Sunday, 28 May 2017

Bài hát Thí Dụ của Trịnh Công Sơn và thí dụ tu tập

Hôm qua tình cờ nghe bài hát Thí Dụ (sau nầy đổi tên là “Rơi Lệ Ru Người”) của Trịnh Công Sơn do Khánh Lý hát. Lâu lắm rồi mới nghe lại, sao mà thấy thấm quá! Bèn nổi hứng lấy cây đàn guitar đã đóng bụi ở góc phòng ra đệm hát nghêu ngao cho vui. 

Tìm được bài hát có nốt nhạc và hợp âm có sẵn trên mạng, nhưng không hát được vì tông cao quá. Nghe thử các ca sĩ hát. Cô Khánh Ly và Diệu Phương hát giọng thấp (tông D), các cô ca sĩ trẻ hát với giọng cao, cao nhất là Nguyên Thảo (tông F#). Mình già rồi, không còn hơi sức để hát theo các cô trẻ. Nghe Khánh Ly hát vài lần, đối chiếu với nốt nhạc, in lời trên một tờ giấy rồi ghi chú bằng bút chì, sửa đi sửa lại theo cách nghe của mình và cách bấm hợp âm, cách khảy đàn của riêng mình. Tập tới, tập lui thêm vài lần nữa là tạm nghe được, hát theo được và uyển chuyển theo cách hát, cảm xúc của mình. Bắt đầu với giọng trầm của Khánh Ly, gắn Capo vào cây đàn, tăng lên 2 nấc nữa, từ hợp âm D trưởng (Ré major) nâng lên E trưởng (Mi major) là vừa với giọng của mình. Thế là vui!

Từ đó suy ngẫm về chuyện tu tập. Mình phải biết tùy duyên, phải biết khéo léo uyển chuyển linh động. Dựa vào một số nguyên tắc và hiểu biết căn bản, quan sát, ghi nhận, học tập phương cách tu tập của người khác, rồi thử áp dụng cho mình, thay đổi, chỉnh sửa cho hợp với hoàn cảnh, căn duyên của mình. Không ai giống ai. Phải tự mình tìm tòi, tu tập, thắp đuốc mà đi.





Thí Dụ - Trịnh Công Sơn (1975)
1) Thí dụ bây giờ tôi phải đi
Tôi phải đi
Tay chia ly cùng đời sống này
Có chiều hôm đưa chân tôi
Về biên giới mới
Nghe ra
Quanh tôi đêm dài
Có còn ai trong yên vui về yêu dấu
Ngồi rơi lệ ru người từ đây
2) Thí dụ bây giờ em phải đi
Em phải đi
Đôi tay em dù ưu ái đời
Em phải đi
Đôi môi ngon dù chưa chín tới
Quanh em trăm năm khép lại
Có còn ai mang hoa tươi
Về yêu dấu
Ngồi quên đời xoá hết cuộc vui
.. Có còn, Có còn em
.. Im lìm trong chiều hôm
.. Nước mắt rơi cho tình nhân
.. Nếu còn, Nếu còn em
.. Xin được, xin nằm yên
.. Đất đá hân hoan một miền
3) Nếu thật
Hôm nào em bỏ đi
Em bỏ đi
Sau lưng em còn con phố dài
Những hàng cây loan tin nhau
Rồi im tiếng nói
Quanh đây hoang vu tiếng cười
Có ngày xưa em theo tôi
Cùng ra quán ngồi
Bên đời xe ngựa ngược xuôi
4) Nếu thật
Hôm nào tôi phải đi
Tôi phải đi
Ôi bao nhiêu điều chưa nói cùng
Với bình minh
Hay đêm khuya
Và từng trưa nắng
Bao nhiêu sen xanh, sen hồng
Với dòng sông hay anh em
Và những phố phường
Chắc lòng rất khó bình an
.. Có còn, Có còn em
.. Im lìm trong chiều hôm
.. Nước mắt rơi cho tình nhân
.. Nếu còn, Nếu còn em
.. Xin được, xin nằm yên
.. Đất đá hân hoan một miền
Nghe nhạc:
1) Khánh Ly hát:
2) Diệu Phương hát:


* * *

Thursday, 25 May 2017

Chỉ cần giúp MỘT người thôi

Nhiều năm trước, có lần ngài Ajahn Brahm nói, đại ý là khi biết được Đạo Phật và quyết định xuất gia, ngài nguyện trong lòng là cố gắng làm sao giúp MỘT người nào đó thấy được lợi lạc của giáo pháp và tu tập là ngài mãn nguyện rồi. Cho đến nay, ngài nói có lẽ ngài đã giúp được hơn một người, và như thế xem như ngài rất mãn nguyện.

Tôi tâm đắc với ý tưởng đó. Tôi hoàn toàn không bao giờ có ý nguyện làm thầy, làm bồ-tát hay anh hùng để cứu nhân độ thế, giáo hóa chúng sinh. Tôi chỉ cần giúp MỘT người bạn nào đó thấy được giáo pháp của Đức Phật là tôi hoan hỷ, mãn nguyện lắm rồi.

Dĩ nhiên đây chỉ là ý kiến của một cá nhân. Có thể người khác có ý nguyện khác. Không sao cả. Không đúng mà cũng chẳng sai. Mỗi người có phương cách sống và tu tập theo duyên nghiệp, hoàn cảnh và tâm tư riêng của mình.

*

Monday, 22 May 2017

Trăm nghe không bằng một thấy - Thân hành niệm

TRĂM NGHE KHÔNG BẰNG MỘT THẤY - THÂN HÀNH NIỆM

Sáng nay trong Paltalk, tôi chia sẻ vài hiểu biết, kinh nghiệm cá nhân về pháp “quán thân bất tịnh” (asubha bhavana), mà theo tôi, có lẽ nên hiểu là “quán thân bất mỹ” (không đẹp đẻ, không hấp dẫn - unattractive). Trong đó, tôi đề nghị một phương pháp đơn giản nhưng rất hiệu nghiệm – đã từng được tôi và một số bạn đạo áp dụng: Dành ra một ngày nào đó đi chợ, đến gian hàng bán thịt heo (lợn), mua một miếng thịt sườn, một miếng thịt ba-rọi (da, mỡ, thịt), một trái tim, một trái cật, một miếng gan, một miếng phổi, bao tử (dạ dày), ruột.

Đem về nhà, rửa tay cho sạch, cầm từng miếng lên, ngắm nghía hình dạng, sờ mó để biết độ cứng mềm, có thể đưa lên lên mũi để ngửi … Đừng vội vàng nghĩ đến việc chế biến, nấu nướng. Hãy tập trung vào việc nhìn, sờ, ngửi, quan sát từng miếng. Làm chậm rãi thong thả, ghi nhận, suy ngẫm về bản chất của chúng. Cơ thể của mình hay của người khác cũng chỉ có thế thôi. Không dơ mà cũng chẳng sạch. Không có gì thơ mộng, thơm tho, hấp dẫn. Thực tế nó là như thế.

Chỉ nghe kể lại, đọc mô tả, bàn luận, xem hình ảnh và video, suy tư, … thì cũng tốt, nhưng theo tôi vẫn chưa đủ. Nhìn tận mắt, sờ tận tay, ngửi tận mũi thì sẽ hiểu rõ hơn, có ấn tượng sâu đậm hơn trong tâm thức mình. Trăm nghe không bằng một thấy.

Sau đó đem đi luộc chấm mắm tôm, mắm nêm, hay nấu cháo lòng, hoặc đem khìa làm phá lấu để ăn. Cảm tưởng lúc ăn sẽ khác đi, không còn nhiều dính mắc vào đó như lúc trước. Quan trọng hơn nữa, cái nhìn về cơ thể của mình và của người khác cũng sẽ có phần thay đổi, thực tế và khách quan hơn.

-----------------
GHI THÊM:

Sau khi đăng bài nầy, tôi nhận được vài phản hồi. Tôi cảm thấy một số bạn có lẽ đã hiểu lầm về mục đích của việc thực tập nầy. Ở đây, mục đích không phải để chúng ta gờm nhớm, ghê tởm thức ăn hay thân thể – đó là pháp quán tử thi – mà là để chúng ta có một cái nhìn khách quan, trung thực về cấu tạo của thân thể của mình và của người khác, giúp chúng ta vượt qua nỗi ám ảnh, bận tâm về ái dục.

Theo đoạn kinh sau đây, trong bài kinh Thân Hành Niệm (Kāyagatāsati, MN 119), Đức Phật dạy chúng ta phải quán sát cơ thể như là một bao vải chứa các loại ngũ cốc khác nhau – gồm các loại đậu và các loại gạo. Đổ các loại ngũ cốc đó ra khỏi bao vải, rồi khách quan quán sát từng loại hạt. Từ đó, không còn bị ám ảnh bởi các lôi cuốn của ái dục nữa. Nhờ thế, tâm được định tĩnh, dễ an định, tập trung.

Trích Kinh Thân Hành Niệm – Mindfulness of the Body 
(Kāyagatāsati Sutta, MN 119)

– Lại nữa, này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên trên cho đến đỉnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt: “Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu”. Cũng như một bao đồ, hai đầu trống đựng đầy các loại hột như gạo, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo đã xay rồi. Một người có mắt, đổ các hột ấy ra và quán sát: “Ðây là hột gạo, đây là hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây là mè, đây là hột lúa đã xay rồi”. Cũng vậy, vị tỳ-khưu quán sát thân này dưới từ bàn chân trở lên trên cho đến đỉnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt: “Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu”.

Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm và tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, là cách vị tỳ-khưu tu tập thân hành niệm.

*


Wednesday, 17 May 2017

Cao lương mỹ vị

Vài ý tưởng cho những ai có tâm hồn ăn uống (như tôi)

Đang hiệu đính lại đoạn viết về "THÂN HÀNH NIỆM" trong cuốn Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi-magga, Path of Purification), bản dịch Việt của Ni sư Trí Hải. Đọc đến đoạn nầy thì giật mình, rồi bâng khuâng, suy tư. Một ngàn năm trăm năm trước, ngài Luận sư Buddhaghosa đã thấy rõ và mô tả tỉ mỉ những gì chúng ta thường cho là các món cao lương mỹ vị sau khi nuốt vào bụng rồi thì cũng như nhau.

--------------------

Trích đoạn:

(...)
120. (Những thứ nuốt nào bụng) Ðây là những gì đã được ăn, uống, nhai, nếm và đang có mặt ở trong dạ dày. Về màu sắc, nó có màu của thức ăn đã được nuốt vào. Về hình dáng, nó có dáng một túi vải buộc lơi lỏng chứa cơm bên trong. Về phương hướng nó nằm hướng trên. Về trú xứ, nó ở trong dạ dày.

121. Cái được gọi dạ dày là một phần của màng ruột, nó giống như một tấm vải ướt dài được vặn hết nước ở hai đầu, ở giữa căng phồng lên với không khí bên trong. Bên ngoài dạ dày láng lẩy, nhưng bên trong, nó giống cái bong bóng vải bị dơ vì gói cặn bả thịt, hoặc là giống bên trong của một cái vỏ trái mít thối. Ðó là nơi những dòi trùng sống lúc nhúc như rừng: ba mươi hai gia đình những sán lãi như lãi kim, lãi đũa v.v. Khi nào không có ăn uống gì vào, chúng nhảy lên kêu gào và vồ lấy thịt ở quả tim, còn khi có thức ăn uống được nuốt vào, thì chúng chờ đợi với những cái mồm ngóc lên, tranh nhau giật lấy hai ba miếng nuốt xuống đầu tiên.

Dạ dày vừa là nhà bảo sinh, vừa là nhà xí; vừa là bệnh viện, vừa là nghĩa trang của những con trùng này. Hệt như vào thời hạn hán, bỗng có một trận mưa, thì những gì được nước cuốn vào cống rãnh ở cổng của một khu làng hạ tiện, nghĩa là đủ thứ dơ dáy như nước tiểu, phân, những mảnh da, xương gân, cũng như đờm, dãi máu v.v. Những thứ ấy trộn lẫn với nhau cùng với bùn và nước đã được tụ ở đây, rồi hai ba ngày sau những quyến thuộc sâu bọ xuất hiện, những thứ ấy lên men, được hâm nóng bởi sức nóng mặt trời, nên sủi bọt lên trên, đen ngòm hôi hám và ghê tởm đến nổi người ta không thể nào tới gần, hay nhìn vào đó, huống chi là ngửi và nếm.

Cũng vậy, dạ dày là nơi mà đủ thứ thức ăn uống lọt vào sau khi được nghiền bởi cái chày răng, được đảo qua đảo lại bằng cái bàn tay của lưỡi, được làm dính vào nhau bằng đờm và nước miếng, lúc đó nó đã mất hết màu sắc hương vị, để khoát lấy bộ mặt của đống hồ thợ dệt, và của đồ chó mữa, để rồi được nhúng trong mật, đàm, phong đã tụ ở đấy, và nó lên men do năng lực của sức nóng trong dạ dày, sôi sục theo bầy sán dòi, sủi bọt ở trên mặt cho đến khi nó biến thành một thứ phân uế, hoàn toàn thối tha nôn mửa, chỉ cần nghe nói tới cũng đủ làm người ta hết muốn ăn uống, chứ đừng nói gì đến nhìn nó bằng con mắt tuệ.

Và khi đồ ăn uống rơi vào dạ dày, chúng được chia thành năm phần: sán lãi, vi trùng một phần, lửa bao tử đốt cháy hết một phần, một phần biến thành nước tiểu, một phần nữa thành phân, phần cuối cùng mới biến thành dưỡng chất, bồi bổ máu thịt, v.v.

122. Về ranh giới, nó (những thứ nuốt nào bụng) được giới hạn bằng cái bọc chứa và bởi những gì thuộc dạ dày.
(...)

Sunday, 16 April 2017

Tóm tắt kinh Hạnh Phúc (Mangala Sutta, Sb 2.4, Khp 5)


1) Không gần kẻ ngu si, 
Thân cận người hiền trí, 
Cúng dường bậc xứng đáng, 
Là điềm lành tối thượng

Đầu tiên là 3 điềm lành: tránh xa kẻ ngu (bāla, fool, ignorant), thân cận người hiền trí, thiện tri thức (pandita), cúng dường (pūjā) những bậc xứng đáng để được cúng dường. Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Người ngu ở đây là người không biết phân biệt thiện ác và có khuynh hướng theo các điều xấu ác. Bậc trí hiền là những người có đạo đức, tinh cần học và hành trong giáo pháp. Tôn kính và dâng tặng phẩm vật đến các bậc tôn túc, phẩm hạnh thanh cao là một điều quý nên làm.

2) Ở trú xứ thích hợp,
Quá khứ tạo nhân lành,
Hướng tâm theo lẽ chánh,
Là điềm lành tối thượng

Có 3 điềm lành:

- Trú xứ (desa) thích hợp (patirūpa) là những nơi có môi trường văn hóa xã hội tốt cho sự tu tập. Ở bầu thì dài, ở ống thì tròn. Chúng ta thường bị tác động bởi hoàn cảnh xã hội. Ở những nơi chỉ chuộng hình thức hào nhoáng bên ngoài, hưởng thụ vật chất, chạy theo nhu cầu dục lạc, lễ nghi rườm rà, chuộng các lời hoa mỹ rỗng tuếch thì cũng khó tu tập.

- Nếu trong quá khứ của đời này, hay trong các đời trước, đã tạo các công đức (katapuññatā), nay, quả phước lành sẽ được gặt hái trong hiện tại. Đây là một điềm lành. Bằng không, hãy nỗ lực làm việc thiện, để tạo nhân lành cho tương lai.

- Một điềm lành khác là tâm ta có định hướng chân chánh, đúng đắn (sammāpanidhi), hiệp theo lẽ đạo. Đây là điều quan trọng, phải có tác ý đúng.

3) Học nhiều, nghề nghiệp giỏi,
Giới luật biết tu tập,
Có những lời khéo nói,
Là điềm lành tối thượng

Có 4 điềm lành ở đây: được học và có nhiều hiểu biết (bāhu-saccam) , có nghề nghiệp tốt (sippam), biết hành trì các nguyên tắc giới luật đạo đức (vinayo), và biết dùng ngôn từ hòa ái, chân thật.

4) Hiếu dưỡng mẹ và cha,
Biết nuôi nấng vợ con.
Việc làm không xung khắc,
Là điềm lành tối thượng

Có 3 điềm lành: phụng dưỡng cha mẹ (mātāpitu), nuôi nấng gia đình (puttadārassa), có công việc làm không gây xung đột (anākulā) với người khác.

5) Bố thí, hành đúng pháp,
Giúp quyến thuộc họ hàng,
Hành xử không tỳ vết,
Là điềm lành tối thượng

Có 4 điềm lành: có lòng bố thí rộng rãi (dānā), có phẩm hạnh trong sạch theo giáo pháp (dhammacariyā), biết giúp đỡ bà con họ hàng (ñātakā), có những hành động giao tiếp trong sạch, không bị chê trách (anavajjā).

6) Ghê sợ, tránh điều ác
Không nghiện ngập rượu chè,
Tinh tấn hành thiện pháp,
Là điềm lành tối thượng

Có 4 điềm lành: biết ghê sợ (āratī) tội lỗi, biết tránh xa (viratī) tội lỗi (viratī pāpā), không rượu chè say sưa làm u mê (majjapānā), tinh tấn (appamādo) làm các điều lành, thiện pháp (dhammesu).

7) Sống lễ độ, khiêm cung,
Tri túc và tri ân,
Đúng thời, nghe giảng Pháp,
Là điềm lành tối thượng.

Có 5 điềm lành: thái độ lễ phép có văn hóa (gāravo), tính khiêm hạ (nivāto), biết sống đủ, tri túc (santutthī), biết nhớ ơn, tri ân (kataññutā), và biết đến nghe Pháp (dhammassavanam) đúng thời, đúng lúc (kālena).

8) Kham nhẫn, biết phục thiện,
Thường đến gặp Sa-môn,
Ðúng thời, đàm luận Pháp,
Là điềm lành tối thượng

Có 4 điềm lành: biết kiên nhẫn (khantī) và chịu đựng, biết phục thiện dễ dạy (sovacassatā), thường thân cận các bậc tu hành (samana), và đàm luận, trao đổi học Pháp (dhammasākacchā).

9) Tự chế, sống phạm hạnh,
Thấy chân lý nhiệm mầu.
Thực chứng quả Niết Bàn
Là điềm lành tối thượng

Có 4 điềm lành: sống tinh cần tự chế (tapo), sống đời sống phạm hạnh (brahmacariya), thẩm thấu chân lý nhiệm mầu (ariyasaccā) – tức là tứ thánh đế, thực chứng Niết bàn (nibbāna sacchikiriyā).

10) Khi xúc chạm việc đời,
Tâm không động, không sầu,
An nhiên, không uế não,
Là điềm lành tối thượng

Có 4 điềm lành: Tâm bất động, không lay chuyển khi bị gió đời hay pháp thế gian (lokadhamma) – khen chê, được mất, vinh nhục, buồn vui – thổi đến. Ba điềm lành khác: không còn sầu não (asoka), sống an nhiên (khema), không còn uế nhiễm (virajam).

*
11) Kết luận:
Ai sống được như thế,
Đến đâu không thối thất,
Đến đâu cũng an toàn,
Những điềm lành tối thượng.

Được như thế là đã nhập dòng thánh giải thoát. Khi ấy, cho dù sống trong dòng đời, đi đến đâu cũng không bao giờ bị tham sân si đánh bại (sabbattha aparājitā), đi đến đâu cũng bình an tự tại, an toàn (sabbattha sotthim gacchanti). Đó là điềm lành cao quý nhất.

– Bình Anson,
Perth, Tây Úc, 16/04/2017

* * *

Friday, 31 March 2017

Nhạc Việt - KHÁNH LY hát nhạc Trịnh Công Sơn (4 CDs, 2015)

Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps:

nviet34.zip – Khánh Ly hát nhạc Trịnh Công Sơn, 2015 (4 CDs, 448 MB)
https://mega.nz/#!rgIVyDiZ!x5Dc-4P6gkMGfwRS58iZDiH_g7BfoxmYXmcv4WJOMpw

*
Khánh Ly hát nhạc Trịnh Công Sơn, Phương Nam Film 2015

CD Bên Đời Hiu Quạnh
1. Chiếc lá thu phai - Khánh Ly
2. Lặng lẽ nơi này - Khánh Ly
3. Trong nỗi đau tình cờ - Khánh Ly
4. Quỳnh hương - Khánh Ly
5. Bốn mùa thay lá - Khánh Ly
6. Ru đời đi nhé - Khánh Ly
7. Có một dòng sông đã qua đời - Khánh Ly
8. Yêu dấu tan theo - Khánh Ly
9. Bên đời hiu quạnh - Khánh Ly
10. Đó hoa vô thường - Khánh Ly

CD Biển Nhớ 
1. Ướt mi - Khánh Ly
2. Biển nhớ - Khánh Ly
3. Gọi tên bốn mùa - Khánh Ly
4. Ru ta ngậm ngùi - Khánh Ly
5. Tình sầu - Khánh Ly
6. Rồi như đá ngây ngô - Khánh Ly
7. Tình xót xa vừa - Khánh Ly
8. Một buổi sáng mùa xuân - Khánh Ly
9. Hãy cứ vui như mọi ngày - Khánh Ly
10. Một ngày như mọi ngày - Khánh Ly

CD Hạ Trắng
1. Hạ trắng - Khánh Ly
2. Tuổi đá buồn - Khánh Ly
3. Ngẫu nhiên - Khánh Ly
4. Ru em từng ngón xuân nồng - Khánh Ly
5. Cuối cùng cho một tình yêu - Khánh Ly
6. Chiều một mình qua phố - Khánh Ly
7. Tôi ru em ngủ - Khánh Ly
8. Nhìn những mùa thu đi - Khánh Ly
9. Nghe những tàn phai - Khánh Ly
10. Biết đâu nguồn cội - Khánh Ly 

CD Tình Nhớ
1. Diễm xưa - Khánh Ly
2. Dấu chân địa đàng - Khánh Ly
3. Tình nhớ - Khánh Ly
4. Vẫn nhớ cuộc đời - Khánh Ly
5. Nắng thủy tinh - Khánh Ly
6. Cát bụi - Khánh Ly
7. Tình xa - Khánh Ly
8. Hãy khóc đi em - Khánh Ly
9. Em đã cho tôi bầu trời - Khánh Ly
10. Tạ ơn - Khánh Ly

*

Monday, 27 March 2017

Nhịp tay 7 lần trước khi gõ

Xin giới thiệu một bài viết hay, đọc để suy ngẫm. Sau khi đọc bài nầy, tôi nhớ đến một câu tôi thường nói với bạn bè, nửa đùa nửa thật:

- Người xưa có câu "Người quân tử uốn lưỡi 7 lần trước khi nói" nhưng ngày nay, khi sử dụng bàn phím để chat, mình cũng nên nhớ thêm: "Người quân tử nhịp tay 7 lần trước khi gõ".

* * *

Khẩu nghiệp ở Việt Nam đang rất nặng!
TS Nguyễn Mạnh Hùng
(27/03/2017)

Mặt trái của mạng xã hội ở Việt Nam đang phá hỏng tâm tính lành thiện của con người, đặc biệt là giới trẻ. Việc ai cũng có thể chửi rủa, phán xét một cách tàn nhẫn, hùa theo, không suy nghĩ và thiếu bao dung, đã làm khẩu nghiệp của chúng ta nặng thêm.

Khẩu nghiệp từ đâu ra?

Chúng ta có thân này là do nghiệp. Nghiệp được hiểu đơn giản nhất, đời thường nhất là thói quen.
Nếu ta thường xuyên sống bình an, nhẹ nhàng, thanh tịnh, vô ngã vị tha thì chúng ta tạo nghiệp thiện, được sinh về các cảnh giới thiện lành, được làm chư thiên và làm người hạnh phúc.

Nếu chúng ta thường xuyên tức giận, quát nạt kẻ khác, ức hiếp người khác sẽ tạo nghiệp không lành và có thể sinh về cõi atula (hiểu nôm na, cõi này chỉ biết sân hờn giận, đánh nhau chứ chẳng làm gì ngoài những trạng thái đó).

Nếu chúng ta tham lam, bỏn sẻn, keo kiệt thì tạo nghiệp ác và sinh về cõi dữ là ngạ quỷ. Nếu chúng ta cướp bóc, giết người, ngày đêm làm những việc xấu thì tạo nghiệp rất ác và sẽ sinh về địa ngục.
Trừ những người vô minh quá, còn lại đa phần tin vào luật nhân quả, tin rằng sống tốt được may mắn, sống ác bị gặp nhiều chuyện xấu.

Gieo nhân nào gặt quả đó. Quả chẳng trổ ngày nay thì ngày mai, không kiếp này thì kiếp tới. Nhân quả thật rõ. Nghiệp là luôn đúng.

Tuy nhiên vẫn có những người nghĩ rằng nghiệp chỉ do các hành động của mình gây ra mà không biết rằng nghiệp là do cả 3: thân, khẩu, ý tức do các hành động việc làm cũng như do lời nói và các suy nghĩ.

Ở đây tôi chỉ bàn về khẩu nghiệp, tức các nghiệp do lời nói sinh ra.

Cẩn thận, nói đúng, nói trúng thời điểm

Khẩu nghiệp là nghiệp do lời nói gây ra. Bất cứ những gì ta nói ra đều có tác động lợi hoặc hại, tốt hoặc xấu, xảy ra ngay tức thì hoặc để lại hậu quả sau này.

Khẩu nghiệp lành từ các lời nói tạo ra những kết quả tốt lành, làm lợi cho chính người đó và những người liên quan.

Khẩu nghiệp ác từ các lời nói tạo ra những hậu quả xấu, làm hại cho chính người nói ra và những người liên quan. Khẩu nghiệp còn ảnh hưởng đến cả cộng đồng, cả xã hội.

Nếu chúng ta biết ái ngữ, tức nói lời hay, ý đẹp thì chính mình và những người xung quanh được hưởng.

Người có trí tuệ, có hiểu biết đúng đắn về khẩu nghiệp thường rất cẩn thận khi nói. Họ biết cách nói đúng, nói trúng, cả về nội dung lẫn thời điểm.

Người có trí tuệ biết cách nói để không làm phiền lòng người nghe. Khi thấy một người trong cơ quan hay trong gia đình, nhóm bạn đang làm một việc sai trái họ cũng tìm cách nói khéo léo và nói vào thời điểm hợp lý.

Người có trí tuệ hiểu rõ khẩu nghiệp nên chỉ sử dụng lời nói khi cần thiết, nói để đạt được kết quả mà mình mong muốn mà không làm tổn thương đến người nghe.

Người có trí tuệ thường nói với tâm Phật, tức dùng từ bi hỷ xả để nói. Trước khi nói, thậm chí họ ngồi cho lắng lòng, cho tâm thanh tịnh rồi mới nói.

Bí quyết để không tạo khẩu nghiệp

Chúng ta có thể thực tập 1 cách làm rất đơn giản là hít thở 3 hơi thật nhẹ, thật êm để tĩnh tâm và thư giãn trước khi nói. Lúc đó sẽ bớt đi những lời nói vô ích và không hợp lý, thậm chí là xấu.
Người có trí biết rõ nếu lời mà mình chuẩn bị nói ra có thể mang lại hậu quả xấu thì thường không nói hoặc chưa nói.

Bởi nếu ta nói ra mà ta không kiểm soát được lời nói thì ta tạo khẩu nghiệp xấu. Mà khẩu nghiệp xấu chắc chắn để lại hậu quả xấu, hoặc ngay tức thì, hoặc dài lâu.

Ai cũng muốn nghe những lời hay tiếng đẹp. Ta cũng vậy. Cớ gì ta nói những lời không dễ thương.
Tôi hay tự nghĩ: liệu người nghe có muốn nghe những lời mình nói không. Nếu câu trả lời rằng không thì thường là tôi cố gắng không nói.

Nói ra mà gây hận thù, oán ghét thì chính ta tạo nghiệp xấu. Nghiệp xấu lôi ta trôi lăn trong sanh tử luân hồi với khổ đau triền miên.

Đức Phật có dạy, trong mười nghiệp của con người thì khẩu nghiệp là bốn, tức gần một nửa. Đó là: Chuyện không nói có, chuyện có nói không; Nói lời hung ác; Nói lưỡi hai chiều; Nói lời thêu dệt.
Khẩu nghiệp ác là một trong những nghiệp nặng nề nhất mà chúng ta tạo ra. Ai cũng biết rằng vết thương trên thân thể dễ lành hơn vết thương gây ra do lời nói.

Người có trí tuệ thường nhớ đến 4 khẩu nghiệp xấu nêu trên để tránh.

Vì vậy, người có trí tuệ thực tập chỉ nói sự thật, không bịa chuyện. Họ cũng tập nói những lời nhẹ nhàng êm dịu, dễ nghe.

Họ không nói lưỡi hai chiều, ngồi đây nói trắng đến chỗ khác lại nói đen. Họ thực tập không bịa chuyện, không thêu dệt câu chuyện, không nói sai sự thật. Họ thường không nói những gì mà mình không biết chắc chắn là có thật.

Bệnh từ miệng, họa từ miệng

Tôi vẫn nhớ những câu nói ông nội dạy từ xưa. Đại loại rằng, người trên đời này búa để trong miệng, con người giết nhau là do lời nói ác.

Ông tôi cũng dạy rằng bệnh từ cái miệng do ăn uống mà đem vào, họa cũng từ cái miệng do nói bậy bạ mà ra. [*]

Ông dạy tiếp rằng mở miệng nhiều lời sẽ hao tổn thần khí, lưỡi nói chuyện phải trái, hơn thua, đẹp xấu, khen chê, sẽ dẫn đến tranh đấu, tranh cãi sinh ra lắm chuyện, thậm chí hậu quả nghiêm trọng.

Ông nói chữ nôm, chữ hán nhưng tôi chỉ nhớ nội dung. Nhờ ông nội dạy từ nhỏ nên tôi luôn lưu ý mỗi lời nói của mình. Tránh tối đa khẩu nghiệp ác.

Lớn lên tôi học Phật, học chánh pháp. Và tôi phát hiện ra rằng ngoài 4 khẩu nghiệp nêu trên, chúng ta còn cần lưu ý thêm các nghiệp khác từ miệng như ăn uống lãng phí, ăn uống cầu kỳ, quá đòi hỏi trong ăn uống.

Tôi cũng lưu ý mình khi phê bình người khác, khi chê bai người khác, khi khen người khác. Tôi học được và luôn nhắc mình thực tập không rêu rao lỗi của mọi người, nếu thấy lỗi thì khuyên bảo và nhắc nhở.

4 hạng người nên tránh

Trong kinh, Đưc Phật dạy, có 4 hạng người chúng ta nên tránh trở thành. Đó là những kẻ hay nói lỗi người khác, những kẻ hay nói chuyện mê tín, tà kiến, những kẻ miệng nói ra những lời tốt nhưng tâm lại xấu, những kẻ làm ít kể nhiều. Tôi luôn nhắc mình mỗi ngày.

Người có trí thường ăn uống tiết kiệm. Vậy nên để giữ khẩu nghiệp, tôi thường nhắc mình cùng các bạn bè và người thân ăn bao nhiêu gọi bấy nhiêu thức ăn, ăn bao nhiêu lấy bấy nhiêu, không để thừa.

Dù có giàu đến cỡ nào nhưng nếu không tiết kiệm, tiền của cũng hết. Hơn thế nữa chúng ta cần hiểu rằng tài sản và của cải của kiếp này là do nghiệp lành, do phước đức từ kiếp trước để lại.

Nếu ta chỉ biết tiêu mà không biết kiếm tức tạo các nghiệp lành thì kho của kia chẳng mấy sẽ hết.
Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy rằng, dù nói hàng ngàn lời nhưng không gì lợi ích, tốt hơn hãy nói một câu có nghĩa, nghe xong được tịnh lạc (Pháp cú số 100).

Hoặc không phải vì nói nhiều mới xứng danh bậc trí, an ổn không oán sợ thật đáng gọi bậc trí (Pháp cú 258).

Hoặc không phải vì nói nhiều là thọ trì chánh pháp, người nghe ít diệu pháp nhưng trực nhận viên dung, chánh pháp không buông lung là thọ trì Phật Pháp (Pháp cú số 259).

Tốt nhất là lưỡi, xấu nhất cũng là lưỡi

Nếu chúng có học Phật, biết nghiên cứu và thực hành những lời Phật dạy thì thật là tuyệt vời. Từ hiểu biết đúng đắn, ta áp dụng và cuộc sống và có kết quả ngay tức khắc, ta nhận được lợi lạc đầu tiên.

Viết đến đây tôi nhớ lại câu chuyện bố tôi kể nhiều lần. Chuyện rằng ông phú hộ kia yêu cầu cho giết lợn và chọn phần quí nhất của con lợn để nấu món ăn cho ông ta.

Đầu bếp mang lên cho ông một món ăn với phần quý nhất của con lợn là cái lưỡi. Khi được hỏi tại sao thì người đầu bếp trả lời rằng cái lưỡi là bộ phận quí nhất.

Nhờ cái lưỡi mà con người được nghe những lời êm dịu, nhẹ nhàng, yêu thương và hạnh phúc. Cái lưỡi cũng nói ra nhiều ý tưởng hay, nhiều dự án lớn, nhiều kế hoạch ích nước lợi dân. Nhờ cái lưỡi mà có khi cả xã hội được hưởng lợi.

Một lần khác ông phú hộ lại yêu cầu giết lợn và chọn một bộ phận xấu xa nhất làm cho ông một món ăn.

Đầu bếp mang lên cho ông ta món ăn mà bộ phận xấu xa nhất lại cũng là cái lưỡi lợn. Người đầu bếp giải thích rằng có nhiều lời nói giết chết mạng sống, có những lời nói xấu xa, tàn nhẫn làm tan nát gia đình, làm hủy hoại cả chế độ.

Chuyện bố kể làm tôi ngẫm sâu lắm. Khẩu nghiệp quả thật là rất lớn. Tôi luôn nhắc mình quan tâm khẩu nghiệp để có hành xử đúng, để có cuộc sống thiện lành trong kiếp này và các kiếp mai sau.
Sự thay đổi của người học trò đau khổ

Tôi nhớ rằng, tại các khóa thiền, chúng tôi hay thực tập thiền ca, tức thiền hát. Chúng tôi hát những bài hát rất có ý nghĩa để nhắc mình thực hành mỗi ngày.

Tôi rất thích bài hát sau:

"Lời qua (mà) tiếng lại
Giải quyết chi đâu
Sao không dừng lại?
Kẻo hố thêm sâu
Lời qua (mà) tiếng lại
Đưa ta tới đâu
Sao không dừng lại?
Thở nhẹ và sâu
Lời qua (mà) tiếng lại
Đưa ta tới đâu
Sao không thở nhẹ?
Mỉm cười nhìn nhau."

Khi giận nhau chỉ cần hát bài này. Khi khó chịu, mâu thuẫn bức xúc, chỉ cần hát vào câu. Là tất cả êm xuôi.

Mong muốn của tôi rằng chúng ta nhắc nhau sống bình an thư giãn. Tôi hay nhắn tin cũng như viết trên facebook những câu dễ thương để mọi người đọc là có thể mỉm cười.

Tôi cũng nhắc bạn bè, người thân, đồng nghiệp và học trò "mỉm cười 10 giây" mỗi ngày. Lời khen ngợi, cám ơn, xin lỗi là những thứ tôi muốn mọi người cùng mình thực tập.

Tôi có một người học trò luôn đau khổ, chán chường, thất vọng, đầy tư duy tiêu cực. Tôi hướng dẫn em sống chánh niệm và ái ngữ. Tôi nhắc em mỗi ngày mỉm cười và nói lời hay, ý đẹp.

Chỉ vài tháng sau Tuấn có khuôn mặt tươi tắn, hạnh phúc. Mặt em trở nên sáng sủa và dễ thương. Sự cau có, cằn nhằn biến mất.

Tuấn tự nhiên được rất nhiều người yêu quý. Em thấy đời sống bây giờ khác xa trước. Tuấn như được đổi đời. Tu khẩu đổi hình là câu chuyện có thật của Tuấn.

Mong bạn cùng tôi thực hành ái ngữ và tu khẩu nghiệp thật tốt mỗi ngày nhé!

- Nguyễn Mạnh Hùng

[*] Đó là từ câu chữ Hán "Bệnh tùng khẩu nhập, họa tùng khẩu xuất" (Bình Anson).

*

Friday, 24 March 2017

A Slow Learner, Đầu óc chậm lụt


Nhân theo dõi và chia sẻ về hành thiền trong một room Phật giáo trên Paltalk, tôi mới chợt nhận ra rằng mình chỉ là một “slow learner” – một người học trò với đầu óc chậm lụt, học hoài mà vẫn chưa thuộc.

Nhìn lại, mình đã từng được dạy ngồi thiền, ngay từ thuở trung học – đầu tiên với ngài Hòa thượng Thích Tâm Giác, võ đường Quang Trung (Đa Kao, Sài Gòn). Cho đến bây giờ đã hai thứ tóc trên đầu mà vẫn loanh quanh với 4 bước đầu tiên trong 16 bước như Đức Phật dạy trong bài kinh Quán niệm Hơi thở (Anapanasati Sutta, Trung bộ 118):

– Thở vô dài, vị ấy biết: "Tôi thở vô dài". Hay thở ra dài, vị ấy biết: "Tôi thở ra dài". Hay thở vô ngắn, vị ấy biết: "Tôi thở vô ngắn". Hay thở ra ngắn, vị ấy biết: "Tôi thở ra ngắn". "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.

Và cũng xin lưu ý chữ BIẾTTẬP dùng ở đây.

Bây giờ người ta thích bàn luận, chia sẻ về các tiến bộ và kinh nghiệm trong hành thiền, như phát tuệ minh sát, tuệ sinh diệt, 16 loại tuệ, thiền tướng nimitta, bốn tầng thiền-na (jhana), các loại thần thông, v.v. Tranh luận sôi nổi về thiền chỉ và thiền quán, đề cao pháp thiền của mình là con đường duy nhất, chê bai pháp thiền của người kia là ngoại đạo, không đưa đến giác ngộ giải thoát, v.v. Có người chỉ tu ở nhà, nghiên cứu kinh sách, Youtube, Facebook, rồi tự thực hành; vài ba tháng là có kết quả tốt, rồi đi chỉ dạy người khác. Rồi lại nghe nói có người tham gia khóa thiền nào đó ở Myanmar và được vị thiền sư xác nhận thiền sinh nào đó đắc được quả Dự Lưu. Sao mà dễ dàng quá! Nghe mà ham!

Thôi thì mình nên trở về với thực tại, bằng lòng với căn cơ thấp kém của mình – “phước mỏng, nghiệp dày” như ngài Hòa thượng Thích Thanh Từ thường nhắc nhở. Cứ thong thả, đều đặn, từ từ bước đi. Thà chậm mà chắc, như ông bà mình đã từng nói.

*

Monday, 20 March 2017

Nhạc quốc tế, lời Việt - PHẠM DUY


Ngoài tài sáng tác nhạc, Phạm Duy còn có biệt tài chuyển dịch sang lời Việt các bản nhạc quốc tế nổi tiếng. Mời các bạn thưởng thức, nhất là trong đêm khuya thanh vắng, nhâm nhi một tách trà hay càfê...

Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps:

nviet33.zip – Phạm Duy: Nhạc cổ điển & dân ca quốc tế, lời Việt (2 CDs, 220 MB)
=> https://mega.nz/#!uhhSRBSC!HsMXwnuSpVFvo9mPau5LvZ-HfdXDJZEpNQ7CklNBJmA

*

CD1: Khúc ca ly biệt
1. Dòng sông xanh (Danube Blue) - Ngọc Tuyền
2. Mối tình xa xưa (Celebre Valse) - Tấn Minh, Uyên Di
3. Mơ mòng (Reverie) - Hồ Trung Dũng
4. Ave Maria - Ngọc Tuyền
5. Tình vui (Plaisir D'amour) - Tấn Minh
6. Chiều tà (Sererata) - Hà Phạm
7. Khúc ca ly biệt (Chanson de Solvieg) -Đức Tuấn
8. Khi màn nhung mở ra (Fur Elise) - Hà Phạm
9. Dạ khúc (Serenade) - Hồ Trung Dũng
10. Khúc hát thanh xuân (When we were young) - Hồng Vy

CD2: Ôi Giàn Thiên Lý Đã Xa
1. Cánh Buồm Xưa (La Paloma) - Quang Minh
2. Ôi Giàn Thiên Lý Đã Xa (Scarborough Fair) - Khánh Linh
3. Trở Về Mái Nhà Xưa (Back To Sorrento) - Nam Khánh
4. Chủ Nhật Buồn (Sombre Dimanche) - Đức Tuấn
5. Vai Áo Màu Xanh (Green Sleeves) - Phạm Thu Hà
6. Vũ Nữ Thân Gầy (La Cumparsita) - Phạm Thu Hà
7. Nàng Đi Xem Hội (She Moved Through The Fair) - Ngọc Tuyền
8. Clementine - Uyên Di
9. Ave Maria - Hồng Vy
10. Sầu Dương Thế (Chant Hindou) - Ngọc Tuyền

*


Saturday, 18 March 2017

Xin đừng lôi kéo


"Been there, done that". Trong mấy chục năm qua trên các diễn đàn Phật giáo của Internet – tiếng Anh lẫn tiếng Việt, tôi đã từng theo dõi và tham gia các cuộc tranh luận – đôi khi đưa đến khẩu chiến, bút chiến quyết liệt – về nhiều đề tài trong PG (lịch sử, tông phái, kinh điển, pháp hành, ăn chay ăn mặn, v.v.).

Bây giờ thì chán rồi, không còn năng lực, thì giờ, hay hứng thú gì về các chuyện đó nữa. Vì thế, xin đừng lôi kéo tôi vào đó. Để tôi yên thân đi theo con đường của riêng tôi cho đến nơi, đến chốn.

Xin đa tạ. _()_

* TB. Nếu bạn nào chưa biết con đường tôi đi, mời đến đọc ở đây. Đọc chơi cho vui, xin miễn bình luận thêm.
=> http://budsas.blogspot.com.au/2015/01/con-uong-toi-i.html

*

Thursday, 9 February 2017

Các vị Tăng Thống của Phật giáo Thái Lan (Supreme Patriarch of Thailand)

Supreme Patriarch (Sangharaja) of Thailand: 

1. Somdet Phra Ariyavongsanana I (Sri), Sri, from 1782/83 (2325 BE) to 1794/75 (2337 BE), Order: Maha Nikaya, Temple: Wat Rakhang Khositaram.

2. Somdet Phra Ariyavongsanana II (Suk), Suk, from 1794/75 (2337 BE) to 1816/87 (2359 BE), Order: Maha Nikaya, Temple: Wat Mahathat Yuwaratrangsarit.

3. Somdet Phra Ariyavongsanana III (Mee), Mee, from 1816/87 (2359 BE) to 1819/20 (2362 BE), Order: Maha Nikaya, Temple: Wat Mahathat Yuwaratrangsarit.

4. Somdet Phra Ariyavongsanana IV (Suk Nyanasamvara), Suk, from 1820/21 (2363 BE) to 1822/23 (2365 BE), Order: Maha Nikaya, Temple: Wat Mahathat Yuwaratrangsarit.

5. Somdet Phra Ariyavongsanana V (Don), Don, from 1822/23 (2365 BE) to 1842/43 (2385 BE), Order: Maha Nikaya, Temple: Wat Mahathat Yuwaratrangsarit.

6. Somdet Phra Ariyavongsanana VI (Nag), Nag, from 1843/44 (2386 BE) to 1849/50 (2392 BE), Order: Maha Nikaya, Temple: Wat Ratchaburana.

7. Somdet Phra Maha Samana Chao Kromma Phra Paramanuchitchinorot (HRH Prince Vasugri Suvaṇṇaraṃsi), HRH Prince Vasugri, from 1851/52 (2394 BE) to 1853/54 (2396 BE), Order: Maha Nikaya, Temple: Wat Phra Chetuphon Vimolmangklararm.

8. Somdet Phra Maha Samana Chao Kromma Phraya Pavares Variyalongkorn (HRH Prince Rurk Paññāaggo), HRH Prince Rurk, from 1853/54 (2396 BE) to 1892/93 (2435 BE), Order: Dhammayuttika Nikaya, Temple: Wat Bowonniwet Vihara.

9. Somdet Phra Ariyavongsagatanana I (Sa Pussadevo), Sa, from 1893/94 (2436 BE) to 1899/1900 (2442 BE), Order: Dhammayuttika Nikaya, Temple: Wat Ratchapradit Sathit Mahasimaram.

10. Somdet Phra Maha Samana Chao Kromma Phraya Vajirananavarorasa (HRH Prince Manusyanagamanob Manussanāgo), HRH Prince Manusyanagamanob, from 1910/11 (2453 BE) to 1921/22 (2464 BE), Order: Dhammayuttika Nikaya, Temple: Wat Bowonniwet Vihara.

11. Somdet Phra Sangharaja Chao Kromma Luang Jinavorn Sirivaddhana (HRH Prince Bhujong Jombunud Sirivaḍḍhano), HSH Prince Bhujong Jombunud, from 1921/22 (2464 BE) to 1937/38 (2480 BE), Order: Dhammayuttika Nikaya, Temple: Wat Ratchabophit Sathit Maha Simaram.

12. Somdet Phra Ariyavongsagatanana II (Phae Tissadevo), Phae Phongpala, from 1938/39 (2481 BE) to 1944 (2487 BE), Order: Maha Nikaya, Temple: Wat Suthat Thepphaararam.

13. Somdet Phra Sangharaja Chao Kromma Luang Vajirananavongs (HH Prince Chuen Navavongs Sucitto), Mom Rajavongse Chuen Navavongs, from 1945 (2488 BE) to 1958 (2501 BE), Order: Dhammayuttika Nikaya, Temple: Wat Bowonniwet Vihara.

14. Somdet Phra Ariyavongsagatanana III (Plod Kittisobhaṇo), Plod Ketuthat, from 1960 (2503 BE) to 1962 (2505 BE), Order: Maha Nikaya, Temple: Wat Benchamabophit Dusitvanaram.

15. Somdet Phra Ariyavongsagatanana IV (Yoo Ñāṇodayo), Yoo Changsopha (Sae-Chua), from 1963 (2506 BE) to 1965 (2508 BE), Order: Maha Nikaya, Temple: Wat Saket.

16. Somdet Phra Ariyavongsagatanana V (Chuan Uṭṭhāyī), Chuan Sirisom, from 1965 (2508 BE) to 1971 (2514 BE), Order: Dhammayuttika Nikaya, Temple: Wat Makut Kasattriyaram.

17. Somdet Phra Ariyavongsagatanana VI (Pun Puṇṇasiri), Pun Sukcharoen, from 1972 (2515 BE) to 1973 (2516 BE), Order: Maha Nikaya, Temple: Wat Phra Chetuphon Vimolmangklararm.

18. Somdet Phra Ariyavongsagatanana VII (Vasana Vāsano), Vasana Nilprapha, from 1973 (2516 BE) to 1988 (2531 BE), Order: Dhammayuttika Nikaya, Temple: Wat Ratchabophit Sathit Maha Simaram.

19. Somdet Phra Nyanasamvara (Charoen Suvaḍḍhano), Charoen Khachawat, from 1989 (2532 BE) to 2013 (2556 BE), Order: Dhammayuttika Nikaya, Temple: Wat Bowonniwet Vihara.

20. Somdet Phra Ariyavongsagatanana VIII (Amborn Ambaro), Amborn Prasatthaphong, from 2017 (2560 BE) to Present, Order: Dhammayuttika Nikaya, Temple: Wat Ratchabophit Sathit Maha Simaram.
*

20 vị Tăng Thống của Phật giáo Thái Lan (hình mới sưu tập, sẽ chỉnh sửa sau):


Nghiệp (SN 14.15)

Nhiều năm trước, trong một diễn đàn PG tiếng Anh, một vị sư đề cập đến bài kinh nầy, nhưng không nêu rõ xuất xứ, về một hiện tượng tâm lý rất phổ thông xảy ra trong tăng chúng cũng như trong xã hội từ thời xưa cho đến thời nay. Người ta thường tụ hội thành từng nhóm vì cùng chung một mục đích nào đó hay khuynh hướng nào đó, thiện hay bất thiện.

Tôi thích bài kinh đó nhưng rồi quên đi. Thỉnh thoảng nhớ lại, nhưng không tìm được nguồn gốc chính xác. Sáng nay có lẽ đã đủ duyên, đến nhờ bác Gờ giúp và tìm được. Xin ghi lại đây bản dịch Việt và Anh. Trong tương lai sẽ đóng góp thêm vài suy tư.

*

NGHIỆP 
(SN 14.15) (Tạp, Ðại 2, 115a) (S.ii,155)

Một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), tại núi Gijjakūta (Linh Thứu). Lúc bấy giờ, Tôn giả Sāriputta cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành, không xa Thế Tôn bao nhiêu.

Tôn giả Mahāmoggallāna cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành, không xa Thế Tôn bao nhiêu.
Tôn giả Mahākassapa cùng với ... không xa Thế Tôn bao nhiêu.
Tôn giả Anuruddha cùng với ... không xa Thế Tôn bao nhiêu.
Tôn giả Puṇṇa Mantāniputta cùng với ... bao nhiêu.
Tôn giả Upāli cùng với ... bao nhiêu.
Tôn giả Ānanda cùng với ... bao nhiêu.
Tôn giả Devadatta cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành, không xa Thế Tôn bao nhiêu.

Rồi Thế Tôn gọi các tỳ-khưu:
– Này các tỳ-khưu, các Ông có thấy Sāriputta cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành?
– Thưa có, bạch Thế Tôn.
– Này các tỳ-khưu, tất cả vị tỳ-khưu ấy là bậc đại trí tuệ.

Này các tỳ-khưu, các Ông có thấy Moggallāna cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành?
– Thưa có, bạch Thế Tôn
– Này các tỳ-khưu, tất cả vị tỳ-khưu ấy là bậc đại thần thông.

Này các tỳ-khưu, các Ông có thấy Kassapa cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành?
– Thưa có, bạch Thế Tôn.
– Này các tỳ-khưu, tất cả vị tỳ-khưu ấy chủ trương hạnh đầu đà.

Này các tỳ-khưu, các Ông có thấy Anuruddha cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành?
– Thưa có, bạch Thế Tôn.
– Này các tỳ-khưu, tất cả vị tỳ-khưu ấy là bậc có thiên nhãn.

Này các tỳ-khưu, các Ông có thấy Puṇṇa Mantāniputta cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành?
– Thưa có, bạch Thế Tôn.
– Này các tỳ-khưu, tất cả vị tỳ-khưu ấy là bậc thuyết pháp.

Này các tỳ-khưu, các Ông có thấy Upāli cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành?
– Thưa có, bạch Thế Tôn.
– Này các tỳ-khưu, tất cả vị tỳ-khưu ấy là bậc trì luật.

Này các tỳ-khưu, các Ông có thấy Ānanda cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành?
– Thưa có, bạch Thế Tôn.
– Này các tỳ-khưu, tất cả vị tỳ-khưu ấy là bậc đa văn.

Này các tỳ-khưu, các Ông có thấy Devadatta cùng với một số đông tỳ-khưu đang đi kinh hành?
– Thưa có, bạch Thế Tôn.
– Này các tỳ-khưu, tất cả vị tỳ-khưu ấy là ác dục.

Này các tỳ-khưu, tùy thuộc theo giới, các chúng sinh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau. Chúng sinh liệt ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sinh liệt ý chí. Chúng sinh thiện ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sinh thiện ý chí.

Này các tỳ-khưu, tùy thuộc theo giới thời quá khứ, các chúng sinh đã cùng hòa hợp, đã cùng đi với nhau. Chúng sinh liệt ý chí đã cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sinh liệt ý chí. Chúng sinh thiện ý chí đã cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sinh thiện ý chí.

Này các tỳ-khưu, tùy thuộc theo giới thời vị lai, các chúng sinh sẽ cùng hòa hợp, sẽ cùng đi với nhau. Chúng sinh liệt ý chí sẽ cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sinh liệt ý chí. Chúng sinh thiện ý chí sẽ cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sinh thiện ý chí.

Này các tỳ-khưu, tùy thuộc theo giới hiện tại, các chúng sinh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau. Chúng sinh liệt ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sinh liệt ý chí. Chúng sinh thiện ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sinh thiện ý chí.

– (Hòa thượng Minh Châu dịch Việt, Bình Anson hiệu đính)

*

Source: Sutta Central, http://awake.kiev.ua/dhamma/tipitaka/2Sutta-Pitaka/3Samyutta-Nikaya/Samyutta2/13-Dhatu-Samyutta/02-Sattadhatuvaggo-e.html 

KAMMAṂ (CAṄKAMA) - ACCORDING TO ACTIONS (THOUGHTFULLY WALKING)

At one time, the Blessed One lived among the Gijjha peaks in Rajagaha. At that time, venerable Sāriputta was walking thoughtfully in the vicinity of the Blessed One followed by many bhikkhus.

Venerable Mahāmoggallāna was walking thoughtfully in the vicinity of the Blessed One followed by many bhikkhus.
Venerable Mahākassapa was walking thoughtfully in the vicinity of the Blessed One followed by many bhikkhus.
Venerable Anuruddha was walking thoughtfully in the vicinity of the Blessed One followed by many bhikkhus.
Venerable Puṇṇa Mantāniputta was walking thoughtfully in the vicinity of the Blessed One followed by many bhikkhus.
Venerable Upāli was walking thoughtfully in the vicinity of the Blessed One followed by many bhikkhus.
Venerable Ānanda was walking thoughtfully in the vicinity of the Blessed One followed by many bhikkhus.
Devadatta too was walking thoughtfully in the vicinity of the Blessed One followed by many bhikkhus.

Then the Blessed One addressed the bhikkhus:
“Bhikkhus, do you see Sāriputta walking thoughtfully followed by many bhikkhus?”
“Yes, venerable sir.”
“Bhikkhus, all those bhikkhus are very wise.

“Bhikkhus, do you see Moggallāna walking thoughtfully, followed by many bhikkhus?”
“Yes, venerable sir.”
“Bhikkhus, all those bhikkhus have great psychic powers.

“Bhikkhus, do you see Kassapa walking thoughtfully, followed by many bhikkhus?”
“Yes, venerable sir.”
“Bhikkhus, all those bhikkhus observe austerities.”

“Bhikkhus, do you see Anuruddha walking thoughtfully, followed by many bhikkhus?”
“Yes, venerable sir.”
“Bhikkhus, all those bhikkhus have developed the divine eye.

“Bhikkhus, do you see Puṇṇa Mantāniputta walking thoughtfully, followed by many bhikkhus?”
“Yes, venerable sir.”
“Bhikkhus, all those bhikkhus converse about ethical problems.

“Bhikkhus, do you see Upāli walking thoughtfully, followed by many bhikkhus?”
“Yes, venerable sir.”
“Bhikkhus, all those bhikkhus know the discipline.

“Bhikkhus, do you see Ānanda walking thoughtfully, followed by many bhikkhus?”
“Yes, venerable sir.”
“Bhikkhus, all those bhikkhus are learned.

“Bhikkhus, do you see Devadatta walking thoughtfully, followed by many bhikkhus?”
“Yes, venerable sir.”
“Bhikkhus, all those bhikkhus are with evil desires.”

“Bhikkhus, beings get together and agree according to the elements. Those with inferior inclinations get together and agree with others of inferior inclinations and those with virtuous inclinations get together and agree with others of virtuous inclinations.

“Bhikkhus, even in the past beings got together and agreed according to the elements. Those with inferior inclinations got together and agreed with others of inferior inclinations and those with virtuous inclinations got together and agreed with others of virtuous inclinations.

“Bhikkhus, even in the future beings will get together and agree according to the elements. Those with inferior inclinations will get together and agree with others of inferior inclinations and those with virtuous inclinations will get together and agree with others of virtuous inclinations.

“Bhikkhus, even at present beings get together and agree according to the elements. Those with inferior inclinations get together and agree with others of inferior inclinations and those with virtuous inclinations get together and agree with others of virtuous inclinations.”

*

Tuesday, 7 February 2017

Thầy GỜ yêu mến của tôi

Thầy GỜ yêu mến của tôi
(Google Search)

Tôi rất tri ân ông thầy thầm lặng của tôi, tôi thường gọi là bác Gờ (Google). Hầu như ngày nào tôi cũng đến thăm bác ấy và tham vấn nhiều vấn đề, từ tôn giáo đến khoa học, chính trị, kinh tế, v.v. Đa số các hình ảnh và thông tin đưa vào trang FB, trang Blog cá nhân nầy đều do bác ấy cung cấp. Các thuật ngữ Phật học, Việt-Anh-Pali-Hán, cũng nhờ bác ấy giải thích. Ngay cả việc dịch thuật, từ những tự điển trực tuyến đến bản dịch sơ thảo qua Google Translate – dù đa phần rất ngô nghê, buồn cười – tôi cũng nhờ bác ấy, giúp mình nhiều ý tưởng khá hay.

Nhưng phải biết cách hỏi, cách đặt câu hỏi, cách truy tầm, mới có được thông tin tốt. Đó là qua kinh nghiệm và thói quen khi làm việc với bác ấy. Lúc nào cũng phải nhớ câu GIGO (Garbage In, Garbage Out – Rác vào, rác ra), hỏi vớ vẩn sẽ được trả lời vớ vẩn. Và quan trọng nhất, ĐỪNG VỘI TIN THEO BÁC ẤY! Phải biết cân nhắc, lọc lựa, kiểm chứng, so sánh đối chiếu nhiều nguồn thông tin khác nhau.

Cũng đừng chủ quan, đừng bao giờ cho rằng nhận định, kết luận của mình là chân lý, là đúng, là chính xác 100%, không bao giờ thay đổi. Nên nhớ mình vẫn còn là một phàm phu tục tử, vẫn còn vô minh, vì thế, sự hiểu biết của mình – và các tri thức, thông tin bác Gờ cung cấp – chỉ là những hạt cát nhỏ bé trong sa mạc bao la.

Điều nầy rất quan trọng. Bây giờ người ta sống vội vã hời hợt, trong thời đại “mì ăn liền”, muốn có câu trả lời tức khắc, không chịu khó nhẫn nại suy tư, xét đoán. Nhận được thông tin nào đó, giải thích nào đó từ bác Gờ là thấy thỏa mãn, tự hào, tự kiêu, rồi cho mình là “học giả”, sao chép cắt dán các thông tin đó vào chỗ này chỗ kia, như thể một hành giả đã đắc đạo. Đây là một trong những căn bệnh của thời đại hôm nay.

*

Friday, 3 February 2017

Nguồn gốc tấm hình Đức Phật nổi tiếng của bác Phạm Kim Khánh

Ngoài tài năng dịch thuật, bác Phạm Kim Khánh (1921-2011) còn có tài chụp ảnh. Vào năm 1961, trong dự án xây dựng Thích Ca Phật Đài ở Vũng Tàu, Giáo hội Tăng già Nguyên thủy VN có đặt thiết kế một tượng Phật màu trắng, lộ thiên, cao 6 mét đặt trên tòa sen có đường kính 4 m, bệ cao 7 m, mà chúng ta thấy được ngày nay. Trước đó, một tượng mẫu nhỏ hơn, cao 1.2 m, được nhà điêu khắc Phúc Điền tạo ra để thỉnh ý chư Tăng.

Bác Khánh đến cơ xưởng của nhà điêu khắc để xem xét, và chụp một tấm hình của tượng mẫu này. Tấm hình được dùng làm bìa cho cuốn “Đức Phật và Phật Pháp” do bác dịch từ cuốn "The Buddha and his Teachings" của ngài Hòa thượng Narada. Từ đó, tấm hình trở nên nổi tiếng và quen thuộc với cộng đồng PG chúng ta, được nhiều Phật tử VN khắp nơi trên thế giới ưa thích, phóng to thành ảnh để tôn thờ Đức Phật

Tấm hình nầy đã được nhiều người vẽ lại, tô màu, thêm hào quang, in ra phổ biến khắp nơi để tôn thờ. Nhưng ngày nay hầu như ít ai biết được nguồn gốc xuất xứ của tấm hình.

*


*


Wednesday, 1 February 2017

Nắm lá trong tay

Nắm lá trong tay
Paul Chee-Kuan 
(Bình Anson lược dịch)

*

Kinh Lá rừng Simsapā (Tương ưng 56.31):

… Một thời, Đức Thế Tôn trú ở Kosambi, tại rừng Simsapā. Ngài lấy tay nhặt lên một ít lá Simsapā, rồi bảo các tỳ-khưu:

- "Này các tỳ-khưu, các ông nghĩ thế nào, cái gì là nhiều hơn, số lá Simsapā mà Ta nắm lấy trong tay, hay số lá trong rừng Simsapā?"

- "Bạch Thế Tôn, số lá Simsapā mà Ngài nắm lấy trong tay thật là quá ít, còn số lá trong rừng Simsapā thật là quá nhiều."

- "Này các tỳ-khưu, cũng giống như những gì Ta đã biết rõ mà không giảng dạy cho các ông thật là quá nhiều; còn những gì mà Ta đã giảng dạy thật là quá ít. Tại sao Ta không giảng dạy tất cả những điều ấy? Bởi vì có những điều không liên hệ đến mục đích, không phải là căn bản cho đời sống thanh cao, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Ta không giảng dạy những điều ấy.

"Này các tỳ-khưu, Ta giảng dạy những điều gì? 'Ðây là Khổ', là điều Ta giảng dạy. 'Ðây là Khổ tập', là điều Ta giảng dạy. 'Ðây là Khổ diệt', là điều Ta giảng dạy. 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt', là điều Ta giảng dạy.

"Nhưng tại sao Ta giảng dạy những điều ấy? Bởi vì những điều ấy liên hệ đến mục đích, là căn bản cho đời sống thanh cao, đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Ta giảng dạy những điều ấy.

"Vì thế, này các tỳ-khưu, các ông cần phải nỗ lực để biết rõ: 'Ðây là Khổ', cần phải nỗ lực để biết rõ: 'Ðây là Khổ tập', cần phải nỗ lực để biết rõ: 'Ðây là Khổ diệt', cần phải nỗ lực để biết rõ: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'”.

*
Vài suy tư:

Trong bài kinh, Đức Phật nói rằng Ngài biết rất nhiều, về đời sống, về thế giới vũ trụ, về mọi sự việc trong thế gian, nhưng Ngài không truyền giảng tất cả những điều đó. Ngài không dạy chúng ta phải biết rõ tất cả mọi sự việc trên đời, bởi vì có những sự hiểu biết thật ra không liên hệ, không giúp ích chi cho con đường đưa đến giải thoát. Đây là điểm quan trọng mà hành giả trên con đường tu học cần phải ghi nhớ.

Những gì Ngài đã truyền giảng, như đã ghi lại trong Kinh tạng giáo điển – tạng Nikāya và tạng A-hàm – bao gồm các chủ đề quan trọng, cần thiết, quý giá để chúng ta tìm hiểu, suy tư, và áp dụng. Đây là một phước duyên to lớn cho chúng ta, khi hầu như toàn bộ giáo điển đó đã được các vị tăng sĩ gìn giữ, lưu truyền qua nhiều thế hệ, và ngày nay chuyển dịch sang ngôn ngữ hiện đại để chúng ta học tập và ghi nhớ. Mặc dù một số bài kinh có nội dung giống nhau, có vẻ trùng lặp, nhưng điều đó chứng tỏ rằng các chủ đề đó quả thật là số lá rừng trong nắm tay để chúng ta chuyên chú, tập trung học tập.

Còn vô số lá cây trong rừng kia là những gì Đức Phật không truyền dạy cho các đệ tử của Ngài – mà ngày nay, chúng ta thường thấy chúng được thu gom vào trong kho tàng thư văn Phật giáo. Trong kho tàng bao hàm này, chúng ta thấy có rất nhiều luận giải, bình giải, giáo thuyết hậu kỳ của mọi trường phái, tông phái đã khai triển từ khi Đức Phật nhập diệt, kể cả các luận thuyết siêu hình, các lý thuyết về nhân tính, các phân giải tỉ mỉ về tâm thức và sự vận hành tâm, các cõi trời và nhiều phân hạng bồ-tát, các dạng thức trung chuyển khi tái sinh, các câu chú niệm huyền bí, các hình thức nghi lễ phức tạp, những luận giải vượt ngoài nội dung của các bài kinh giảng, v.v.

Không có nghĩa là các tài liệu đó hoàn toàn sai lạc hay hoàn toàn không có cơ sở. Tuy nhiên, dù chúng có đúng hay sai, cũng không có ích lợi chi cho con đường giải thoát. Nếu chúng quả thật có ích lợi cho sự tu tập, ắt hẳn Đức Phật đã giảng dạy cho hàng đệ tử của Ngài – vì Đức Phật tuyên bố Ngài đã giảng Chánh pháp rõ ràng, như một vị đạo sư với bàn tay mở rộng, không bí mật, không che giấu (Đại kinh Bát-niết-bàn, Trường bộ 16), và từ đó được ghi nhớ và truyền tụng trong các bài kinh, và được kết tập trong Kinh tạng.

Suy ngẫm về các lời dạy của Đức Phật trong bài kinh Lá rừng Simsapā giúp ta tiết kiệm được thì giờ. Chúng ta không phí thì giờ để theo đuổi những câu hỏi vô ích. Chúng ta tránh được việc dính mắc vào các kiến giải hoang vu, không tưởng. Bài kinh nhắc nhở ta tập trung vào những lời dạy chính yếu của Đức Phật, và áp dụng chúng trong công phu tu tập. Chúng ta không cần phải tranh luận nhiều lý thuyết khác nhau, không cần phí thì giờ tìm hiểu chúng. Thì giờ là quý báu, đời sống rất ngắn ngủi, sinh được làm người là điều hiếm có, và ta phải biết sử dụng thì giờ và công sức cho có lợi lạc trên con đường tâm linh.

Khi ta hiểu rằng những gì không được Đức Phật truyền giảng khi Ngài còn tại thế là những gì không liên hệ đến mục đích giải thoát tối hậu, ta nhận ra ngay rằng không có những giáo thuyết bí mật, không có những giáo thuyết đã được giấu đi ở một thế giới nào đó để tái xuất hiện sau này, hoặc là giáo thuyết được Ngài truyền giảng ở một cõi trời nào đó, v.v. Đức Phật đã giảng như thật, như chân. Ngài đã giảng rõ ràng và đầy đủ cho chúng ta trên địa cầu này, cho những ai đến để nghe.

Có nhiều vị đệ tử của Ngài đã ghi nhớ, thông hiểu, tu tập, và nhập dòng thánh giải thoát – và ngay cả những vị này cũng chưa hẵn đã học hết toàn bộ Kinh tạng. Quên lãng các bài kinh giảng và tầm cầu các luận thuyết khai triển vượt qua những gì Đức Phật đã truyền dạy là không nhận thức được ý nghĩa sâu sắc của những điều Ngài đã thật sự chỉ dạy cho các vị thánh đệ tử đó.

Vì vậy, ta không cần phải vướng mắc vào các điều gì khác. Nhiệm vụ của chúng ta là thực hiện những gì đã được Đức Phật giảng rõ ràng trong bài kinh: "… Cần phải nỗ lực để biết rõ: Đây là khổ. Cần phải nỗ lực để biết rõ: Đây là nguồn gốc của khổ. Cần phải nỗ lực để biết rõ: Đây là sự diệt khổ. Cần phải nỗ lực để biết rõ: Đây là con đường tu tập để diệt khổ.” Những gì Đức Phật đã giảng dạy trong suốt 45 năm hoằng truyền Chánh pháp – từ bài kinh đầu tiên đến bài kinh cuối cùng – là liên hệ đến nhiệm vụ này, đó là thẩm thấu, thông hiểu, và thực chứng Tứ Thánh Đế. Những gì Ngài không truyền giảng, ta nên bỏ chúng lại trong rừng sâu.

-- Paul Chee-Kuan
(Bình Anson lược dịch, tháng 4-2008)

* Ghi chú:
Simsapā: Indian Rosewood (Dalbergia sissoo). Ngày nay loại cây nầy được trồng rất nhiều ở Lumbini (Lâm-tỳ-ni), Nepal, nơi ngài Bồ-tát đản sinh.

*
*
Rừng cây Simsapa ở Lumbini, Nepal (hình chụp năm 2010)

Tuesday, 31 January 2017

Nhập dòng giải thoát - Về bốn quả Thánh

Nhập dòng giải thoát
Bình Anson

Trong kinh điển thường đề cập đến bốn quả vị mà người con Phật phải nhắm đến trên đường giải thoát, đưa đến Niết-bàn. Các quả vị nầy được xem như là các dấu mốc - hoặc các chặng đường - trên hành trình thanh lọc tâm ý, tiêu diệt các ô nhiễm ngủ ngầm trong tâm, thường được gọi là mười kiết sử hay thằng thúc (samyojana), trói buộc chúng sinh vào vòng luân hồi.

Bốn quả vị đó là:

- Dự lưu (Sotàpanna, Tu-đà-hoàn),
- Nhất lai (Sakadàgàmi, Tư-đà-hàm),
- Bất lai (Anàgàmi, A-na-hàm),
- A-la-hán (Arahat, Ứng cúng).

Mười kiết sử là:

- thân kiến (sakkàya-ditthi),
- hoài nghi (vicikicchà),
- giới cấm thủ (silabata-paràmàsa)
- dục ái, tham đắm vào cõi dục (kàma-ràga)
- sân hận (vyàpàda),
- sắc ái, tham đắm vào cõi sắc (rùpa-ràga),
- vô sắc ái, tham đắm vào cõi vô sắc (arùpa-ràga),
- mạn (màna),
- trạo cử vi tế (uddhacca),
- si vi tế (avijjà).

Trong nhiều bài kinh, Đức Phật thường tóm tắt về bốn quả thánh đó như sau:

- "Có những Tỳ-khưu là những vị A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn trừ, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, gánh nặng đã đặt xuống, mục đích đã thành đạt, hữu kiết sử đã được đoạn tận, được giải thoát nhờ chánh trí.

Có những Tỳ-khưu là những vị Bất lai, đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, ở đấy được nhập Niết-bàn, không còn phải trở lại đời này nữa.

Có những Tỳ-khưu là những vị Nhất lai, đã đoạn trừ ba kiết sử, đã làm cho muội lược tham, sân, si, sau khi sanh vào đời này một lần nữa, sẽ đoạn tận khổ đau.

Có những Tỳ-khưu là những vị Dự lưu, đã đoạn trừ ba kiết sử, không còn đọa vào ác đạo, chắc chắn sẽ được giác ngộ". - (Trung bộ, MN 118)

*

Người đạt quả Dự lưu là người đã đoạn trừ ba kiết sử đầu tiên: thân kiến, hoài nghi, và giới cấm thủ. Người nầy được xem như là một người đã nhập vào dòng giải thoát, tùy theo hạnh nghiệp và tinh tấn mà chỉ tái sinh làm người hoặc trong các cõi trời, tối đa là bảy kiếp, vì vậy có sách gọi là quả Thất lai hay Thất sinh. Người nầy còn được gọi là đã mở "Pháp nhãn", vì người ấy đã bắt đầu có thanh tịnh về quan kiến, đã trực nhận rõ ràng Chánh Pháp của Ðức Phật. Người đó không còn xem mình như là một bản thể riêng biệt và thường tồn, kể cả hình sắc và tâm thức. Người đó không còn một chút nghi ngờ nào về sự hiện hữu và lợi ích của Tam Bảo: không còn hoài nghi về sự giác ngộ của Ðức Phật, không còn hoài nghi về con đường mà Ðức Phật đã vạch ra để đi đến giác ngộ, không còn hoài nghi về những đệ tử của Ngài đã đi theo con đường ấy và đã đạt được sự giải thoát tối hậu. Người ấy cũng không còn có ảo tưởng rằng Niết-bàn có thể đạt được bằng cách ép mình vào các hình thức lễ nghi phiến diện hay các điều lệ ước định nào đó.

Thân kiến, kiết sử đầu tiên, là sự hiểu sai lạc về cái gọi là Tự ngã, hay cái Tôi, đồng hóa nó với một trong năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Trong bài kinh số 44, thuộc Trung bộ (MN 44), Ni sư Dhammadina giảng rằng một người đã đoạn trừ thân kiến là một người "không xem sắc là tự ngã, không xem tự ngã là có sắc, không xem sắc là trong tự ngã, không xem tự ngã là trong sắc", tương tự như thế đối với bốn uẩn còn lại.

Có người thường hiểu lầm về chữ "hoài nghi" dùng ở đây. Tiếng Pàli là "vicikicchà", thường dùng để chỉ thái độ nghi ngờ về Phật Pháp Tăng và về lý Duyên sinh. Ngài Phật Âm (Buddhaghosa), trong bộ luận Thanh Tịnh Đạo, nói rằng vicikicchà còn là một thái độ do dự, không nhất quyết, không sẵn sàng tra vấn, học hỏi. Do đó cần phải đoạn trừ kiết sử nầy. Ðức Phật khuyến khích chúng ta phải biết nỗ lực suy tư, luận giải và chứng nghiệm ngay trong đời sống hằng ngày, vì Pháp là "mời mọi người đến xem xét" (ehipassika). Ðể rồi chúng ta thấy, biết rõ ràng sự ích lợi của Phật Pháp cho con đường hành trì của ta, và từ đó, có một niềm tin vững chắc vào Tam Bảo, không còn thắc mắc, phân vân, hay do dự gì nữa.

Chữ "giới cấm thủ" cũng thường bị hiểu lầm. Có lẽ nên dịch là "giới lễ nghi thủ, giới lễ thủ". Ở đây để chỉ thái độ mê tín mù quáng, bám thủ vào các hình thức lễ nghi, tin rằng làm như thế là đủ để thanh lọc tâm. Đoạn trừ giới cấm thủ không có nghĩa là một thái độ buông lơi, phóng túng, dễ duôi, không giữ gìn giới hạnh. Trái lại, nó có nghĩa là một thái độ minh triết, xem giới luật như là một phương tiện tốt, cần thiết để luyện tâm, nhưng lại không mù quáng, không quá lệ thuộc vào các hình thức giáo điều. Một người không còn giới cấm thủ là một người lúc nào cũng có giới đức trong sạch, nhưng sống thảnh thơi trong giới luật đạo hạnh, không còn xem đó là một gánh nặng trên con đường hành trì của mình.

Để trừ khử các kiết sử trên, Đức Phật khuyên chúng ta phải nỗ lực thực hành bốn điều: (1) thân cận bậc chân nhân, (2) lắng nghe diệu pháp, (3) như lý tác ý, và (4) thực hành pháp và tùy pháp, như đã ghi trong Tương ưng (SN 55.11):

"Thân cận bậc chân nhân là Dự lưu phần.
Nghe diệu pháp là Dự lưu phần.
Như lý tác ý là Dự lưu phần.
Thực hành pháp và tùy pháp là Dự lưu phần".

Rồi Ngài giảng về sự liên quan của bốn pháp trên:

- "Này các Tỳ-khưu, giao thiệp với bậc chân nhân được viên mãn thì làm viên mãn nghe diệu pháp; nghe diệu pháp được viên mãn thì làm viên mãn lòng tin; lòng tin được viên mãn thì làm viên mãn như lý tác ý; như lý tác ý được viên mãn thì làm viên mãn chánh niệm tỉnh giác; chánh niệm tỉnh giác được viên mãn thì làm viên mãn các căn được chế ngự; các căn được chế ngự được viên mãn thì làm viên mãn ba thiện hành; ba thiện hành được viên mãn thì làm viên mãn bốn niệm xứ; bốn niệm xứ được viên mãn thì làm viên mãn bảy giác chi; bảy giác chi được viên mãn thì làm viên mãn minh giải thoát" (Tăng chi, AN 10.61).

Về thân cận bậc chân nhân, Ngài giảng:

- "Thế nào là làm bạn với thiện? Ở đây, thiện nam tử sống tại làng hay tại thị trấn. Tại đấy có gia chủ hay con người gia chủ, những trẻ được nuôi lớn trong giới đức, hay những người lớn tuổi được lớn lên trong giới đức, đầy đủ lòng tin, đầy đủ giới đức, đầy đủ bố thí, đầy đủ trí tuệ, vị ấy làm quen, nói chuyện, thảo luận. Với những người đầy đủ lòng tin, vị ấy học tập với đầy đủ lòng tin. Với những người đầy đủ giới đức, vị ấy học tập với đầy đủ giới đức. Với những người đầy đủ bố thí, vị ấy học tập với đầy đủ bố thí. Với những người đầy đủ trí tuệ, vị ấy học tập với đầy đủ trí tuệ. Đây gọi là làm bạn với thiện" (Tăng chi, AN 8.54).

Rồi Ngài khuyên:

Nếu thấy bậc hiền trí,
Chỉ lỗi và khiển trách,
Như chỉ chỗ chôn vàng,
Hãy thân cận người trí.
Thân cận người như vậy,
Chỉ tốt hơn, không xấu. (Pháp cú, Dhp 76)

Chớ thân với bạn ác,
Chớ thân kẻ tiểu nhân.
Hãy thân người bạn lành,
Hãy thân bậc thượng nhân. (Pháp cú, Dhp 78)

Đức Phật đề cập đến 5 lợi ích của việc biết nghe diệu pháp: (1) được nghe điều chưa nghe, (2) làm cho trong sạch điều được nghe, (3) đoạn trừ nghi, (4) làm cho tri kiến chánh trực, và (5) làm cho tâm tịnh tín (Tăng chi, AN 5.202).

Trong kinh "Tất cả các lậu hoặc" (Trung bộ, MN 2), Đức Phật dạy về pháp như lý tác ý để điều hướng các sự suy nghĩ của mình sao cho có lợi lạc trên đường tu tập, như sau:

- "Này các Tỳ-khưu, thế nào là các pháp cần phải tác ý và vị ấy tác ý? Này các Tỳ-khưu, những pháp nào do vị ấy tác ý mà dục lậu chưa sinh không sinh khởi, hay dục lậu đã sinh được trừ diệt, hay hữu lậu chưa sinh không sinh khởi, hay hữu lậu đã sinh được trừ diệt, hay vô minh lậu chưa sinh không sinh khởi, hay vô minh lậu đã sinh được trừ diệt, đó là những pháp cần phải tác ý và vị ấy tác ý. Nhờ vị ấy không tác ý các pháp không cần phải tác ý, tác ý các pháp cần phải tác ý, nên các lậu hoặc chưa sanh không sinh khởi và các lậu hoặc đã sinh được trừ diệt.

Vị ấy như lý tác ý: Ðây là khổ; như lý tác ý: Ðây là khổ tập; như lý tác ý: Ðây là khổ diệt; như lý tác ý: Ðây là con đường đưa đến khổ diệt. Nhờ vị ấy tác ý như vậy, ba kiết sử được trừ diệt: thân kiến, nghi, giới cấm thủ. Này các Tỳ-khưu, các pháp ấy được gọi là pháp dùng tri kiến để đoạn trừ các lậu hoặc".

Khi Tỳ-khưu Kotthika hỏi ngài Trưởng lão Xá-lợi-phất cần phải như lý tác ý thế nào để được giải thoát, ngài đáp:

- "Này Hiền giả Kotthika, Tỳ-khưu giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.

Năm thủ uẩn đó là gì? Đó là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này Hiền giả Kotthika, vị Tỳ-khưu giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã" (Tương ưng, SN 22.122).

Về thực hành pháp và tùy pháp, ở đây được giảng rộng ra, bao gồm chánh niệm tỉnh giác, phòng hộ các căn, huân tập ba thiện hành (thân, khẩu, ý), thực hành bốn niệm xứ (thân, thọ, tâm pháp), và phát triển bảy giác chi (niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả).

Trong nhiều bài kinh (Tương ưng, phẩm Dự lưu), Đức Phật thường đề cập đến bốn đặc tính của một vị thánh Dự lưu là: niềm tín thành bất động nơi Đức Phật, nơi Giáo Pháp của Ngài, nơi đoàn thể các vị Thánh Tăng và có giới đức cao thượng, lúc nào cũng được các bậc chân nhân khen ngợi. Trong Tăng chi (AN 10.92), Ngài giảng:

- "Thế nào là thành tựu bốn Dự lưu phần? Ở đây, này Gia chủ, vị thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với Đức Phật: Ðây là Thế Tôn, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp: Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu. Vị ấy thành tựu tịnh tín bất động đối với chúng Tăng: Diệu hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Trực hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Ứng lý hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Chân chánh hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử Thế Tôn đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được đảnh lễ, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời. Vị ấy thành tựu với những giới đức được các bậc thánh ái kính, không bị phá hủy, không bị bể vụn, không bị điểm chấm, không bị uế nhiễm, đưa đến giải thoát, được bậc trí tán thán, không bị chấp trước, đưa đến thiền định."

Mặc dù đoạn kinh trên thường được xem là các tiêu chuẩn căn bản của quả Dự lưu, trong kinh điển còn có ghi các danh sách khác, trong đó, tiêu chuẩn về giới hạnh được thay thế bằng tiêu chuẩn bố thí và trí tuệ:

- Bài kinh trong Tương ưng SN 55.32 ghi tiêu chuẩn thứ tư như sau: "Lại nữa, vị thánh đệ tử trú ở gia đình, với tâm thoát khỏi cấu uế của xan tham, bố thí dễ dàng, bàn tay rộng mở, thích thú từ bỏ, đáp ứng điều yêu cầu, thích thú chia xẻ vật bố thí."

- Bài kinh trong Tương ưng SN 55.33 ghi tiêu chuẩn thứ tư như sau: "Lại nữa, vị thánh đệ tử có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sinh diệt các pháp, trí tuệ các bậc thánh thể nhập các pháp, đưa đến chân chánh đoạn tận khổ đau."

Khi các danh sách liệt kê này được kết hợp lại, chúng ta có được bốn đức tính của vị thánh Dự lưu: (1) đầy đủ lòng tin, (2) đầy đủ giới đức, (3) đầy đủ bố thí, và (4) đầy đủ trí tuệ.

Đó cũng là bốn pháp đưa đến hạnh phúc tương lai, an lạc tương lai cho một cư sĩ Phật tử:

- "Có bốn pháp đưa đến hạnh phúc tương lai, an lạc tương lai cho thiện nam tử. Thế nào là bốn? Đó là đầy đủ lòng tin, đầy đủ giới đức, đầy đủ bố thí, đầy đủ trí tuệ" (Tăng chi, AN 8.54).

Ở đây, lòng tin nơi Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng) không phải chỉ đơn thuần là sự tin tưởng, sùng tín mù quáng. Vị Dự lưu thật sự tín nhiệm, tin tưởng nơi nguyên lý nghiệp quả - nguyên lý của hành động và hậu quả - vì vị ấy đã chứng nghiệm rõ ràng khi bắt đầu nhập dòng thánh.

*

Trong giai đoạn tu tập kế tiếp, khi dục ái (tham đắm vào dục giới) và sân hận được trừ khử một cách đáng kể thì người đó đắc quả Nhất lai, nghĩa là có thể còn tái sinh làm người hoặc trong cõi trời dục giới một lần nữa. Khi hai kiết sử dục ái và sân được loại bỏ hoàn toàn, thì người ấy đắc quả Bất lai, nghĩa là không còn tái sinh vào cõi dục giới nầy nữa. Năm kiết sử đầu tiên nầy gọi là hạ phần kiết sử (orambhàgiya-samyojana), cột trói chúng sinh trong cõi dục. Tùy theo trình độ chứng đạt, bậc thánh Bất lai sẽ thác sinh về Tịnh cư thiên thuộc cõi trời sắc giới (rùpa-loka), trước khi nhập Niết-bàn tối hậu. Ba quả vị Dự lưu, Nhất lai, Bất lai cũng thường được gọi chung là quả vị của bậc thánh Hữu học.

Người ấy tiếp tục hành trì thanh lọc tâm ý, và tinh tấn trừ khử năm kiết sử còn lại: tham đắm vào cõi sắc (sắc ái), tham đắm vào cõi vô sắc (vô sắc ái), trạo cử vi tế, mạn, và si vi tế. Năm kiết sử nầy gọi là thượng phần kiết sử (uddhambhàgiya-samyojana), cột trói chúng sinh trong cõi sắc và vô sắc. Ở đây, tham đắm vào cõi sắc và cõi vô sắc là sự tham đắm vào bốn tầng thiền-na hữu sắc (rùpa-jhàna) và bốn tầng thiền-na vô sắc (arùpa-jhàna). Trạo cử vi tế là trạng thái vẫn còn một vài giao động nhỏ trước trần cảnh, mạn (màna) là các ý tưởng so sánh, và si vi tế (avijjà) là một vài dấu vết vô minh ngăn che còn sót lại.

*

Ðến lúc đó, người ấy đã phá tung tất cả mười sợi dây trói buộc, trừ khử mười loại kiết sử ô nhiễm, lậu hoặc đã đoạn tận, tuệ giác khai mở, không còn tạo nghiệp, không còn phải tái sinh, luân hồi nữa. Nói một cách khác, như đã mô tả trong Trung bộ, bài kinh số 1 (kinh Pháp môn căn bản, MN 1), đối với người ấy: "các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, đạt chánh trí giải thoát". Người ấy trở thành bậc A-la-hán, bậc thánh Vô học, đắc đạo quả Niết-bàn, giải thoát rốt ráo tối hậu.

Bình Anson
Perth, tháng 10-2004
*
Dòng thánh giải thoát

*
Mười kiết sử

*
Bậc thánh Dự Lưu

*
Các bậc thánh nhân



Saturday, 28 January 2017

Nhạc Xuân - Hoa Xuân Ca

Mời tải về nghe tuyển tập các bản nhạc Xuân trong ngày Tết. Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps.

* nviet32.zip – Hoa Xuân ca (180 MB)
https://mega.nz/#!C4JCVIrb!Zyf-ZC9CxmLHGOVI9c8vYMDt73jwQFg9etnhbRqxWzs

*

Friday, 27 January 2017

Thân bệnh, tâm an

“PAIN IS INEVITABLE. SUFFERING IS OPTIONAL” (Đau đớn không thể tránh được, nhưng đau khổ là do chọn lựa) là câu nói thường được các vị thiền sư và các nhà tâm lý học phương Tây dùng để khuyến khích, an ủi chúng ta phấn đấu, đối diện với các cơn bệnh hành hạ thân xác. Nhiều người hiểu lầm cho rằng đó là một câu nói của Đức Phật.

Thật ra, Đức Phật có lời dạy với ý nghĩa tương tự trong một bài kinh ở Tương ưng bộ (Nakulapitā Sutta, SN 22:1). Khi ông Nakula đến gặp Ngài và xin một lời dạy để đối phó với các cơn bệnh đau yếu của tuổi già, Ngài khuyên: “THÂN CÓ ĐAU NHƯNG ĐỪNG ĐỂ TÂM ĐAU THEO” ('Dù thân tôi có bệnh, tâm sẽ không bị bệnh').

*

Nhạc Việt - Tiếng hát ANH NGỌC (1925-)

Ngày cuối năm mời tải về nghe tiếng hát Anh Ngọc mà có lẽ rất ít những người trẻ bây giờ biết đến. Đây là một giọng hát nam được nhiều người biết qua các chương trình âm nhạc của Đài Phát thanh Sài Gòn trước 1975. Ca sĩ Quỳnh Giao có một bài viết ca tụng ông là người có "giọng hát trượng phu". Riêng tôi, tôi cảm nhận đây là một giọng hát rất chuẩn của người Hà Nội xưa.

Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps.

nviet31.zip – Tiếng hát ANH NGỌC (2 CDs, 257 MB)
https://mega.nz/#!f5RDRSYZ!yg1OYXCezafTEQy5Gqw5M_ePd5W91O1nvp6hyX7OlbE

*
CD1: Anh Ngọc - Một Đời Tôi Hát (2000)

01 Đêm lạnh - Phạm Trọng
02 Ru em - Từ Huy
03 Đường về miền Bắc - Đoàn Chuẩn, Từ Linh
04 Dốc mơ - Ngô Thụy Miên
05 Gửi người em gái - Đoàn Chuẩn, Từ Linh
06 Một cõi đi về - Trịnh Công Sơn
07 Thì thầm - Lại Quốc Hùng
08 Tìm nơi em - Lê Trọng Nguyễn
09 Hình ảnh một buổi chiều - Lâm Tuyền
10 Một đời tôi hát - Thanh Trang
*
CD2: Anh Ngọc – Một thời để nhớ (2002)

01 Thiên thai - Văn Cao
02 Con thuyền không bến - Đặng Thế Phong
03 Khúc nhạc chiều - Ngọc Bích
04 Em tôi - Lê Trạch Lựu
05 Ngày về - Hoàng Giác
06 Tiếng hát biên thùy - Thiện tơ, Hoàng Giác
07 Đôi mắt huyền - Thông Đạt
08 Mùa thu chết - Phạm Duy
09 Nguyệt Cầm - Cung Tiến
10 Huyền - Thanh Trang
11 Vương tơ - Thẩm Oánh
12 Trở về mái nhà xưa - Curtiss, Phạm Duy
------------------------------

Mời đọc thêm:
1) Trường Kỳ: Anh Ngọc, Một đời để hát
2) Quỳnh Giao: Anh ngọc, Giọng hát trượng phu

*