Thursday, 29 July 2021

Tu tâm Từ để hộ thân, ngủ an lành - Nguyên Giác

Tu tâm Từ để hộ thân, ngủ an lành
Nguyên Giác

Đại dịch đang tàn phá quê nhà. Đất nước như trong nhà lửa. Mọi người đều đang sống trong nỗi lo. Nhiều người bất an, kể cả trong giấc ngủ, hễ chợp mắt là những hình ảnh đáng sợ hiện ra. Có những bài kinh nào để hộ thân, và để có giấc ngủ bình an?  Bài viết này sẽ tìm các bài kinh đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hành – vừa để hộ thân, vừa có giấc ngủ bình an. Người viết không có thẩm quyền gì, nơi đây chủ yếu là chép lời Đức Phật dạy. Các sai sót, nếu có, xin được sám hối. Công đức chép kinh xin hồi hướng về quê nhà cho tất cả mọi người bình an. 

Giữ giới, mang an vui cho người, sẽ được chư thiên bảo vệ

Chúng ta có thể tự hộ thân bằng cách giữ giới, và mang an vui cho người. Đức Phật dạy trong Kinh T211.9 (Pháp Cú Thí Dụ Kinh - Song Yếu Phẩm, Đệ Cửu), rằng hễ mình giữ giới và mang an vui cho người, sẽ được chư thiên bảo vệ. Nơi đây sẽ dịch theo bản tiếng Anh của Samuel Beal:

“Người mang tới an vui bây giờ, sẽ được hạnh phúc về sau. Sống giới hạnh, sẽ được hạnh phúc gấp hai lần --- người này hạnh phúc và an vui; nhìn thấy chính niềm hạnh phúc của mình, tâm người này sẽ an lạc. Người này hạnh phúc bây giờ, người này sẽ hạnh phúc về sau; làm những điều công chính, người này có niềm vui gấp hai lần; người này được chư thiên bảo vệ nơi đây, và sẽ được quả lành và được an lạc về sau.” (1)

Tu tâm từ, sẽ ngủ ngon, được chư thiên hộ vệ, thân tâm bình yên

Trong Kinh EA 49.10, Đức Phật dạy rằng những ai tu tâm từ giải thoát và quảng diễn ý nghĩa này, sẽ được ngủ yên, lìa ác mộng, được chư thiên bảo vệ, thoát nhiều nạn. Trích bản dịch của hai Thầy Tuệ Sỹ, Đức Thắng ghi lời Đức Phật dạy như sau.

“Nếu chúng sanh nào tu hành từ tâm giải thoát, quảng bố ý nghĩa ấy, diễn nói cho người khác nghe, sẽ thu hoạch được mười một quả báo. Những gì là mười một? Nằm ngủ yên, tỉnh giấc yên, không thấy ác mộng, chư thiên hộ vệ, mọi người yêu mến, không bị độc, không bị binh đao, không bị nước, lửa, giặc cướp; thảy đều không bị xâm hại; sau khi thân hoại mạng chung sanh lên trời Phạm thiên. Đó gọi là Tỳ kheo tu hành từ tâm sẽ có được mười một phước này.” (2)

Tương tự, trong Kinh AN 11.15, bản dịch của Thầy Minh Châu, trích như sau:

“Này các Tỷ-kheo, từ tâm giải thoát được thực hành, được tu tập, được làm cho sung mãn, được tác thành cỗ xe, được tác thành căn cứ địa, được tiếp tục an trú, được tích tập, được khéo khởi sự thời được chờ đợi là mười một lợi ích. Thế nào là mười một? Ngủ an lạc, thức an lạc, không ác mộng, được loài người ái mộ, được phi nhân ái mộ, chư Thiên bảo hộ, không bị lửa, thuốc độc, kiếm xúc chạm, tâm được định mau chóng, sắc mặt trong sáng, mệnh chung không hôn ám; nếu chưa thể nhập thượng pháp (A-la-hán quả); được sanh lên Phạm thiên giới.” (2)

Dứt bỏ hơn thua, sẽ ngủ bình an

Kinh SA 1153, bản dịch của hai Thầy Tuệ Sỹ, Đức Thắng, ghi lời Đức Phật dạy rằng lìa bỏ hơn thua, là ngủ bình an. Nơi đây, bài kệ sẽ viết theo văn xuôi cho tiện trình bày:

“Bấy giờ, Thế Tôn liền nói kệ: Người hơn liền thêm oán, Người thua nằm không yên. Hơn thua đều buông xả, Là được ngủ an lành.” (3)

Từ bỏ sân hận, sẽ ngủ bình an 

Đức Phật dạy, hễ từ bỏ sân giận thì giấc ngủ sẽ bình an, và được hỷ lạc trong tâm. Trong Kinh SA 1309, bản dịch của hai Thầy Tuệ Sỹ & Đức Thắng, ghi lời Đức Phật dạy (tương đương với Kinh này cũng có Kinh SA 1116): 

“Bấy giờ, Thế Tôn nói kệ đáp: Nếu giết hại sân nhuế, Giấc ngủ được an ổn. Sự giết hại sân nhuế, Khiến người được hỷ lạc. Sân nhuế là gốc độc, Ta khen người giết được. Giết sân nhuế kia rồi, Đêm dài không lo lắng.” (4)

Lìa tham sân si, sẽ ngủ ngon

Tâm có tham sân si sẽ ngủ không yên, tâm lìa tham sân si sẽ ngủ bình an. Đó là lời Đức Phật dạy trong Kinh EA 28.3, bản dịch của hai Thầy Tuệ Sỹ, Đức Thắng.

“Thế Tôn bảo: «Như ý dục người kia đang mạnh, trong khi Như Lai diệt tận không còn dư tàn, gốc rễ không sinh trở lại, không trổi lên lại nữa. Thế nào, con trai của trưởng giả, nếu người mà tâm sân nhuế, ngu si khởi lên, há ngủ ngon được sao?»

Đồng tử thưa: «Không ngủ ngon được. Sở dĩ như vậy là vì do tâm có ba độc.»…” (5)

Trú niệm, tỉnh giác, sẽ ngủ an lành, được chư thiên hộ vệ

Bạn muốn ngủ ngon, được chư thiên hộ vệ, cần phải giữ chánh niệm tỉnh giác trong mọi thời liên tục. Kinh AN 5.210, bản dịch của Thầy Minh Châu, Đức Phật dạy rằng:

“Này các Tỷ-kheo, có năm nguy hại này đối với người thất niệm, không tỉnh giác rơi vào giấc ngủ. Thế nào là năm? Ngủ một cách khổ sở; thức dậy một cách khổ sở; thấy ác mộng; chư Thiên không phòng hộ; bất tịnh chảy ra, mộng tinh, di tinh. Này các Tỷ-kheo, có năm nguy hại này đối với người thất niệm, không tỉnh giác rơi vào giấc ngủ.

Này các Tỷ-kheo, có năm lợi ích này đối với người trú niệm, tỉnh giác rơi vào giấc ngủ. Thế nào là năm? Ngủ một các ngon lành; thức dậy một cách ngon lành; không thấy ác mộng; chư Thiên phòng hộ; bất tịnh không chảy ra. Này các Tỷ-kheo, có năm lợi ích này đối với người trú niệm, tỉnh giác rơi vào giấc ngủ.” (6)

Thà là thường ngủ, hơn là thức mà tâm loạn tưởng

Những người dễ thất niệm, dễ vọng tưởng sẽ gặp nhiều nguy hiểm, rồi sẽ sanh vào đường dữ. Do vậy, cần phải canh chừng tâm mình liên tục. Kinh EA 51.6, Đức Phật dạy cụ thể, theo bản dịch của hai Thầy Tuệ Sỹ, Đức Thắng:

“Chẳng thà cứ thường hay ngủ nhiều, chớ đừng trong khi thức mà tư duy loạn tưởng, để rồi thân hoại mạng chung sanh vào nẻo dữ. Chẳng thà để cho dùi sắt đang rực cháy ịn vào mắt, chứ không để nhìn sắc mà nổi lên loạn tưởng. Tỳ kheo khởi tưởng như vậy bị bại hoại bởi thức. Tỳ kheo bị hủy hoại bởi thức sẽ rời vào ba nẻo dữ, địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ. Điều Ta muốn nói là như vậy. Người kia chẳng thà cứ thường hay ngủ, chứ đừng khi thức mà tư duy loạn tưởng. Thà lấy dùi bén đâm vào lỗ tai cho nó hư hoại chứ không để vì nghe tiếng mà nổi lên loạn tưởng. Tỳ kheo nổi lên loạn tưởng sẽ bị bại hoại bởi thức. Chẳng thà cứ thường xuyên ngủ chứ đừng để khi thức mà tư duy loạn tưởng. Chẳng thà lấy kìm nóng làm hư hoại mũi, chứ đửng vì ngửi mùi mà nổi lên loạn tưởng. Tỳ kheo nổi lên loạn tưởng thì bị bại hoại bởi thức. Do bị bại hoại bởi thức mà rơi vào ba nẻo dữ, địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ. Điều mà Ta muốn nói là như vậy. Chẳng thà lấy gươm bén cắt đứt lưỡi, chứ không để vì lời nói hung dữ, thô bạo, mà rơi vào ba nẻo dữ, địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ. Chẳng thà thường ngủ, chứ đừng để trong khi thức mà nổi lên tư duy loạn tưởng. Chẳng thà lấy tấm lá đồng nóng đỏ quấn quanh thân mình, chứ không giao thông với phụ nữ của trưởng giả, cư sỹ, bà-la-môn. Nếu cùng giao thông, qua lại chuyện trò, tất phải rơi vào ba nẻo dữ, địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ.” (7)

Giữ tâm tỉnh thức trong mọi thời, kể cả khi ngủ

Kinh SA 622 kể về trường hợp, một nàng kỹ nữ xinh đẹp tuyệt trần tới cúng dường Đức Phật, lúc đó Thế Tôn đang thuyết pháp cho đại chúng vây quanh. Đức Phật thấy nàng kỹ nữ Am-la sắp tới, mới dạy đại chúng phải nhiếp tâm trong mọi thời đi đứng nằm ngồi, kể cả trong giấc ngủ. Bản dịch của hai Thầy Tuệ Sỹ, Đức Thắng trích như sau:

“Này các Tỳ-kheo, các ông nên tinh cần nhiếp tâm an trụ, chánh niệm, chánh trí. Nay có cô gái Am-la đến, nên phải giáo giới các ông.

“Thế nào là Tỳ-kheo tinh cần nhiếp tâm an trụ? Nếu Tỳ-kheo nào đối với pháp ác bất thiện đã sanh thì nên đoạn trừ, phát khởi ý chí, phương tiện, tinh tấn, nhiếp tâm; đối với pháp ác bất thiện nếu chưa sanh, thì đừng để sanh. Đối với pháp thiện chưa sanh thì nên làm cho phát sanh; nếu pháp thiện đã sanh, thì khiến an trụ không để mất. Tu tập đầy đủ, phát khởi ý chí, phương tiện, tinh tấn, nhiếp tâm. Đó gọi là Tỳ-kheo tinh cần an trụ nhiếp tâm.

“Thế nào gọi là Tỳ-kheo chánh trí? Nếu Tỳ-kheo nào trong những oai nghi tới, lui, thường theo chánh trí; quay nhìn, trông, ngắm, co, duỗi, cúi, ngước, cầm y bát, đi, đứng, nằm, ngồi, ngủ, nghỉ, thức, nói, im lặng, đều an trụ với chánh trí. Đó là chánh trí.

“Thế nào là chánh niệm? Nếu Tỳ-kheo nào an trụ chánh niệm quán thân trên nội thân, tinh cần, phương tiện, chánh trí, chánh niệm, điều phục tham ưu thế gian; an trụ chánh niệm quán thọ, tâm, pháp trên pháp, tinh cần, phương tiện, chánh trí, chánh niệm, điều phục tham ưu thế gian. Đó gọi là Tỳ-kheo chánh niệm. Cho nên, các ông hãy tinh cần nhiếp tâm an trụ, chánh niệm, chánh trí. Nay có cô gái Am-la đến, nên phải giáo giới các ông.” (8)

Tỉnh thức nơi 6 căn: xả ly, lìa ưa ghét, sẽ được tôn kính

Làm thế nào để được các cõi trời và người tôn kính và hộ vệ? Đức Phật dạy trong Kinh AN 6.1 rằng những người luôn tỉnh thức nơi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý và giữ được tâm buông xả (không ưa, không ghét) sẽ được các cõi trời và người tôn kính. Đây cũng là ý chỉ "ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm" của Kinh Kim Cang. Bản dịch của Thầy Minh Châu viết (người viết ghi thêm trong ngoặc cho rõ nghĩa):

"Thành tựu sáu pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời. Thế nào là sáu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, không có ưa thích, không có ghét bỏ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác; khi tai nghe tiếng (không có ưa thích, không có ghét bỏ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác)… khi mũi ngửi hương (không có ưa thích, không có ghét bỏ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác)… khi lưỡi nếm vị (không có ưa thích, không có ghét bỏ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác)… khi thân cảm xúc (không có ưa thích, không có ghét bỏ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác)… khi ý biết pháp, không có ưa thích, không có ghét bỏ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác. Thành tựu sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là vô thượng phước điền ở đời." (9)

• Khi ngủ, hãy giữ tâm từ, thương chúng sanh

Trong Kinh SN 4.13, ghi lại chuyện “chân Thế Tôn bị phiến đá gây thương tích. Thế Tôn cảm xúc khốc liệt, toàn thân đau đớn, nhói đau, đau nhức mãnh liệt, không thích thú, không vừa ý. Và Thế Tôn chánh niệm tỉnh giác, nhẫn chịu không để tâm tư buồn nản.” Thế rồi, lúc đó Ác ma tới, hỏi chuyện. Đức Phật mới trả lời rằng Đức Phật không nằm vì sầu muộn hay làm thơ, mà lúc nào cũng giữ tâm từ, thương xót chúng sanh. Bản dịch của Thầy Minh Châu ghi lời Đức Phật (nơi đây, viết theo văn xuôi):

“Ta không uể oải nằm, Không tìm thơ, tìm vận, Mục đích Ta đã đạt, Ðâu có sầu muộn gì! Ta nằm ngồi một mình, Trên ghế giường vắng lặng, Yên tĩnh Ta nằm nghỉ, Tâm từ, thương chúng sanh. Những kẻ, ngực bị đâm, Hổn hển tim dồn dập, Vẫn tìm được giấc ngủ, Dầu bị thương tích nặng. Sao Ta lại không ngủ, Khi không bị thương tích, Khi thức không âu lo, Khi ngủ chẳng sợ hãi, Ngày đêm không khởi lên, Phiền não bận lòng Ta? Ta không thấy tai hại, Một chỗ nào trên đời, Do vậy, Ta nằm nghỉ, Tâm từ, thương chúng sanh.” (10)

Tu tâm từ sẽ chắc chắn chứng quả

Không chỉ là được chư thiên hộ vệ và ngủ bình an, người tu tâm từ sẽ chứng quả thánh thứ ba (A na hàm) hay cao hơn (tức A la hán). Trong Kinh MA 15, Đức Phật nói rằng khéo tu tâm từ sẽ “chắc chắn chứng quả” --- theo bản dịch của Thầy Tuệ Sỹ:

“Do đó, người tại gia hay xuất gia, nam hay nữ, thường phải siêng tu từ tâm giải thoát. Nếu người tại gia hay xuất gia, nam hay nữ ấy, tu từ tâm giải thoát, thì không còn mang thân này đi đến đời sau mà chỉ theo tâm đi khỏi cõi này. Tỳ-kheo nên nghĩ như vầy: ‘Ta vốn vì buông lung mà tạo nghiệp bất thiện. Tất cả nghiệp ấy có thể thọ báo trong đời này, chớ không thể đi đến đời sau nữa’. Nếu có người thực hành từ tâm giải thoát rộng lớn vô lượng, khéo tu tập như vậy, chắc chắn chứng quả A-na-hàm, hoặc chứng cao hơn nữa.” (11)

Tu tâm từ có công đức hơn cúng dường vô lượng tỳ kheo bốn phương

Trong Kinh MA 155, Đức Phật dạy rằng cúng dường vô lượng tỳ kheo bốn phương cũng không bằng trong khoảnh khắc tu tâm từ hướng về tất cả chúng sanh. Bản dịch của Thầy Tuệ Sỹ, trích:

“Này Cư sĩ, Bà-la-môn Tùy-lam đã thực hành đại bố thí, bố thí thức ăn cho phàm phu toàn cõi Diêm-phù, bố thí thức ăn cho một trăm vị Tu-đà-hoàn, một trăm vị Tư-đà-hàm, một trăm vị A-na-hàm, một trăm vị A-la-hán, một trăm vị Bích-chi-phật, tạo phòng nhà bố thí cho chúng Tỳ-kheo bốn phương, tâm hoan hỷ quy y Ba ngôi tôn quý là Phật, Pháp, chúng Tỳ-kheo, và thọ giới; nếu lại có người trong khoảnh khắc thực hành từ tâm đối với tất cả chúng sanh, cho đến trong khoảng thời gian vắt sữa bò, thì so với sự bố thí kia, việc này hơn nhiều lắm.

“Này Cư sĩ, Bà-la-môn Tùy-lam đã thực hành đại bố thí, bố thí thức ăn cho phàm phu toàn cõi Diêm-phù, bố thí thức ăn cho một trăm Tu-đà-hoàn, một trăm vị Tư-đà-hàm, một trăm vị A-na-hàm, một trăm vị A-la-hán, một trăm vị Bích-chi-phật, tạo phòng, nhà bố thí cho Chúng Tỳ-kheo bốn phương, tâm hoan hỷ quy y Ba ngôi tôn quý là Phật, Pháp, chúng Tỳ-kheo, thọ giới và trong khoảnh khắc thực hành từ tâm đối với tất cả chúng sanh, cho đến trong khoảng thời gian vắt sữa bò, như thế; nếu lại có người quán được tất cả pháp là vô thường, khổ, không và vô ngã, thì so với sự bố thí kia, việc làm này hơn nhiều lắm.” (12)

Sống an lạc hiện tại, thương xót chúng sanh đời sau

Đức Phật nói trong Kinh MA 77 rằng ngài muốn đời sau có chúng sanh học theo hạnh của ngài, để sống an lạc hiện tại và thương cho chúng sanh đời sau. Bản dịch của Thầy Tuệ Sỹ ghi lời Đức Phật dạy:

“Này A-na-luật-đà, không phải vì muốn đạt được những gì chưa đạt đến, vì muốn thu hoạch những gì chưa thu hoạch, vì muốn chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ mà Như Lai sống nơi rừng vắng, trong núi sâu, dưới gốc cây, thích ở non cao, vắng bặt tiếng tăm, xa lánh, không sự dữ, không có bóng người, tùy thuận tĩnh tọa. Này A-na-luật-đà, Như Lai chỉ vì hai mục đích sau đây nên mới sống nơi rừng vắng, trong núi sâu, dưới gốc cây, thích ở non cao, vắng bặt tiếng tăm, xa lánh, không sự dữ, không có bóng người, tùy thuận tĩnh tọa. Một là, sống an lạc ngay trong đời hiện tại. Hai là, vì thương xót chúng sanh đời sau. Đời sau hoặc có chúng sanh học theo Như Lai, sống nơi rừng vắng, trong núi sâu, dưới gốc cây, thích ở non cao, vắng bặt tiếng người, tùy thuận tĩnh tọa. Này A-na-luật-đà, vì những mục đích ấy mà Như Lai sống nơi rừng vắng, trong núi sâu, dưới gốc cây, thích ở non cao, vắng bặt tiếng tăm, xa lánh, không sự dữ, không có bóng người, tùy thuận tĩnh tọa”. (13)

Nhìn mọi người như mẹ, như cha đời quá khứ

Nếu mình nhìn thấy một ai mà tự nhiên thấy trong tâm khởi lên “ái niệm hoan hỷ” thì hãy nhớ rằng người đó trong kiếp trước từng là thân quyến của mình. Do vậy, kiếp này hãy tinh tấn xa lìa sanh tử luân hồi. Kinh SA 945, bản dịch của hai Thầy Tuệ Sỹ, Đức Thắng, ghi lời Đức Phật dạy:

“Chúng sanh từ vô thỉ sanh tử luân chuyển mãi, mà không biết biên tế tối sơ của khổ. Các Tỳ-kheo, nếu thấy chúng sanh mà khởi ái niệm hoan hỷ, thì nên nghĩ rằng: ‘Chúng sanh như vậy, trong đời quá khứ chắc chắn đã từng là cha mẹ, anh em, vợ con, quyến thuộc, thầy bạn, tri thức của chúng ta, cứ mãi mãi luân chuyển sanh tử như vậy, không biết biên tế tối sơ của khổ. Cho nên các Tỳ-kheo, nên học như vầy: Hãy nỗ lực tinh cần, đoạn trừ các hữu, chớ cho tăng trưởng.” (14)

Dù bị bạo hành, vẫn giữ tâm từ vô lượng

Đức Phật dạy rằng cho dù bị bọn ác chặt tay chân mình, cũng chớ khởi tâm sân hận, mà hãy hướng tâm từ nơi kẻ ác đó. Bản dịch Kinh MA 193 của Thầy Tuệ Sỹ trích như sau:

“Các ngươi hãy học như vậy: nếu có giặc cướp đến, dùng lưỡi cưa bén cưa xẻ tay chân các ngươi chi tiết, mà tâm không biến đổi, miệng không phát ra lời thô ác, hướng đến người cắt xả ấy, duyên nơi người cắt xả ấy mà khởi tâm từ mẫn, tâm tương ưng với từ, biến mãn một phương, thành tựu an trụ. Cũng vậy, hai, ba, bốn phương, tứ duy trên dưới, bao trùm tất cả tâm tương ưng với từ, không kết, không oán, không nhuế, không tránh, rộng lớn, vô lượng, vô biên, khéo tu tập, biến mãn khắp cả thế gian, thành tựu an trụ. Cũng vậy, bi và hỷ. Tâm tương ưng với xả, không kết, không oán, không nhuế, không tránh, rộng lớn, vô lượng, vô biên, khéo tu tập, biến mãn khắp cả thế gian, thành tựu an trụ. Các ngươi hãy học như vậy.” (15)

Kinh Từ Bi: Đi đứng nằm ngồi đều giữ chánh niệm từ bi

Như thế nào để tu tâm từ? Trong Kinh Từ Bi (Metta Sutta), Đức Phật dạy rằng người tu phải giữ giới (thẳng thắn, khiêm cung, từ ái, không làm điều bị chê cười), khởi tâm nguyện cho tất cả mọi người, mọi loài sống an toàn (thân an), hạnh phúc (tâm vui), tự thấy mình như bà mẹ nhìn tất cả mọi người, mọi loài như đứa con duy nhất của mình, và giữ tâm như thế trong đi đứng nằm ngồi.

Sau đây là bản văn Thầy Nhất Hạnh dịch Kinh Từ Bi (Metta Sutta):

“Những ai muốn đạt tới an lạc thường nên học hạnh thẳng thắn, khiêm cung, biết xử dụng ngôn ngữ từ ái. Những kẻ ấy biết sống đơn giản mà hạnh phúc, nếp sống từ hòa, điềm đạm, ít ham muốn, không đua đòi theo đám đông. Những kẻ ấy sẽ không làm bất cứ một điều gì mà các bậc thức giả có thể chê cười.

Và đây là điều họ luôn luôn tâm niệm:

Nguyện cho mọi người và mọi loài được sống trong an toàn và hạnh phúc, tâm tư hiền hậu và thảnh thơi.

Nguyện cho tất cả các loài sinh vật trên trái đất đều được sống an lành, những loài yếu, những loài mạnh, những loài cao, những loài thấp, những loài lớn, những loài nhỏ, những loài ta có thể nhìn thấy, những loài ta không thể nhìn thấy, những loài ở gần, những loài ở xa, những loài đã sinh và những loài sắp sinh.

Nguyện cho đừng loài nào sát hại loài nào, đừng ai coi nhẹ tính mạng của ai, đừng ai vì giận hờn hoặc ác tâm mà mong cho ai bị đau khổ và khốn đốn.

Như một bà mẹ đang đem thân mạng mình che chở cho đứa con duy nhất, chúng ta hãy đem lòng từ bi mà đối xử với tất cả mọi loài.

Ta hãy đem lòng từ bi không giới hạn của ta mà bao trùm cả thế gian và muôn loài, từ trên xuống dưới, từ trái sang phải, lòng từ bi không bị bất cứ gì làm ngăn cách, tâm ta không còn vương vấn một chút hờn oán hoặc căm thù. Bất cứ lúc nào, khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm, miễn là còn thức, ta nguyện duy trì trong ta chánh niệm từ bi. Nếp sống từ bi là nếp sống cao đẹp nhất.

Không lạc vào tà kiến, loại dần ham muốn, sống nếp sống lành mạnh và đạt thành trí giác, hành giả sẽ chắc chắn vượt thoát khỏi tử sinh.” (16)

Thiền tâm từ

Thiền về tâm từ không đơn giản, đó là nói theo Kinh Phật (thí dụ Kinh Bát Thành, MN 52, dạy về 11 pháp để giải thoát). Thiền về tâm từ trong nhiều Kinh có vẻ phức tạp, nhưng cũng không phức tạp bằng Thiền về tâm từ như được dạy trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) và nhiều luận thư khác, nơi đó dạy cách quán niệm, rải tâm từ về chính mình trước, rồi tới người thân hay bạn hữu, rồi tới một người mình không ưa cũng không ghét, rồi tới người mình có bất bình hay xích mích, rồi tới cả các nhóm người đó, rồi tới tất cả chúng sanh các cõi, mười phương. Đặc biệt, Đức Đạt Lai Lạt Ma trong thời buổi sáng lại có thêm pháp Tonglen (quán tưởng nhận vào niềm đau của chúng sinh, và gửi niềm vui tới chúng sinh). 

Chúng ta trong thời kỳ căng thẳng này (và thời kỳ rất khẩn cấp này), nên tìm cách làm cho mọi chuyện đơn giản, dễ nhớ, dễ tu và dễ hướng dẫn bạn hữu. Nếu cần tóm tắt thì là: giữ giới, tỉnh thức nơi sáu căn (không ưa, không ghét, xả ly, không dính mắc), xa lìa tham sân si, thương xót chúng sanh. Trong trường hợp Phật tử là công nhân nhà máy, đang chống dịch  với lệnh “3 tại chỗ” (sản xuất tại chỗ, ăn tại chỗ, nghỉ tại chỗ) thì hiển nhiên, không thể nào giữ được bất kỳ nghi thức nào gọi là hài lòng. 

Do vậy, chúng ta có thể tóm lược Kinh Từ Bi vào một vài ý dễ nhớ: “Nguyện cho con giữ giới trọn vẹn, thân không hại ai, lời nói hòa nhã, tâm ý trong sạch. Nguyện cho con và chúng sanh khắp các cõi được thân an lành, tâm hạnh phúc. Nguyện cho con có tâm từ vô lượng, thương xót khắp các cõi, trong mọi thời đi đứng nằm ngồi.” 

Nên tự nhắc trong tâm vài câu như thế. Không cần nhớ chính xác từng chữ. Bạn có thể suy nghĩ, nghiền ngẫm từng ý tóm lược trong đó, hay nghiền ngẫm từng câu trong bài Kinh Từ Bi đầy đủ, không nhất thiết phải tụng có kệ, có vần, có chuông mõ. Theo các luận thư, Kinh Từ Bi cũng là kinh hộ thân, do Đức Phật dạy chư tăng khi vào ngồi tu trong rừng để không bị giới phi nhân quậy phá. Và trong thời đại dịch này, có được thân an lành và tâm hạnh phúc là ước mơ nhiều rồi, huống gì đã tu học với tâm từ nhất định sẽ tới lúc giải thoát, không đời này thì cũng đời sau.

Nguyên Giác
– 28/7/2021

GHI CHÚ:

(1) Pháp Cú Thí Dụ Kinh: https://suttacentral.net/t211.9/en/beal 

(2) Kinh EA 49.10: https://suttacentral.net/ea49.10/vi/tue_sy-thang

Kinh AN 11.15: https://suttacentral.net/an11.15/vi/minh_chau

(3) Kinh SA 1153: https://suttacentral.net/sa1153/vi/tue_sy-thang 

(4) Kinh SA 1309: https://suttacentral.net/sa1309/vi/tue_sy-thang

(5) Kinh EA 28.3: https://suttacentral.net/ea28.3/vi/tue_sy-thang

(6) Kinh AN 5.210: https://suttacentral.net/an5.210/vi/minh_chau

(7) Kinh EA 51.6: https://suttacentral.net/ea51.6/vi/tue_sy-thang

(8) Kinh SA 622: https://suttacentral.net/sa622/vi/tue_sy-thang

(9) Kinh AN 6.1: https://suttacentral.net/an6.1/vi/minh_chau

(10) Kinh SN 4.14: https://suttacentral.net/sn4.13/vi/minh_chau

(11) Kinh MA 15: https://suttacentral.net/ma15/vi/tue_sy

(12) Kinh MA 155: https://suttacentral.net/ma155/vi/tue_sy

(13) Kinh MA 77: https://suttacentral.net/ma77/vi/tue_sy

(14) Kinh SA 945: https://suttacentral.net/sa945/vi/tue_sy-thang

(15) Kinh MA 193: https://suttacentral.net/ma193/vi/tue_sy

(16) Kinh Từ Bi: https://thuvienhoasen.org/a10456/kinh-tu-bi-metta-sutta

*


Tuesday, 6 July 2021

Sách: CÁCH NHÌN PHÁP (The Vision of Dhamma), Hòa thượng NYANAPONIKA

CÁCH NHÌN PHÁP (The Vision of Dhamma)
Hòa thượng NYANAPONIKA 
Tu nữ HUYỀN CHÂU dịch

Tải về bản song ngữ Việt-Anh, dạng PDF, tại:
=> https://budsas.net/sach/vn179.pdf

*

MỤC LỤC

Lời nói đầu, Erich Fromm
Chú thích về các nguồn tài liệu
Lời giới thiệu, Tỳ khưu Bodhi

1. CON ĐƯỜNG THOÁT KHỔ ĐẾN TỰ DO
2. DA CHẾT
3. NĂNG LỰC CỦA CHÁNH NIỆM
4. RỄ TỐT VÀ XẤU
5. NĂM CHƯỚNG NGẠI
6. BỐN DƯỠNG CHẤT TRONG ĐỜI SỐNG
7. BA NƠI NƯƠNG NHỜ (TAM QUY)
8. TỨ VÔ LƯỢNG TÂM
9. VÔ NGÃ VÀ NIẾT BÀN 

10. NHỮNG BÀI LUẬN NGẮN
Thấy Mọi Vật như Chúng Đang Là
Đạo Phật và Quan Niệm Thần Linh
Lòng Sùng Kính trong Đạo Phật
Lòng Trung Thành Dũng Cảm
Tại Sao Chấm Dứt Khổ
Nghiệp và Quả của Nghiệp
Quán Thọ
Bảo Vệ nhờ Chánh Niệm

Bản Chú Giải Thuật Ngữ
Thư Mục Những Ấn Bản Phẩm của Hòa Thượng Nyanaponika

*



*----------*

Monday, 5 July 2021

Các sách tiếng Anh của Bhikkhu KHANTIPALO (Laurence Mills, 1932-2021)

Để tưởng niệm, tôi cố gắng sưu tầm các sách tiếng Anh do Sư soạn dịch và viết trong suốt 3 thập niên (1965-1995):

Bhikkhu Khantipalo. A New Age? A Buddhist View and Relating Religions (1979) 
(Thời đại mới? Một nhãn quan Phật giáo và các tôn giáo liên hệ)
https://budsas.net/sach/en216.pdf

Bhikkhu Khantipalo. Heedfulness (1984)
(Chú tâm tinh tấn)
https://budsas.net/sach/en217.pdf

Bhikkhu Khantipalo. Buddha-Bush, Seeing Dhamma in Nature (1982)
(Rừng cây của Phật, Nhìn Pháp trong thiên nhiên)
https://budsas.net/sach/en218.pdf

Bhikkhu Khantipalo. Aggression, War, and Conflict (1986)
(Xâm lược, Chiến tranh, và Xung đột)
https://budsas.net/sach/en219.pdf

Bhikkhu Khantipalo. The Advantages of Merit (1967)
(Lợi ích của việc tạo phước)
https://budsas.net/sach/en220.pdf

Bhikkhu Khantipalo. Lay Buddhist Practice (1974, 1982) 
(Tu tập của giới cư sĩ)
https://budsas.net/sach/en221.pdf

Bhikkhu Khantipalo. With Robes and Bowl - Glimpses of the Thudong Bhikkhu Life (1965, 1986) 
(Y và bình bát - Sơ lược về hạnh đầu đà)
https://budsas.net/sach/en222.pdf

Bhikkhu Khantipalo. The Wheel of Birth and Death (1970) 
(Bánh xe sinh tử)
https://budsas.net/sach/en223.pdf

Bhikkhu Khantipalo. Practical Advice for Meditators (1968) 
(Lời khuyên thực tế cho các thiền sinh)
https://budsas.net/sach/en224.pdf

Bhikkhu Khantipalo. Forest Meditations - The Verses of the Arahant Tālapuṭa Thera (1977) 
(Hành thiền trong rừng - Các bài kệ của A-la-hán Tālapuṭa)
https://budsas.net/sach/en225.pdf

Bhikkhu Khantipalo. The Buddhist Monk’s Discipline (1984) 
(Giới luật của tu sĩ Phật giáo)
https://budsas.net/sach/en226.pdf

Bhikkhu Khantipalo. The Buddha’s Last Bequest - A Translation from the Chinese Tipiṭaka (1967) 
(Di huấn cuối cùng của Đức Phật - Bản dịch từ Tam Tạng Trung quốc]
https://budsas.net/sach/en227.pdf

Bhikkhu Khantipalo. The Blessings of Piṇḍapāta (1964) 
(Phước báo của việc đi bát)
https://budsas.net/sach/en228.pdf

Bhikkhu Khantipalo. Bag of Bones - A Miscellany on the Body (1080) 
(Một túi xương - Họp tuyển về quán thân)
https://budsas.net/sach/en229.pdf

Bhikkhu Khantipalo. Banner of the Arahants - The History of the Theravada Order of Buddhist Monks and Nuns (1979) 
(Ngọn cờ của A-la-hán - Lịch sử về Tăng đoàn và Ni đoàn Theravada)
https://budsas.net/sach/en230.pdf

Bhikkhu Khantipalo. The Sutta Nipāta (Kinh tập) (2015)  
https://budsas.net/sach/en169.pdf

Bhikkhu Khantipalo. Buddha, My Refuge (Đức Phật là nơi nương tựa của tôi) (1990)  https://budsas.net/sach/en170.pdf

Bhikkhu Khantipalo. Calm and Insight, A Buddhist Manual for Meditators (1994)  
(Chỉ và Quán, Cẩm nang hành thiền)
https://budsas.net/sach/en171.pdf 

* Ghi thêm: 

Sư viết và soạn dịch nhiều cuốn khác nữa, nhưng tôi chưa tìm ra trên mạng, như: Buddhism Explained, The Buddha’s Words, Tolerance, Jewels within the Heart, Life's Highest Blessings, The Dharma Flavour, Dhammapada - Path of Truth, Noble Friendship, …

*-----*


Monday, 28 June 2021

Sách: Bhikkhu Bodhi (2016). Lời Phật Dạy về sự Hòa Hợp trong Cộng Đồng và Xã Hội

Sách:

Lời Phật Dạy về sự Hòa Hợp trong Cộng Đồng và Xã Hội
(The Buddha's Teachings on Social and Communal Harmony)
Bhikkhu Bodhi (2016)
 Nguyên Nhật Trần Như Mai dịch (2019)

Tải về bản song ngữ Việt-Anh, dạng PDF, tại link:

=> https://budsas.net/sach/vn178.pdf

*


Sách: Thiền sư S.N. Goenka (1924-2013)

 Xin giới thiệu 2 tập sách của thiền sư S. N. Goenka vừa đưa vào trang web, dạng PDF:

1) Vì lợi lạc của nhiều người (For the Benefit of Many)
Diễn từ và trả lời các câu hỏi của thiền sinh Vipassana.

=> https://budsas.net/sach/vn176.pdf 

2) Ký sự Dhamma (Chronicles of Dhamma)
Các bài viết chọn lọc từ Bản tin Vipassana

=> https://budsas.net/sach/vn177.pdf

*


Saturday, 5 June 2021

Thế nào là người Cư sĩ Phật tử lý tưởng?

Giới thiệu: Ðức Phật giảng cho ông Mahānāma, một cư sĩ của bộ tộc Thích-ca, về người cư sĩ Phật tử lý tưởng: quy y Tam Bảo, có giới đức, có lòng thành tín đối với Phật, có tâm bố thí và thành tựu trí tuệ.

Tương Ưng (SN 55.37)
MAHĀNĀMA

Một thời, Thế Tôn trú giữa dân chúng Sakya (Thích-ca), tại Kapilavatthu (Ca-tì-la-vệ), trong khu vườn cây bàng. Rồi họ Thích Mahānāma đi đến Thế Tôn, sau khi đến lễ Ngài, ngồi xuống một bên, họ Thích Mahānāma bạch Thế Tôn:

– Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là người cư sĩ?

– Ai quy y Phật, này Mahānāma, quy y Pháp, quy y Tăng. Cho đến như vậy, này Mahānāma, là người cư sĩ.

– Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là người cư sĩ đầy đủ giới đức?

– Này Mahānāma, người cư sĩ từ bỏ sát sinh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Cho đến như vậy, này Mahānāma, là người cư sĩ đầy đủ giới đức.

– Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là người cư sĩ đầy đủ lòng tin?

– Ở đây, này Mahānāma, người cư sĩ có lòng tin, tin tưởng ở sự giác ngộ của Như Lai: "Ðây là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn". Cho đến như vậy, này Mahānāma, là người cư sĩ đầy đủ lòng tin.

– Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn là người cư sĩ đầy đủ bố thí?

– Ở đây, này Mahānāma, người cư sĩ trú ở gia đình, tâm thoát khỏi cấu uế của xan tham, bố thí dễ dàng, bàn tay rộng mở, thích thú từ bỏ, đáp ứng điều yêu cầu, thích thú chia sẻ vật bố thí. Cho đến như vậy, này Mahānāma, là người cư sĩ đầy đủ bố thí.

– Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là người cư sĩ đầy đủ trí tuệ?

– Ở đây, này Mahānāma, người cư sĩ có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sinh diệt (các pháp), là trí tuệ cao quý và thâm sâu, đưa đến tận diệt khổ đau. Cho đến như vậy, này Mahānāma, là người cư sĩ đầy đủ trí tuệ.

(Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt)

* * *

Mahānāma (SN 55.37)

On one occasion the Blessed One was dwelling among the Sakyans at Kapilavatthu in Nigrodha’s Park. Then Mahānāma the Sakyan approached the Blessed One, paid homage to him, sat down to one side, and said to him:

“Venerable sir, in what way is one a lay follower?”

“When, Mahānāma, one has gone for refuge to the Buddha, the Dhamma, and the Saṅgha, one is then a lay follower.”

“In what way, venerable sir, is a lay follower accomplished in virtue?”

“When, Mahānāma, a lay follower abstains from the destruction of life, from taking what is not given, from sexual misconduct, from false speech, and from wines, liquor, and intoxicants that are a basis for negligence, the lay follower is accomplished in virtue.”

“In what way, venerable sir, is a lay follower accomplished in faith?”

“Here, Mahānāma, a lay follower is a person of faith. He places faith in the enlightenment of the Tathāgata thus: ‘The Blessed One is an arahant, perfectly enlightened, accomplished in true knowledge and conduct, fortunate, knower of the world, unsurpassed leader of persons to be tamed, teacher of devas and humans, the Enlightened One, the Blessed One.’ In that way a lay follower is accomplished in faith.”

“In what way, venerable sir, is a lay follower accomplished in generosity?”

“Here, Mahānāma, a lay follower dwells at home with a mind devoid of the stain of stinginess, freely generous, open-handed, delighting in relinquishment, one devoted to charity, delighting in giving and sharing. In that way a lay follower is accomplished in generosity.”

“In what way, venerable sir, is a lay follower accomplished in wisdom?”

“Here, Mahānāma, a lay follower is wise, he possesses wisdom directed to arising and passing away, which is noble and penetrative, leading to the complete destruction of suffering. In that way a lay follower is accomplished in wisdom.”

(translated by Bhikkhu Bodhi)

*


Friday, 4 June 2021

Luật xuất gia (Thích Nhật Từ dịch, 2021)

 Xin giới thiệu các tập sách về Luật xuất gia do Thượng tọa Thích Nhật Từ dịch, dạng PDF:

(1) Thích Nhật Từ dịch (2021). Nghiên cứu Giới Tỳ-kheo của Thượng tọa bộ. 
=> https://budsas.net/sach/vn170.pdf

(2) Thích Nhật Từ dịch (2021). Giới bổn Tỳ-kheo của Luật Tứ phần.
=> https://budsas.net/sach/vn171.pdf

(3) Thích Nhật Từ dịch (2021). Giới bổn Tỳ-kheo-ni của Luật Tứ phần. 
=> https://budsas.net/sach/vn172.pdf

(4) Thích Nhật Từ dịch (2021). Giới Sa-di, Oai nghi, Luật nghi và Lời Khuyến tu của Tổ Quy Sơn.
=> https://budsas.net/sach/vn173.pdf 

(5) Thích Nhật Từ dịch (2021). Giới Sa-di-ni, Oai nghi, Luật nghi và Lời Khuyến tu của Tổ Quy Sơn. 
=> https://budsas.net/sach/vn174.pdf

*



Monday, 31 May 2021

Trí nhớ suy giảm

 Trí nhớ suy giảm.

Hôm qua đọc một cuốn sách về Niệm (Mindfulness) của Bhikkhu Analayo, trong đó Sư đề cập đến Tam Minh mà ngài Bồ-tát lần lượt đắc được trong đêm rằm tháng Vesak trước khi đắc quả Chánh Đẳng Giác. Tôi cố gắng nhớ lại xem Tam Minh ấy là gồm những gì mà vẫn không nhớ được. Lại phải đến hỏi bác Gờ (Google). À, thì ra thế! Đó là: Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh.

Thấy trí nhớ của mình bây giờ sa sút rõ rệt. Các đóng góp, chia sẻ trong trang Facebook cá nhân hay trong trang Blog này đều là nhờ bác Gờ. Nếu không có bác giúp là không tài nào moi ra được thông tin vốn đã sưu tập và lưu trong đầu óc trong mấy chục năm qua.

Cũng trong ngày hôm qua, vài bạn học cũ có nhắc đến một trại công tác ngày xưa tại một trường học ở Biên Hòa, tôi theo dõi các chia sẻ đó mà hoàn toàn không nhớ được gì cả. Chuyện này thì bác Gờ không giúp được. Thôi thì đành cho nó qua đi.

Đó cũng là một lý do khiến tôi ngưng buổi sinh hoạt hằng tuần trong một room Phật giáo của PalTalk, và cũng từ chối tham gia vào các diễn đàn, các nhóm Phật giáo trong Facebook và trên mạng Internet. Không còn hứng thú mà cũng không nhớ, không giúp được gì. Life is short - Đời sống ngắn ngủi. Quay về sống với nội tâm trong năm tháng còn lại của cuộc đời là cần thiết và quan trọng nhất đối với mình trong hoàn cảnh hiện tại. Sống nay, chết mai, không có gì là chắc chắn. 

Bình Anson
Perth, Western Australia
30/05/2021

*


Thursday, 27 May 2021

Chỉ nhiêu đó thôi (1).

 CHỈ NHIÊU ĐÓ THÔI.

Đang đọc cuốn “Introducing Mindfulness” (Giới thiệu Niệm) của Bhikkhu Anālayo. Trong đó Sư đề cập đến bài kinh quen thuộc mà có lẽ tất cả các thiền sinh chúng ta đều biết đến: kinh Quán niệm Hơi thở (MN 118). Trong bài kinh, Đức Phật giảng về 16 bước quán niệm hơi thở để tiến đến giải thoát giác ngộ. Chia thành bốn nhóm, mỗi nhóm có 4 bước (4 x 4 = 16). Nhóm bốn bước đầu tiên, theo Sư Anālayo, là căn bản quan trọng nhất. Đức Phật cũng chỉ đề cập đến nhóm đầu tiên này trong các bài giảng khác (thí dụ: kinh Lập niệm, MN 10; kinh Thân hành niệm, MN 119).

Sáng nay, sau khi xả thiền, ngồi ngẫm nghĩ những gì Sư viết, thấy quả thật đúng như vậy. Trong mấy chục năm qua, mình chỉ hành thiền niệm hơi thở được có bấy nhiêu đó thôi. Rồi từ đó chuyển sang các đề mục khác, tùy duyên, tùy hứng (niệm Phật, niệm tâm Từ, niệm chết, …). Đọc sách, nghe thuyết giảng, bàn luận đủ thứ chuyện, nhưng rốt cuộc rồi thì chỉ thực hành được nhiêu đó. 

Có lẽ mình thuộc hạng “phước mỏng, nghiệp dày” như ngài Hòa thượng Thanh Từ thường hay nhắc nhở. Thôi kệ, cứ từ từ bước đi, chậm mà chắc, rồi cũng sẽ đến đó. Kiếp này không xong thì tiếp tục trong các kiếp sau. “Từ từ rồi cháo cũng nhừ”, người bình dân mình thường hay nói như thế.

*-----*

… Ở đây, tỳ-khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến nơi thanh vắng, ngồi xuống, xếp chéo chân, giữ lưng thẳng và trú niệm trước mặt. Có niệm, vị ấy thở vào; có niệm, vị ấy thở ra.

(1) Thở vào dài, vị ấy nhận biết: “Tôi thở vào dài.” Hoặc thở ra dài, vị ấy nhận biết: “Tôi thở ra dài.” 

(2) Hoặc thở vào ngắn, vị ấy nhận biết: “Tôi thở vào ngắn.” Hoặc thở ra ngắn, vị ấy nhận biết: “Tôi thở ra ngắn.” 

(3) “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vào,” vị ấy tập luyện. “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra,” vị ấy tập luyện. 

(4) “An tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở vào,” vị ấy tập luyện. “An tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở ra,” vị ấy tập luyện. (….) 

– Trích kinh Quán Niệm Hơi Thở (Anapanasati Sutta, MN 118)

*

… Here a bhikkhu, gone to the forest or to the root of a tree or to an empty hut, sits down; having folded his legs crosswise, set his body erect, and established mindfulness in front of him, ever mindful he breathes in, mindful he breathes out.

Breathing in long, he understands: ‘I breathe in long’; or breathing out long, he understands: ‘I breathe out long.’ Breathing in short, he understands: ‘I breathe in short’; or breathing out short, he understands: ‘I breathe out short.’ He trains thus: ‘I shall breathe in experiencing the whole body of breath’; he trains thus: ‘I shall breathe out experiencing the whole body of breath.’ He trains thus: ‘I shall breathe in tranquillising the bodily formation’; he trains thus: ‘I shall breathe out tranquillising the bodily formation.’ (...)

– Extract from Discourse on Mindfulness of Breathing (Anapanasati Sutta, MN 118)

*




Monday, 24 May 2021

Lược sử Phật giáo. Edward Conze, Nguyễn Minh Tiến dịch.

 LƯỢC SỬ PHẬT GIÁO.
Nguyễn Minh Tiến dịch (2006)
Nguyên tác: Buddhism, A Short History, Edward Conze (1980)

Tải về bản song ngữ Việt-Anh, dạng PDF:
https://tinyurl.com/5y4krkdw   [vn169.pdf, 2.0 MB] 

MỤC LỤC

Lời giới thiệu
Đôi nét về tác giả

Bối cảnh lịch sử và các thời đại trong lịch sử Phật giáo
A. Bối cảnh lịch sử 
B. Phân đoạn các thời kỳ Phật giáo

Chương I: Thời kỳ 500 năm trước Công nguyên 

1. Những đặc điểm của thời kỳ đầu
2. Giới luật 
3. Giáo lý cơ bản
4. Các bộ phái và những bất đồng
5. Cư sĩ
6. Sự mở rộng

Chương II: Thời kỳ thứ hai (Từ đầu công nguyên đến năm 500)

1. Phật Giáo Đại Thừa Ở Ấn Độ
2. Sự Phát Triển Của Tiểu Thừa Ở Ấn Độ
3. Nepal Và Kashmir
4. Tích Lan
5. Sự Mở Rộng Sang Đại Á
6. Trung Á
7. Trung Hoa

Chương III: Thời kỳ thứ ba (Từ năm 500 đến năm 1000)

1. Ấn Độ
2. Nepal Và Kashmir
3. Tích Lan
4. Trung Á
5. Đông Nam Á
6. Trung Hoa Và Triều Tiên
7. Nhật Bản
8. Tây Tạng

Chương IV: Một ngàn năm cuối (Từ năm 1000 đến năm 1978)

1. Ấn Độ: Sự suy sụp và nguyên nhân
2. Nepal và Kasmir
3. Tích Lan
4. Đông Nam Á
5. Trung Hoa và Triều Tiên
6. Nhật Bản
7. Tây Tạng
8. Mông Cổ
9. Thực trạng hiện nay

*


Saturday, 22 May 2021

Hòa thượng THÍCH MINH CHÂU và Bhikkhu ANĀLAYO

 Luận án tiến sĩ của ngài Hòa thượng Thích Minh Châu hoàn tất năm 1961 và sau đó được in thành sách với tựa đề “The Chinese Madhyama-āgama and the Pali Majjhima-nikāya: a Comparative Study” (So sánh Kinh Trung A-hàm chữ Hán và Kinh Trung bộ chữ Pāli) đã được nhiều học giả Phật giáo trên thế giới biết đến và được dùng như là một trong những tài liệu nghiên cứu căn bản về bộ Trung A-hàm của Hán tạng, so sánh đối chiếu với Trung bộ kinh của tạng Nikāya Pāli.

Năm mươi năm sau, Bhikkhu Anālayo sau mười năm học chữ Hán cổ và nghiên cứu các bộ A-hàm trong Hán tạng, đã biên soạn nhiều bài tham cứu về kinh A-hàm và xuất bản tập sách “Madhyama-āgama Studies” (Nghiên cứu Trung A-hàm) vào năm 2012. Trong đoạn cuối cùng của phần Giới thiệu (Introduction), Sư viết:

…”Tôi xin dâng tặng cuốn sách này đến vị tu sĩ học giả Việt Nam Thích Minh Châu (1918–2012) để tưởng niệm đến ngài. Nghiên cứu đột phá của ngài về so sánh đối chiếu Trung bộ kinh và Trung A-hàm đã tạo hứng khởi cho tôi để học tiếng Hán và tiến hành nghiên cứu các bộ A-hàm.”

Các sách về Trung A-hàm và Trung bộ kinh của Tỳ-khưu Anālayo:

1. A Comparative Study of the Majjhima-nikāya, (Dharma Drum Buddhist College Research Series 3), Taipei: Dharma Drum Publishing Corporation, 2011 (2 vols.)

2. The Madhyama Āgama (Middle Length Discourses), (ed. and trsl. in collaboration with Marcus Bingenheimer (chief editor) and Rod Bucknell), BDK English Tripiṭaka Series, Berkeley: Numata Center for Buddhist Translation and Research, 2013

3. Madhyama-āgama Studies, (Dharma Drum Buddhist College Research Series 5), Taipei: Dharma Drum Publishing Corporation, 2012

* Công trình nghiên cứu của Tỳ-khưu Analayo:
https://www.buddhistinquiry.org/resources/offerings-analayo/publications/


*


Đại Đường Tây Vực Ký (T-2087)

Đại Đường Tây Vực Ký (大唐西域記, T-2087)
HT Thích Như Điển dịch Việt. 

The Great Tang Dynasty Record Of The Western Regions,
English translation by Li Rongxi.

Tải về bản dịch song ngữ Việt-Anh, dạng PDF:
=> https://tinyurl.com/mw9j79rw  [vn168.pdf, 14.3 MB]

Có lẽ đa số chúng ta đều biết chuyện Đường Tam Tạng, Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới qua cuốn tiểu thuyết giả tưởng Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân. Thật ra, Ngô Thừa Ân viết cuốn này dựa theo cuốn nhật ký hành hương Đại Đường Tây Vực Ký của Pháp sư Trần Huyền Trang (602-664).

Những ai đã từng đi hành hương Phật tích Ấn Độ -- hay có ý định sẽ đi -- nên dành thì giờ đọc thêm cuốn này. Ngài Huyền Trang ghi chép tỉ mỉ về các địa điểm PG của Ấn Độ trong thế kỷ 7 DL, mà cho đến thế kỷ 19 và 20 sau này, các nhà khảo cổ Tây phương vẫn dựa vào đó để xác định các Phật tích và hoạt động PG vào thời đó.

*


Trường A-hàm – Bản dịch tiếng Anh từ Hán tạng

THE CANONICAL BOOK OF THE BUDDHA’S LENGTHY DISCOURSES 

Dīrgha Āgama –  長阿含經 , Trường A-hàm Kinh

Translated from the Chinese by SHOHEI ICHIMURA (2018)

Vol I  : https://budsas.net/sach/en214-1.pdf

Vol II : https://budsas.net/sach/en214-2.pdf

Vol III: https://budsas.net/sach/en214-3.pdf 

*

Vol I
Sutra 01. The Great Origin (Kinh Ðại Bổn)
Sutra 02. Last Journey and Sojourns (Kinh Du Hành)
Sutra 03. A Great Treasury Councilor (Kinh Ðiển Tôn )
Sutra 04. Janavasabha’s Exhortation (Kinh Xà-Ni-Sa)
Sutra 05. Lesser Causality (Kinh Tiểu Duyên)
Sutra 06. The Universal Ruler’s Practice (Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Tu Hành)
Sutra 07. Pāyāsi’s Dialogue (Kinh Tệ-Tú)
Sutra 08. Sandhāna (Kinh Tán-Ðà-Na)
Sutra 09. Numerically Assembled Doctrines (Kinh Chúng Tập)
Sutra 10. Ten Progressively Classified Doctrines (Kinh Thập Thượng)

Vol II
Sutra 11. The Gradual Increase of Doctrines by One (Kinh Tăng Nhất)
Sutra 12. Doctrines in Groups of Three (Kinh Tam Tụ)
Sutra 13. Greater Causality (Kinh Ðại Duyên Phương Tiện)
Sutra 14. Indra’s Questions on Causality (Kinh Thích Ðề Hoàn Nhân Vấn)
Sutra 15. The Episode at Anupiya (Kinh A-Nậu-Di)
Sutra 16. Kalyāṇi-jātika (Kinh Thiện Sanh)
Sutra 17. Purity (Kinh Thanh Tịnh)
Sutra 18. Happiness Caused by Oneself (Kinh Tự Hoan Hỉ)
Sutra 19. A Great Assembly (Kinh Ðại Hội)
Sutra 20. Ambaṭṭha (Kinh A-Ma-Trú)

Vol III
Sutra 21. Brahmā’s Net (Kinh Phạm Ðộng)
Sutra 22. One Who Cultivates Virtue (Kinh Chủng Ðức)
Sutra 23. Brāhmaṇa Kūṭadanta (Kinh Cửu-La-Ðàn-Ðầu)
Sutra 24. Kevaddha (Kinh Kiên Cố)
Sutra 25. A Naked Brāhmaṇa Ascetic (Kinh Lõa Hình Phạm Trí)
Sutra 26. Knowledge of the Three Vedas (Kinh Tam Minh)
Sutra 27. The Rewards of the Life of a Śrāvaka (Kinh Sa-Môn-Quả)
Sutra 28. Poṭṭhapada (Kinh Bố-Tra-Bà-Lâu)
Sutra 29. Lohitya (Kinh Lộ Già)
Sutra 30. A Buddhist Cosmology (Kinh Thế Ký)

*


Tuesday, 18 May 2021

Tuổi già

 Nursing home – Nhà dưỡng lão, người nhà đang gửi gắm hay rũ bỏ?
Tạp Chí Hoa Kỳ - 18 Tháng Mười Hai, 2017

Chuyện kể sau hai ngày đầu thực tập tại Nhà Dưỡng Lão (Nursing Home) của Mỹ.

Với tâm trạng đầy háo hức cùng chúng bạn, tôi bước vào làm công việc giúp đỡ người già tại viện dưỡng lão trong vai trò thực tập sinh. Cảm xúc thì nhiều lắm nhưng vì ko có nhiều thời gian viết lách nên tôi tóm tắt tạm bằng ngôn từ xấu xa của tôi: địa ngục trần gian, trả nợ kiếp người, v.v…

Bên cạnh khoảng 1/5 tổng số là những cụ già vui vẻ, độc lập, ít sầu lo, ít thống khổ, lòng tôi quặn thắt với hình ảnh những cụ già của 4/5 còn lại. Cụ khù khoằm với xương thân cứng đơ và các ngón tay cuộn lại, cụ đeo oxy nằm bẹp trên giường đêm ngày, cụ dính mình vào chiếc xe lăn ngày đêm như một hòn đá tĩnh lặng, cụ hầm hè cả ngày khoanh tay nhìn thế gian như thù hằn… Tất cả, tạo nên bức tranh một nhà dưỡng lão lặng ngắt đến rùng mình, đâu đây chỉ còn tiếng thút thít hay rên la đau đớn.

Vì cùng ngôn ngữ, tôi thường được phân công đút ăn cho một cụ người Việt dính mình trên xe lăn, tôi mới hiểu rõ hơn thêm về một kiếp nhân sinh. Cụ cũng như nhiều cụ khác, không hề câm hay điếc nhưng dường như khả năng dùng ngôn ngữ trả lời đã hoàn toàn biến mất. Chỉ còn khả năng nghe là rất tốt, cụ dùng đôi mắt để nói chuyện, gật và lắc đầu hay nhăn nhó để thể hiện cảm xúc. Tôi có nhắc tới những đứa con có thăm cụ không, cụ lắc đầu.

Tôi có hỏi ở trong này cụ có ra ngoài trời nắng đẹp chơi không, cụ lắc đầu. Ngay sau đó tôi thấy cụ khóc. Giọt nước mắt ngấn rơi ra khỏi đôi mắt kèm nhèm gỉ mắt vì không có người quan tâm rửa mặt cho buổi sáng. Nhà dưỡng lão có thuê những người chăm sóc cho các cụ, nhưng bằng lý do này hay lý do khác, họ chỉ có thể thu xếp một người chăm sóc chăm tám cụ một lúc.

Cụ nào nhiều tiền, con cái hiếu thảo mới có thể giúp đỡ thuê thêm người chăm nom (khoảng 15-20$/giờ và cần ít nhất 8 giờ/ngày), còn lại hầu hết các cụ bị bỏ rơi như một vật phế thải.

Bây giờ thì tôi đã hiểu, dù nhà dưỡng lão làm ăn rất bài bản bằng các nhân viên với đủ các vị trí và chức vụ được đào tạo nghiệp vụ đầy mình, hệ thống chăm sóc hiện đại với đầy đủ cơ sở vật chất hỗ trợ, đồ ăn thức uống không thiếu thốn, nhưng nỗi buồn vì bị bỏ rơi, vì thiếu người quan tâm, vì cảm thấy mình vô dụng, vì thiếu sự giao tiếp trong tình thương, kể cả thiếu giao tiếp với thiên nhiên mỗi ngày… là những thứ rất từ từ và thầm lặng tước đi của con người tất cả cho đến tận khi được cái chết chấp nhận.

Vâng, chết được hoàn toàn không phải chuyện đơn giản, bạn sẽ có thể phải đợi cho tuổi già cướp đi dần dần hơi ấm, hơi thở, sự mềm dẻo, khả năng suy nghĩ bình thường, khả năng hoạt động, v.v... khiến bạn phải chìm đắm trong những nỗi đau đớn, sự thiếu dễ chịu đến tột cùng trong suốt những tháng ngày như vô tận.

Là một người còn trẻ và may mắn được trải nghiệm chứng kiến, tôi tin những kiếp người sẽ trở nên thê thảm nếu trở nên phụ thuộc phần lớn hoặc phụ thuộc hoàn toàn cuộc sống vào một ai đó. Mỗi người hoàn toàn có thể tránh được cho tương lai nỗi khốn cùng này bằng cách có sự chuẩn bị từ trước, rèn luyện sức khoẻ, rèn luyện trí não, rèn cả chí khí, tính khí.

Một người có sự chuẩn bị tốt vẫn có thể sống trong tuổi già một cách rất độc lập, theo đuổi các thú vui hoạt động lành mạnh không khác những người trẻ là bao. Theo như khoa học đã kết luận, tuổi già chỉ là giai đoạn con người chứng kiến mọi sự suy giảm các chức năng trong cơ thể chứ không hề đồng nghĩa với bệnh tật và tất cả những đớn đau ta thường thấy.

Tuy nhiên, không phải ai cũng như ai và chắc chắn không ai có thể đoán trước được tương lai mỗi người sẽ ra sao, như ý muốn hay cực kỳ thảm hại. Hãy yêu thương và thông cảm với người già vì đó có thể là hình ảnh của chính bạn trong không bao lâu nữa.

Cuối đời, không gì khác, chính là sự trả nợ trần gian kiếp người trước khi tạm biệt nó về lại cõi vĩnh hằng.

ANH NGUYEN
Seattle, Washington, USA

*


Sách: BỐN BỘ A-HÀM

 BỐN BỘ A-HÀM

Xin trân trọng giới thiệu bốn bộ A-hàm, dạng PDF:

1) Trường A-hàm. Tuệ Sỹ dịch và chú. 
https://tinyurl.com/vn164

2) Trung A-hàm. Tuệ Sỹ dịch và chú. 
Tập I  :  https://tinyurl.com/vn165-a
Tập II :  https://tinyurl.com/vn165-b
Tập III:  https://tinyurl.com/vn165-c

3) Tạp A-hàm. Thích Đức Thắng dịch, Tuệ Sỹ chú thích. 
Tập I  :  https://tinyurl.com/vn166-1
Tập II :  https://tinyurl.com/vn166-2
Tập III:  https://tinyurl.com/vn166-3

4) Tăng nhất A-hàm. Thích Đức Thắng dịch, Tuệ Sỹ chú thích. 
Tổng mục lục:  https://tinyurl.com/vn167-0
Tập I :  https://tinyurl.com/vn167-1
Tập II:  https://tinyurl.com/vn167-2

*


Monday, 3 May 2021

Món phở của người Việt gây tranh cãi khắp thế giới

Món phở của người Việt gây tranh cãi khắp thế giới
Lili Tu
BBC Travel
2 tháng 5, 2021

Khi một blogger ẩm thực người Mỹ tên là Tieghan Gerard ngây thơ gọi món mì ăn liền cô nấu là "phở gà", câu nói đó đã gây ra cơn bão tranh luận về món ăn này.

Cô bị cáo buộc là muốn "tẩy trắng" món phở nổi tiếng của người Việt, làm tổn hại văn hóa và con người.

Dù nhà sản xuất kênh Half Baked Harvest với hàng triệu người theo dõi sau đó đã xin lỗi và đổi tên món ăn của cô lại là "mì gà ăn với súp cay và mè", nhưng nhiều người Mỹ gốc Việt tin rằng việc đổi tên này là chưa phù hợp, và vấn đề thực ra nghiêm trọng hơn chứ không chỉ là chuyện một món ăn, nhất là trong tình trạng tội phạm thù địch nhắm vào người Mỹ gốc Á dâng cao như hiện nay.

Dù thảm họa ẩm thực này xuất hiện trên Instagram và khiến mọi người từ giới đầu bếp, người nổi tiếng, đến dân ghiền ẩm thực phản đối, nhưng về mặt tích cực thì nó khiến mọi người chiêm nghiệm kỹ hơn về món ăn quốc hồn quốc túy nổi tiếng của người Việt trong lịch sử lâu đời cả ở Việt Nam và nhiều nơi trên thế giới.

Phở, với nước dùng sôi sùng sục, thơm ngọt, bổ dưỡng, được nêm gia vị nhẹ chan vào sợi bánh phở đã được chần nóng, là món khá mới trong danh sách các món ăn đặc trưng của người Việt - nó chỉ mới xuất hiện trong các ghi chép từ đầu thế kỷ 20 - nhưng lịch sử của món ăn khiêm nhường này vừa tinh tế vừa phức tạp như chính hương vị của nó.

"Tôi đã ăn phở suốt cả đời, nhưng câu chuyện về phở rất sâu sắc," Andrea Nguyễn, tác giả viết sách nấu ăn người Mỹ gốc Việt nổi tiếng và là người thắng giải cuộc thi James Beard, nói. "Và vì vậy, bạn có thể nghĩ rằng bạn biết rành món phở, nhưng thực ra không phải vậy, bởi vì món phở có những đổi thay."

Dù đa phần các nhà sử học đồng tình rằng phở được phát minh hồi cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 ở miền bắc Việt Nam, trong thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, nhưng nguồn gốc của món này vẫn không rõ ràng.

Một số người tin rằng phở là một món ăn kiểu địa phương, được cải biên từ món hầm kiểu Pháp với bò và rau có tên pot-au-feu, tên gọi hơi giống về ngữ âm so với chữ "phở".

Một số người khác cho rằng món này bắt nguồn từ những nhóm người Hoa đến định cư ở miền bắc Việt Nam và bán một món ăn tên là ngưu nhục phấn (牛肉粉 , tức là mì bò). Phần Hán tự 'phấn' (粉) được phát âm là "fuh", cũng tương tự như chữ tiếng Việt "phở".

Alex Trần, một đầu bếp người Việt và tác giả viết về ẩm thực sống ở New Zealand, cho rằng nguồn gốc của phở có thể là sự hòa phối của cả hai món trên.

"Không nghi ngờ gì, sợi phở và các gia vị khác được dùng để nấu nước dùng có liên hệ với người Hoa sống ở miền Bắc. Tuy nhiên, thịt bò không phải là loại thịt hàng ngày mà người Việt ăn vì ta sử dụng trâu bò để cày ruộng. Chỉ dưới thời Pháp thuộc, thì chuyện ăn thịt bò mới xuất hiện và trở nên phổ biến."

Dù nguồn gốc của phở từ đâu, thì mọi người đều yêu thích món ăn này như món quốc hồn quốc túy và là niềm tự hào cháy bỏng của dân địa phương lẫn khả năng gây tranh cãi dữ dội, vì mỗi vùng có cách nấu và sử dụng nguyên liệu riêng mà họ yêu thích.

"Cá nhân tôi sẽ gọi đây là món ăn gầy dựng tình đoàn kết và gây chia rẽ," đầu bếp Trần cho biết. "Đây là niềm tự hào quốc gia của chúng tôi, nhưng chúng tôi chưa bao giờ có thể đồng tình với nhau là phở nào mới là "phở thật". Nếu bạn muốn làm người Việt đánh nhau, cứ hỏi họ phở nào ngon nhất."

PHỞ NAM ĐỊNH

Trong khi nhiều người sành ăn phở sống ở nước ngoài sẽ quen thuộc với phở nấu kiểu miền Nam phong vị Sài Gòn, có nước dùng vị ngọt hơn và sử dụng các loại gia vị và rau ăn kèm thoải mái hơn, thì phiên bản món phở đầu tiên được cho là bắt nguồn từ miền Bắc, từ tỉnh Nam Định, cách Hà Nội khoảng 100km về phía nam.

Tại nơi đây, ở vùng đồng bằng Sông Hồng giàu có, màu mỡ, đường chân trời thẳng băng ngập đồng lúa, cây chuối và rặng tre.

Vùng nông nghiệp này có phần đa cư dân làm nông dân truyền thống, đây cũng là quê hương của hầu hết những đầu bếp nấu phở nổi tiếng nhất ở Việt Nam. Rất nhiều người trong số họ có liên hệ với gia đình Phở Cồ, ở làng Vân Cù, nằm ở phía nam thành phố Nam Định.

Ngôi làng yên bình với đồng lúa xanh biếc bao quanh, tương phản với những ngôi nhà mái ngói đỏ.

Ở cổng làng có một cửa hiệu chưng tấm biển bán phở qua nhiều thế hệ. Nơi đây là quê hương của ông Vũ Ngọc Vượng và cậu của ông là Cồ Việt Hùng, 87 tuổi, một trong những đầu bếp nấu phở lớn tuổi nhất còn sống.

Bản thân Vũ Ngọc Vượng là một đầu bếp bấu phở từng đoạt giải, sở hữu chuỗi 5 nhà hàng phở cùng một xưởng làm bánh phở tại Hà Nội.

Theo ông Vượng, khi hết mùa thu hoạch lúa, các cụ tổ nhà ông đi đến các thị trấn, thành thị làm nghề bán dạo.

Họ làm và bán món bánh đa cua, nấu bằng cua đồng, với sợi bánh đa dẹt màu trắng hơi giống bánh phở.

Họ cũng có một món ăn truyền thống và độc đáo, đó là món xáo, thường nấu với ít thịt trâu thái mỏng với nước dùng ninh xương, chan bún, ăn kèm với hành lá và rau thơm.

Dù không ai biết đích xác phở ra đời thế nào, nhưng hầu hết mọi người tin rằng dân làng thấy có cơ hội làm ăn vào năm 1898 khi thực dân Pháp bắt đầu xây dựng nhà máy dệt Nam Định.

Kỹ thuật viên người Pháp và hàng ngàn công nhân đổ về vùng làm việc trong nhà máy dệt lớn nhất Đông Dương, và hai món ăn này có vẻ như được kết hợp với nhau, gia giảm chút ít cho hợp với khẩu vị của người Pháp.

"Người Pháp thích thịt bò nên dân làng cải biên một chút bằng cách thêm thịt bò vào bánh đa cua," ông Vượng kể. "Ngoài ra, mọi người cũng được người Pháp đến xây nhà máy cho lại xương thừa mà họ không ăn, dân làng đem xương về và nấu thành nước dùng. Họ kể chúng tôi nghe đó là cách món phở thành hình."

Khi công nhân xây dựng di chuyển từ Nam Định ra Hà Nội để thi công dự án cầu Long Biên, món phở giàu dinh dưỡng nhanh chóng lan xa khỏi ngôi làng.

Với gánh phở trên vai, người làng nghèo đói theo chân công nhân xây dựng, kiếm sống tốt nhờ nghề bán phở, và món ăn một tô này trở thành món ngon người dân thủ đô yêu thích.

"Người đầu tiên từ gia đình họ Cồ đưa phở đến Hà Nội là ông Cồ Hữu Vặng. Nếu còn sống chắc cụ nay phải 130 hay 140 tuổi rồi," ông Vượng kể. "Cụ đến Hà Nội và thuê một căn nhà. Đàn ông trong làng đến và nấu phở, họ gánh gánh phở đi bán khắp Hà Nội ban ngày và trở về nhà ngủ ban đêm."

Con trai và con gái cụ Cồ Hữu Vặng cuối cùng bèn mở quán phở trong khu Phố Cổ Hà Nội, và một số tiệm trong số đó, giờ đây do thế hệ thứ ba của gia đình nấu, vẫn nằm trong số danh sách các hàng phở được đánh giá cao nhất trong thành phố, ví dụ như Phở Gia Truyền Bát Đàn và Phở Bò Việt Hòa Cụ Chiêu.

"90% dân làng tôi đã di cư đến Hà Nội sống và bán phở, chỉ còn 10% người làng vẫn ở Nam Định," ông Vượng nói.

PHỞ BẮC, PHỞ TRUNG, PHỞ NAM

Từ đây, món phở phát triển theo nhiều hướng khác nhau.

Trong món phở Nam Định, thịt bò thái mỏng được xào tái với tỏi cùng các loại rau xanh và vài lát cà chua, bày lên trên bánh phở đã chần nóng, sau đó chan nước dùng thơm lừng. Trong khi đó, dân Hà Nội ăn phở với kiểu cách tối giản hơn rất nhiều.

Ở Hà Nội, nói về phở là nói về chất lượng nước dùng, thậm chí nhiều người còn cảm thấy bỏ thêm rau thơm sẽ làm hỏng vị phở.

Theo bà Bùi Thị Sương, đại sứ văn hóa ẩm thực Việt, nước dùng phở bò ở Hà Nội nấu chỉ bằng xương bò và thịt bò, còn nước dùng phở gà thì chỉ dùng gà.

Càng đi về phía nam bạn sẽ thấy những đặc tính không còn giống như vậy. Chẳng hạn như nước dùng bún bò Huế ở miền Trung sử dụng cả thịt bò và heo cùng với cách nêm nếm phức tạp hơn.

"Cách sử dụng duy nhất một loại thịt trong nước dùng rất giống với ẩm thực kiểu Pháp, khiến cho món ăn thêm phần tinh tế và đậm đà," bà Sương nói.

Ngày nay, rất nhiều người theo trường phái thuần túy nói rằng phở "gốc" là phở từ Hà Nội.

Ông Vượng tin rằng chỉ cần nếm thử nước dùng là biết được một bát phở có ngon hay không. Ông giải thích rằng nước dùng ngon nên có vị ngọt đằm từ tủy xương nấu trong nhiều giờ, nhưng nước phải trong, có màu nhẹ như khói và nêm gia vị nhẹ nhàng.

"Gia vị nấu phở phải có vị đằm tinh tế chứ không nồng, gắt. Khi khách nếm, họ không nên cảm thấy vị nào đậm hơn vị nào," ông giải thích.

Dù phở bò là món ăn quen thuộc ở Hà Nội cho mãi đến giữa thế kỷ 20, nhưng món ăn này vẫn tiếp tục biến đổi.

Vào năm 1939, chính quyền cố gắng kiểm soát tình trạng giết thịt bò bằng cách cấm bán thịt bò vào thứ Hai và thứ Sáu, và người Hà Nội phải chế lại món phở để đỡ thèm.

Phở gà cũng được dân thủ đô yêu thích, và ngày nay, cùng với phở bò, đây là phiên bản của món phở được mọi người ở Việt Nam và khắp nơi yêu mến.

Tác giả ẩm thực Nguyễn nói khoảnh khắc ăn phở mà bà nhớ nhất ở Hà Nội là được ăn một "tô phở gà tuyệt đỉnh". "Nói vậy có nghĩa là tô phở có vị hệt như phở mẹ tôi nấu, nhưng nó có đủ các phần thịt gà mà tôi chưa từng ăn trước đó," bà kể lại. "Nước dùng thịt gà được nấu rất ngon, và có vị như thuốc bổ. Nó như một loại thuốc tuyệt vời."

Năm 1954, khi thời kỳ thực dân Pháp đô hộ kết thúc và Việt Nam chia cắt làm hai miền, hàng triệu người Bắc di cư vào miền Nam.

Phở theo chân người di dân đến vùng đất mới và thích nghi với khẩu vị, văn hóa địa phương và nguyên liệu có sẵn của mỗi vùng.

Vị của phở cũng có thể ngọt hơn, mặn hơn hoặc cay hơn, tùy theo mức độ nấu theo người địa phương.

Điểm còn giữ nguyên là nước dùng nấu từ xương trong vắt, sợi bánh phở trắng mềm, thịt thái mỏng và hành lá.

Các nguyên liệu dùng trang trí, gia vị và các thức ăn kèm cũng đa dạng hơn. Chẳng hạn như ở Hội An, thuộc vùng Nam Trung Bộ, phở ăn kèm với đậu phộng giã dập, với loại ớt rim với dầu, và đu đủ xanh muối xổi, rau húng quế, ớt tươi, chanh và bánh mì chiên giòn xắt lát ăn kèm.

Sự đa dạng văn hóa ở Sài Gòn, với cộng đồng đông người gốc Hoa và người Campuchia và có thêm nhiều loại nguyên liệu mới, món ăn chuyển biến xa hơn nữa.

Người ta sử dụng đường phèn theo kiểu nấu ăn của người Hoa, dùng củ cải trắng, và nguyên liệu từ món hủ tiếu của người Campuchia, thêm vào nước dùng để cân bằng lại vị mặn và khiến nước dùng ngọt hơn.

"Vị phở Sài Gòn có xu hướng ngọt nhiều hơn mặn, trong khi ở Hà Nội thì vị mặn nhiều hơn ngọt. Còn một điểm khác về Sài Gòn và kiểu nấu ăn của ẩm thực miền Nam là khẩu phần ăn lớn hơn. Vì vậy tô phở cũng bự hơn nhiều," Nguyễn cho biết.

Và trong lúc người Hà Nội khi ăn phở kiểu truyền thống chỉ kèm thêm lá húng Láng, thứ rau thơm chỉ trồng được ở làng Láng của Hà Nội, thì ở Sài Gòn, các loại gia vị khác như tương đen, tương ớt và các thức ăn kèm khác như giá, rau quế, ngò và ngò gai cũng được phục vụ tại bàn để thực khách có thể tự thêm vào món ăn theo ý thích riêng.

"Người Nam rất dễ tính," bà Sương nói. "Họ không quan trọng có thay đổi chút ít trong cách nêm nếm. Thực ra kiểu này khiến họ thấy mới hơn."

Sau khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc vào mùa xuân năm 1975, nhiều người từ miền Nam, hầu hết là ở Sài Gòn, vượt biên đi Mỹ và đến nhiều nơi khác trên thế giới, mang món phở nấu kiểu Nam đi cùng.

Phở bắt rễ ở bất cứ nơi đâu có người Việt sống và giờ đây đã trở thành món ăn nổi tiếng nhất của người Việt.

Nguyễn quan sát rằng khi ẩm thực Việt Nam trở nên nổi tiếng hơn, thực khách nước ngoài bắt đầu được biết đến nhiều kiểu nấu phở và đổi vị, cũng như ẩm thực vùng miền Trung Hoa - từ Sơn Đông đến Tứ Xuyên - cũng ngày càng trở nên thời thượng trong vài năm qua.

"Món ăn đã thay đổi từ món ban đầu do người tị nạn Việt Nam đem đến đây, và trở nên gần hơn với vị mà bạn ăn ở Việt Nam," bà giải thích.

Đổi thay cũng đang diễn ra ở Việt Nam. Các chuỗi hàng phở sử dụng bò nhập khẩu do người Việt từ nước ngoài đem về giờ đây đang định hình lại thị trường phở ở Việt Nam. "Vậy là bạn biết món ăn này có qua có lại, chiều ảnh hưởng rất thông suốt," Nguyễn giải thích.

Bản chất phở là món ăn linh hoạt và dễ thích nghi. Nhưng khi phở tiếp tục biến đổi, thì quan ngại là - như trong vụ món ăn của Gerard - trong quá trình đó món ăn sẽ có thể dần mất đi cái hồn của nó.

"Tôi nghĩ rằng điều quan trọng ở đây là mọi người hiểu xuất xứ của phở. Và với những người thực sự sáng tạo với món này, họ cần phải hiểu món ăn đến từ đâu và tôn trọng những người làm ra nó," Nguyễn nói.

Bà Sương đồng ý công thức nấu không phải dẫm chân tại chỗ, và bà nghĩ rằng không ai có thể nấu phở chính xác như 100 năm trước.

"Truyền thống và hiện đại cần đi song song để phở có thể phát triển," bà nói. "[Nhưng] chúng ta cần phải bảo vệ nguồn gốc của phở để biết nguồn gốc của mình."

*

Phở Sài Gòn

------------------

Pho: The humble soup that caused an outrage
Lili Tu
BBC Travel
22 April 2021

When an American blogger named Tieghan Gerard naively dubbed her quick noodle soup recipe "chicken Pho", it caused a storm in a soup bowl. She was accused of whitewashing the iconic Vietnamese dish and misappropriating a culture and its people. Although the creator of Half Baked Harvest with millions of followers apologised and renamed her recipe "sesame chicken and noodles in spicy broth", many Vietnamese Americans believe the title change was not sufficient and that the issue extends far beyond food, especially with the current rise in hate crimes targeting Asian Americans.

While the culinary catastrophe played out on Instagram and had everyone from chefs to influencers to food lovers up in arms, the upside was that it shone a fresh light on Vietnam's beloved national dish and its long history both in Vietnam and across the world.

Pho, a fragrant, nourishing and gently spiced beef and rice noodle soup, is relatively new in the Vietnamese culinary canon – only appearing in written records in the early 20th Century – but the history of this humble soup is both as subtle and complex as its flavour.

"I have had Pho for all my life, but the story of Pho is very rich," said Andrea Nguyen, acclaimed Vietnamese American cookbook writer and James Beard winner. "And so, you think you know Pho, but you really don't because Pho changes."

While most historians agree that Pho was invented in the late 19th and early 20th Century in northern Vietnam during French colonial times, its origins are murky. Some believe Pho was an adaptation of the French one-pot beef and vegetable stew pot-au-feu, which shares a phonetic similarity to "phở". Others say it was from the Chinese communities who settled in the north of Vietnam and sold a dish called 牛肉粉 (beef with noodles). The Chinese character for 粉 is pronounced "fuh", which is similar to the Vietnamese "phở".

Alex Tran, a Vietnamese chef and food writer who is currently based in New Zealand, suggests the origin of Pho may be a combination of both. "Rice noodles and other spices used in making the broth undoubtedly have a connection with Chinese people in the north. However, beef is not the daily meat of the Vietnamese as we use buffaloes for farming. Only under the French colonial regime did the consumption of beef start to appear and bloom."

Whatever Pho's origins, it is both beloved across the country as its national dish and a matter of fierce local pride and contention, where each region has its own preferred take on the ingredients.

"I personally would call it a dish that unites and tears us apart," Tran said. "This is our national pride, but we would never settle on which type of Pho is the 'real Pho'. If you want to make Vietnamese fight each other, ask them which Pho is the best."

While many overseas Pho connoisseurs will be familiar with Saigon's southern-style of Pho, which has a sweeter broth and a liberal use of garnishes and condiments, the first version of the soup is thought to have originated in the north, 100km south of the Vietnamese capital of Hanoi, in Nam Dinh province.

Here, south of the rich, fertile Red River Delta, a wide flat horizon embraces rice paddies, banana trees and bamboo hedges. This agricultural region, where most of the workforce were traditionally farmers, is also where most of the best-known Pho masters in Vietnam come from. Many of them are linked to the Co family in Van Cu village, south of Nam Dinh city.

The peaceful village is surrounded by traditional green rice paddies that contrast with the red tile house roofs. At the village entrance is a shop with a Pho sign that has hung there for many generations. This is the hometown of Vu Ngoc Vuong and his uncle Co Viet Hung, who at 87 is one of the oldest Pho masters alive. Vu Ngoc Vuong is an award-winning Pho master himself, with a chain of five Pho restaurants plus a rice noodle workshop in Hanoi.

According to Vuong, when not cultivating rice, his ancestors travelled to towns and cities where they worked as street vendors. They made and sold bánh đa cua, a type of river crab soup using the tiny crabs that were abundant in the rice fields to make a seafood broth that's served with a type of white flat rice noodles, similar to Pho noodles. They also ate a traditional soup unique to the region called xáo, which was made with slices of water buffalo meat cooked in a simple bone broth with rice vermicelli noodles, spring onions and herbs.

Although no one is sure exactly how Pho came about, most believe that villagers saw an opportunity in in 1898 when French colonialists started constructing the Nam Dinh textile plant. French technicians and thousands of workers flooded into the region to work on Indochina's largest silk plant, and these two soup dishes were likely combined and modified to cater to French tastes.

"The French like beef so the villagers tweaked it by adding beef to the bánh đa cua," Vuong said. "Also, they were given the discarded bones by the French who came to build the textile plant, so they took them back and boiled those to make the broth. They told us that was how Pho was created."

As construction workers moved from Nam Dinh to Hanoi to work on the Long Bien bridge project, the nourishing noodle soup quickly spread beyond the village. Carrying portable Pho stalls on poles over their shoulders, impoverished villagers followed the construction workers, making a good income from selling Pho, and the meal-in-a-bowl soon became a favourite for people living in the capital.

"The first person from the Co family who brought Pho to Hanoi was Co Huu Vong. If he was still alive, he would be 130 or 140 years old," Vuong said. "He came to Hanoi and rented a house. Young men from the village came and made Pho; they took their mobile stalls around Hanoi during the day and went back to the house to sleep at night."

Co Huu Vong's sons and daughters eventually set up Pho shops in Hanoi's Old Quarter, and a few of those, now run by the third generation, are among the highest regarded Pho vendors in the city, such as Phở Gia Truyền Bát Đàn and Phở Bò Việt Hoà Cụ Chiêu. "Ninety percent of my village have moved to Hanoi to live and run Pho businesses, only 10% have stayed in Nam Dinh," Vuong said.

From here, Pho went in very different directions. In Nam Dinh's version, beef slices are wok-fried with garlic, greens and a piece of tomato, then placed on top of blanched noodles before pouring a huge ladle of the aromatic broth into the bowl. Meanwhile, Hanoians took a far minimalist approach to the dish.

In Hanoi, Pho is all about the quality of the broth, with some feeling that even herbs can distract from the flavour. According to Mrs Bui Thi Suong, a cultural ambassador for Vietnamese cuisine, beef Pho broth in Hanoi is made of just beef bones and beef meat; while chicken Pho broth only has chicken. Heading further south you don't see that same specificity. Bun Bo Hue broth in Hue in central Vietnam, for example, uses both beef and pork plus more complex seasonings.

"The single use of an animal type in broth is very similar to the French cooking, which makes the taste more delicate and refined," Suong said. Today, many purists say that the most "authentic" Pho is from Hanoi.

Vuong believes that the broth is the litmus test of a good Pho. He explained that a good broth should have a deep and sweet flavour from the marrow bones that have been simmering for hours, yet it needs to be clear, amber-like colour and subtly spiced. "Spices used in Pho should be subtle undertones of flavour rather than complex layers. When the customers taste it, they shouldn't feel any spice stronger than others," he said.

Although beef Pho was the go-to in Hanoi up until the mid-20th Century, the dish continued evolving. In 1939, the government tried to curb the slaughtering of cows by forbidding the sale of beef on Mondays and Fridays, and Hanoians had to reinvent Pho to satisfy their cravings. Chicken Pho was embraced by residents of the capital, and today, along with beef, it remains a much-loved version in Vietnam and beyond.

Nguyen says her fondest moment eating Pho in Hanoi was "a spectacular chicken Pho". "By that, I mean it tasted just like my mother's Pho, yet it had all of the chicken parts that I have never eaten before," she said. "The chicken broth was so beautifully made, and it tasted like tonic. It's like a wonderful medicine."

In 1954, as the French colonial period ended and Vietnam divided into two, millions of northern Vietnamese migrated towards the south. Pho came with the migrants to the new lands and was adapted to the local taste, culture and produce of each region. The flavours of Pho could be sweeter, saltier or spicier depending on the degree of local preference. What remained consistent was the clear bone broth, the soft white rice noodles, the tender meat slices and green spring onion. The garnish, condiments and additions are where things diverged. In Hoi An, on Vietnam's south-central coast, for example, Pho is served with crushed peanuts, a local chilli oil called ớt rim, pickled green papaya, Thai basil, fresh chilli, lime and fried baguette slices on the side.

Saigon's cultural diversity, with its large Chinese and Cambodian communities and the availability of new ingredients, further fuelled the dish's evolution. Rock sugar from Chinese cooking, and white radish, an ingredient of Cambodian noodle soup kuy teav, were added to the broth to balance the saltiness and make it sweeter. "The flavour of Saigon Pho tends to be more sweet than savoury, whereas Hanoi is more savoury than sweet. And the other thing about Saigon and southern style foods is that everything is larger. So the bowls of Pho are far bigger," said Nguyen.

And while Hanoians only traditionally used mint from the capital's Láng area, in Saigon, condiments like fermented bean and chilli sauce and garnishes such as bean sprouts, basil, cilantro and rice-paddy herb were placed at the table so diners could customise the soup to their preference.

"Southern people are very easy going," said Suong. "They don't mind a bit of change in the use of seasoning. It is actually refreshing for them."

After the Vietnam War ended in spring 1975, many people from the south, mostly Saigon, fled to the US and other parts of the world, taking southern-style Pho with them. Pho has taken root wherever the Vietnamese are and has now become the most recognised Vietnamese dish around the world.

Nguyen observes that as Vietnamese food becomes more popular, people outside Vietnam are starting to be educated on its many variations and permutations, just as regional Chinese cooking – from Shandong to Sichuan – has becoming increasingly trendy in recent years. "It changes from what was brought over here initially by Vietnamese refugees, and becomes perhaps closer to the experience that you would get in Vietnam," she said.

Changes are happening in Vietnam, too. Imported beef and Pho chains run by expatriate Vietnamese are redefining the Pho landscape in Vietnam. "So you know it goes back and forth, the direction is very fluid," Nguyen added.

Pho by nature is a versatile and easily adaptable dish. But as Pho keeps evolving, the concern – as seen in the outrage over Gerard's dish – is it might lose its soul in the process.

"I think that what's important is for people to understand the origins of Pho. And for people to be really creative with it, they need to understand where Pho came from and appreciate the people who make it," said Nguyen.

Suong agrees that recipes aren't stagnant and thinks that no one could cook Pho exactly like it was 100 years ago. "The traditional and the modern need to be in parallel so Pho can evolve," she said. "[But] we need to protect the origin of Pho so we know our roots."

*

Phở Nam Định






Sách: THẾ LÀ GIÀ! Tư Tưởng Thiền về Tuổi Già với Chút Tự Trào và Tự Hào. Susan Moon (2011). Diệu Liên Lý Thu Linh dịch Việt (2012)

 Sách:

THẾ LÀ GIÀ!
Tư Tưởng Thiền về Tuổi Già với Chút Tự Trào và Tự Hào
Susan Moon (2011)
Diệu Liên Lý Thu Linh dịch Việt (2012)

Nguyên tác: 

THIS IS GETTING OLD
Zen Thoughts on Aging with Humor and Dignity

Tải về bản PDF, song ngữ Việt Anh:
=> https://budsas.net/sach/vn163.pdf

MỤC LỤC

Lời giới thiệu
Lời người dịch

Phần I- Những Vết Rạn Trên Thân Tâm
Chương 1: Tôi để bình bát ở đâu?
Chương 2: Vết Nhơ Trên Bầu Trời|
Chương 3: Rời khỏi vị thế Hoa Sen
Chương 4: Ống Thở
Chương 5: Xương Già
Chương 6: Tất Cả Đều Sụp Đổ
Chương 7: Giây Phút Lão Hóa, Giây Phút Tuyệt Vời

Phần II- Những Thay Đổi Trong Các Mối Liên Hệ
Chương 8: Dưới Bóng Mát Cây Đời
Chương 9: Hoán Đổi Giữa Ta và Người
Chương 10: Ngôi Nhà Chung
Chương 11: An Nhiên Tự Tại
Chương 12: Tâm Lão Bà
Chương 13: Vô Ái Dục
Chương 14: Vô Hình, Vô Tướng
Chương 15: Cô Bé Tinh Nghịch Trở Về

Phần III- Trong Cõi Tâm Linh
Chương 16: Uống Trà Với Thượng Đế
Chương 17: Tôi Chẳng Là Tôi Nữa
Chương 18: Không Thể Mang Theo
Chương 19: Chốn Bí Mật
Chương 20: Trò Chuyện Với Người Mẹ Đã Khuất Của Tôi
Chương 21: Hiện Tại
Chương 22: Cô Đơn Giữa Mọi Người
Chương 23: Bao La Cõi Đời

*-----------------*



Saturday, 1 May 2021

Sách: Hành hương Phật tích Ấn Độ, Nepal - Thích Nhật Từ, Thích Ngộ Dũng (2018)

 Sách:

(1) SỔ TAY HÀNH HƯƠNG PHẬT TÍCH ẤN ĐỘ VÀ NEPAL
Thích Nhật Từ (2018)

Tải về bản PDF tại link:
=>  https://tinyurl.com/dpy525fk (6.45 MB)

(2) THEO DẤU CHÂN PHẬT TẠI ẤN ĐỘ VÀ NEPAL
Thích Nhật Từ & Thích Ngộ Dũng (2018)

Hình ảnh Phật tích trong các chuyến hành hương do chùa Giác Ngộ, Q. 10 Sài Gòn, tổ chức.

Tải về bản PDF tại link:
=>  https://tinyurl.com/2w2msf6s (dung lượng lớn, 54 MB)

*


Friday, 30 April 2021

Sách: Đức Phật và Chúng Đệ Tử. Bhikkhu Dhammika. Thích Trung Thành dịch.

Sách:

Đức Phật và Chúng Đệ Tử. 
(The Buddha and His Disciples) 
Bhikkhu Dhammika. Thích Trung Thành dịch

Tải về bản PDF, song ngữ Việt-Anh:  
=>  https://budsas.net/sach/vn160.pdf

* MỤC LỤC

Lời Giới Thiệu 
Lời Nói Đầu 

1. Vùng Đất Cây Jambu 
2. Dòng Tộc Sakya 
3. Đức Phật - Người Là Ai? 
4. Bậc Thầy Của Trời Và Người
5. Tăng Chúng Và Ni Chúng
6. Hai Vị Đại Đệ Tử 
7. Ananda - Người Mà Ai Cũng Yêu Mến 
8. Angulimala - Từ Kẻ Sát Nhân
9. Anathapindika - Người Chu Cấp 
10. Khủng Hoảng Ở Kosambi
11. Rahula - Người Con Trai Của Đấng Giác Ngộ
12. Những Đệ Tử Tại Gia Nổi Tiếng 
13. Ajatasattu Và Devadatta 

Ghi Chú 

*


Thursday, 29 April 2021

Sách: NƠI ẤY CŨNG LÀ BÂY GIỜ VÀ Ở ÐÂY. Jon Kabat-Zinn - Nguyễn Duy Nhiên dịch

 Sách:

NƠI ẤY CŨNG LÀ BÂY GIỜ VÀ Ở ÐÂY
Thiền tập áp dụng vào đời sống hằng ngày

Jon Kabat-Zinn - Nguyễn Duy Nhiên dịch

Nguyên tác:
WHEREVER YOU GO, THERE YOU ARE
Mindfulness Meditation In Everyday Life

Tải về bản PDF, song ngữ Việt-Anh:
=> https://budsas.net/sach/vn159.pdf

* Mục Lục

Phần Một - SỰ NHIỆM MẦU CỦA GIÂY PHÚT HIỆN TẠI
Phần Hai - TRÁI TIM CỦA SỰ TU TẬP
Phần Ba - TINH THẦN CHÁNH NIỆM

*