuộc Tiểu bộ của tạng Pāli đã được dịch sang tiếng Anh nhiều lần trong 100 năm qua. Tôi có sưu tập được một số bản dịch dạng PDF và đưa vào Thư viện BuddhaSasana. Xin giới thiệu ở đây để tải về máy tính:

Sutta-Nipāta: Collection of English translations

1. Bhikkhu Bodhi [en169_1.pdf]
   https://tinyurl.com/4d6t2pyh  

2. Bhikkhu Candana [en169_2.pdf]
   https://tinyurl.com/33s5hpas   

3. Laurence Khantipalo Mills [en169_3.pdf]
   https://tinyurl.com/84ha5y6w   

4. Lebkowicz & Ditrich [en169_4.pdf]
   https://tinyurl.com/4sa4y3vc  

5. Fausboll [en169_5.pdf]
   https://tinyurl.com/yck3hy9m  

6. Norman [en169_6.pdf]
   https://tinyurl.com/3ed7e4tk  

7. Bhikkhu Saddhatissa [en169_7.pdf]
    https://tinyurl.com/3apkjas9 

8. Bikkhu Sujato [en169_8.pdf]
   https://tinyurl.com/3dnh98jh   

9. Bhikkhu Thanissaro [en169_9.pdf]
    https://tinyurl.com/mu2uxy4m  

*-----*



Saturday, 28 December 2024

Tam tạng Thái Lan

 TAM TẠNG TIẾNG THÁI
 พระไตรปิฎกภาษาไทย

Theo thông tin của trang web Tipitaka Online พระไตรปิฎกออนไลน์, có 3 bản dịch Tam tạng Pāli sang tiếng Thái trong lịch sử truyền dịch kinh điển của Phật giáo Thái Lan:

1) Ấn bản Tam tạng Hoàng gia Thái (พระไตรปิฎกภาษาไทยฉบับหลวง, Royal Thai Edition Tipitaka). 45 tập.

Bản dịch này có văn phong cổ xưa, hiện nay không còn lưu hành.

2) Ấn bản Tam tạng Thái của Đại học Mahamakut Rajavidyalaya (พระไตรปิฎกภาษาไทยฉบับมหามกุฏราชวิทยาลัย - Thai Tipitaka of Mahamakut Rajavidyalaya University Edition). Bản dịch này có kèm theo Chú giải của Luận sư Buddhaghosa. Gồm có 91 tập:

- Tạng Luật: 10 tập
- Tạng Kinh: 64 tập
- Tạng A-tỳ-đàm (Vi diệu pháp): 17 tập.

3) Ấn bản Tam tạng Thái của Đại học Mahachulalongkorn Rajavidyalaya (พระไตรปิฎกภาษาไทยฉบับมหาจุฬาลงกรณราชวิทยาลัย - Thai Tipitaka of Mahachulalongkorn Rajavidyalaya University University Edition). Đây là bản dịch mới nhất, tương đối dễ đọc vì có văn phong và từ ngữ hiện đại, và có thêm nhiều ghi chú ở mỗi trang dịch khi cần thiết. Ấn bản này chỉ dịch Tam tạng Pāli sang tiếng Thái, không dịch các Chú giải. Gồm có 45 tập:

- Tạng Luật: 8 tập
- Tạng Kinh: 25 tập
- Tạng A-tỳ-đàm (Vi diệu pháp): 12 tập.

* THAM KHẢO

1) Tam tạng Thái của Đại học Mahamakut Rajavidyalaya 
Tripitaka91 - พระไตรปิฎกและอรรถกถาแปล ชุด 91 เล่ม ฉบับมหามกุฏราชวิทยาลัย (เล่มสีน้ำเงิน) พร้อมหัวข้อธรรมจากพระไตรปิฎก
https://www.tripitaka91.com/tripitaka91_showall.php

2) Tam tạng Thái của Đại học Mahachulalongkorn Rajavidyalaya
Tipitaka Online – พระไตรปิฎกออนไลน์
https://tripitaka-online.blogspot.com/2016/09/tpd-main.html

*-----*



Friday, 27 December 2024

Tam tạng Sri Lanka

 TAM TẠNG TIẾNG SINHALA (SRI LANKA)

Công trình dịch thuật Tam tạng Pāli sang tiếng Sinhala bản địa đầu tiên do Giáo sư AGAMPODI PAULUS DE ZOYSA (1890–1968) đề xướng, thực hiện dự án SINHALA TRIPIṬAKAYA (Tam tạng tiếng Sinhala). Công trình bắt đầu từ năm 1950 và hoàn tất năm 1964. Tổng cộng có 48 tập được ấn hành, gồm Chánh tạng (38 tập) và Chú giải (10 tập):

1) Chánh tạng (38 tập)

- Tạng Luật: 4 tập,
- Tạng Kinh: 26 tập,
- Tạng A-tỳ-đàm (Vi diệu pháp): 8 tập.

2) Chú giải (10 tập)

- Thanh tinh đạo: 2 tập,
- Chú giải Trường bộ: 3 tập,
- Chú giải Trung bộ: 4 tập,
- Chú giải Tương ưng bộ: 1 tập.

Đồng thời, vào năm 1956, Bộ Tôn giáo của Chính phủ Sri Lanka hỗ trợ một công trình khác để phiên dịch Tam tạng Pāli – BUDDHA JAYANTĪ TRIPIṬAKA GRANTHAMĀLĀ. Công trình hoàn tất vào năm 1990. Gồm có 57 tập, ấn hành dạng song ngữ Pāli-Sinhala:

- Tạng Luật: 9 tập,
- Tạng Kinh: 35 tập,
- Tạng A-tỳ-đàm (Vi diệu pháp): 13 tập.

* Tham khảo:

1) Mahinda Deegalle (2022). The First Sinhala Tripiṭakaya Translation: De Zoysa’s ‘Protestant’ Buddhist Project for Mass Literacy in Twentieth Century Sri Lanka.
2) https://en.wikipedia.org/wiki/Pali_Canon
3) https://en.wikipedia.org/wiki/Sinhala_language
4) https://en.wikipedia.org/wiki/A._P._de_Zoysa
5) https://www.sjp.ac.lk/news/download-theravada-tripitaka/
6) https://www.buddhistculture.net/tipitaka-download.html
7) https://tipitaka.wordpress.com/
8) https://www.aathaapi.org/Thripitaka.php

*-----*



Wednesday, 25 December 2024

Hán dịch Nam truyền Đại tạng kinh

 HÁN DỊCH NAM TRUYỀN ĐẠI TẠNG KINH 
漢譯南傳大藏經 - Chinese Translation of the Pali Tipiṭaka  

Toàn bộ Tam tạng Pāli và một số kinh văn phụ thuộc đã được dịch sang tiếng Trung hiện đại, gồm 70 tập, do chùa Nguyên Hanh (元亨寺), Cao Hùng, Đài Loan, xuất bản trong những năm 1990-1998. Bản dịch này là dựa theo bản dịch của Nhật Bản do Giáo sư Takakusu Junjirō (高楠順次郎 – Cao Nam Thuận Thứ Lang) chủ biên và lần lượt xuất bản trong những năm 1935-1941.

Ấn bản tiếng Trung cũng được số hóa và đưa vào trang web CBETA để mọi người có thể truy cập trực tuyến và tải về các bản kinh dạng PDF.

Mục lục tổng quát:

Tập 01-04: Luật tạng.

Tập 05-47: Kinh tạng

Tập 48-60: Luận tạng (A-tỳ-đàm tạng)

Tập 61-70: Luận sự, Sử truyện, Ký sự

Tham khảo:

1) Thích Nhật Từ (2021). Sổ tay Mục lục Tam tạng Pali.
2) Sujato Bhikkhu (2014). Chinese translation of the whole Pali Tipiṭaka is now online at CBETA.
https://suttacentral.userecho.com/communities/1/topics/9-chinese-translation-of-the-whole-pali-tipitaka-is-now-online-at-cbeta
3) 漢譯南傳大藏經 Chinese Translation of the Pali Tipiṭaka (Hán dịch Nam truyền Đại tạng kinh). Các links để tải 70 Tập, dạng PDF:
http://tripitaka.cbeta.org/N  
4) CBETA (2013). Mục lục Hán dịch Nam truyền Đại tạng kinh  
https://www.cbeta.org/news/20121225.php#english  

*-----*



Tuesday, 24 December 2024

Dịch giả bốn bộ A-hàm tiếng Hán

DỊCH GIẢ BỐN BỘ A-HÀM TIẾNG HÁN
Bình Anson

*

1) TRƯỜNG A-HÀM KINH (長阿含經 - Dīrgha Āgama, T-0001) do ngài Phật-đà-da-xá và ngài Trúc Phật Niệm dịch từ Phạn văn sang Hán văn vào đời Hậu Tần, vào khoảng năm 413 TL. Bộ kinh này được xem như tương đương với Trường bộ kinh (Dīgha Nikāya) của tạng Pāli Nam truyền. 

Pháp sư PHẬT-ĐÀ-DA-XÁ (佛陀耶舍 - Buddhayaśas, Hán dịch là Giác Minh) là người nước Kế-tân (Kashmir), bắc Ấn Độ. Ngài xuất gia năm 13 tuổi, năm 27 tuổi mới thọ giới Cụ túc. Ngài chuyên cần tu tập, đọc tụng kinh điển, thông suốt cả Đại thừa và Tiểu thừa. Ngài là thầy của Pháp sư Cưu-ma-la-thập (La-thập, 羅什). Năm 408 TL, đời vua Diêu Tần, theo lời thỉnh cầu của ngài La-thập, ngài đến Trường An, hỗ trợ ngài La-thập trong công tác dịch thuật kinh điển. Ngài dịch kinh Thập trụ, Tứ phần tăng giới bản, Tứ phần luật, rồi cùng với ngài Trúc Phật Niệm dịch kinh Trường A-hàm. Về sau, ngài quay trở về Thiên Trúc. 

Pháp sư TRÚC PHẬT NIỆM (竺佛念) là người ở Lương Châu (涼州, nay là Võ Uy, Cam Túc). Ngài xuất gia từ lúc còn nhỏ, chí nghiệp kiên cố, ngoài việc tụng kinh ra, ngài còn siêng năng học tập ngoại điển. Ngài đến Trường An trong khoảng năm 365-384 TL, phụ giúp các Pháp sư Tăng-già-đề-bà (僧伽提婆) và Đàm-ma-nan-đề (曇摩難提) dịch thuật kinh điển, trong đó có bộ kinh Trung A-hàm và Tăng nhất A-hàm. Về sau, ngài phụ giúp Pháp sư Phật-đà-da-xá dịch bộ Trường A-hàm. Ngài còn dịch nhiều bộ kinh Đại thừa khác, tổng cộng 12 bộ, 74 quyển. Ngài thị tịch tại Trường An, không rõ năm tháng.

*

2) TRUNG A-HÀM KINH (中阿含經 - Madhyama Āgama, T-0026) do ngài Tăng-già-đề-bà (僧伽提婆) dịch từ Phạn văn sang Hán văn vào đời Đông Tấn vào khoảng năm 408 TL. Bộ kinh này được xem như tương đương với Trung bộ kinh (Majjhima Nikāya) của tạng Pāli Nam truyền.

Pháp sư TĂNG-GIÀ-ĐỀ-BÀ (僧伽提婆 - Saṅghadeva, Hán dịch là Chúng Thiên) là người nước Kế-tân (Kashmir), bắc Ấn Độ. Ngài là người thông minh tuấn tú, uy nghi đĩnh đạc, bản tính khiêm cung, học thông ba tạng, nhưng chuyên tâm nghiên cứu A-tì-đàm tâm luận của Hữu bộ. Trong khoảng năm Kiến Nguyên (365-384 TL) đời Tiền Tần, ngài đến Trường An. Sau đó, Pháp sư tham gia công tác dịch thuật cùng với các ngài Tăng-già-bạt-trừng, Đàm-ma-nan-đề, Trúc Phật Niệm. Vào năm 397 TL, ngài đến Kiến Khang (nay là Nam Kinh), được các vương công, danh sĩ rất quý trọng. Thượng thư Vương Tuân thỉnh ngài giảng dạy luận A-tì-đàm. Nhận thấy các bản dịch Trung và Tăng nhất A-hàm chưa được hoàn chỉnh,  Vương Tuân tổ chức dịch trường, thỉnh ngài dịch lại Trung A-hàm và hiệu chính, biên tập lại Tăng nhất A-hàm.

Về công trình kinh luận của ngài, Xuất tam tạng kí tập quyển 2 liệt kê ngài dịch 6 bộ 116 quyển, còn Khai nguyên thích giáo lục thì liệt kê 5 bộ 118 quyển.

*

3) TẠP A-HÀM KINH (雜阿含經 - Saṃyukta Āgama, T-0099) do ngài Cầu-na-bạt-đà-la dịch từ Phạn văn sang Hán văn vào khoảng năm 435-436 TL, đời Lưu Tống, tại chùa Kỳ Hoàn ở Nam Kinh. Bộ kinh này được xem như tương đương với Tương ưng bộ kinh (Saṃyutta Nikāya) của tạng Pāli Nam truyền.

Pháp sư CẦU-NA-BẠT-ĐÀ-LA (求那跋陀羅 - Guṇabhadra, Hán dịch là Công Đức Hiền, 394-468 TL) là người gốc Trung Ấn, thuộc dòng dõi Bà-la-môn. Thuở nhỏ ngài được học các luận thư, các môn thiên văn, thư số, y phương, chú thuật v.v Về sau, do tình cờ được đọc A-tì-đàm Tạp tâm luận, tỏ ngộ được Chánh pháp, trở nên sùng tín đạo Phật, rồi cạo tóc xuất gia và thọ giới Cụ túc. Ngài là người hiền hòa kính thuận, chuyên cần học tập, trước học giáo pháp Tiểu thừa, thông suốt ba tạng, sau chuyển sang học giáo pháp Đại thừa, rồi đọc tụng tuyên giảng, đồng thời, đem Phật pháp khuyến hóa cha mẹ. Cha mẹ của ngài về sau cũng chuyển sang theo đạo Phật.

Năm 435 TL đời Lưu Tống, ngài đến Quảng Châu bằng đường biển, vua Văn Đế sai sứ ra rước về chùa Kỳ Hoàn ở Kiến Khang để tham gia việc dịch kinh. Cùng với các tăng sĩ Trung Quốc, ngài dịch bộ Tạp A-hàm kinh và nhiều kinh điển tiếng Phạn khác. Công trình dịch thuật tổng cộng là 52 bộ và 134 quyển. Vào năm 468 TL đời vua Minh Đế, ngài thị tịch, hưởng thọ 75 tuổi.

*

4) TĂNG NHẤT A-HÀM KINH (增壹阿含經 - Ekottara Āgama, T-0125) do ngài Đàm-ma-nan-đề dịch vào khoảng năm 384 TL, sau đó được ngài Tăng-già-đề-bà hiệu chính, biên tập lại vào năm 398 TL. Bộ kinh này được xem như tương đương với Tăng chi bộ kinh (Aṅguttara Nikāya) của tạng Pāli Nam truyền.

Pháp sư ĐÀM-MA-NAN-ĐỀ (曇摩難提 - Dharmanandi, Hán dịch là Pháp Hỷ) là người nước Đâu-khư-lặc  (兜佉勒 – Tukhāra, Tokharistan). Ngài xuất gia từ thuở nhỏ, thông minh đĩnh ngộ, học suốt ba tạng kinh điển, hiểu sâu các bộ A-hàm. Năm 384 TL, đời Tiền Tần, ngài đến Trường An, rồi cùng với các tăng sĩ Trung Quốc phiên dịch Trung A-hàm và Tăng nhất A-hàm. Về sau, các bản dịch này được Pháp sư Tăng-già-đề-bà hiệu chính, biên tập lại, tức là bản dịch lưu hành hiện nay. Ngoài ra, ngài Đàm-ma-nan-đề còn dịch kinh A-dục vương tức hoại mục nhân duyên 1 quyển, kinh Tăng-già La-sát 2 quyển, luận Tam pháp độ 2 quyển, và nhiều bản kinh khác.

Pháp sư TĂNG-GIÀ-ĐỀ-BÀ (僧伽提婆 - Saṅghadeva, Hán dịch là Chúng Thiên) – Xem tiểu sử trong phần Trung A-hàm kinh ở trên.

*

Tham khảo:  
1) Tuệ Sỹ (2008). Trường A-hàm Tổng mục lục.
2) Tuệ Sỹ (2009). Trung A-hàm Tổng mục lục.
3) Tuệ Sỹ (2010). Tạp A-hàm Tổng mục lục.
4) Tuệ Sỹ (2011). Tăng nhất A-hàm Tổng mục lục.
5) Từ điển Phật Quang
6) Từ điển Phật học Tinh tuyển
7) Nguyễn Minh Tiến & Nguyễn Minh Hiển (2004). Mục lục Đại chánh Tân tu Đại tạng kinh.
8) Thích Nhật Từ (2021). Mục lục Tam tạng Đại chánh.

Ghi thêm: Bốn bộ A-hàm tiếng Hán này đã được dịch sang tiếng Việt. Có ba bản dịch:
1) Bản Việt dịch của Hòa thượng Thích Thiện Siêu, Hòa thượng Thích Trí Tịnh và Hòa thượng Thích Thanh Từ,
2) Bản Việt dịch của Hòa thượng Thích Tuệ Sĩ và Hòa thượng Thích Đức Thắng, và
3) Bản Việt dịch của Trung tâm Dịch thuật Trí Tịnh.

*-----*









Saturday, 21 December 2024

Các nhóm hành giả Theravada ở phương Tây

 CÁC NHÓM HÀNH GIẢ THERAVADA Ở PHƯƠNG TÂY

Dr David Snyder, chủ nhân trang web Dhamma Wiki, https://dhammawiki.com/, phân chia các nhóm Theravada hiện đang sinh hoạt trong xã hội phương Tây theo các khuynh hướng như sau:

1. KHUYNH HƯỚNG THIỀN THƯ GIÃN: Những người này chỉ thích hành thiền để thư giãn tâm trí, giảm stress, để dễ tập trung vào các công việc hàng ngày. Đa số không phải là Phật tử, hầu như không đi chùa. Chỉ trao đổi trên các mạng xã hội hay tại một phòng tập yoga nào đó. Họ hầu như không tin vào thuyết tái sinh và luân hồi. Ngoài hành thiền, họ không quan tâm đến khía cạnh nào khác của Phật giáo.

2. KHUYNH HƯỚNG THIỀN VIPASSANA: Họ hành thiền quán Vipassana hoặc thêm một pháp thiền định, thiền quán tưởng nào đó dựa theo kinh điển Theravada. Họ thường tham dự các khóa thiền do các cư sĩ thiền sư hướng dẫn tại các trung tâm thiền do cư sĩ quản lý, hoặc qua các buổi họp mặt tại một hội trường hay tại nhà của một cư sĩ. Thông thường, người lãnh đạo là một cư sĩ có việc làm riêng, và chỉ hướng dẫn hành thiền trong thời gian nghỉ việc của vị ấy.

3. KHUYNH HƯỚNG TỰ VIỆN TRUYỀN THỐNG: Họ là những Phật tử chính thức quy y Tam Bảo và thọ trì Ngũ Giới, thường đi đến các chùa do các nhóm di dân thành lập từ các nước theo truyền thổng Theravada. Họ tham gia các khóa lễ cầu an, cầu siêu, các lễ hội truyền thống do các vị tu sĩ Phật giáo điều hành.

4. KHUYNH HƯỚNG THERAVADA TÂN THỜI: Những người này tập trung học tập kinh điển của tạng Kinh Pāli, được dịch sang tiếng bản địa. Có khi họ được gọi là những người theo khuynh hướng EBT (Early Buddhist Texts – Kinh văn Phật giáo Sơ kỳ). Họ cũng tìm hiểu sơ lược về tạng A-tỳ-đàm và các Chú giải nhưng họ chú tâm nhiều hơn đến năm bộ Nikaya của tạng Kinh. Những người này đa số là Phật tử, chấp nhận thuyết tái sinh, đơn thuần tập trung vào các bài kinh nguyên thủy, không chú tâm đến các kinh văn hậu tác.

5. KHUYNH HƯỚNG THERAVADA CỔ ĐIỂN: Họ là những Phật tử thích tìm hiểu và chú tâm học tập cả 3 Tạng của kinh điển nguyên thủy. Họ cũng chú tâm đến các luận giải của Luận sư Buddhaghosa, nhất là cuốn Thanh Tịnh Đạo, và các Chú giải khác.

Đây chỉ là một nhận xét tổng quát, sơ lược về các sinh hoạt Phật giáo ở phương Tây bắt nguồn từ truyền thống Theravada. Dĩ nhiên là có những hành giả, tùy theo hoàn cảnh và nghiệp duyên, kết hợp nhiều khuynh hướng khác nhau khi đến với Đạo Phật.

*-----*



Friday, 20 December 2024

Sách: HUYỀN TRANG, NHÀ CHIÊM BÁI VÀ HỌC GIẢ. Thích Minh Châu

 Sách:

HUYỀN TRANG, NHÀ CHIÊM BÁI VÀ HỌC GIẢ 
Thích Minh Châu
Thích Nữ Trí Hải dịch Việt (1966)
(Bình Anson hiệu đính, tháng 12-2024)

Tải bản PDF:
https://tinyurl.com/22mhrkh9  (vn307.pdf, 1.4 MB)

* Nguyên tác Anh ngữ:
HSUAN-TSANG, THE PILGRIM AND SCHOLAR. Bhikshu Thich Minh Chau (1963)

* MỤC LỤC

Lời giới thiệu

I. Diện mạo và tác phong của Ngài Huyền Trang
II. Huyền Trang, nhà Chiêm bái
III. Huyền Trang, nhà Học giả
IV. Huyền Trang, nhà Thuyết giáo
V. Huyền Trang, nhà Hùng biện
VI. Huyền Trang, nhà Dịch thuật
VII. Huyền Trang, nhà Trước tác
VIII. Huyền Trang, nhà Thần bí
IX. Những ngày cuối cùng và sự viên tịch của Pháp sư

*-----*




Wednesday, 18 December 2024

Sách: PHÁP HIỂN, NHÀ CHIÊM BÁI. Thích Minh Châu

 Sách:


PHÁP HIỂN, NHÀ CHIÊM BÁI 
Thích Minh Châu
Thích Nữ Trí Hải dịch Việt (1997) 
(Bình Anson hiệu đính, tháng 12-2024)

Tải bản PDF:
https://tinyurl.com/2h6bjsd7 (vn306.pdf, 1.6 MB)

Nguyên tác Anh ngữ:
FA-HSIEN, THE UNASSUMING PILGRIM 
Thich Minh Chau (1963)
https://tinyurl.com/aaxjtbf7 (en338.pdf, 5.5 MB)  

*

MỤC LỤC

Lời nói đầu 

Phần I: Nhân cách của ngài Pháp Hiển và cuộc chiêm bái
1. Nhân cách và quan điểm 
2. Pháp Hiển, nhà chiêm bái
3. Pháp Hiển và những bạn đồng hành 

Phần II: Hoàn cảnh Phật giáo cùng đời sống của Tăng lữ tại Ấn Độ và Tích Lan vào thế kỷ thứ V TL do ngài Pháp Hiển ghi lại
1. Hoàn cảnh Phật giáo, tu viện và tu sĩ 
2. Ðời sống tu sĩ 
3. Các ngày lễ Phật 
4. Việc thờ cúng Xá-lợi 
5. Việc thờ tháp 

Phần III: Những dữ liệu lịch sử do ngài Pháp Hiển ghi lại
1. Lịch sử và huyền thoại về cuộc đời đức Phật 
2. Những tiền thân của đức Phật 
3. Các vị Phật khác và các vị A-la-hán 
4. Ðệ tử của đức Phật 

Phần IV: Những tư liệu địa hình 
1. Khía cạnh địa hình 
2. Dân cư 
3. Khí hậu và thảo mộc 

*-----*




Sunday, 15 December 2024

Trúng vé số độc đắc

 Hôm qua vợ chồng ngồi ăn cơm tối, bà xã cho biết có một chị bạn Phật tử gốc Thái quen biết ở Perth vừa trúng số Lotto, giải nhì, trị giá khoảng 15 ngàn đô-la Úc (10 ngàn đô-la Mỹ). Rồi tôi cũng có gửi tin nhắn mừng chị ấy.

Tôi rất ít khi nào mua vé số. Nếu có mua thì khi bà con bạn bè kêu gọi hùn hạp góp tiền để mua chơi cho vui. Hầu như trong suốt cuộc đời không bao giờ trúng số. Nếu có, chỉ là những giải rất nhỏ. Khi về VN thì tôi mua giúp những người bán vé số dạo, rồi đem vé số tặng lại cho các em bảo vệ khách sạn, không bao giờ quan tâm đến. 

Rồi nói với bà xã: Thật ra, mình còn ham hố chi nữa? Mình sống bình an trong một xã hội tương đối tốt lành, môi trường ngăn nắp sạch đẹp, trợ cấp người già đầy đủ, con cháu khỏe mạnh hạnh phúc, biết được Phật pháp, sống gần chùa, gần chư tăng ni và bạn đạo đều có tâm từ, có hạnh tu tốt là mình có đại phước duyên, xem như là đã trúng số độc đắc rồi. 

Chỉ nhiêu đó thôi là quá đủ. Không mong cầu gì hơn.

– Bình Anson,
Perth, Tây Úc. 
15/12/2023 

*



Thursday, 12 December 2024

Một đám tang đơn giản – Khun SUPARP DELANEY (1925-2024)

 Bà là một trong những hội viên lâu năm của Hội PG Tây Úc. Chúng tôi quen biết gia đình bà khi đến định cư tại Perth, Tây Úc. Nhìn lại cũng hơn 45 năm. Bà từng giảng dạy ở trường cao đẳng tại Bangkok nên người Thái gọi bà là Ajahn (Giáo sư), nhưng khi sinh hoạt trong chùa, chúng tôi thường gọi bà là Khun Pah Suparp (Dì Suparp), thân mật như người trong nhà. Thỉnh thoảng, bà mời chúng tôi đến nhà ăn cơm, trao đổi các kiến thức về Phật pháp và các thông tin sinh hoạt của Hội PG. Về sau này, chúng tôi thường gặp bà tại Tu viện Bodhinyana, tịnh tu ở dãy nhà dành riêng cho các nữ cư sĩ.

Khoảng 10 năm gần đây, bà bị bệnh mất trí nhớ (dementia, sa sút trí tuệ), rối loạn thần kinh, tay chân run rẩy, không cử động được bình thường, được đưa vào nhà dưỡng lão, và qua đời vào tuần lễ trước. Tang lễ được tổ chức hôm nay tại Trung tâm Phật giáo Dhammaloka gần nhà chúng tôi, do ngài Ajahn Brahm chủ trì. Con cháu và vài bạn đạo lần lượt phát biểu cảm tưởng, chia sẻ những kỷ niệm, những câu chuyện về bà. Ajahn Brahm có một bài pháp ngắn, rồi tụng một thời kinh cầu siêu. Mọi người lần lượt đến nhìn bà lần cuối rồi cùng nhau tiễn biệt, đưa quan tài ra xe tang để tiến thẳng đến lò hỏa thiêu. Khách tham dự được mời ở lại, ăn bánh, uống trà, chuyện trò và chia buồn với gia đình bà.

Một tang lễ đơn giản, nhanh gọn và đầy đủ ý nghĩa.

– Bình Anson,
Trung tâm Phật giáo Dhammaloka
Nollamara, Perth, Western Australia 
11/12/2024

*-----*



Một vị ân nhân: Giáo sư DESMOND O’CONNOR (1926-2023)

Prof. DESMOND O’CONNOR (1926-2023) 
Former Dean, School of Environmental and Life Sciences 
Murdoch University, Western Australia

Giáo sư là Khoa trưởng Khoa Môi trường và Sinh học của Đại học Murdoch, Tây Úc, từ năm 1975 đến 1988. Vào năm 1977, khi tôi được Đại học Murdoch cấp học bổng làm nghiên cứu sinh tiến sĩ, Giáo sư đã nhiệt tình giúp đỡ, can thiệp với Sứ quán Úc tại Bangkok để cấp chiếu khán và các giấy tờ cần thiết cho tôi được nhập cảnh và định cư tại Tây Úc.

Sau khi tốt nghiệp tiến sĩ và bắt đầu cuộc đời công chức, làm việc cho chính phủ bang Tây Úc, tôi không còn liên lạc và không có thông tin gì về ông. Không hiểu lý do gì mà tối nay, sau thời hành thiền, ngồi suy tưởng về cuộc đời của mình, về những vị ân nhân đã từng giúp đỡ mình, tôi chợt nhớ đến ông. Mở máy tính, vào Internet tìm thông tin về Giáo sư thì được biết ông đã từ trần vào tháng 6 năm ngoái – 2023, hưởng thọ 97 tuổi.

Xin chân thành tri ân Giáo sư. Nguyện cho ông sớm tái sinh về nhàn cảnh. 🙏🙏🙏

- Binh Anson 
Perth, Western Australia 
11/12/2024

*-----*



Wednesday, 11 December 2024

A-tỳ-đàm: Tổng quan & Nguồn gốc lịch sử

 Xin giới thiệu một bài viết bằng tiếng Anh của Wikipedia, chứa nhiều thông tin chi tiết và khách quan về A-tỳ-đàm (Abhidharma, Abhidhamma, Vi diệu pháp). Link của trang web:
https://en.wikipedia.org/wiki/Abhidharma

*



Sunday, 11 August 2024

Misbehaving monks are trashing Buddhism's reputation in Thailand

 MISBEHAVING MONKS ARE TRASHING BUDDHISM'S REPUTATION IN THAILAND  
Lauren Day and Matt Henry 
ABC News, 08/08/2024 

It was rumours of a sex scandal that first brought Phra Khom, a Buddhist monk famed throughout Thailand for his talents as a preacher, to the attention of police in April 2023.

But even hardened investigators were stunned by what they uncovered when they raided his temple, Wat Pa Thammakhiri, hidden in a green valley a few hours' drive from Bangkok.

Suitcases stuffed with cash. Gold bars buried in the hills. A paper trail of bank transfers to the monk's sister's account totalling $2.2 million.

In all, Phra Khom, along with his co-conspirators, had embezzled more than $12 million of temple donations from his many faithful followers.

He was arrested, along with six other monks, and sentenced earlier this year to 468 years in prison.

Phra Khom's fall from grace grabbed national headlines, but it wasn't the first time a member of the Thai Buddhist clergy had been caught committing crimes.

In Thailand, it can seem like barely a week goes by without reports of monks being charged with drug possession, drunk driving, corruption, violent crimes, even rape and murder.

That's not to mention a slew of less serious – but equally scandalous – reports of monk misbehaviour, such as the case of Phra Kato, a handsome young monk and social media influencer whose sexual tryst with a model was exposed in early 2022.

Their clandestine love affair briefly set the nation abuzz after they were caught discussing it on a leaked audio recording.

Phra Kato was promptly disrobed, but his disgrace only deepened when he was later accused of embezzling temple funds and attempting to pay "hush money" to his lover and a journalist pursuing the story – claims he has denied.

While some Thais have become desensitised to such stories, others see the resulting erosion of public faith in the monkhood as a problem of national significance.

In Thailand, where more than 90 per cent of people are Buddhists and monks are still treated with special reverence, Buddhism remains one of the key pillars of society.

But some fear that pillar is cracking under the weight of mounting scandals involving some of the nation's estimated 280,000 holy men.

Those who put on the saffron robes are expected to model lives of moderation and virtue, holding to Buddhism's central teachings – no killing, stealing, sex, lies or drugs and alcohol – and observing dozens more rules in their daily lives.

Phra Paisal Visalo, an abbot, or head monk, at one of the country's most respected monasteries in the north-eastern province of Chaiyaphum, is troubled by how many monks are failing to uphold that moral code.

"There is a lot of scandal," he says, sitting cross-legged on the floor of his monk's house, perched above a peaceful lake. 

"I would call the situation in Buddhism now, especially as far as the monks are concerned, is in crisis."

Phra Paisal, who has been a monk for four decades, is among those now calling for urgent reform to Thailand's religious institutions to fix what he sees as a growing crisis of faith.

"I'm afraid Buddhism in Thailand has no future," he says.

THE TEMPLE WITH NO MONKS

Moral lapses in the clergy aren't just limited to a few rogue monks. In some cases, whole temples have been corrupted, often with devastating effects for the faithful.

In November 2021, at a temple amid the swaying palm plantations of Chumphon province, in southern Thailand, all four monks including the abbot were swept up in a drug raid.

Police found methamphetamine pills, meth pipes and dozens of bottles of urine the monks had been storing in their sleeping quarters. The monks all tested positive for the drug and were disrobed.

"If you ask me, was I shocked? I could not imagine all the monks in this temple were addicted," says the local village chief, Terdsak Pudwanna, as we stand at the temple's front gate in the baking morning sun.

For a time, the temple was left without any monks at all.

Terdsak has seen how the scandal continues to reverberate through his community long after the initial shock.

Buddhists depend on the monks at their local temple to do daily alms collection for religious "merit making" and perform a range of other rites and ceremonies.

"When those monks were arrested for using narcotics, the villagers who still had faith felt like they had been betrayed," says Terdsak.

Many in the village have kept their family's ashes in burial boxes, known as "stupas", on the temple grounds for generations, but now feel they can't return.

For some, their ties to the temple have been severed, perhaps permanently.

At a roadside restaurant on the edge of a palm plantation, local waitress Ladawan says she remembers the day of the raid vividly – it was the day of her father's funeral.

"We were moving our father’s body from our home to the temple and I was surprised to see that there were police officers at the temple," she says.

Ladawan had hoped to one day lay her father's ashes to rest at the temple but after the drug bust, she decided against it.

"I feel upset," she says, her eyes welling with tears. "Tremendously upset. Because our ancestors, our burial stupas are there. I wish [to visit them] one day if it's meant to be."

THE BIG BUSINESS OF BUDDHISM

Misbehaving monks are not an entirely new phenomenon in Thailand. In the mid-1990s, the country was scandalised by reports from women who had had sexual encounters with Phra Yantra Amaro Bhikku, a charismatic Buddhist preacher who travelled the globe spreading the faith, until he was expelled from the monkhood.

Just over a decade ago, it was Wirapol Sukphol who shot to online infamy when a YouTube video of him seated in a private jet, holding a luxury designer bag and flicking through wads of cash, went viral.

Sukphol's lavish display of wealth provoked outrage, and later led to a criminal investigation, which found him guilty of money laundering and sexual offences.

Monks are strictly forbidden from accumulating personal wealth, but Phra Paisal Visalo fears some are immersing themselves too deeply in the culture of consumerism that surrounds them.

"In the past monks led the way for the laypeople," he says. "But now they do not lead the laypeople along the way of inner peace. They just follow the laypeople along the path of wealth and prosperity."

Coupled with Thailand's opaque system of temple accounting, the temptation to use the monkhood as a money spinner can be too much for some.

Thailand's 43,000 temples together raise an estimated $4 billion a year in donations from the public, while the government chips in an extra $170 million to help support them.

But keeping track of where the donation money goes is near impossible.

In the case of Wat Pa Thammakhiri, officers with the Central Investigations Bureau (CIB) say Phra Khom neglected to set up a board of financial administrators or appoint a warden – structures that would have at least kept temple money at arm's length.

Instead, as the money poured in from donors, he was able to "manipulate the assets in large quantities without anyone knowing," says Lieutenant Colonel Parnumas Saengsong, part of the CIB team that raided the temple.

In the end, the staggering scale of his embezzlement was only revealed when Phra Khom made a rookie error, calling his monks from the police station where he was being questioned to tell them to hide the loot. Investigators pounced and caught them in the act.

"Some had hidden it in the bell tower, some had buried it in the hills behind the temple and covered it with monk robes," says Parnumas Saengsong. "Our investigation team was stunned. It was a huge amount. But these people took it for themselves."

Thailand's temples are required by law to open their books every year to the National Office of Buddhism, the government agency that's supposed to have oversight of their finances.

But the NOB's director, Intaporn Jan-Iaem, admits that doesn't always happen, as was the case with Wat Pa Thammakhiri.

"That is why the National Office of Buddhism had to cooperate with the authorities, in this case the CIB, who are able to call for witnesses and evidence for investigators to inspect," he says.

Intaporn Jan-Iaem says his agency has only limited powers to conduct its own investigations and that's something he wants to see changed.

"Right now, if monks commit wrongdoing, the National Office of Buddhism can only report that information and evidence to administrative monks to review. The monk process is slow, I must admit."

He says the National Office of Buddhism needs the power to "summons those monks for questioning right away without having to wait for any monks' council."

CLEANING UP THAILAND'S TEMPLES

Some believers aren't waiting, and are taking matters into their own hands instead.

Police lieutenant colonel Sayomphu Kauljittisirodom doesn't look much like a Buddhist monk, with a handgun slung at his hip, police-issue haircut and biceps bulging under his blue polo shirt.

But earlier this year, he passed himself off as one to make a daring series of arrests.

In March, feeling burnt out after a 20-year career in the Thai police, Sayomphu did what many Thai men will do at least once in their lives – ordained as a monk for a few weeks.

"Being a police officer, one has to be ready in both body and mind," he says. "The best thing for me was to try for once to become a monk."

But before he'd hung up his robes, Sayomphu's colleagues received a tip-off about a potential drug ring operating at a local temple.

Together they came up with an ingenious plan: Sayomphu would go undercover as a monk and wait at the temple to catch the crooks.

"I just covered myself with the robe," he says, swishing the saffron garment over his shoulder. "That way a weapon and camera could be hidden."

In the end, two monks were arrested for using meth, as well as two dealers who had sold it to them.

"Generally, the public appreciated what we did and admired us for eliminating an enemy of religion," he says.

Sayomphu has vowed to keep weeding out criminals hiding in temples to stop them giving Buddhism a bad name.

"In future, people may no longer respect them and that will affect the entire monkhood," he says.

Some believe fixing Thai Buddhism's problems requires more than individual heroics.

They point to flaws in the system of administration governing the clergy to explain why so many monks are going off the rails, arguing it protects them by maintaining a culture of fear, secrecy and impunity.

In Thailand, monks are governed by the Supreme Sangha Council, a small group of some of the country's most senior abbots with authority over religious matters.

Supporters of the status quo say the current system is well-equipped to reign in wayward monks, as long as abbots are willing to enforce the Sangha laws.

"If the abbot of every temple supervises the behaviour of the monks of each temple, I guarantee there wouldn't be any problems," says Luang Pi Namfon, the abbot at Wat Pai Lom in the town of Nakhon Pathom.

He's taken monitoring of his monks to what some might call extreme levels, drug testing them on a regular basis to make sure they are clean.

Phra Paisal Visalo disagrees. He says the system governing Buddhism in Thailand is long overdue for a significant overhaul if it's to deal with its monk problem.

"Corrupt monks are not punished so the system allows corrupt monks to be widespread," he says. "It needs reform. A comprehensive reform."

He wants to see it decentralised to allow participation from laypeople, as well as better vetting and education for men entering the monkhood.

But for now, he's just hoping this religion of reincarnation can change before it's too late.

"There's some aspects of teaching have been forgotten, especially about inner freedom, true happiness, the happiness that is beyond material happiness," he says. 

"It should be restored. It should be emphasised. This is my key idea about the reform."

* Watch on YouTube:
https://www.youtube.com/watch?v=jyJJmMSnqdM

*-----*





Wednesday, 10 July 2024

Một tang lễ giản dị, trang nghiêm, nhẹ nhàng

 Tôi đi dự đáng tang bà THERESE POGA (1932-2015)

Sáng nay, sau khi ăn điểm tâm, tôi lái xe đến dự tang lễ tại một nhà thờ đạo Thiên Chúa ở quận Subiaco, trong cùng thành phố Perth. Bà Poga là mẹ của một người bạn Úc tôi quen hơn 35 năm, từ khi chúng tôi đến định cư tại Tây Úc.

Ông bà Poga là người di dân tị nạn từ Latvia, đến định cư tại Úc trong thập niên 1950. Vì là người tị nạn, ông bà rất thông cảm với những người Việt đến định cư tại Úc sau 1975. Trong những năm đầu tại Perth, chúng tôi thường được ông bà mời đến nhà ăn cơm, và được giúp nhiều thông tin, ý kiến cố vấn, lời khuyên, để chúng tôi hòa nhập vào xã hội Úc.

Đám tang với nghi lễ đơn giản, tổ chức theo lời dặn của bà. Bạn tôi cho biết bà để lại một tờ giấy ghi 18 điểm, dặn dò con cái về cách thức tổ chức tang lễ của bà. Bà là một người ngoan đạo, đi nhà thờ mỗi tuần, nên có nhiều kinh nghiệm về các nghi thức trong đạo. Tang lễ chỉ có các bài thánh ca, vài tràng hoa trắng, và con cháu lần lượt đọc các đoạn trích trong Thánh Kinh mà bà đã chọn trước. Không đọc điếu văn ai oán.

Buổi lễ kết thúc sau 90 phút, và xe tống táng đưa quan tài đến lò hỏa thiêu. Mọi người đứng trước cửa Nhà Thờ để tiễn biệt, không đi theo xe. Đó là ý nguyện của bà. Tro cốt sau khi hỏa thiêu sẽ được đem về chôn tại sân vườn hoa hồng của Nhà Thờ.

Một tang lễ giản dị, trang nghiêm, nhẹ nhàng, không buồn rầu sầu khổ.

Bình Anson 
Perth, Tây Úc 
10/07/2015

*-----*





Saturday, 6 July 2024

TRƯỜNG A-HÀM & TRUNG A-HÀM: Bản Anh dịch

TRƯỜNG A-HÀM & TRUNG A-HÀM 
Bản Anh dịch   

1) Dīrgha Āgama - The Canonical Book of the Buddha's Lengthy Discourses (Trường A-hàm)

Tập I:
https://tinyurl.com/2hsdm4xy [en214-1.pdf] 

Tập II:
https://tinyurl.com/ryh7rtyx [en214-2.pdf]  

Tập III:
https://tinyurl.com/yr4jkuy3 [en214-3.pdf]  

2) Madhyama Āgama - The Middle Length Discourses (Trung A-hàm)

Tập I:
https://tinyurl.com/ymtfkxhb [en215-1.pdf] 

Tập II:
https://tinyurl.com/muwcw4db [en215-2.pdf] 

Tập III:
https://tinyurl.com/56my5adf [en215-3.pdf] 

Tập IV:
https://tinyurl.com/45nj72r6 [en215-4.pdf]     

Có thể tải về bản Anh dịch, dạng PDF, các kinh khác trong Hán tạng tại trang web của BDK America:
=>  https://www.bdkamerica.org/tripitaka-list/

*-----*



Saturday, 29 June 2024

Trở về với cát bụi

 TRỞ VỀ VỚI CÁT BỤI

Tại Úc, khi một người qua đời, sau tang lễ, sẽ được chôn cất tại các nghĩa trang do chính phủ tiểu bang quản lý, hoặc hỏa thiêu. Nếu chôn cất, tại Tây Úc, phải trả tiền thuê đất trong thời hạn 25 năm, và chỉ có thể gia hạn thêm 25 năm nữa. Nếu hỏa thiêu, hộp tro cốt có thể được chôn tại đất nghĩa trang, thường là tại một khu vườn có trồng hoa hồng, vẫn phải trả tiền thuê đất – nhưng rẻ hơn, và thời hạn cũng vẫn là 25 + 25 năm. Khuynh hướng ngày nay, 80% các đám tang tại Tây Úc là hỏa thiêu.

Sau khi hỏa thiêu, ngoài việc chôn tại vườn hoa nghĩa trang, có khi thân nhân đem hộp tro cốt về nhà, chôn ở sân vườn, hoặc đem tro cốt rải xuống sông, biển. Đối với một số Phật tử khác, có thể đem hộp tro cốt cất gửi ở chùa Việt hoặc đem về Việt Nam. Các chùa Việt ở đây đều có một phòng riêng để lưu các hộp tro cốt và hình ảnh người quá cố.

Riêng ở Tu viện Bodhinyana, bang Tây Úc, Phật tử có thể xin phép ngài Ajahn Brahm, đem tro cốt của người thân chôn ở dưới các gốc cây rải rác chung quanh hồ nước của Tu viện với khung cảnh thiên nhiên. Hoặc theo phong tục của Thái Lan, chôn vào vách tường rào quanh Tu viện. Hoàn toàn miễn phí, không phải trả tiền thuê đất và cũng không ấn định thời hạn như các nghĩa trang của chính phủ. 

Cũng có trường hợp gia đình đem tro cốt rải vào khu đất rừng hay rải xuống con suối chảy ngang đó. Tôi đã viết di chúc dặn dò thân nhân sau khi tôi chết, hỏa thiêu, rồi đem tro cốt rải vào khu đất rừng của Tu viện. Cát bụi trở về với cát bụi.

*




Tuesday, 4 June 2024

Các pháp hành đầu-đà phổ thông trong thời hiện đại

CÁC PHÁP HÀNH ĐẦU-ĐÀ PHỔ THÔNG TRONG THỜI HIỆN ĐẠI
Bình Anson

*

Theo Tiểu phẩm, tạng Luật (Parivāra, Vinayapiṭaka), Đức Phật giảng cho ngài Trường lão Upāli về mười ba pháp đầu-đà (dhutanga) như sau (Pvr 17.6 - Upālipañcaka):

(1) Hành pháp ngụ ở rừng,
(2) hành pháp đi khất thực,
(3) hành pháp ngụ ở gốc cây,
(4) hành pháp chỉ mặc y paṃsukūla (phấn tảo),
(5) hành pháp ngụ ở mộ địa,
(6) hành pháp ngụ ngoài trời,
(7) hành pháp mặc ba y,
(8) hành pháp đi khất thực theo từng nhà,
(9) hành pháp giữ oai nghi ngồi,
(10) hành pháp ngụ chỗ ở theo chỉ định,
(11) hành pháp một chỗ ngồi (khi thọ thực, nhất tọa thực),
(12) hành pháp không ăn vật thực dâng sau, và
(13) hành pháp thọ thực trong bình bát.

Ngài cũng giải thích có 5 hạng người thực hành mỗi pháp đầu-đà:

(1) Hạng người có bản tánh ngu khờ, có bản tánh si mê;
(2) hạng người có ước muốn xấu xa, bị thúc giục bởi ước muốn;
(3) hạng người do điên khùng, do mất trí;
(4) hạng người thực hành vì nghĩ rằng: ‘Như thế sẽ được chư Phật và chư Thinh Văn của đức Phật khen ngợi’; và
(5) hạng người thực hành vì ham muốn ít, vì tự biết đủ, vì sự từ khước, vì sự tách ly, vì lợi ích của pháp hành ấy.

Hạng người thứ (5) là hạng người được Đức Phật tán thán.

Trong thời hiện đại, các pháp hành đầu-đà này có vài thay đổi để thích nghi với hoàn cảnh văn hóa, xã hội của mỗi quốc độ. Trong nhiều năm qua, tôi có phước duyên được gần gũi, quan sát, và tìm hiểu sinh hoạt của chư Tăng Ni trong truyền thống Theravada và xin chia sẻ ở đây.

Ở Thái Lan, pháp hành đầu-đà được gọi là Tudong (tu-đông, thudong), phiên âm từ tiếng Pali “Dhutanga”. Chư Tăng Thái có những pháp hành đầu-đà khác nhau tùy theo ý nguyện của mỗi cá nhân. Có những vị sư phát nguyện giữ hạnh đầu-đà sống trong rừng, không có trú xứ nhất định (hạnh đầu-đà số 1). Các vị ấy thường đi du hành trong rừng núi, từ làng này đến làng kia. Ban đêm ngủ ở bìa làng, ban ngày đến từng nhà trong làng khất thực. Có vị lập một liêu cốc nhỏ bằng tre lá trong rừng, nhưng cách làng khoảng 1 hay 2 km để đi bộ đến khất thực mỗi ngày. Lưu tại đó một thời gian, rồi đi sang khu rừng khác.

Có vị lập nguyện sống trong các hang động trên núi, mỗi ngày đi bộ xuống làng để khất thực rồi trở về hang núi để tu thiền. Hạnh đầu-đà sống trong các hang núi cũng thường thấy ở Sri Lanka.

Tùy theo điều kiện khí hậu, các sư trong vùng nhiệt đới có thể lập nguyện mặc ba y (hạnh đầu-đà số 7) như tôi đã từng biết ở vài tu viện miền đông bắc Thái Lan. Nhưng hạnh đầu-đà này rất khó áp dụng ở những quốc gia có mùa đông với tuyết rơi băng giá.

Tôi chỉ nghe nói nhưng chưa từng thấy vị sư nào chỉ mặc y paṃsukūla (phấn tảo, hạnh đầu-đà số 4). Nhiều năm trước, ở Tu viện Bodhinyana Tây Úc có một vị sư phương Tây phát nguyện không thay y mới. Tấm y rách đến đâu thì sư tự dùng kim chỉ để vá đến đó. Vá bằng đôi tay của sư, không dùng máy may. Sư dùng những tấm y cũ của các sư khác đã bỏ đi, cắt thành những mảnh vải để chắp vá y của sư. Dần dần, tấm y của của sư có nhiều mảnh chắp vá trên đó, trông rất ngộ nghĩnh. Tuy nhiên, chúng đều cùng có chung một màu vàng đất.

Pháp hành đi khất thực từng nhà (đầu-đà số 2 và số 8) rất phổ thông ở vùng thôn quê ở các quốc gia Đông Nam Á trong truyền thống Theravada (Thái Lan, Miến Điện, Lào).

Pháp đầu-đà chỉ ăn trong bình bát (đầu-đà số 13) cũng phổ thông khắp nơi, ngay cả tại một số tu viện ở phương Tây (Anh, Mỹ, Úc …). Tại Tây Úc, chư Tăng Ni tại Tu viện Bodhinyana và Ni viện Dhammasara đều tuân giữ hạnh đầu-đà này, chỉ ăn thức ăn để trong bình bát, không dùng chén đĩa bên ngoài. Sau khi đã bỏ đủ thức ăn vào bình bát, chư Tăng Ni chỉ ăn trong đó, không nhận thức ăn dâng thêm sau (đầu-đà số 12). Có những vị sư ở Thái Lan lập nguyện chỉ ăn mỗi ngày đúng một bữa, khoảng 9 giờ sáng, không ăn điểm tâm sáng (đầu-đà số 11).

Trong mùa an cư, chư Tăng Ni Tây Úc thường lập nguyện hành đầu-đà giữ oai nghi ngồi, không nằm, trong suốt 10 ngày hay 2 tuần lễ (đầu-đà số 9). Các vị chỉ đi, đứng và ngồi. Nếu có mệt hay buồn ngủ thì ngồi nghỉ, không nằm.

Một số Phật tử Nam tông ở Việt Nam và Thái Lan cũng nguyện giữ hạnh đầu-đà này trong các ngày trai giới hay trong các dịp lễ lớn. Phật tử đến chùa hành lễ, tụng kinh, nghe pháp, hành thiền suốt đêm, không nằm ngủ.

Có một hạnh đầu-đà khác thường được áp dụng ở Tây Úc là nhập thất tịnh tu. Trong mùa an cư, chư Tăng Ni luân phiên giữ hạnh đầu-đà này. Mỗi người phát nguyện nhập thất độc cư để tịnh tu khoảng 2 tuần lễ, hoàn toàn biệt lập, không tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Mỗi ngày, có vị sư bạn đem bình bát có thức ăn đến gần tịnh thất, đặt xuống ở gốc cây. Sư trong tịnh thất đi ra, nhận bình bát để ăn, lau rửa sạch sẻ rồi đặt lại ở gốc cây đó, để hôm sau có người đến lấy để bỏ thức ăn vào đó.

Khoảng 25 năm trước, ngài Ajahn Brahm cũng nhập thất tịnh tu như thế trong 6 tháng.

Trên đây là một số hạnh đầu-đà của chư Tăng Ni trong truyền thống Theravada mà tôi có hiểu biết và đã từng chứng kiến, ghi nhận. Xin chia sẻ ở đây.

- Bình Anson, Tây Úc
21/05/2024

* Ghi chú:

Luận sư Buddhaghosa trong cuốn Thanh tịnh đạo, Chương II, liệt kê 13 pháp hành đầu-đà, nhưng có thứ tự không giống như liệt kê trong Tiểu phẩm, tạng Luật, như sau:

1. Hạnh phấn tảo y (4)
2. Hạnh ba y (7)
3. Hạnh khất thực (2)
4. Hạnh khất thực từng nhà (8)
5. Hạnh nhất toạ thực (11)
6. Hạnh ăn bằng bát (13)
7. Hạnh không để dành đồ ăn (không nhận đồ ăn sau khi đã ăn xong) (12)
8. Hạnh ở rừng (1)
9. Hạnh ở gốc cây (3)
10. Hạnh ở giữa trời (6)
11. Hạnh ở nghĩa địa (5)
12. Hạnh nghỉ chỗ nào cũng xong (10)
13. Hạnh ngồi (không nằm) (9)

Số trong dấu ngoặc đơn (x) là số thứ tự tương ứng trong danh sách 13 pháp đầu-đà của tạng Luật.

* Tham khảo:

1) Tiểu phẩm II, tạng Luật - Parivāra, Vinayapiṭaka. Bhikkhu Indacanda dịch Việt.
https://tamtangpaliviet.net/VHoc/09/09_04.html#11.06

2) Thanh tịnh đạo (Visuddhi Magga), Ni trưởng Trí Hải dịch. Chương II - Hạnh Đầu-đà (Khổ hạnh).

3) Bhikkhu Khantipalo (1965, 1986). With Robes and Bowl: Glimpses of the Thudong Bhikkhu Life
(Với y và bát: Sơ lược về đời sống tỳ-khưu theo hạnh đầu-đà).

4) Kamala Tiyavanich (1997). Forest Recollections: Wandering Monks in Twentieth-Century Thailand
(Các kỷ niệm trong rừng: Du tăng ở Thái Lan trong thế kỷ 20).

*-----*




Sunday, 2 June 2024

Tam Tạng Thánh Điển Phật Giáo Việt Nam

TAM TẠNG THÁNH ĐIỂN PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành

Đề nghị các bạn tìm thỉnh mua 18 cuốn này (như trong ảnh kèm theo), do Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam (Thiền viện Vạn Hạnh, Q. Phú Nhuận, Sài Gòn) ấn hành trong năm 2020-2022. 

Đồng thời, tải về máy tính các tập tin dạng PDF để tham khảo.

I. TAM TẠNG THƯỢNG TỌA BỘ (Pāli tạng)

- Tập 01: Kinh Trường bộ [vn222-01.pdf], 668 trang, 70.2 MB
https://tinyurl.com/bdhztbu7

- Tập 02: Kinh Trung bộ [vn222-02.pdf], 1246 trang, 117.5 MB
https://tinyurl.com/5pb9yan8

- Tập 03: Kinh Tương ưng bộ [vn222-03.pdf], 1432 trang, 127.4 MB
https://tinyurl.com/ycyvnmne

- Tập 04: Kinh Tăng chi bộ [vn222-04.pdf], 1424 trang, 171.2 MB
https://tinyurl.com/ycyn3tej

- Tập 05: Kinh Tiểu bộ I [vn222-05.pdf], 1348 trang, 94.6 MB
https://tinyurl.com/56jm45em

- Tập 06: Kinh Tiểu bộ II [vn222-06.pdf], 1264 trang, 111.6 MB
https://tinyurl.com/y2xdry9c

- Tập 07: Kinh Tiểu bộ III [vn222-07.pdf], 1484 trang, 118.7 MB
https://tinyurl.com/bddxsk7f

- Tập 08: Kinh Tiểu bộ IV [vn222-08.pdf], 1218 trang, 125.3 MB
https://tinyurl.com/yc5cc6mn

- Tập 09: Kinh Tiểu bộ V [vn222-09.pdf], 1268 trang, 115.0 MB
https://tinyurl.com/29b3racx

- Tập 10: Luật tạng - Phân tích giới bổn [vn222-10.pdf], 914 trang, 84.6 MB
https://tinyurl.com/3fpk4h4u

- Tập 11: Luật tạng - Hợp phần, Tập yếu [vn222-11.pdf], 1502 trang, 140.4 MB
https://tinyurl.com/76f7fv4m

II. TAM TẠNG PHẬT GIÁO BỘ PHÁI (Hán tạng)

- Tập 17a: Kinh Trường A-hàm (CĐPH Huệ Nghiêm dịch), [vn222-17a.pdf], 50.8 MB
https://tinyurl.com/3n4xxvcn

- Tập 17b: Kinh Trường A-Hàm (Trung Tâm DT Trí Tịnh dịch), [vn222-17b.pdf], 54.3 MB
https://tinyurl.com/bddkxyde

- Tập 18: Kinh Trung A-Hàm (CĐPH Hải Đức dịch), [vn222-18.pdf], 119.1 MB
https://tinyurl.com/3ms6vrra

- Tập 19: Kinh Trung A-Hàm (Trung Tâm DT Trí Tịnh), [vn222-19.pdf], 145.9 MB
https://tinyurl.com/wfmxrh45

- Tập 20: Kinh Tạp A-Hàm (HT Thiện Siêu, HT Thanh Từ dịch), [vn222-20.pdf], 161.0 MB
https://tinyurl.com/22hbczks

- Tập 21: Kinh Tạp A-Hàm (Trung Tâm DT Trí Tịnh dịch), [vn222-21.pdf], 211.6 MB
https://tinyurl.com/3uhw4s2d

- Tập 22: Kinh Tăng Nhất A-Hàm (HT Thiện Siêu, HT Thanh Từ dịch), [vn222-22.pdf], 82.3 MB
https://tinyurl.com/5cd6xwtj

- Tập 23: Kinh Tăng Nhất A-Hàm (Trung Tâm DT Trí Tịnh), [vn222-23.pdf], 105.3 MB
https://tinyurl.com/2sdtuy26

*-----*


Ghi thêm:

Đề nghị liên hệ trực tiếp để thỉnh mua. Bìa sách phải có hình dạng thiết kế, các tựa đề in trên bìa sách có nội dung tương tự như hình kèm theo.

Phòng Phát Hành Sách
VIỆN NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC VIỆT NAM
Địa chỉ: Số 750, Nguyễn Kiệm, Quận Phú Nhuận, Sài Gòn
Điện thoại: (08) 38448893 – 39974447 - Email: vncphvn@gmail.com 
Trang web: https://vncphvn.com/






Hạnh đầu-đà của Trưởng lão Mahākassapa (Đại Ca-diếp)

HẠNH ĐẦU ĐÀ CỦA TRƯỞNG LÃO MAHĀKASSAPA (ĐẠI CA-DIẾP)
Bình Anson

1) Đức Phật khen Trưởng lão Mahākassapa:
– Trong các đệ tử tỳ-khưu khéo thuyết về hạnh đầu đà, tối thắng là Mahākassapa (AN 1.190).

2) Trưởng lão Mahākassapa trình bày với Đức Phật về nếp sống của mình:
– Bạch Thế Tôn, con là người đã lâu ngày sống ở rừng núi và tán thán hạnh ở rừng núi; con là người đi khất thực và tán thán hạnh khất thực; con là người mặc y phấn tảo và tán thán hạnh mặc y phấn tảo; con là người chỉ dùng ba y và tán thán hạnh chỉ dùng ba y; con là người thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục; con là người biết đủ và tán thán hạnh biết đủ; con là người sống độc cư và tán thán hạnh độc cư; con là người sống không dính mắc chuyện thế tục và tán thán hạnh không dính mắc chuyện thế tục; con là người tinh tấn và tán thán hạnh tinh tấn (SN 16.5).

3) Trưởng lão Mahākassapa trả lời Trưởng lão Sāriputta (Xá-lợi-phất) về các vị tỳ-khưu có khả năng làm sáng chói khu rừng Gosiṅga (MN 32):
– Ở đây, này hiền giả Sāriputta, vị tỳ-khưu tự mình sống ở rừng núi và tán thán hạnh ở rừng núi, tự mình đi khất thực, và tán thán hạnh khất thực, tự mình mặc y phấn tảo và tán thán hạnh mặc y phấn tảo, tự mình chỉ dùng ba y và tán thán hạnh chỉ dùng ba y, tự mình sống thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục, tự mình sống biết đủ và tán thán hạnh biết đủ, tự mình sống độc cư và tán thán hạnh sống độc cư, tự mình sống không dính mắc chuyện thế tục và tán thán hạnh không dính mắc chuyện thế tục, tự mình tinh tấn và tán thán hạnh tinh tinh tấn, tự mình thành tựu giới hạnh và tán thán sự thành tựu giới hạnh, tự mình thành tựu thiền định và tán thán sự thành tựu thiền định, tự mình thành tựu trí tuệ và tán thán sự thành tựu trí tuệ, tự mình thành tựu giải thoát và tán thán sự thành tựu giải thoát, tự mình thành tựu tri kiến của giải thoát và tán thán sự thành tựu tri kiến của giải thoát. Này hiền giả Sāriputta, hạng tỳ-khưu như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosiṅga.

4) Theo Tiểu phẩm, tạng Luật (Parivāra, Vinayapiṭaka), Đức Phật giảng cho ngài Trường lão Upāli về mười ba pháp đầu đà như sau (Pvr 17.6 - Upālipañcaka):

(1) Hành pháp ngụ ở rừng,
(2) hành pháp đi khất thực,
(3) hành pháp ngụ ở gốc cây,
(4) hành pháp chỉ mặc y paṃsukūla (phấn tảo),
(5) hành pháp ngụ ở mộ địa,
(6) hành pháp ngụ ngoài trời,
(7) hành pháp mặc ba y,
(8) hành pháp đi khất thực theo từng nhà,
(9) hành pháp giữ oai nghi ngồi,
(10) hành pháp ngụ chỗ ở theo chỉ định,
(11) hành pháp một chỗ ngồi (khi thọ thực, nhất tọa thực),
(12) hành pháp không ăn vật thực dâng sau, và
(13) hành pháp thọ thực trong bình bát.

5) Tôi không tìm thấy thông tin nào trong Chánh Tạng Pāli (tạng Kinh, tạng Luật, tạng A-tỳ-đàm) ghi rằng ngài Trưởng lão Mahākassapa thực hành cả 13 pháp đầu đà nêu trên.

Thêm vào đó, tôi cũng không thấy việc đi bộ du hành từ nơi nầy đến nơi khác được ghi trong 13 pháp đầu đà hay trong các đoạn kinh về nếp sống đầu đà của ngài Mahākassapa.

– Bình Anson
Perth, Western Australia
01/06/2024

*-----*




Thursday, 11 April 2024

Dịch kinh và Đại học - HT Thích Minh Châu

DỊCH KINH VÀ ĐẠI HỌC
Hòa thượng Thích Minh Châu
Chánh pháp và Hạnh phúc
(Nxb Tôn Giáo, 2001) 
 

Khi chúng tôi bắt đầu dịch kinh Pāli ra tiếng Việt, có người bảo là một phận sự thuần chất tôn giáo, không dính gì đến Đại học. Có người khắt khe hơn lại chỉ trích: “Đang làm Viện trưởng một Viện Đại học mà dịch kinh là sẽ có hại cho trách nhiệm điều khiển một Đại học”.  

Chúng tôi muốn chứng minh rằng dịch kinh như chúng tôi đang làm cũng là một dịch vụ Đại học, không những không có xung khắc mâu thuẫn, mà chính tiêu biểu tốt đẹp cho thâu hóa kiến thức và văn hóa nhân loại, và phát huy tinh thần cầu tiến, nghiên cứu, sáng tạo của Đại học.   

Trước hết, dịch kinh như là một phận sự chính của những vị tu hành đi qua Ấn Độ tu học. Như ngài Pháp Hiển người Trung Hoa, đi qua Ấn Độ và Tích Lan vào thế kỷ thứ tư để lại một số dịch phẩm quan trọng có thể dịch từ chữ Sanskrit, Prakrit, Pāli qua chữ Hán. Ngài Huyền Trang, một nhà chiêm bái Trung Hoa thế kỷ thứ 7 TL, đã du học trên 17 năm, và khi về nước đã dịch tất cả là 77 bộ kinh từ chữ Phạn ra chữ Hán. Rồi đến ngài Nghĩa Tịnh người Trung Hoa vào thế kỷ thứ tám cũng đi qua du học tại Ấn Độ với một nhà sư Việt Nam, ngài Đại Thặng Đăng và khi về dịch từ tiếng Phạn qua chữ Hán. Còn các vị sư Ấn Độ qua Việt Nam và qua Trung Hoa cũng dịch kinh từ tiếng Phạn qua tiếng Trung Hoa, và những bậc dịch sư danh tiếng như ngài Sanghadeva (Tăng-già-đề-bà), đã dịch tập Trung A-hàm, ngài Cưu-ma-la-thập đã dịch tập Ma-ha Bát-nhã, Diệu Pháp Liên Hoa, v.v.   

Chính công trình của các quý vị dịch sư này đã xây dựng nên Tam tạng Trung Hoa, một dịch tạng phong phú nhất trong các dịch tạng. Thật sự, vấn đề dịch kinh điển là một công trình văn hóa hơn là một công trình tôn giáo, và ba tạng giáo điển Phật giáo không những phong phú nhất về lượng mà cũng dồi dào nhất về những uyên thâm triết lý và tinh vi nhất về những phương pháp tu hành. Những danh từ "dhammacakkam pavatteti" (chuyển pháp luân), "dhammam deseti" (thuyết pháp) mang nặng tính cách trao truyền chân lý, truyền thừa pháp môn. Vì vậy phiên dịch kinh điển là một dịch vụ thuần túy văn hóa và rất phù hợp với công tác Đại học.   

Khi chúng tôi dịch từ tiếng Pāli ra tiếng Việt là chúng tôi muốn giới thiệu ba tạng Pāli cho các Phật tử và học giả Việt Nam, một Tam tạng Kinh điển rất phong phú, rất gần với lời dạy nguyên thủy của Đức Phật, lại được phổ biến rất rộng rãi khắp năm châu, qua công trình dịch thuật của Hội Pāli Text Society, London, Anh Quốc.   

Chúng tôi lại đặc biệt dịch Kinh tạng, là một trong ba tạng được xem là ghi chép trung thành và thuần túy nhất những lời dạy nguyên thủy của Đức Phật. Từ trước cho đến nay, tuy có một số kinh điển được dịch từ tiếng Pāli ra tiếng Việt, nhưng phần lớn là trích dịch, và các kinh được dịch phần lớn dùng để tụng đọc trong các nghi lễ nên có tính cách tôn giáo nhiều hơn. Ở nơi đây, chúng tôi cố gắng dịch trọn vẹn, không bỏ qua một kinh nào, và dịch có in nguyên bản Pāli đối chiếu với dụng ý để người đọc có thể tự mình tìm hiểu nguyên nghĩa của từng chữ từng câu, khỏi rơi vào những giải thích hay lệch lạc của người dịch. Kinh Pāli được bắt đầu giới thiệu cho người Việt Nam và người Việt Nam lần đầu tiên được đọc thẳng Kinh tạng Pāli bằng tiếng Việt có nguyên bản Pāli đối chiếu.    

Không những chúng tôi giới thiệu Kinh tạng Pāli cho các Phật tử và học giả Việt Nam tụng đọc, chúng tôi còn cống hiến cho các học giả Việt Nam những tài liệu nghiên cứu và tham khảo để viết những tham luận về Phật giáo. Từ trước các học giả có viết về Phật giáo chỉ có thể trích dẫn các sách, do các người ngoại quốc viết về Phật giáo, khó có thể tham chiếu từ tạng Pāli hay tạng Hán, và như vậy có thể hiểu lầm và sai lạc. Nay các học giả có thể trích dẫn nơi bản dịch từ văn Pāli ra tiếng Việt của chúng tôi, lại có thêm nguyên văn Pāli đối chiếu. Như vậy sự trích dẫn được chính xác và khỏi lệch lạc.

Khi chúng tôi giới thiệu kinh tạng Pāli với các bản dịch năm bộ Nikāya (Trường bộ kinh, Trung bộ kinh, Tương ưng bộ kinh, Tăng nhất bộ kinh, Tiểu bộ kinh), chúng tôi gián tiếp giới thiệu bốn bộ A-hàm là Trường A-hàm, Trung A-hàm, Tạp A-hàm, Tăng nhất A-hàm và vô số kinh tương đương khác thuộc nhiều học phái khác mà từ trước đến nay, rất ít người tham khảo. Trường A-hàm được Hòa thượng Thích Thiện Siêu dịch ra Việt văn nhưng không được đầy đủ. Trung A-hàm được Hòa thượng Thích Thanh Từ và Đại đức Tuệ Sỹ dịch ra Việt văn nhưng chỉ dịch một số kinh và cũng chưa in thành sách. Bản chữ Hán tuy có học tại các Phật học viện, nhưng cũng chỉ trích học. Bản chữ Hán được dịch vào thế kỷ thứ 2 sau Tây lịch nên rất xưa và khó hiểu và ít được có người tham khảo. Chúng tôi xin kể sơ một ít danh từ được ngài Sanghadeva dịch từ tập Mādhyāmāgama (Trung A-hàm) ra chữ Hán. Như chữ Vedanā dịch là giác, sau dịch là thọ; Savitakka, Savicāra, ngài dịch là hữu giác, hữu quán, về sau dịch là hữu tầm, hữu tứ; Phassa, ngài dịch là cánh lạc, về sau dịch là xúc. Chúng tôi hy vọng khi bản Pāli được trích dịch, thời nhiều đoạn A-hàm, tương đương được sáng nghĩa hơn, và sẽ có nhiều vị tiếp tục dịch các bộ A-hàm một cách trọn vẹn và đầy đủ. Bốn bộ A-hàm và một số rất nhiều bài kinh chưa được phân loại là những tài liệu rất quý giá đề cập đến các học phái, mà nay hình như chỉ có ông André Bareau người Pháp nghiên cứu.   

Chúng tôi hy vọng trong một thời gian gần đây, sẽ có một số học giả nghiên cứu đến những tài liệu này và sẽ khám phá rất nhiều tài liệu Phật giáo mới lạ và hy hữu. Cho nên khi dịch các tài liệu Pāli, chúng tôi hy vọng mở đường cho nhiều nghiên cứu khác đặt nặng vào bốn bộ A-hàm và các kinh điển khác rải rác trong Tam Tạng. Như vậy trong khi chúng tôi trực tiếp giới thiệu kinh tạng Pāli, chúng tôi gián tiếp giới thiệu kinh tạng A-hàm và tương đương, và sự đóng góp này mang nặng tính chất vừa văn hóa, vừa Đại học.   

Cho dịch và cho in các bản kinh Pāli, chúng tôi không mong muốn gì hơn là để các Phật tử, các học giả, các sinh viên được đọc thẳng vào những kinh điển thật sự nguyên thủy hay gần nguyên thủy nhất, và tự mình tìm hiểu những lời dạy thật sự của Đức Phật, khỏi phải qua những lập trường của các bộ phái. Nhất là khỏi phải qua những xuyên tạc của những học giả và những Phật tử muốn giải thích đạo Phật theo dục vọng và tà kiến của mình. Muốn chạy theo dục vọng, thì giải thích kinh điển một cách dễ hiễu rằng đạo Phật chấp nhận và tha thứ dục vọng. Muốn giết người và muốn bênh vực kẻ giết người, đạo Phật được giải thích như là có thể tha thứ và chấp nhận sự giết người. Muốn chạy theo tà giáo và tà kiến, lại giải thích đạo Phật viên dung vô ngại, chấp nhận mọi tà kiến, mọi tà thuyết. Tà kiến nào, tà thuyết nào cũng là Phật giáo được hết! Muốn tránh những tai nạn trên, cần nhất là phổ biến những kinh điển thật sự nguyên thủy hay gần nguyên thủy nhất, để Phật tử được đọc thẳng ngay kinh Phật, khỏi qua một ống kính màu nào. Đạo Phật cần những cá nhân Phật tử biết suy tư, biết phân tích, biết tự tìm hiểu, rồi xác nhận sự hiểu biết của mình, ngang qua sự hành trì, kinh nghiệm cá nhân.   

Đạo Phật không cần đến những đoàn người theo đạo Phật, theo một cách ồ ạt mù quáng, theo một cách thụ động nhắm mắt, hay tự mình bóp méo xuyên tạc đạo Phật theo tà kiến dục vọng của mình. Chính Đại kinh Bát-niết-bàn (DN 16) có ghi rằng dù chúng ta có nghe vị tỳ-kheo nào nói tự thân nghe Đức Phật, tự thân nghe các vị thượng tọa, thủ chúng v.v. nói như vậy là Pháp, như vậy là Luật, Đức Phật khuyên cũng không được tán thán, đả kích, chấp thuận hay từ bỏ ngay, mà phải so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật, có phù hợp mới được chấp nhận, không phù hợp thời phải từ bỏ. Đạo Phật đòi hỏi sự nhận xét, tìm hiểu, suy tư cá nhân rất nhiều. Nhưng chúng ta chỉ có thể nhận xét, tìm hiểu, suy tư khi chúng ta chỉ có thể nhận xét, tìm hiểu, suy tư khi chúng ta được đọc những lời dạy nguyên thủy nhất hay gần nguyên thủy nhất của Đức Phật.   

Chúng tôi dịch kinh Pāli, không vì mục đích muốn ủng hộ hay không muốn ủng hộ một học phái nào, một lập trường nào. Mục đích của chúng tôi chỉ muốn giới thiệu những kinh điển có thể được xem là nguyên thủy hay gần nguyên thủy nhất, để người đọc có thể tìm hiểu lời dạy chân chính của Đức Phật, khỏi qua ống kính của một học phái nào, dù Ấn Độ, Trung Hoa hay Việt Nam. Chúng tôi cũng không có trách nhiệm nêu lên cho độc giả rõ, đoạn nào là nguyên thủy, đoạn nào không phải nguyên thủy. Chỉ có người đọc, sau khi tự mình đọc, tự mình tìm hiểu, tự mình suy tư, tự mình quan sát, tự mình chứng nghiệm trên bản thân, mới có thể tự mình hiểu và thấy đoạn nào là thật sự nguyên thủy. Trách nhiệm tìm hiểu, chứng nghiệm cá nhân là trách nhiệm của người đọc, không phải của người dịch, vì đạo Phật là đạo đến để mà thấy chứ không phải đạo đến để nhờ người thấy hộ, đạo của người có mắt (cakkhumato), không phải đạo của người nhắm mắt, đạo của người thấy, của người biết (jānato passato), không phải là đạo của người không thấy, không biết (ajānato apassato). Nên chỉ có người đọc mới có thể tự mình thấy, tự mình hiểu và tự mình chứng nghiệm.   

Thật sự chúng tôi chỉ mong rằng quý vị hãy đọc thật kỹ và suy tư thật chín chắn, những đoạn mà chúng tôi phiên dịch rồi quý vị hãy tự hỏi, những đoạn ấy có phải là những đoạn “Tiểu thừa” dành riêng cho những vị có tiểu tâm, chỉ biết tư lợi không biết vị tha, chỉ biết tự giác không biết giác tha. Như chúng tôi đã phân tích trong lời giới thiệu bản dịch tập "Đại thừa và sự liên hệ với Tiểu thừa", chúng ta đừng có mắc bẫy các vị Bà-la-môn Ấn Độ giáo đã tìm cách gán cho chữ "Tiểu thừa", để loại ra ngoài những lời Phật dạy căn bản, như một số Phật tử Đại thừa đã bị mê hoặc, không dám đọc những lời Phật dạy, vì sợ bị gán nhãn hiệu Tiểu thừa. Bên phái Nam tông, tuy tôn thờ Tam tạng Pāli, nhưng một số Phật tử cũng rơi vào một nạn tương tự, là chỉ học Luật tạng và A-tỳ-đàm tạng, bỏ rơi Kinh tạng Pāli, vì xem A-tỳ-đàm tạng mới đề cập đến Đệ nhất Nghĩa đế, còn Kinh tạng chỉ bàn đến Tục đế mà thôi. Đây cũng là một lầm lạc hết sức ngây thơ và nguy hiểm. Vì A-tỳ-đàm phát xuất từ Kinh tạng, và bỏ gốc để tìm ngọn thì không khác gì kẻ đi tìm lõi cây, mà chỉ mang về cành lá. Thật sự, đạo Phật đâu có phân biệt Tiểu thừa và Đại thừa, đâu có chia đôi Chân đế, Tục đế. Những sự phân chia này chỉ là hậu tác phẩm, hoặc của giáo sĩ Bà~la- môn mang danh Phật tử muốn loại bỏ những gì tinh túy nhất của đạo Phật không cho Phật tử học và tu, hay của một số đệ tử Phật muốn làm tổ sư một giáo phái, nên đề xướng các chủ thuyết lấn át những lời dạy nguyên thủy của Đức Phật.   

Thật sự chúng ta chỉ có một trách nhiệm, tìm đọc và tìm hiểu những lời dạy thật sự là những lời dạy của Đức Phật, và vì trách nhiệm ấy mà chúng tôi đang cố gắng phiên dịch Kinh tạng Pāli ra Việt ngữ. Chúng ta chỉ cần đọc, cần suy tư chín chắn và rồi chính chúng ta tự ý thức đâu là những lời dạy trung thực của đức Bổn Sư chúng ta.   

Đây là sự đóng góp của Viện Đại học Vạn Hạnh vào nền văn hóa Phật giáo bằng cách giới thiệu một cách đầy đủ và trung thực những tàỉ liệu tiếng Việt quý báu nhất về kinh tạng Pāli, vừa cho các Phật tử tìm hiểu, thực hành và thực chứng, vừa giúp các học giả Phật giáo có những tài liệu tham khảo khá đầy đủ và trung thực. Viện Đại học Vạn Hạnh là môi trường đầu tiên nếu không phải là độc nhất, đã cố gắng giới thiệu Kinh tạng Pāli cho Phật tử Việt Nam, học giả Vìệt Nam, dân chúng Việt Nam. Viện Đại học Vạn Hạnh cũng đi tiên phong mở đường cho một cao trào nghiên cứu đi thẳng vào lời dạy nguyên thủy của Đức Phật, khỏi bị những lệch lạc của học phái hay của Bà-la-môn giáo. Điều quan hệ hơn nữa, Viện Đại học Vạn Hạnh muốn khuyến khích các học giả và các Phật tử, tự mình mở mắt tìm hiểu, suy tư, đối chiếu, không có nhắm mắt tin theo, không có thụ động chấp nhận, trái lại phải biết thâu hóa, so sánh, phân tích, để làm sáng tỏ những lời dạy nguyên thủy của Đức Phật.   

–  Hòa thượng THÍCH MINH CHÂU
Chánh pháp và Hạnh phúc (Nxb Tôn Giáo, 2001)

*-----*




Monday, 1 April 2024

Thành phố Perth, nơi tôi sinh sống - Bình Anson

 THÀNH PHỐ PERTH, NƠI TÔI SINH SỐNG    

Tôi từ Thái Lan đến định cư tại thành phố Perth của bang Tây Úc, Australia vào giữa năm 1977. Từ đó đến nay, nhìn lại đã 47 năm sống tại thành phố này, xem như là hai phần ba cuộc đời. Trong thời gian này, mặc dù tôi có nhiều dịp đi viếng các thành phố khác của Úc, cũng như vài thành phố ở Mỹ, tôi vẫn cảm thấy Perth và Tây Úc như là quê hương thứ hai của mình, và rồi sẽ sống ở đây cho đến mãn cuộc đời. Tôi thường nói đùa là trong một kiếp xa xưa nào đó, có lẽ mình đã từng là một con Kăng-ga-ru tung tăng ở vùng đất này, cho nên kiếp này có nhân duyên trở về sống nơi quê xưa chốn cũ.

Như đã từng chia sẻ trong một dịp trước, trong đời tôi – một cư sĩ Phật tử gốc Việt, tôi chỉ có 2 ước nguyện: (1) đi viếng thăm bốn nơi động tâm như ghi trong kinh điển là nơi Đản sinh, Thành đạo, Chuyển Pháp luân, Bát-niết-bàn (Nepal và Ấn Độ) và sáu địa điểm kết tập, trùng tuyên kinh điển Pāli (Ấn Độ, Sri Lanka và Myanmar); và (2) đi viếng các thành phố, thị trấn dọc theo bờ biển hình chữ S của Việt Nam. Đã thực hiện được hai ước nguyện đó rồi, tôi không còn mong ước đi du lịch tham quan nơi nào khác. 

Hôm nay bỗng nhiên nổi hứng, vào Google tìm bản đồ thành phố Perth, rồi thử khoanh một vòng tròn với bán kính là 50 km, tâm điểm là trung tâm hành chính, thương mại của Perth. Mới thấy mình rất may mắn, được sống ở một nơi có đầy đủ những địa điểm quan trọng và cần thiết cho năm tháng còn lại của đời mình. Một thành phố gần sông xanh, biển sạch, mà cũng không xa vùng đồi núi với các hồ nước thiên nhiên. Cư dân hiền hòa, thân thiện. Sinh hoạt xã hội tương đối ổn định, trật tự, an ninh, không có nhiều chuyện phức tạp, tiêu cực như ở các thành phố lớn khác. Các bệnh viện, các phương tiện y tế đều đầy đủ tiện nghi và tương đối dễ tiếp cận. Hàng quán với đủ loại thức ăn Âu Á với giá cả phải chăng, trong tầm tay. Hơn nữa, Perth có cùng một múi giờ với Singapore – đi trước Sài Gòn và Bangkok một giờ, rất tiện liên lạc qua các phương tiện viễn thông. Ngày nay lại có đường bay thẳng từ Perth đến Singapore, Kuala Lumpur, Bangkok và Sài Gòn, chỉ mất 5 hay 6 giờ bay.

Perth có không khí trong lành, không ô nhiễm. Thời tiết tương đối ôn hòa, không quá lạnh giá mà cũng không quá nóng bức. Mùa đông – từ tháng 6 đến tháng 8 ­– có nhiều mưa, không lạnh lắm, ban đêm khoảng 8 độ C, ban ngày khoảng 20 độ C. Mùa hè – tháng 12 đếng tháng 2 ­– tương đối nóng hơn, ban đêm 18 độ C, ban ngày 30 độ C, chỉ có vài ngày nhiệt độ có thể lên đến 40 độ C. Thời gian tốt nhất để đến viếng Perth là vào mùa xuân, từ tháng 9 đến tháng 11, không mưa, thời tiết mát mẻ, dễ chịu, với nhiều loại hoa dại trong rừng nở rộ khắp nơi.

Trong sinh hoạt Phật giáo, Perth có nhiều chùa của các sắc tộc châu Á – chùa Việt, chùa Hoa, chùa Thái, chùa Khmer, chùa Myanmar, chùa Sri Lanka. Đặc biệt nhất là có các hoạt động thường xuyên, đều đặn của Hội Phật giáo Tây Úc do ngài Thiền sư Ajahn Brahm làm cố vấn tinh thần, với Tăng viện Bodhinyana dành cho các tỳ-khưu, Ni viện Dhammasara dành cho các tỳ-khưu-ni, và Thiền trang Jhana Grove với các khóa tu thiền dành cho cư sĩ. Tất cả các địa điểm đó đều nằm trong phạm vi 50 km, tiếp cận dễ dàng. 

Nhìn chung, Perth chỉ là một thành phố bình thường, không có điểm đặc biệt nổi bật nào so với các thành phố khác trên thế giới, nhưng với một người cao niên trong tuổi nghỉ hưu như tôi, đây là nơi thích hợp cho cuộc sống trầm lặng, nhẹ nhàng thong thả thảnh thơi của tuổi già.

– Bình Anson
Perth, Tây Úc. 
31/03/2024

*-----*