Monday, 27 February 2023

CẦU BẤT ĐẮC KHỔ - Khổ vì mong cầu mà không được

 CẦU BẤT ĐẮC KHỔ - Khổ vì mong cầu mà không được. 
(Khổ đế, Thánh đế thứ nhất) 

Tối hôm qua, Thứ Sáu 24/02/2023, tôi đến chùa nghe Ajahn Brahm thuyết pháp, ngài có đề cập đến một câu nói trích từ quyển "The Art of Disappearing" của ngài, tôi nghe rất thấm thía. Đó là cách nói của Ajahn về câu "Cầu bất đắc khổ - Khổ vì mong cầu mà không được" mà Đức Phật thường giảng trong đoạn nói về Khổ đế. Và đây là lời khuyên của Ajahn:

- Mỗi khi bạn cảm thấy đau khổ hay khó khăn, bạn hãy luôn nhớ đến một trong những ý nghĩa sâu sắc về “Khổ”: Đó là đòi hỏi thế gian những gì mà nó không bao giờ cho bạn được.

Xin trích ra dưới đây một đoạn ngắn trong phần Dẫn Nhập của cuốn sách, do huynh Le Kim Kha dịch Việt.

*-----*

Trích “Nghệ thuật biến mất”, Ajahn Brahm, Lê Kim Kha dịch (2016)

LÚC NÀO CŨNG CÓ CHUYỆN TRỤC TRẶC, KHÔNG NHƯ Ý MUỐN

Dù ta đang ở đâu—ở trong chùa, trong phố chợ, hay ở trên con đường đầy cây xanh yên tĩnh—chúng ta vẫn liên tục trải nghiệm những sự khó khổ lúc này lúc khác. Đó chỉ là bản chất của sự sống. Vì vậy khi ta gặp khó khổ về sức khỏe, ta không nên nói “Bác sĩ ơi, có điều gì trục trặc trong thân tôi—Sao tôi bị bệnh vậy?”; thay vì vậy ta nên nói rằng “Có điều diễn ra đúng trong thân tôi—Bữa nay tôi bị bệnh rồi.” Đó là lẽ tự nhiên, thân thể con người sẽ bệnh lúc này lúc khác. Đó cũng là lẽ tự nhiên của hệ thống phân rã trong thân khi nó cần phân thải nhưng ta không muốn thấy nó xảy ra, và đó là lẽ tự nhiên như nồi đang nấu nước sôi đôi lúc nó phải trào ra. Đó là lẽ tự nhiên của sự sống, nó diễn ra như vậy. Mặc dù con người luôn xoay sở đấu tranh để làm cho sự sống của chúng ta và người khác được diễn ra êm ả, nhưng làm vậy cũng không ngăn được những điều đó xảy ra. 

Mỗi khi ta bị đau đớn hay khó khổ, hãy luôn nhớ một trong những ý nghĩa sâu sắc của chữ “Khổ”: Đó là ta cứ đòi thế giới những điều nó chẳng bao giờ cho chúng ta. Chúng ta cứ trông đợi và đòi hỏi những điều không thể có trong thế gian. Chúng ta đòi có nhà cửa đẹp và công việc hoàn hảo và mọi thứ chúng ta làm lụng và thu xếp phải xảy ra đúng lúc đúng nơi theo ý muốn của chúng ta. Tất nhiên, đó là đòi hỏi những điều không bao giờ có được. Rồi chúng ta lại đòi phải có được thiền định thâm sâu, rồi chứng luôn giác ngộ ngay bây giờ tại đây. Nhưng thế gian vũ trụ đâu có vận hành theo cách đó, (đâu có dễ như vậy, đâu phải ước là được, muốn là có). Nếu ta cứ đi đòi hỏi những điều thế giới không thể cung cấp cho ta, phải hiểu rằng điều đó chẳng khác nào ta cứ đi đòi có thêm những khổ đau mà thôi. 

Do vậy, dù bạn có làm việc hay thiền tập, hãy biết chấp nhận mọi sự thường đi sai đi khác với mong muốn của ta. Việc của bạn là không nên đòi hỏi những thứ thế gian không cho mình được. Việc của bạn chỉ là quan-sát. Việc của bạn là không cố thúc ép thế gian tạo cho bạn những thứ theo ý bạn muốn có. Việc của bạn là biết hiểu, biết chấp nhận, và buông bỏ. Nếu bạn càng chiến đấu với thân mình, tâm mình, gia đình mình và thế giới, thì bạn chỉ càng gây thêm thương đau khổ sở cho chính mình. 

Nhiều lúc, khi chúng ta có hiểu biết và biết đứng lùi lại trong đời sống hàng ngày, lùi lại chúng ta sẽ nhìn thấy được bức tranh lớn. Chúng ta sẽ thấy chẳng có gì khó khăn khó chịu với nơi ở của chúng ta, chẳng có gì trục trặc khó chịu đối với ta, chẳng có gì trục trặc khó chịu trong đời ta. Chúng ta đã hiểu ra rằng mọi sự chỉ là bản chất của thế giới nó luôn “đi sai”, luôn “trục trặc” theo đường lối của nó. Thế giới là vậy—đó là điều Đức Phật đã nói trong Chân Lý thứ nhất (Diệu Đế về Khổ). Chúng ta làm việc, tranh đấu và cố gắng để làm cho cuộc sống của chúng ta “đi đúng” và “ngon lành”—làm cho nhà cửa, thân thể, và cả tâm trí đều “đi đúng” và “tốt đẹp”—vậy mà tất cả cứ “đi sai” và “trục trặc” so với ý muốn của chúng ta. 

*-----*

Except from “The Art of Disappearing”, Ajahn Brahm (2011)

IT ALL GOES WRONG ANYWAY

Wherever you live -- in a monastery, in a city, or on a quiet tree-lined street -- you will always experience problems and difficulties from time to time. This is just the nature of life. So when you have problems with your health you shouldn’t say, “Doctor, there is something wrong with me -- I’m sick”; rather you should say, “There is something right with me -- I’m sick today.” It’s the nature of the human body to be sick now and again. It’s also the nature of the septic system to need pumping out when you don’t expect it, and it’s the nature of the water heater to sometimes break down. It’s the nature of life to be this way. Even though we struggle as human beings to try to make life go smoothly for ourselves and others, nevertheless it’s impossible to ensure that happens.

Whenever you experience any pain or difficulty, always remember one of the deep meanings of the word suffering: asking the world for something it can never give you. We expect and ask impossible things from the world. We ask for the perfect home and job and that all the things we work hard to build and arrange run perfectly at the right time and place. Of course, that is asking for something that can never be given. We ask for profound meditation and enlightenment, right here and now. But that’s not the way this universe works. If you ask for something that the world can’t supply, you should understand that you’re asking for suffering.

So whether you work or meditate, please accept that things will go wrong from time to time. Your job is not to ask for things the world can’t give you. Your job is to observe. Your job is not to try to prod and push this world to make it just the way you would like it to be. Your job is to understand, accept, and let it go. The more you fight your body, your mind, your family, and the world, the more collateral damage you’ll cause and the more pain you’ll experience.

Sometimes, when we understand and stand back from our daily lives, we see the big picture. We see there’s nothing wrong with the monastery, nothing wrong with us, nothing wrong with life. We understand that it’s just the nature of the world to go "wrong" -- that’s what the Buddha meant by the first noble truth of suffering. You work, struggle, and strive so hard to make your life just right -- to make your home, your body, and your mind just right -- and it all goes wrong anyway.

*----*


Saturday, 25 February 2023

Ba phước nghiệp sự

 BA PHƯỚC NGHIỆP SỰ - Chuyện bây giờ mới kể.

Sáng nay, nhân ngày đầu năm, tôi có chia sẻ với một bạn đạo FB về việc làm phước. Từ đó mới nhớ chuyện này.

Nhiều năm trước có một vị khách tăng từ Thái Lan sang viếng Tây Úc. Ngày trước, Sư là bạn đồng tu với Ajahn Brahm, cùng là đệ tử của Thiền sư Ajahn Chah. Sư đến ở Tu viện Bodhinyana vài tháng rồi mới trở về Thái Lan. Ngày cuối cùng, tôi làm thị giả đưa Sư đi tham quan thành phố, thăm viếng các chùa của các tông phái, sắc tộc khác.

Trên đường đi, tôi hỏi Sư nghĩ như thế nào về sự sinh hoạt của Phật tử ở Tây Úc. Sư trầm ngâm rồi trả lời:

- Đức Phật dạy có ba phước nghiệp sự cần phải thực hành. Đó là bố thí cúng dường (dāna), giới đức (sīla) và tu thiền (bhāvanā). Ba việc này cần phải nỗ lực thực hành đồng đều và hỗ trợ cho nhau, như thể cái ghế có ba chân phải dài bằng nhau. Nhưng Sư thấy Phật tử Thái đến chùa chỉ biết bố thí cúng dường, còn Phật tử Úc đến chùa chỉ biết lo tu thiền. Như vậy là chưa đầy đủ. 

Tôi thấy Sư nhận xét rất đúng. Điều này cũng xảy ra tại nhiều nơi khác. Nhưng rồi qua năm tháng, những ai còn gắn bó với chùa sẽ có những thay đổi, cải tiến. Những người chỉ thích bố thí rồi dần dần cũng đi nghe pháp, tham dự các khóa thiền. Những người thoạt tiên đến chùa chỉ để hành thiền nhưng rồi dần dần cũng biết tụng kinh, phát tâm cúng dường bố thí. 

Mỗi người có nghiệp duyên khác nhau, đến với Đạo Phật trong những hoàn cảnh khác nhau. Điều quan trọng là khuyến khích mọi người cùng đến chùa để sinh hoạt chung với nhau như những người con Phật.

*-----*



Friday, 24 February 2023

How many friends do you need to maintain your social network?

 How many friends do you need to maintain your social network?
Anna Salleh
ABC News, 18/05/2016 
  

*

There is a limit to how many people you can have in your social network — now a study reveals why, and how many relationships you need to maintain that network.

It has long been accepted that the size of a network in which everyone makes the choice to connect and help each other out is limited by the size of our brain.

"When you have got this network of relationships, there are a lot of things going on in that network. It takes a lot of brain power to actually socially navigate these large networks and there's an upper limit to our ability to do that," said lead author of the study, Dr Michael Harré, a complex systems expert from the University of Sydney.

Now, for the first time, Dr Harré and colleague Professor Mikhail Prokopenko have calculated how that limit — known as Dunbar's Number — is reached.

Their model, published today in the Royal Society journal Interface, which has been tested using real data from small groups in both hunter-gather and modern communities, shows the average minimum number of relationships that need to be maintained by individuals to form cooperative groups.

"For humans the limit is around 132 individuals," Dr Harré said. The good news is that you don't have to maintain relationships with everyone in the group for it to remain cohesive.

"To connect together a group of 132 individuals we estimate the average number of links each individual has to be able to maintain is between four and five," the researchers said.

They emphasise this is an average, and that some people will maintain a lot more relationships or even less.

AVERAGE NUMBER OF RELATIONSHIPS CHANGES WITH GROUP SIZE

The new model shows that within a group of 132, there are smaller groups consisting of around five, 15 and 45 people.

The model shows an interesting relationship between the average number of relationships — or links — per person and the size of the group.

A person in a group of five such as a book club or group of friends needs to maintain an average of one to two links; a person in a group of 15 needs an average of two to three links, and a person in a group of 45 needs an average of three to four links.

"The strength of our result is in showing that it is sufficient to add just one connection per person on average while increasing the size of the group roughly three-fold," Professor Prokopenko said.

There are many ways this can happen. One person in the group might do all the work, or it can be spread around between the group.

The good thing about this is it means you don't have to like or even be friends with people to co-operate with them — as long as others in the group do.

"You only have to like enough people to bind the group together."

Cooperative social networks have long been known to operate in hunter-gatherer groups, which bind together to maximise safety and resource sharing.

"They had these free-forming groups which kept the power away from individuals and retained the power with the group," Dr Harré said.

This would have been important in the days when hunter-gatherers needed, say, 15 people to cooperate in the hunting of a mammoth.

"All you need to do is like two or three people in that group and that's adequate for you to go off and hunt with them," he said.

COOPERATIVE VERSUS HIERARCHICAL NETWORKS

The new research is the first to explore the network structure of cooperative groups in modern society.

Dr Harré said in the cooperative social network people must maintain not only their direct relationships, but they have to have at least a vague idea about how all the other people in each group are related to each other.

This puts increasing demands on our brain as we process larger and larger groups, which is probably why hierarchical social networks developed in modern societies.

Indeed, the researchers found a hierarchical social network model — in which a leader forces people together in armies or bureaucracies — worked best for groups larger than 132.

"It wasn't until we started moving into things like villages and towns and cities where we got larger and larger bodies that we started getting hierarchies," Dr Harré said.

Professor Prokopenko added: "The increase in the average cognitive demand on each individual, needed to support the rapid growth of egalitarian groups, is no longer justified, and so is replaced by a cognitively simpler hierarchical arrangement.

"For example, it is easier to organise "battalions" [of 500 people] not by interconnecting individuals among "tribes", but rather by a direct hierarchical chain of command."

*-----*




Saturday, 18 February 2023

Kỷ niệm hành hương với bác Phạm Kim Khánh

 KỶ NIỆM HÀNH HƯƠNG VỚI BÁC PHẠM KIM KHÁNH
Chuyện xưa bây giờ mới kể.

Vào năm 1997, Hội Phật giáo Tây Úc tổ chức một chuyến hành hương Ấn Độ do Ajahn Brahm hướng dẫn. Vợ chồng tôi rất vui mừng và vội vàng đăng ký để tham dự. Tuy nhiên, khoảng ba tuần lễ trước khi khởi hành, ba tôi lâm bệnh nặng, vợ chồng tôi phải hủy chuyến hành hương để ở nhà chăm sóc ông.

Lúc ấy tôi bắt đầu phát triển trang web Phật giáo BuddhaSasana và có làm quen, liên lạc được với bác Phạm Kim Khánh qua email và điện thoại, được bác gửi cho những tập sách mà bác đã dịch và ấn tống. Trong những lần liên lạc trò chuyện đó, hỏi thăm và trao đổi thông tin về gia cảnh ở Việt nam, mới biết được tôi và bác gái, bà Lê Thị Sương, có liên hệ họ hàng bên nội. Cả hai bác Khánh và bác Sương đều biết các bác, các cô của tôi và những người bà con khác ở Sài Gòn, Gò Công và Biên Hòa. Từ đó, chúng tôi trở nên thân tình, mặc dù cho đến khi hai bác qua đời ở Mỹ, tôi vẫn chưa có duyên gặp tận mặt.

Tôi nói với hai bác là tôi rất buồn vì đã bỏ lỡ chuyến đi hành hương. Đó là tâm niệm, ý nguyện của tôi để được đi viếng bốn nơi động tâm như Phật đã dạy. Hai bác khuyên tôi đừng buồn, vì mình là con thì phải lo chăm sóc cha già, còn đi hành hương xứ Phật thì có lẽ là chưa đủ duyên nên chưa đi được. Bác Khánh động viên tôi, cho biết bác vừa xuất bản tập sách Hành Hương Xứ Phật, ghi lại chi tiết thông tin, lịch sử và hình ảnh về chuyến đi hành hương Phật tích năm 1996 do ngài Hòa thượng Kim Triệu hướng dẫn. Bác nói sẽ gửi tặng tôi một cuốn, khuyên tôi nên đọc cho kỷ, để hoan hỷ và biết rõ thông tin, để về sau này, khi có dịp đi hành hương thì mới có nhiều ích lợi vì mình đã có thông tin đầy đủ về ý nghĩa lịch sử của các điểm hành hương đó.

Vài tuần lễ sau, tôi nhận được tập sách Hành Hương Xứ Phật, bìa cứng, khổ giấy A4, nội dung chứa nhiều thông tin về các điểm hành hương và nhiều hình ảnh giá trị, vì ngoài tài năng dịch sách, bác còn có tài  chụp ảnh rất khéo. Tôi đọc xuyên suốt cuốn sách đó. Tâm hoan hỷ, không còn buồn nữa. Nhưng lúc nào cũng nguyện trong lòng là mong được thuận duyên để một ngày nào đó sẽ được đi viếng thăm các thánh tích ở Ấn Độ, như thể mong đợi có một ngày trở về thăm quê xưa chốn cũ của mình. 

Mãi cho đến 6 năm sau, vào năm 2003, tôi mới có đủ phước duyên để đi hành hương. Chuyến đi phát xuất từ Bangkok với một nhóm nhỏ gồm 8 người Thái và một người Úc gốc Việt là tôi bay từ Perth sang để cùng đi. Nhờ có thu thập các thông tin từ trước qua cuốn sách của bác Khánh và bởi vì đây là một nhóm nhỏ, ông trưởng đoàn có nhiều thì giờ giải thích cặn kẽ về mỗi địa điểm thăm viếng, tôi cảm thấy rất lợi lạc và rất hoan hỷ, có ấn tượng sâu đậm về chuyến đi đó.

Cho nên tôi thường hay khuyên bạn bè rằng mình là Phật tử – con của Phật, thì mình nên lập ý nguyện đi hành hương thăm viếng bốn nơi động tâm – nơi Đản sinh, nơi Thành đạo, nơi Chuyển Pháp luân và nơi Bát-niết-nàn – như thể trở về thăm viếng quê hương của mình trong một kiếp xa xưa nào đó. Giữ ý nguyện này trong tâm, rồi một ngày nào đó, khi đủ duyên, sẽ được toại nguyện. 

* Hành Hương Xứ Phật. Phạm Kim Khánh (1997)
https://budsas.net/uni/u-hhxp/00.htm 

BÌNH ANSON
Perth, 18/02/2023

*-----*



Thursday, 16 February 2023

Theo Dấu Chân Phật - Tám Thánh Tích Phật Giáo Tại Ấn Độ. Tỳ-khưu Đức Hiền dịch (2017

 THEO DẤU CHÂN PHẬT - Tám Thánh Tích Phật Giáo Tại Ấn Độ 
Tỳ-khưu Đức Hiền dịch (2017)

Nguyên tác: In the Foot-Steps of the Buddha - Eight Buddhist Shrines In India. Shanti Swroop Bauddh.

Link để tải bản PDF (176.4 MB):
https://tinyurl.com/3ek5d32h 

Link dự phòng:
https://mega.nz/file/64JSSBaa#1qDraCFK8DYyss9gh865xuE6HipZlN7cSh7G8Ybw72k

*



Lược đồ Tam Tạng Pali

LƯỢC ĐỒ TAM TẠNG PĀḶI (TIPIṬAKAPĀḶI)
Nguồn: Kinh tụng Phật giáo Nguyên thủy, Tỳ-khưu Đức Hiền biên soạn (2018)

Tam Tạng Kinh điển Pāḷi gồm 58 cuốn, trong đó Tạng Luật gồm có 9 cuốn, Tạng Kinh 36 cuốn và Tạng Vi Diệu Pháp 13 cuốn, theo thứ tự sau:

 I. TẠNG LUẬT 
01. Phân Tích Giới Tỳ Khưu I - Pārājikapāḷi 
02. Phân Tích Giới Tỳ Khưu II - Pācittiyapāḷi bhikkhu 
03. Phân Tích Giới Tỳ Khưu Ni - Pācittiyapāḷi bhikkhunī
04. Đại Phẩm I - Mahāvaggapāḷi I 
05. Đại Phẩm II - Mahāvaggapāḷi II
06. Tiểu Phẩm I - Cullavaggapāḷi I
07. Tiểu Phẩm II - Cullavaggapāḷi II
08. Tập Yếu I - Parivārapāḷi I
09. Tập Yếu II - Parivārapāḷi II

II. TẠNG KINH
10. Trường Bộ I - Dīghanikāya I 
11. Trường Bộ II - Dīghanikāya II
12. Trường Bộ III - Dīghanikāya III
13. Trung Bộ I - Majjhimanikāya I
14. Trung Bộ II - Majjhimanikāya II
15. Trung Bộ III - Majjhimanikāya III
16. Tương Ưng Bộ I - Saṃyuttanikāya I
17. Tương Ưng Bộ II - Saṃyuttanikāya II
18. Tương Ưng Bộ III - Saṃyuttanikāya III
19. Tương Ưng Bộ IV - Saṃyuttanikāya IV
20. Tương Ưng Bộ V (1) - Saṃyuttanikāya V (1)
21. Tương Ưng Bộ V (2) - Saṃyuttanikāya V (2)
22. Tăng Chi Bộ I - Aṅguttaranikāya I
23. Tăng Chi Bộ II - Aṅguttaranikāya II
24. Tăng Chi Bộ III - Aṅguttaranikāya III
25. Tăng Chi Bộ IV - Aṅguttaranikāya IV
26. Tăng Chi Bộ V - Aṅguttaranikāya V
27. Tăng Chi Bộ VI - Aṅguttaranikāya VI

Tiểu Bộ
28. Tiểu Tụng - Khuddakapāṭha 
      Pháp Cú - Dhammapadapāḷi
      Phật Tự Thuyết - Udānapāḷi
      Phật Thuyết Như Vậy - Itivuttakapāḷi
29. Kinh Tập - Suttanipātapāḷi
30. Chuyện Thiên Cung - Vimānavatthupāḷi
      Chuyện Ngạ Quỷ - Petavatthupāḷi
31. Trưởng Lão Kệ - Theragathāpāḷi
      Trưởng Lão Ni Kệ - Therīgāthāpāḷi
32. Bổn Sanh I  - Jātakapāḷi I
33. Bổn Sanh II  - Jātakapāḷi II
34. Bổn Sanh III  - Jātakapāḷi III
35. Đại Diễn Giải - Mahāniddesapāḷi
36. Tiểu Diễn Giải - Cullaniddesapāḷi
37. Phân Tích Đạo I - Paṭisambhidāmagga I
38. Phân Tích Đạo II - Paṭisambhidāmagga II
39. Thánh Nhân Ký Sự I - Apadānapāḷi I
40. Thánh Nhân Ký Sự II - Apadānapāḷi II
41. Thánh Nhân Ký Sự III - Apadānapāḷi III
42. Phật Sử - Buddhavaṃsapāḷi
      Hạnh Tạng - Cariyāpiṭakapāḷi
43. Cẩm Nang Học Phật - Nettipakaraṇa
44. Tam Tạng Chỉ Nam - Petakopadesa
45. Mi Tiên Vấn Đạo - Milindapañhapāḷi

III. TẠNG VI DIỆU PHÁP 
46. Bộ Pháp Tụ - Dhammasaṅganipakaraṇa
47. Bộ Phân Tích I - Vibhaṅgapakaraṇa I
48. Bộ Phân Tích II - Vibhaṅgapakaraṇa II
49. Bộ Ngữ Tông I - Kathāvatthu I
50. Bộ Ngữ Tông II - Kathāvatthu II
51. Bộ Ngữ Tông III - Kathāvatthu III
52. Bộ Chất Ngữ - Dhātukathā
      Bộ Nhân Chế Định - Puggalapaññattipāḷi
53. Bộ Song Đối I - Yamakapakaraṇa I
54. Bộ Song Đối II - Yamakapakaraṇa II
55. Bộ Song Đối III - Yamakapakaraṇa III
56. Bộ Vị Trí I - Paṭṭhānapakaraṇa I
57. Bộ Vị Trí II - Paṭṭhānapakaraṇa II
58. Bộ Vị Trí III - Paṭṭhānapakaraṇa III

*-----*






Kinh tụng Phật giáo Nguyên thủy. Tỳ-khưu Đức Hiền biên soạn (2018)

 KINH TỤNG PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY
Tỳ-khưu Đức Hiền biên soạn (2018), 670 trang.

* Link để tải bản PDF (13.7 MB):
https://tinyurl.com/3ufjt78h 

Link dự phòng:
https://mega.nz/file/blgy3IwB#t3U5N5RsmOgfScKtLiT3TqaDX6rJLgXrzJKyJy2oh5A 

* MỤC LỤC TỔNG QUÁT

PHẦN I: KHÓA KINH HẰNG NGÀY
1. Tisaraṇa Vandanā & Lễ Bái Tam Bảo
2. Parittapāḷi - Kinh Hộ Trì, Kinh tụng đọc theo ngày trong tuần
3. Anussati & Quán Niệm
4. Paṭidāna-gāthā; Patthanā - Kệ Hồi Hướng; Nguyện Cầu

PHẦN II: DĀNĀNUMODANA-GĀTHĀ & KHÓA KINH PHÚC CHÚC, HOAN HỶ PHƯỚC THÍ 

PHẦN III: MAṄGALA-GĀTHĀ & KHÓA KINH CẦU AN 

PHẦN IV: AVAMAṄGALA-GĀTHĀ & KHÓA KINH CẦU SIÊU 

PHẦN V: GIỚI THIỆU CÁC NGÀY LỄ (Rằm tháng Giêng, rằm tháng Tư, và rằm tháng Bảy) & CÁC BÀI KINH DÀI 

PHỤ LỤC: CÁC NGHI THỨC VÀ TÁC BẠCH TRONG PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY 

*-----*



Tuesday, 14 February 2023

Thanh Văn Tạng - Đại Tạng Kinh Việt Nam

Các Kinh, Luật và Luận thuộc Thanh Văn Tạng, dịch từ Hán Tạng, được thực hiện trong giai đoạn đầu đã và đang được Hội Ấn Hành Đại Tạng Kinh Việt Nam ấn hành (2022, 2023) gồm có:

KINH BỘ:
– Kinh Trường A-hàm (2 quyển) + 1 Tổng Lục,
– Kinh Trung A-hàm (4 quyển) + 1 Tổng Lục,
– Kinh Tạp A-hàm (3 quyển) + 1 Tổng Lục,
– Kinh Tăng Nhất A-hàm (3 quyển) + 1 Tổng Lục.

LUẬT BỘ:
– Luật Tứ Phần (4 quyển) + 1 Tổng Lục,
– Luật Tứ Phần Tăng Giới Bổn – Yết-ma – Bách Nhất Yết-ma – Căn bản thuyết Nhất thiết hữu bộ Tỳ-nại-da sự,

LUẬN BỘ:
– A-tỳ-đạt-ma Câu-xá Luận (3 quyển),
– A-tỳ-đạt-ma Tập Dị Môn Túc Luận,
– A-tỳ-đạt-ma Pháp Uẩn Túc Luận,

TẠP BỘ:
– Kinh Hiền Ngu.
– Lục Độ Tập Kinh,

* Nguồn: https://phatviet.info/daitangkinh/ 

*-----*



Monday, 13 February 2023

Bốn nơi động tâm - Chuyện bây giờ mới kể

Lần đầu tiên tôi đi hành hương Ấn Độ-Nepal là khoảng 20 năm trước, viếng thăm bốn nơi động tâm và các Phật tích khác. Khi trở về Perth, tôi viết một bài tường thuật kèm theo hình ảnh của chuyến đi và có vài buổi nói chuyện trong các phòng PalTalk trên Internet.

Một bạn đạo người Việt sống ở Hoa Kỳ viết email đến tôi. Anh là một Phật tử thuần thành nhưng anh chỉ biết kinh điển Đại thừa và Tịnh độ. Anh hỏi tôi rằng bốn nơi động tâm đó quả thật có ghi trong kinh điển và lịch sử Phật giáo hay không? Hay đó là do người đời sau đặt ra và được các tổ chức du lịch hành hương phóng đại để thu hút khách hàng Phật tử? 

Tôi gửi đến anh các trích đoạn của kinh điển Pāli (Đại kinh Bát-niết-bàn, DN 16; Kinh Động tâm, AN 4.118), trong đó Đức Phật khuyên chúng ta nên đi viếng bốn nơi động tâm để tăng niềm tín thành nơi Chánh Pháp. Tôi cũng đề cập đến quyển Đại Đường Tây Vực Ký của ngài Huyền Trang, trong đó ngài có ghi lại các thánh tích ở Ấn Độ mà ngài đã viếng thăm, và báo cáo của các nhà khảo cổ người Anh vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 – quan trọng nhất là công trình khai quật ở Ấn Độ của ông Alexander Cunningham – đã tìm lại được các địa điểm lịch sử trong thời Đức Phật. 

Vài tháng sau, anh ấy quyết định tham gia một chuyến hành hương để xem cho biết. Anh viết thư hỏi thêm về các thông tin sinh hoạt và các điều kiện vệ sinh, ăn uống và di chuyển tại Ấn Độ. Tôi có chia sẻ với anh ấy về những hiểu biết và kinh nghiệm của tôi. Sau chuyến đi đó, anh rất hoan hỷ và viết thư cám ơn tôi. Về sau, anh là người đứng ra tổ chức những chuyến hành hương khác cho bạn bè và bạn đạo ở Mỹ.

Bình Anson
Perth, Western Australia
12/02/2023

*

Trích lục kinh điển.

 I. ‘’Này các tỳ-khưu, có bốn nơi động tâm mà một người có lòng tín thành nên đến viếng. Thế nào là bốn? (1) Nơi Như Lai đản sinh, một người có lòng tín thành nên đến viếng. (2) Nơi Như Lai giác ngộ, đắc quả Vô thượng Chánh đẳng giác, một người có lòng tín thành nên đến viếng. (3) Nơi Như Lai chuyển Pháp luân Vô thượng, một người có lòng tín thành nên đến viếng. (4) Nơi Như Lai nhập Niết-bàn vô dư y, một người có lòng tín thành nên đến viếng. Đó là bốn nơi động tâm mà một người có lòng tín thành nên đến viếng.’’ 

– (Kinh Động tâm, Tăng chi bộ, AN 4.118)

II. ‘’Này Ānanda, có bốn nơi động tâm mà một người có lòng tín thành nên đến viếng. Thế nào là bốn? (1) Nơi Như Lai đản sinh, một người có lòng tín thành nên đến viếng. (2) Nơi Như Lai giác ngộ, đắc quả Vô thượng Chánh đẳng giác, một người có lòng tín thành nên đến viếng. (3) Nơi Như Lai chuyển Pháp luân Vô thượng, một người có lòng tín thành nên đến viếng. (4) Nơi Như Lai nhập Niết-bàn vô dư y, một người có lòng tín thành nên đến viếng.

“Này Ānanda, đó là bốn nơi động tâm mà một người có lòng tín thành nên đến viếng. Các thiện tín tỳ-khưu, tỳ-khưu-ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ sẽ đến và suy tư: ‘Đây là nơi Như Lai đản sinh’, ‘Đây là nơi Như Lai giác ngộ, đắc quả Vô thượng Chánh đẳng giác’, ‘Đây là nơi Như Lai chuyển Pháp luân Vô thượng’, và ‘Đây là nơi Như Lai nhập Niết-bàn vô dư y’. Những ai, trong khi chiêm bái những thánh tích ấy mà từ trần với tâm tín thành hoan hỷ, thì những vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung sẽ được sinh về cõi thiện lành, cảnh giới chư thiên.” 

– (Đại kinh Bát-niết-bàn, Trường bộ, DN 16)

*-----*



Wednesday, 1 February 2023

Tiểu sử Trưởng lão Sīvalī, theo kinh điển Pāli

 TRƯỞNG LÃO SĪVALĪ
Nguồn: G. P. Malalasekera (1938), Dictionary of Pali Proper Names,  The Pali Text Society, London.
Trần Ngọc Lợi dịch
(Bình Anson hiệu đính)

*

Ông là con của Công chúa Suppavāsā, tức cháu ngoại của vua trị vì xứ Koliya. Mẹ ông mang thai ông bảy năm bảy ngày và chuyển bụng trong bảy ngày liền (xem nhân duyên trong Asātarūpa Jātaka [1]). Bấy giờ bà nói với chồng rằng: “Trước khi mạng chung, tôi sẽ bố thí,” và nhờ chồng đến yết kiến Phật. Phật ban phước lành cho bà, bà sinh được mẹ tròn con vuông. Để tạ ơn, bà yêu cầu chồng cúng dường Đức Phật và chúng Tăng trong bảy ngày.

Từ lúc sinh ra, Sīvalī có thể làm bất cứ việc gì. Tôn giả Sāriputta nói chuyện với chàng ngay trong ngày chàng chào đời và truyền giới cho chàng với sự cho phép của Công chúa Suppavāsā. Chàng đắc Sơ quả ngay sau khi nắm tóc đầu tiên được thí phát, và đắc Nhị quả ngay sau khi nắm tóc thứ nhì được cắt đứt. Thọ giới xong, chàng vô rừng ẩn tu, hành thiền quán về sự chậm ra đời của mình và đạt thắng trí của bậc A-la-hán.

Vào thời Phật Padumuttara, ông có phát nguyện được làm vị đệ tử tối thắng về nhận vật thực cúng dường như ngài Sudassana, đệ tử của Đức Phật. Do đó, ông cúng dường Phật và chúng tỳ-khưu trong bảy ngày. 

Vào thời Phật Vipassī, ông làm gia chủ ở gần Bandhumatī, từng cúng dường mật, sữa chua và đường đủ cho 68 ngàn vị tỳ-khưu. 

Vào thời Phật Atthadassī, ông là vua Varuṇa từng cúng dường cội Bồ-đề sau khi Phật nhập diệt. Về sau, ông băng hà dưới cội Bồ-đề này và sinh lên cõi Nimmānaratī (Hóa lạc thiên). Ông làm vua 34 lần, với vương hiệu Subāhu [2].

Theo Apadāna [3], phụ thân ông trong kiếp sau cùng là người Licchavī tên Mahāli.

Trưởng lão Sīvalī được Phật tuyên bố là vị đệ tử tối thắng về nhận vật thực cúng dường [4]. Trưởng lão có tháp tùng Phật trong chuyến du hành đến Khadiravaniya-Revata vì đoạn đường này khó đi và ít được cúng dường vật thực [5]. Ngoài ra, Trưởng lão từng đi với 500 tỳ-khưu lên Hy Mã Lạp Sơn để thử sự tối thắng về nhận vật thực cúng dường của ông; ông được chư Thiên cúng dường chu đáo. Trên núi Gandhamādana, ông được Thiên tử Nāgadatta cúng dường cháo sữa trong suốt bảy ngày.

----------

Ghi chú:

[1] Cf. Ap. 494, vs. 29 f. Chuyện Sīvalī còn được kể trong Ud. ii. 8; AA. i. 136 f.; DhA. iv. 192 f.; ii. 196; J. i. 408 f. Udāna và Jātaka có nói rằng một cư sĩ hộ trì của Moggallāna phải hoãn lại cuộc thỉnh Phật về nhà thọ trai để Ngài nhận lời mời của Suppavāsā đến mừng ngày Sīvalī chào đời; chuyện này không thấy nói đến trong các kinh văn khác. Udāna không có đề cập đến việc Sīvalī vô rừng ẩn tu. Dhammapasaṭṭhakathā kể câu chuyện này một cách khác. 

[2] Thag. vs. 60; ThagA. i. 135. 

[3] Ap. ii. 492 f. 

[4] A. i. 24. 

[5] ThagA. i. 138; Ap. ii. 495; AA. i. 139.

*



Sunday, 29 January 2023

Vui sống trong hiện tại.

 Vui sống trong hiện tại.

Hôm nay cần phải mua vài loại thuốc tây, thấy trời nắng tốt nên tôi đi bộ từ nhà đến khu thương mại gần đó có tiệm thuốc quen thuộc. Vừa đi vừa ngẫm nghĩ về cuộc đời của mình.

Như thế là tôi sống ở xứ Úc này được 45 năm, với tuổi 71 thì xem như hơn 2/3 cuộc đời tôi đã sống ở đây, tại thành phố Perth này. Đã quen thuộc với người dân, môi trường, mọi sinh hoạt xã hội, văn hóa, kinh tế. Cho nên, tôi xem đây như là quê hương thứ hai của mình, sẽ sống cho đến khi mãn tuổi thọ, không có ý định sống ở nơi nào khác. Khách quan mà nói, đời sống ở đây tương đối an bình, môi trường trong sạch, khí hậu thời tiết dễ chịu, trợ cấp an sinh và y tế cho người già cũng khá tốt và đảm bảo.

Như có tâm sự nhiều lần, tôi đã từng về Việt Nam làm việc trong thập niên 1990, và thăm viếng nhiều nơi trong 20 năm qua, nhất là các thành phố dọc theo bờ biển hình chữ S. Đã đi hành hương ở Ấn Độ và Sri Lanka. Đã viếng thăm các địa điểm lịch sử Phật giáo ở Myanmar, Thái Lan, Lào và Campuchia. Đã từng ngồi máy bay từ Perth đi Mỹ theo 2 hướng khác nhau, xem như là bay vòng quanh trái đất hai lần. Cho nên cũng mãn nguyện, không còn có ý định đi đâu nữa.

Trong những năm tháng còn lại, tự nhủ là mình nên tập trung vào sự tu tập cho chính bản thân, đừng để dính dáng vào những chuyện lu bu của thế giới bên ngoài. Lặng lẻ theo dõi, ghi nhận các diễn biến chung quanh, tùy hứng, tùy duyên, rồi để qua một bên, không bận tâm, không dính mắc vào đó. Ngay cả trong các sinh hoạt Phật giáo, tôi cũng không còn tham gia tích cực vào các nhóm tu học, các đạo tràng, hay các tổ chức Phật giáo. Chỉ đóng góp nếu có nhu cầu, nhưng cũng hạn chế, không hứng thú, hăng hái như xưa.

LIS – Life is short, Đời sống ngắn ngủi. Câu chú “Lis, Lis, Lis, Lis …” là thần chú của tôi để tự nhắc nhở, tập trung vào những việc cần phải làm cho riêng mình trong năm tháng còn lại. Quỹ thời gian không còn nhiều nữa.

Bình Anson
Nollamara, Tây Úc
11/12/2022

* Ghi thêm (21/12/2022):

Mấy ngày gần đây tôi nhận được rất nhiều hình ảnh về quang cảnh xứ Việt của một anh bạn gửi đến chia sẻ.

Bây giờ rảnh rổi, dịch Covid tương đối đã lắng dịu, anh ấy về Việt Nam và thu xếp đi thăm viếng nhiều tỉnh thành, từ Bắc xuống Nam. Anh ấy cũng thích chụp hình, đi đến đâu chụp hình đến đó, rồi gửi vào chia sẻ trong Facebook.

Nhìn những hình ảnh đó, tôi thấy vui vui, nhớ lại những cảnh cũ mình đã từng thấy, và so sánh với cảnh ngày nay để thấy được sự đổi thay theo năm tháng.

Nhưng rồi thôi, không còn thấy háo hức, nhớ nhung như xưa. Ngay cả cảnh đường phố Sài Gòn, nơi tôi sinh ra và lớn lên, tôi cũng cảm thấy dửng dưng, như một người ngoại cuộc. Không còn những cảm xúc, nỗi niềm như mấy năm trước nữa.

Có lẽ đây đúng là lúc mình dừng lại, buông bỏ những gì đã qua đi, không nuối tiếc, và an vui với những gì mình đang có ngay tại đây, trong hiện tại.

*-----*



Thursday, 26 January 2023

Cây Sāla trong kinh điển Pāli

 CÂY SĀLA TRONG KINH ĐIỂN PĀLI

Sāla là một loại cây quan trọng trong Phật giáo. Hai cây Sāla song đôi (Sa-la Song Thọ) của bộ tộc Malla ở Kusināra (Câu-thi-na) đã cho những hoa thơm ngát rơi rụng xuống thân Đức Phật khi Ngài nằm nghỉ trong những giờ phút cuối cùng trước khi nhập diệt (DN 16, SN 6.15, AN 4.76, Ud 4.2, Thag 16.10, Tha-ap 51). Theo Chú giải Trung bộ (M-a IV 182), Đức Phật đản sinh trong rừng Sāla ở Lumbini (lumbinīsālavanuyyāna); mẫu hậu sinh ra ngài Bồ-tát khi đứng vịn cành cây Sāla.

Bài kinh quan trọng Pháp môn Căn bản (Mūlapariyāya Sutta, MN 1) đã được Đức Phật giảng khi Ngài ngồi dưới gốc cổ thụ Sāla trong rừng Subhaga tại Ukkattha. Trong Đại kinh Gosiṅga (Mahāgosiṅga Sutta, MN 32), Trưởng lão Sāriputta mô tả rừng Sāla ở Gosiṅga như sau: “Khả ái thay khu rừng Gosinga! Ðêm rằm sáng trăng, cây Sa-la trổ hoa cùng khắp, như thể hương trời như được tỏa rộng khắp nơi.” Kinh Caṅkī (MN 95) tường thuật chuyện bà-la-môn Caṅkī và các đạo sĩ bà-la-môn cùng đi đến viếng thăm Đức Phật khi Ngài ngự tại rừng Sāla gần đó và họ gọi đó là rừng của chư thiên. Bà-la-môn Navakammika đến gặp Đức Phật khi Ngài ngồi hành thiền ở gốc cây trong rừng Sāla (Navakammika Sutta, SN 7.17). Kinh Gavesī (AN 5.180) được Đức Phật giảng trong rừng Sāla rộng lớn trên đường đến Kosala khi Ngài du hành với một nhóm đông các tỳ-khưu.

Trong thời quá khứ, Đức Phật Vessabhū (Tỳ-xá-phù) giác ngộ dưới cội cây Sāla (Mahāpadāna Sutta, DN 14). Cây Sāla cũng được đề cập trong nhiều bài kinh khác có liên hệ đến ván gỗ, dùng để đóng thuyền bè (Sāḷha Sutta, AN 4.196). Trong chuyện Tiền thân Sonaka (Ja 529), rừng Sālā được mô tả gồm “những cây to lớn, có thân thẳng, có tán màu xanh lục, làm thích ý. Chúng đứng thẳng, nương tựa với nhau, đáng yêu, tương tự đám mây.”

----------

* Nguồn: 
Bhikkhu Nyanatusita. “What is the Real Sal Tree?”, BPS Newsletter, No. 63, 2010. Kandy, Sri Lanka. (Bình Anson trích dịch, 25/01/2023)

* Sāla có nhiều tên gọi trong tiếng Ấn Độ: sāla, shala, sakhua, sarai. Tên tiếng Anh: Sal tree. Tên tiếng Hán: 沙羅 (Sa La). Tên thực vật: Shorea Robusta

* Ghi chú: 
AN : Aṅguttara Nikāya, Tăng Chi Bộ
DN : Dīgha Nikāya, Trường Bộ 
Ja : Jātaka, Chuyện Tiền Thân, Tiểu Bộ 
MN : Majjhima Nikāya, Trung Bộ
M-a: Majjhima-nikayatthakatha, Chú Giải Trung Bộ 
SN : Saṁyutta Nikāya, Tương Ưng Bộ
Thag : Theragāthā, Trưởng Lão Kệ, Tiểu Bộ
Tha-ap : Thera Apadana, Nam Thánh Nhân Ký Sự, Tiểu Bộ
Ud : Udāna, Phật Tự Thuyết, Tiểu Bộ

*-----*

Rừng Sala, Nepal


Sunday, 15 January 2023

Luật Tạng - The Book of the Discipline (Vinaya Piṭaka) – Bản Anh dịch

 LUẬT TẠNG - THE BOOK OF THE DISCIPLINE (VINAYA PIṬAKA)
Anh dịch: I.B. Horner (PTS 1938, 1940, 1942, 1950, 1951, 1966)
Hiệu đính: Bhikkhu Sujato và Bhikkhu Brahmali (Sutta Central 2014)

Tải bản PDF (dung lượng: 9.4 MB, 3000 trang): 
1) https://drive.google.com/file/d/1v58tYgHQVULXBME0G7_bCc80j6-NIsdE/view?usp=drivesdk 

2) https://tinyurl.com/b4v6dhts

Nội dung:
I. The Analysis of Monks’ Rules (Bhikkhuvibhaṅga)
(Phân tích Giới Tỳ-khưu) – trang 1

II. The Analysis of Nuns’ Rules (Bhikkhunīvibhaṅga) 
(Phân tích Giới Tỳ-khưu-ni) – trang 1049

III. Khandhaka 
(Hợp phần) – trang 1337

IV. Parivāra
(Tập yếu) – trang 2423

*




Saturday, 31 December 2022

Phiên phiến tuổi già - Tràm Cà Mau (2007)

Phiên phiến tuổi già
Tràm Cà Mau (2007)


Bạn tôi, có ông tự xưng là Hai Hô. Bởi răng ông hô. Ông rất thích thú với danh xưng nầy. Ông thường nói rằng, ngày xưa còn trẻ, hăng tiết vịt, ai nói gì, đúng hay sai, cũng tìm lời cãi lại . Bây giờ già rồi, nghe ai nói gì cũng thấy xuôi tai, đúng hết. Bởi già rồi, có nhiều kinh nghiệm, thấy được đúng, sai, có nhiều mặt khác nhau.

Bà mẹ ông đã 92 tuổi, mà thường hay nói câu: "Mai mốt tôi già rồi thì..." Mỗi lần nghe câu đó, ông vội cắt ngang lời mẹ, và hỏi lại: "Hơn chín mươi tuổi rồi mà chưa già hở mẹ? Thế thì bao nhiêu tuổi mới là già?" Bà cụ chỉ cười, không đáp lại. Vợ ông thường nháy mắt, nhìn ông che dấu nụ cười bí mật. Người em ông nói: "Theo tôi, thì không có ai già, và cũng chẳng có ai trẻ. Già hay trẻ, là một khái niệm rất tương đối. Hồi tôi mười bốn, mười lăm tuổi, thấy các chị hàng xóm mười bảy hay mười tám tuổi là đã già khú đế. Già như sắp mua hòm được rồi. Thế mà khi tôi sáu mươi tuổi, tôi thấy các bà năm mươi là trẻ, và các bà bốn chục tuổi là bọn con nít. Thế thì già hay trẻ, không phải tùy theo số tuổi của họ!"

Ông Hai nói, có một lúc nào đó, con người trở nên già. Nầy nhé, mỗi khi đi ra đường, nếu chỉ thấy các bà già nhìn mình, mà các cô gái trẻ không dòm mình nữa, thì phải hiểu là mình đã già rồi. Lại nữa, mỗi sáng đứng trước gương, thấy trán mình cao hơn, tóc rụng nhiều, đừng tưởng mình trở nên thông thái, mà phải biết đó là dấu hiệu già. Nếu mình thấy mọi người dường như trẻ lại, thì chính mình già đã đi, vì mình so sánh thiên hạ với cái bóng của mình trong gương soi mỗi ngày.

Ông nói, tuổi già báo hiệu khi sinh lý bắt đầu yếu. Nhịp độ "gần gũi" của vợ chồng thưa dần. Và đôi khi cố gắng làm vừa lòng bà vợ theo định kỳ, mà không có hứng khởi. Những khi đó, nếu bà vợ gạt ra, không cho gần gũi, thì trong lòng lại mừng húm, vì có cái cớ để không làm tròn "bổn phận" mà không áy náy. Ông nói, bực nhất là những lúc mình đang hăng, đang nóng máu, sắp xáp chiến, mà bà vợ cứ cằn nhằn về những chuyện không đâu, như cái hàng rào bị gió vật nghiêng, cây hoa hồng lá bị bạc mốc, con chó bị rận bọ chét. Thế là cả cái thân già nó xìu xuống như cọng bún thiu. Chẳng làm ăn chi được nữa cả. Đành bỏ cuộc vui nửa chừng. Khi còn trẻ, vào những lúc sắp gay cấn như thế nầy, thì dù cho sét nổ trên đầu, cũng không nghe, không biết.

Có người hỏi ông sao không dùng viên thuốc thần kỳ, làm cho vợ chồng vui như thuở ba mươi. Ông nói, đừng tin mà chết sớm, đau tim mà dùng thuốc nầy, thì lăn đùng ra mau lắm. Hồi trước, ông cũng xin ông bác sĩ cho toa thuốc nầy, bác sĩ ấy không chịu. ông cũng hơi giận, nhưng bây giờ thì cám ơn, vì biết được cái nguy hại của nó. Vui chốc lát, mà bỏ mạng, lãng nhách. Theo ông, thì vợ chồng già, ghiền cái hơi của nhau hơn là chuyện vật nhau lăn lộn trên giường. Chỉ cần luồn tay vào áo bà vợ già, mà tìm trái mướp, cũng đủ làm cho bà ấy vui rồi.

Nói về cái tai điếc, ông nói: "Có một lúc nào đó, mình nghe nhạc, cứ tưởng là các anh chị ca sĩ dạo nầy không còn hát hay như ngày xưa. Không phải vậy đâu. Thời nào cũng có ca sĩ giọng hay. Nghe không hay vì cái tai mình đã nặng, lãng. Rồi cứ tưởng nhạc dở. Đó là dấu hiệu già. Nhất là khi nghe truyền thanh, truyền hình, thì con cái, hàng xóm, cứ than phiền mở âm thanh quá lớn. Theo mình, âm thanh như vậy chỉ vừa đủ nghe, mà họ bảo oan cho mình là quá lớn!"

Ông Hai nói với một bạn già rằng, khi già, lãng tai, điếc tai cũng có cái lợi lớn. Là khi nào vợ nói lời êm ái, dịu dàng, yêu thương, thì nghe cho sướng tai. Khi nào bà trở chứng trách móc, chê bai, than vãn, nói nặng lời, thì cứ nhè nhẹ gỡ cái máy trợ thính ra, chỉ thấy bà nhóp nhép cái miệng, trông tức cười lắm. Không nghe, thì không bực mình, không giận hờn, mà còn cười, đôi khi nụ cười rất rạng rỡ, cười rất dễ thương nữa. Bà vợ nói như gió vào phòng trống, thấy ông chồng không giận, mà còn cười vui, thì đành im miệng cho đỡ tốn hơi. Và đôi khi còn thương thêm, vì tưởng ông chồng khéo nhịn. 

Nhưng một ông bạn khác, nói rằng, khi bà vợ trách móc và thở than, thì để bà ấy nói, cho xả ra, nhẹ bớt bực tức trong lòng. Bởi vậy, mỗi khi vợ ông than vãn, trách móc, thì ông mừng và lắng nghe. Nếu bà ngưng nói, thì hỏi rằng em có gì cần nói thêm, than vãn thêm không, hãy nói cho hết đi, anh nghe đây. Thế là bà dịu xuống, và bà cảm thấy hơi quê quê, nên thôi.

Ông Hai nói, khi già, mắt yếu, cầm cuốn sách lên, là móc túi tìm cái kiếng. Không có kiếng thì đành chịu thua. Khi đó, mình ít đọc sách hơn ngày xưa. Rất nhiều bạn ông than phiền rằng, dạo nầy, sách vở, báo chí họ in chữ nhỏ hơn, khó đọc. Không phải đâu. Mắt mình mờ, kém, chứ không phải chữ in nhỏ lại. Mấy anh trẻ hỏi ông có bực vì mắt kém không, ông Hai nói rằng, việc chi mà bực? Phải mừng chứ đừng bực. Mừng và cám ơn khoa học tiến bộ, giúp cho mình còn thấy rõ hơn, nghe rõ hơn, mà nếu mình sống mấy trăm năm trước, thì đã mù loà, và điếc đặc rồi. Dù cho nghe ít, thấy không rõ hoàn toàn, nhưng có thấy, có nghe, đã là quá quý rồi. Tuổi đã cao, mà còn thấy được người thương yêu, con cháu, bạn bè. Còn xem truyền hình, phim truyện, thì đã nhận được rất nhiều ân phước của trời ban cho. Phải biết cảm nhận và cám ơn trời.

Bây giờ, đi đâu xa ông cũng ngại. Đi du lịch, điều nghĩ đến trước tiên của nhiều người già như ông, không phải cảnh đẹp, điều hay, cái lạ, mà nghĩ đến cái cầu tiểu. Không biết nơi đó có hay không. Cứ vào quán xá, hội trường, thì có thói quen, trước tiên là xem cầu tiểu nằm đâu. Quán nào mà không có cầu tiểu, thì đừng hòng có nhiều ông bà già bước vào. 

Ông rất sợ mai đây xui xẻo, người ta tôn ông lên làm lãnh tụ. Vì thấy mấy ông lãnh tụ đứng đọc diễn văn, họp báo, duyệt binh, diễn hành, đứng hàng giờ, phải nín tè, khó chịu, mệt và khổ lắm. Ông cũng rất ngại ngủ nhà lạ, cứ nửa đêm, nhiều lần mò mẫm trong bóng tối dậy đi tiểu. Xối nước ào ào làm người khác mất ngủ. Chưa kể lạ nhà, đêm tối, lạc đường mở lầm cửa phòng vợ, con người ta, thì cũng bẽ bàng.

Một lần, bà vợ đè đầu ông xuống mà nhuộm tóc cho ông. Mấy hôm sau, lên xe công cộng, ngồi vào ghế dành cho người cao niên. Ông thấy có một "lão trượng" đứng nhìn ông chằm chằm, như ngầm hỏi, sao không nhường ghế ngồi cho người già cả. Ông đoán chắc, chín mươi phần là "lão trượng" kia còn nhỏ tuổi hơn ông. Ông cứ ngồi lì, làm lơ. Nhưng khi thấy hành khách chung quanh nhìn, như thúc dục, như nhắn nhủ bằng ánh mắt khó chịu, thì ông nhột quá, đứng dậy nhường ghế cho lão trượng kia. Ông nghĩ, không lẽ phải thét lên là tôi còn già hơn lão, và không lẽ phải móc căn cước ra mà chứng minh? Thôi thì đứng dậy, cho bớt nhột và ngượng ngùng. Rồi tự an ủi rằng, đứng cũng là một cách tập thể dục tốt.

Khi có ai hỏi tuổi, ông Hai Hô cũng tự cộng thêm gần chục năm. Thế là thiên hạ rối rít khen trẻ, xít xoa hỏi làm sao mà giữ được trẻ trung như thế. Ông cười, nói đùa rằng, cứ theo đúng lời dạy vàng ngọc của người xưa để lại, là "đêm bảy, ngày ba" cho khí huyết lưu thông, điều hoà, thì cơ thể trẻ trung mãi. Ông nói rằng, nếu có khai sụt đi năm ba tuổi, cũng chẳng có lợi ích gì, vì mình đâu có toan tính chinh phục, tán tỉnh ai. Khai sụt tuổi, đôi khi người ta còn chê, là trông già trước tuổi. Lại nữa, phong tục của mình, là kính trọng người lớn tuổi. Nhưng các bà, các cô thì khi nào cũng dấu tuổi, cứ 18 tuổi thì khai là 16, khi 20 khai là 18, và lúc 23 khai là 20. Cứ khai sụt vài ba tuổi, và cảm thấy sướng khi được người khác tin. Khi phải đoán tuổi, ông thường rộng rãi hạ xuống cho các bà, các cô từ năm đến bảy tuổi, để họ sướng, mà ông không mất chi cả, cũng là làm một điều thiện nho nhỏ trong ngày, làm cho người khác vui, yêu đời hơn.

Dạo sau nầy, khi ông ăn uống, thường thức ăn bị đổ vung vãi. Nhiều lần ông tự bảo là cẩn thận. Nhưng hình như cái tay nó không hoàn toàn theo mệnh lệnh của cái đầu nữa. Đưa cơm vào miệng không gọn gàng, cứ rớt ra vài chút. Đôi khi tay run, mà ông không biết. Ông cho đó là dấu hiệu của tuổi già. Nhiều lần bà vợ ông nhăn nhó, la nạt, vì làm đổ thức ăn. Một lần ông nhớ lại câu chuyện đứa bé đẽo cái chén gỗ, cha mẹ hỏi đẽo làm gì, nó nói là để sau nầy cho cha mẹ ăn, như cha mẹ đã cho ông nội ăn chén gỗ. Ông nhỏ nhẹ nói với vợ rằng, nhờ bà đẽo cho ông một cái chén gỗ, rồi mỗi bữa dọn cho ông ăn sau vỉa hè, bên thềm. Nghe thế, bà vợ nhìn ông một lúc lâu, rồi rưng rưng nước mắt. Từ đó, bà hết cằn nhằn khi ông làm đổ thức ăn. 

Ông hay quên. Đôi khi đi xuống nhà kho, mà ngẩn ngơ không biết định xuống để làm gì. Quên trước, quên sau. Một bạn già của ông nói, nếu "cái đó" mà ông trời không bắt dính chặt vào người, thì có khối ông già để quên trên xe buýt, trên tàu điện, ngoài công viên, và khi cần đi tiểu, thì chạy quanh, quýnh lên, mà tìm không ra. Còn triệu chứng khác nữa, là làm biếng tắm, đôi khi hai ba ngày ông chưa tắm. Cứ nghĩ là có làm chi dơ đâu mà phải tắm. Nhưng rồi nhận ra, thì tuổi già sợ lạnh, nhạy cảm với cái lạnh, nên ngại tắm. Vì thế mà có nhiều cụ già có mùi, họ đâu biết. Ông phải rán tập thói quen, nóng lạnh chi cũng rán tắm mỗi ngày một lần, ngoại trừ trường hợp đặc biệt.

Bà mẹ ông 92 tuổi, đi ăn tiệm, cắn càng cua-rang-muối nghe rau ráu. Thực khách trong tiệm tròn mắt ra mà nhìn. Còn ông, thì ngay cả bánh mì mềm của Mỹ cũng không dám cắn, dùng tay xé nhỏ ra rồi bỏ vào miệng. Bà mẹ ông, ăn uống không kiêng cữ chi cả. Thịt heo quay, vịt quay, cá chiên, gà chiên, bún bò giò heo, phở, nước béo, các thứ độc địa đều ăn tuốt. Thế mà bà không cao mỡ, không cao máu, dù thân thể tròn quay. Cái đó cũng nhờ trời cho. Nhiều bác sĩ cũng khuyên bà, cứ ăn uống thả dàn, cho sướng cái miệng, đừng kiêng cữ làm chi nữa khi ở cái tuổi nầy.

Nhiều ông bạn ông, kiêng khem kỹ lắm, kiêng đủ thứ. Họ xem ba thứ sau đây ngang hàng với thuốc độc: Ngọt, mặn và béo. Họ ăn lạt, không dám ăn đường, ăn béo. Thấy đồ chiên, là họ đã tái mặt. Họ ăn mãi quen miệng, và thấy các thứ thức ăn không mùi, không vị kia cũng ngon. Bởi khi đói, thì cơm thiu, cơm cháy cũng thành ngon. Có kẻ bảo, uổng quá, phí thức ngon của trời cho. Nhưng những người kiêng cữ nầy nói rằng, không tội chi đem chất độc vào người, rồi bệnh hoạn, hối không kịp.

Một ông bạn cho ông Hai biết rằng, theo nghiên cứu của đại học Rockefeller, thì có ba điều kiện để cho người già khỏe mạnh và ít bệnh là: 1) ăn bằng một nửa của bữa ăn bây giờ, 2) thể dục thường xuyên, và 3) làm tình đều đều. Ông không tin, và cho rằng, cái đó chỉ đúng cho người Mỹ mà thôi. Mỗi bữa, họ ăn miếng thịt to bằng bàn tay, một bữa ăn của họ, mình có thể ăn ba bốn ngày mà chưa hết. Nếu mình chỉ ăn bằng một nửa của bây giờ, thì sẽ suy dinh dưỡng, sớm đau ốm mà chết. Còn chuyện thể dục thường xuyên, thì đúng trăm phần trăm. Phần làm tình đều đều, có lẽ không ai chắc, vấn đề là còn làm được hay không, mà còn đòi đều đều. Mình cứ ăn bình thường, đừng ăn quá no, cũng đừng ăn đói. Cứ theo cái đạo trung dung của người xưa đã bày ra từ mấy trăm năm nay. Rượu chè, nếu uống được, thì uống vừa vừa, cũng tốt cho sức khoẻ. Đừng say sưa là được. Lâu lâu cũng rán vui vợ, vui chồng cho khỏi lạt lẽo. Ông Hai đã chữa bệnh biếng ăn cho nhiều bạn bè rất công hiệu. Đó là đừng ăn vặt, và chờ cho khi thật đói mới ăn, chưa đói rã thì chưa ăn. Như vậy thì ăn gì cũng thấy ngon.

Ông có quan niệm phóng khoáng hơn về sự sống và cái chết. Ông cho rằng, chết là một tiến trình của đời sống, hợp với luật thiên nhiên của tạo hóa. Sợ chết là vô lý. Không ai tránh khỏi cái chết, không sớm thì muộn. Ai cũng sẽ chết cả. Ngay cả Phật, Chúa, thần thánh cũng phải chết, huống chi mình là người trần mắt thịt. Chúa Giê-Su chết lúc mới 33 tuổi. Phật cũng chết, thọ không bằng các ông, các bà cụ bây giờ. Cứ thử nghĩ, nếu già mà không chết, thì bây giờ trên thế giới có đến hơn chín mươi phần trăm cụ già, cụ nào cũng mấy trăm tuổi, mấy ngàn tuổi, ho hen, run rẩy, chậm chạp. Lấy ai làm lao động mà nuôi các cụ? Nhân loại sẽ đói cho vêu mỏ ra. 

Già thì phải chết để cho thế giới được trẻ trung hoá. Khi nào anh chị nghe tin một người già chết, mà lòng không buồn, không thương tiếc, thì anh chị đã giác ngộ rồi đó. Có chi mà buồn? Nếu người chết không để lại một gánh nặng gia đình, một đàn con dại cần nuôi dưỡng, dạy dỗ, một bà vợ chân yếu tay mềm, thì mừng cho người ta thoát được cái hệ lụy của trần gian. Khỏi lo công ăn việc làm, khỏi lo nhà cửa, khỏi lo thương ghét, ghen tuông, giận hờn, khỏi lo khai thuế cho đúng hạn kỳ. Khoẻ ru. Nếu người chết đã cao tuổi, trong nhiều năm nằm một chỗ, không nói năng, bại liệt, ăn bằng cách bơm qua ống nối với bao tử, nghe họ chết mà mình khóc lóc, tiếc thương, bi ai, thì hoá ra là không biết điều. Muốn người ta bị kéo dài thêm cái cực hình đó lâu hơn nữa, rồi mới được chết sao? Nhiều khi con cháu mừng cho thân nhân họ được chết, mà mình thì sụt sùi thương tiếc.

Ông thường nói, trong tuổi già, sức khoẻ là quý nhất. Nhưng nếu ai đó, có sức khoẻ tốt, không hề đau ốm, thì cũng là một sự nhàm chán. Họ đâu biết họ đang có cái quý báu nhất trong đời. Lâu lâu, phải đau vài trận, để nhắc nhở, và nhớ rằng, không ốm đau là sung sướng, là hạnh phúc lắm lắm. Làm sao bọn trẻ, và những người khoẻ mạnh biết được cái hạnh phúc, cái sung sướng của người già, khi buổi sáng ngủ dậy, mà thân thể không đau rêm, nhức nhối? Cũng như nếu người ta chưa sống dưới chế độ kềm kẹp, hà khắc, thì làm sao biết được nỗi sung sướng khi được đặt chân lên miền đất tự do? Nên quan niệm rằng, với sức khoẻ nào cũng tốt cả, đừng so sánh với trường hợp tốt hơn. Cứ vui với cái sức khỏe mà mình đang có. Được khoẻ nhiều thì sướng nhiều, khoẻ ít, cũng sướng hơn, vì chưa đến nỗi tệ hại lắm. 

Nhớ đi khám bác sĩ đều đều, để khám phá ra bệnh, kịp thời chạy chữa. Một người bạn ông cho biết, không dám đi khám bệnh thường niên, vì sợ "bói ra ma, quét nhà ra rác". Thế nào bác sĩ cũng tìm ra bệnh nầy, bệnh nọ trong cơ thể và thêm lo. Cứ để thế, rồi khi bệnh nặng thì chết. Bà vợ ông nầy khổ sở lắm, nhưng không thuyết phục ông được. Ông còn nói, bác sĩ thường cho uống thuốc chữa bệnh nầy, thì sinh ra thêm bệnh khác nữa. Hoặc bác sĩ chẩn đoán sai bệnh là thường. Có người đọc báo cáo y khoa, cho biết trên nước Mỹ, mỗi năm có đến hai trăm ngàn người chết, hoặc thương tật vì bác sĩ kém hiểu biết, hoặc sơ suất gây ra. Theo ông Hai Hô thì đừng sợ. Vì bác sĩ giỏi nhiều hơn bác sĩ dở, và bác sĩ có lương tâm nhiều hơn bác sĩ thiếu lương tâm. 

Đừng vì một số trường hợp xấu, mà sợ đi khám bệnh. Khám bệnh, để biết trước mà đề phòng, để chữa trị khi bệnh mới chớm, còn kịp, chữa trị dễ dàng hơn. Để ung thư ăn tràn lan ra rồi, thì chỉ có phép lạ, mới cứu được. Người ta, có thể mạnh khỏe cho đến khi chết. Đó là trường hợp hiếm hoi. Nhưng đau yếu trong tuổi già là thường, không đau yếu là bất thường. Có một người than rằng, cứ đi vào, đi ra trong nhà hoài, chán quá. Ông Hai bảo rằng, được đi vào đi ra như thế là sướng lắm rồi, sao mà chán, vì có nhiều người khác mong được đứng dậy đi vài bước, mà không làm được, vì bệnh. Nhưng theo ông, thì cái người nằm liệt trên giường, cũng tìm được cái thú vui riêng, khi nghe nhạc, nằm mơ mộng, nghĩ đến các kỷ niệm thời còn vàng son, nhớ đến những tội lỗi nho nhỏ mà họ đã phạm một cách cố ý và thích thú.

Ông Hai Hô tập thể dục đều đặn. Ông nói không ai chối bỏ được ích lợi của thể dục, dù già dù trẻ. Không bao giờ trễ để bắt đầu tập thể dục. Không thể dục, thì tấm thân nhão nhẹt ra, rất dễ làm mồi cho bệnh hoạn. Đi bộ trong tuổi già là tốt nhất. Còn khoẻ, thì đi nhanh, yếu thì đi chậm hơn, yếu hơn nữa, thì chống gậy mà đi. Có vận động là tốt. Đi bộ, xương đỡ rỗng, đỡ gãy tay chân khi vấp té. Đi bộ cũng làm cho mặt mày trẻ ra, lưng đỡ còng, thân thể đỡ đau đớn, mệt mỏi. Đi bộ cũng vui, nhất là đi với vợ, với chồng, nói đủ thứ chuyện vui buồn. Nhưng khi bà vợ bắt đầu cằn nhằn vì những chuyện không đâu, thì phải giả vờ chạy, để bà lại phiá sau, cho bà nói với cột đèn, cằn nhằn với cây cỏ. Không có vợ đi cùng, thì đi với bà cụ hàng xóm cũng vui. Bà sẽ không bao giờ dám cằn nhằn ông vì những chuyện không đâu. Bà sẽ lịch sự hơn. 

Đi với bà hàng xóm, ông bảo, đừng sợ thiên hạ hiểu lầm, cũng đừng sợ chính bà ấy hiều lầm. Không hiểu lầm thì tốt. Hiểu lầm thì càng tốt hơn, vì làm cho bà ấy vui, làm bà nghĩ là còn sáng giá, còn có người ngưỡng mộ đến cái nhan sắc mùa thu của bà. Bà sẽ yêu đời hơn, sẽ ăn ngon, ngủ được, thế thì ông cũng đã làm được một điều thiện nho nhỏ. Ông nói, ông được nghe chuyện một bà cụ 88 tuổi, bà nói rằng, phải đi bộ, phải tập thể dục để chống lại bệnh hoạn. Mỗi ngày bà đi bộ hơn một giờ. Bà nói rằng: "Mình phải biết tự thương mình. Con cái có thương mình, chúng có thể cho tiền bạc, quà cáp, chứ không cho mình sức khỏe được. Mình phải tự lo lấy, để mà sống cho vui, sống cho có chất lượng." Ông nói rằng, thể dục làm tăng tuổi thọ, chứ không làm giảm. Ngoại trừ ham tập, tập quá sức, thì lăn kềnh ra mà chết, mau lắm. Bơi lội là tốt nhất, vận động đủ các thứ bắp thịt. Nhưng tuổi già, thường sợ nước, sợ lạnh. Cái gì sợ thì không nên làm, hại cho sức khoẻ, hại thần kinh.

Mỗi lần nghe có người than là mất ngủ, ông thưòng nói say sưa về bệnh nầy. Theo ông thì những người nầy, đã ngủ đủ, ngủ thừa, nên không ngủ thêm được, mà tưởng là mất ngủ. Vì ban ngày, họ cứ thấy mệt, mắt ríu lại, là ngủ những giấc ngắn. Nên biết, ngủ một giấc chùng 15 phút lúc ban ngày, có thể tương đương với một giấc ngủ 1 hay 2 giờ ban đêm. Mỗi đêm, người bình thường, chỉ cần ngủ ngon chừng 3 hay 4 giờ là đủ mạnh như gấu bắc cực. Nếu không ngủ ngày, thì đêm về ngủ dễ lắm. Không phải tuổi già là mất ngủ, bằng chứng cho thấy chó mèo già ngủ li bì, ngủ ngày, ngủ đêm, ngủ liên miên. Người già dư thì giờ, ban ngày ngủ rồi, thì ban khó ngủ là chuyện thường. Ông thường nói rằng, đừng sợ mất ngủ. Khi không ngủ được, thì dậy đọc sách, viết thư, làm thơ, xem truyền hình, gõ máy vi tính, đọc thư bạn bè, hãy tận hưởng cái thời gian quý báu đang có. Rồi chờ cho thật buồn ngủ, không thức nổi nữa, vào giường nằm, sẽ ngủ được ngay, và ngủ một giấc ngon lành cho đến sáng. Đừng ép giấc ngủ, ép giấc ngủ sẽ khó ngủ hơn. 

Cũng đừng uống thuốc ngủ. Đại kỵ. Uống thuốc ngủ nhiều, làm hư hại hệ thống thần kinh. Đừng nằm nhắm mắt mà đếm cừu, nếu phải đếm, thì đếm những người tình cũ. Mau ngủ hơn. Nếu đời chỉ có một hai người tình thôi, thì đừng đếm một hai, một hai, không có lợi. Hoặc nằm mà hát trong trí những bài ca du dương, đẹp, gợi nhiều kỷ niệm êm ái, thân thương. Bà chị ông, cứ than phiền là mất ngủ, nhưng khi đi chơi, cứ leo lên xe thì quẹo đầu ngáy khò khò, ngủ suốt buổi, suốt ngày, ngủ mà quên xem phong cảnh. Ngủ như thế thì no rồi, dư rồi, nên khi đến khách sạn, thì làm sao mà ngủ thêm được nữa. Bà chị nói, đi chơi xa sợ mất ngủ. Bà ấy thực sự ngủ nhiều hơn ai cả, mà bà tưởng là mất ngủ. 

Một chị khác than là mất ngủ kinh niên, ghé nhà ông chơi. Ông nói là sẽ chữa bênh mất ngủ cho chị. Ông dẫn chị kia đi chơi, suốt ngày lội bộ, chị vừa đi vừa ngủ gật, ông không cho ngủ. Ông nhờ hết việc nầy qua việc nọ, không để chị có thì giờ mà ngủ gật. Đêm không cho đi ngủ sớm. Mới mười giờ đêm, mệt quá chị năn nỉ xin đi nằm, và đánh một giấc ngon lành dài đến sáng hôm sau. Trong mấy hôm liên tiếp đêm nào chị cũng ngủ li bì, ngủ ngon, không cần thuốc thang chi cả. Ông truyền bí quyết, là không ngủ ngày, mệt mấy cũng không ngủ, ban đêm đừng đi ngủ sớm, phải chờ cho mắt ríu lại, mở không ra, mới đi ngủ, thì ngủ ngon.

Nhiều người già tự đặt cho họ một kỷ luật để sống. Theo ông, thì có kỷ luật cũng tốt, mà không kỷ luật lại càng khỏe hơn. Nhiều người tính tình nghiêm khắc. Mọi sự đều phải răm rắp đúng như quy định mới chịu. Tội chi vậy, nếu không răm rắp, mà không chết ai, hại ai, thì răm rắp làm chi cho khổ mình, khổ người? Nên dễ dãi với mọi sự, dễ dãi với chính bản thân mình, kẻo tội nghiệp nó. Khắc kỷ cũng là điều hay. Nhưng tội gì mà tự khắt khe với chính mình, người khác không khắt khe thì thôi. Nên cứ xem mọi sự như trò chơi. Chơi vui nhiều thì tốt, vui ít cũng tốt luôn. Ông không mong cái tuyệt đối, hoàn hảo. 

Trong một cuộc chơi, ông không hy vọng được tất cả mọi người tham gia, có ít vui ít, có nhiều vui nhiều. Hai ba chục người cũng vui, mà năm bảy bạn bè cũng vui luôn. Nếu hụt một cuộc chơi, một cuộc gặp gỡ, ông cũng không tiếc, chẳng sao cả, ông về nhà mở nhạc, mở TV ra mà thưởng thức. Ông nghĩ, được thêm một dịp nghỉ ngơi, yên tĩnh. Có lần đi trể máy bay, ông bình tĩnh xin đi chuyến sau mà không được. Ông cũng cười, không bực mình, quay về nhà, pha một bình trà, đem một tập thơ ra mà ngâm vịnh, nằm ngửa mà thưởng thức cuộc tranh tài thể thao. Ông nói, đôi khi nhờ trễ một chuyến may bay mà sống sót, nếu máy bay rớt. Chiều ra ngoài quán uống cà phê xem sinh hoạt phố phường. Nói chuyện tào lao với chủ quán.

Ông không bao giờ tranh luận gay gắt với ai. Ông nói, tranh luận làm chi cho mệt, rồi giận nhau? Trong tuổi già, khi có cuộc tranh luận, thì tránh là tốt nhất. Nếu không tránh được, thì chịu thua đi, thắng làm chi, để cho đời ngắn lại? Thắng tranh luận, làm thiên hạ ghét, làm mất lòng bạn bè, làm người bị thua tức giận, và nóng mặt, không ưa mình. Không ai ghét người thua trong cuộc tranh luận. Người thắng cuộc, dễ bị ghét hơn. Thử đánh một ván cờ xem, nhường cho đối phương thắng, làm họ vui hơn, không chừng mình đưọc đãi đằng hậu hỉ hơn. Đến nhà người ta, mà cãi nhau, tranh thắng, làm họ mất mặt với vợ con, với bạn bè, thì đừng mong chi được tiếp đãi thắm thiết. Khi thua, mình không thiệt thòi, mất mát chi cả, mà lại được thương, tại sao không chọn tình thương, mà chọn cái bị ghét. Thắng tranh luận, cũng chưa chắc mình đã giỏi hơn người, mà giỏi hơn để làm chi? Và cũng chưa chắc ngưòi ta đã chịu cái lý của mình là đúng. 

Trong tình vợ chồng cũng vậy, nhiều ông nhiều bà tranh hơn thua từng ly, từng tí, cãi vả nhau tưng bừng về những điều không ích lợi chi cho ai cả. Rồi giận nhau, nói nặng nhau, làm nhau đau đớn vì lời nói thiếu tử tế, thiếu lịch sự. Có ích lợi gì đâu? Tranh nhau thắng thua, làm sứt mẻ hạnh phúc gia đình, làm mất đi thì giờ quý báu bên nhau, làm không khí gia đình nặng nề. Đừng bao giờ nói là phải làm cho ra lẽ, không thì hoá "lừng". Hãy cứ để cho chồng mình, vợ mình "lừng" đi, cho họ sướng. Tại sao đi ra ngoài, không dám "lừng" với thiên hạ, mà về nhà lại "lừng" nhau làm chi cho mất vui. 

Ông thường nói, cứ chịu thua đi là khoẻ nhất. Ông đã thua, thì không việc chi mà ai đó gây hấn thêm. Đúng hay sai, ông tự biết. Không cần tranh luận nhiều. Có tranh luận, thì cũng chưa chắc đã thuyết phục được đối phương mà không gây mất mát. Mỗi lần phải tranh luận với ai, thì ông nhớ lại chuyện ông Pol Pot. Ông nầy đã giết chết hơn hai triệu dân vô tội, tức khoảng một phần ba dân số Kampuchia của ông thời đó. Thế mà cuối đời, khi sắp chết, ông Pol Pot nói với một phóng viên Tây phương rằng, những điều ông đã làm, là lợi ích cho dân tộc của ông. Nhớ chuyện đó, làm ông đỡ ngứa miệng xen vào những cuộc tranh luận.

Khi có ai chê bai ông, ông chẳng bực mình, không giận hờn, mà cứ cười, và xem như không. Ông tự nhủ, biết đâu ông cũng đáng chê, đáng trách. Nghe thiên hạ chê, để mà sửa mình, biết mình còn cái chưa hay, sai sót. Không phải ông là kẻ mặt dày không biết xấu hổ, nhưng thiên hạ chê, mà không phản ứng, thì như gió qua truông. Có một ông khác, bị vợ chê bai hoài, chê đủ thứ. Ông nầy chỉ cười, mà nói với bà vợ rằng, ông không ngờ bà xui xẻo đến thế, lấy phải một thằng chồng tệ hại như vậy, tội nghiệp cho bà quá. Bà vợ nghe mà chột dạ, và biết đã ăn nói quá trớn.

Khi nghe ai khoe khoang, ông cũng không bắt bẻ, không lật mặt thật của họ ra, sợ làm cho họ xấu hổ, bẽ bàng. Ông cứ giả vờ tin, để mà đãi họ vài phút vui sướng, cũng là làm được một việc thiện nho nhỏ. Ông không mất gì, và chẳng thiệt hại cho ai, mà cuộc đời nầy thêm vui, thêm tử tế. Bởi nghĩ thế mà ông làm.

Ông Hai Hô quan niệm rằng, trong tuổi già, có hoài bảo thì cũng tốt, mà không có hoài bảo chi cả thì tốt hơn, và khôn ngoan hơn. Khi trẻ, nhiều thì giờ, nhiều năng lực, mà chưa có hoài bảo nào làm xong, thì khi già rồi, mong chi đạt được? Tội chi đeo vào thân cái hoài bảo cho khổ. Già rồi, đừng xem cái gì là quan trọng cả. Từ danh vọng, tiền tài cho đến tình yêu. Ngay cả cái mạng sống của mình, cũng đừng xem là quá trọng. Có lần, ông đến thăm một nhà văn đang nằm thoi thóp, miệng ngậm một cái que gỗ có thấm nước cho đỡ khát, sắp chết vì ung thư. Ông nhà văn còn thao thức vì một tác phẩm để đời chưa khởi đầu được. Chết chưa an lòng. Ông nói: "Thôi bác ơi, chuyện gì mình chưa làm được, thì thế nào con cháu mình sau nầy cũng làm. Yên tâm mà dưỡng bệnh đi."

Ông Hai Hô cho rằng, cứ năm ba ông bà bạn già gặp nhau, uống vài ly trà, cà phê mà nói chuyện nhảm cũng là một thứ hạnh phúc trong đời. Ông nói, dù đến để nghe thằng bạn già nó chửi mình, cũng cứ vui, được người ta chửi, tức còn có người để ý đến mình, còn hơn là không ai khen, ai chửi cả. Những dịp ra mắt thơ, ra mắt sách, ông thường tham gia cho cuộc họp thêm xôm tụ. Cho tác giả sướng. Ông khoái các buổi ca nhạc cây nhà lá vườn, tài tử. Nó cũng có những cái hay của nó. Những buổi họp mặt anh em bạn cũ, ông không bao giờ bỏ qua, ông nói là không tham dự thì uổng lắm. Ông cho rằng, tuổi già, mà còn gặp lại được bạn xưa, thì không còn gì quý báu hơn. Nằm nhà xem sách, xem truyền hình, đá banh, đâu vui bằng gặp bạn cũ. Gặp dịp vui, thì cứ vui kẻo uổng, biết mình còn sống được bao lâu nữa mà mãi phí ngày giờ chạy theo lợi lộc?

Mỗi khi có ai mời đi đám cưới, tiệc tùng, ông đến đúng giờ, mà thiên hạ tà tà đến trể, ông cũng không bực mình. Bởi người ta quen giờ cao su rồi. Họ có cả trăm ngàn lý do để biện minh. Ông có đến sớm, thì cũng có cái lợi khác, được nói chuyện, gặp gỡ, tâm sự tào lao với những bạn bè mà từ lâu ít có dịp gặp nhau. Cũng vui và quý. Dễ chi có cơ hội thuận tiện để gặp nhau. Đến khi dọn thức ăn ra, không còn cơ hội để nói chuyện nữa, vì ai nấy lo gắp, lo nhai, không rảnh mà nói chuyện. Khi ăn xong, thì bạn bè vội vã ra về, vì đường xa, vì đêm khuya, vì mệt nhọc. Bởi vậy, ông cứ vui với cái bê bối của thiên hạ, và bằng lòng với câu "Không ăn đậu không phải Mễ, không đi trễ, không phải Việt Nam!"

Ông Hai Hô thường nói, tuổi già, cứ phiên phiến với mọi sự, cho khoẻ, cho sướng cái thân già của mình.

Tràm Cà Mau
Santa Ana, tháng 10/2007

-ooOoo-

  


 







Friday, 30 December 2022

Cho người già bệnh - Hòa thượng THÍCH THANH TỪ

 (Pháp thoại tại Thiền viện Thường Chiếu, Đồng Nai, năm 1996)

Hôm nay tôi có bài thuyết pháp ngắn về đề tài cho người già bệnh. Lý do có bài pháp này là vì một Phật tử đến yêu cầu chúng tôi rằng có cha mẹ già bệnh nặng, nên muốn khi cha mẹ lâm chung được tỉnh táo sáng suốt, không bị hôn mê hoảng sợ. Vì tình của người Phật tử hiếu thảo nên tôi hứa, đồng thời cũng nghĩ thương người già bệnh trong khi mệt mỏi đau đớn, nên chúng tôi nói bài pháp này.

Trước hết nói về cái chết không đáng sợ. Mọi người đều có quan niệm sanh là vui, chết là khổ; sanh là mừng, chết là sợ. Vì vậy ngày sinh nhật gọi là ngày ăn mừng sinh nhật, còn ngày chết con cháu cúng giỗ gọi là ngày cúng kỵ, tức ngày sợ sệt.

Quý Phật tử hiểu đạo thì ngày chết là ngày đáng sợ hay không đáng sợ? Thật tình cái chết không đáng sợ. Già, bệnh là hai thứ khổ trong bốn thứ khổ Phật nói: sinh, lão, bệnh, tử. Đã mang hai thứ khổ này vào mình là một gánh nặng đau khổ. Nếu gánh nặng đau khổ được quăng đi thì nó được nhẹ nhàng. Vậy chết là quăng được gánh nặng của già và bệnh. Lúc đó chúng ta thảnh thơi nhẹ nhàng, có gì đâu mà phải sợ. Nên chúng tôi nói chết là không đáng sợ.

Điểm thứ hai, như kinh Phật thường nói, có sanh là có tử. Có sanh ra thì phải có chết, đây là chuyện thường, không ai tránh khỏi. Như đức Phật tu hành rốt cuộc tám mươi tuổi Ngài cũng chết. Các ông tiên mà chúng ta đọc được trong truyện Tàu như Bát tiên v. v… nói trường sinh bất tử, nhưng sự thật tám chín trăm năm rồi cũng mất, cũng chết. Do đó tám ông tiên mà bây giờ tìm một ông cũng không ra.

Nên biết dù cho tu đắc đạo như Phật, thân này tới khi hoại cũng phải hoại. Dù luyện được thuốc trường sinh bất tử như thần tiên, thân này đến lúc hoại cũng phải hoại, chớ không bao giờ giữ được mãi mãi. Vì vậy chết là lẽ thường, là việc chung cho tất cả, không ai tránh khỏi. Cái không tránh khỏi mà mình sợ là chuyện vô ích, nếu không nói đó là chuyện khờ khạo. Chúng ta là người hiểu đạo rồi biết rằng có sanh là phải có tử. Ngày chết là ngày sẽ đến, bất cứ người nào cũng phải nhận. Chết là chuyện thường, đã là thường thì không sợ.

Tôi nhớ Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ khi sắp tịch nằm trên bộ ngựa, nghiêng bên phải nhắm mắt để tịch. Bấy giờ những người hầu thiếp khóc rống lên, Ngài liền ngồi dậy, súc miệng, rửa mặt, rồi nói: "Sanh tử là lẽ thường, sao lại buồn thảm luyến tiếc như thế, làm não hại chân tánh ta! " Nghe xong, các vị kia mới yên lặng. Ngài nằm nghiêng bên phải mà tịch.

Chúng ta thấy rằng đối với Ngài sanh tử là việc thường. Đã là việc thường thì không có gì quan trọng hết. Do đó Ngài tự tại ra đi. Còn chúng ta cho cái chết là lớn lao đáng sợ, nên tới đó chúng ta kinh hoàng. Kinh hoàng là đau khổ. Vì vậy người Phật tử chân chính lúc nào cũng biết rằng chuyện chết sống không thể tránh được. Không tránh được thì chúng ta chuẩn bị ngay những cái gì cần sau khi chết, đừng để tới đó rồi sợ hãi chỉ là chuyện vô ích thôi.

Điểm thứ ba, người Phật tử hiểu đạo khi tu ít nhất cũng giữ năm giới, nhiều hơn thì Thập thiện. Biết giữ năm giới, biết tu Thập thiện thì khi chết chúng ta sẽ sanh về đâu? Nếu giữ năm giới trọn vẹn thì sau khi chết chúng ta sẽ trở lại làm người đầy đủ phước đức. Tức là do giữ giới không sát sanh nên được tuổi thọ; giữ giới không trộm cướp nên được nhiều của cải; giữ giới không tà dâm nên được đẹp đẽ oai nghi; giữ giới không nói dối nên lời nói thanh tao, được mọi người tín nhiệm; giữ giới không uống rượu nên có trí tuệ sáng suốt. Thế nên sinh làm người được đầy đủ phần tốt đẹp của con người, không có gì thiếu thốn hết. Như vậy thân này hoại rồi được thân kế tốt đẹp hơn, phước đức hơn, có gì mà chúng ta phải sợ. Còn nếu tu Thập thiện khi bỏ thân này sẽ được sanh lên cõi trời, hưởng phước đức thù thắng nhiều hơn cõi này, tức là đẹp đẽ hơn gấp bao nhiêu phần.

Chúng tôi thường nói chết như đổi chiếc xe cũ lấy chiếc xe mới. Chiếc xe cũ xấu hư, chúng ta lấy chiếc xe mới tốt đẹp, hoàn hảo hơn. Cho nên chúng ta hoan hỷ bỏ thân này, vì biết rằng khi bỏ thân này chúng ta sẽ được thân sau tốt đẹp hơn, có gì đâu phải lo buồn. Thật ra chết không đáng sợ, chỉ sợ mình không biết tu. Đó là điều tôi muốn nhắc tất cả quý vị đang ở trong hoàn cảnh bệnh hoạn đau ốm, không thể tin tưởng rằng mình còn sống lâu, ráng nhớ mà tu hành.

*

Trong nhà Phật có nói đến cận tử nghiệp. Cận tử nghiệp này rất mạnh, có công năng đưa chúng ta tới chỗ tốt hay chỗ xấu khi chúng ta sắp lâm chung.

Trước hết nói cận tử nghiệp của người làm ác. Nếu người khi gần chết khởi tâm ác liền chuyển cả sự tu hành hay công đức trước của mình, liền sanh vào chỗ không tốt.

Trong kinh có kể: Một người tu ngoại đạo đạt đến định Phi phi tưởng, nếu người đó chết sẽ được sanh về cõi trời Phi phi tưởng. Nhưng khi gần chết gặp chút nghịch duyên, ông nổi giận, bực tức lên rồi chết. Sau khi chết ông sanh làm con chó sói. Như vậy, từ quả vị cõi trời Phi phi tưởng mà chuyển làm một con vật xấu xa, đủ cho ta thấy cận tử nghiệp nguy hiểm như thế nào. Cận tử nghiệp là nghiệp gần lúc chết. Nếu khởi niệm ác thì nó sẽ dẫn chúng ta sanh vào cõi ác, cõi dữ.

Do đó chúng ta thấy trong cõi người cũng như trong các loài thú, có những người, hoặc những con thú sanh ra một thời gian ngắn liền chết. Chúng ta không hiểu tại sao. Nếu là duyên làm người hoặc làm thú thì phải ở lâu cho mãn kiếp người, kiếp thú, tại sao chỉ một thời gian ngắn thì đi. Đó là lý do để thấy rằng những người ấy lẽ ra không phải sanh chỗ như thế, nhưng vì cận tử nghiệp ác mạnh nên phải sanh chỗ đó. Thời gian ngắn sau chết, sanh lại chỗ kháctheo tích lũy nghiệp, tức là nghiệp chứa đựng lâu dài lúc trước của họ. Vì vậy sức mạnh của cận tử nghiệp đưa đẩy người ta sanh vào chỗ không đúng sở nguyện của mình, chỉ vì cơn nóng giận hoặc khởi những niệm ác lúc sắp lâm chung mà ra như vậy. Đó là tôi nói trường hợp cận tử nghiệp ác.

Kế đến là cận tử nghiệp thiện, tức người gần chết khởi niệm lành. Lúc sắp lâm chung khởi niệm lành liền sanh về cõi lành, dù cho tích lũy nghiệp của họ ác, nhưng nhờ khi sắp chết khởi niệm thiện nên chuyển sang sanh cõi lành. Do sức mạnh của cận tử nghiệp làm cho tích lũy nghiệp mờ đi, nhưng không phải mất. Nghĩa là người ấy phải theo cận tử nghiệp một thời gian. Khi nào cận tử nghiệp hết thì họ mới trở lại tích lũy nghiệp.

Nên nhớ nghiệp tích lũy là nghiệp quan trọng mà chúng ta chứa từ thuở nhỏ cho đến lớn trong đời sống. Giả sử chúng ta chứa điều lành, điều tốt đầy đủ, nhưng giờ chót bị cận tử nghiệp ác lôi đi thì phải trả hết nghiệp cận tử đó rồi mới trở lại với nghiệp tích lũy lành, được quả lành, chứ không phải mất hẳn. Nên lúc sắp lâm chung chúng ta phải dè dặt tối đa, không nên khởi những tâm niệm ác.

Trong kinh nói người phạm hai tội trong năm tội ngũ nghịch là ông Đề Bà Đạt Đa, đức Phật thọ ký khi chết ông phải đọa địa ngục. Do đó lúc sắp lâm chung ông hối hận hướng về Phật chắp tay xin sám hối. Sau này đức Phật kể lại cho ngài A Nan nghe rằng ông Đề Bà Đạt Đa tuy bị đọa địa ngục vì tội ngũ nghịch, nhưng vì sắp chết ông biết hối hận sám hối với Phật. Nên sau khi hết đọa địa ngục ông được trở lại làm người gặp Phật pháp tu hành, cuối cùng cũng chứng quả thành Phật.

Chúng ta thấy rằng cả đời Đề Bà Đạt Đa đã tạo những nghiệp ác nhưng khi sắp lâm chung ông đã có tâm thức tỉnh, hối cải. Vì vậy, sau này khi nghiệp ác hết, ông sanh về cõi lành và được tu hành chớ không mất luôn chủng duyên lành. Nên biết cận tử nghiệp lành có thể giúp người bị khổ lâu dài chuyển thành khổ ngắn, không còn lâu dài nữa.

Thêm một chuyện nữa. Có một vị tiên ở cõi trời ba mươi ba. Ông biết mình hết phước sắp chết. Do có thiên nhãn, ông biết mình sẽ sanh làm con của một Trưởng giả ở nhân gian và sau kiếp làm con ông Trưởng giả ông sẽ đọa địa ngục. Hoảng sợ quá, ông khóc rống lên, kêu la cầu cứu. Khi đó Trời Đế Thích đến hỏi: - Vì sao ông khóc kêu cứu như vậy? Ông trình bày chỗ thấy của mình. Trời Đế Thích liền khuyên ông nếu muốn được cứu phải quy y Tam Bảo.

Ông hỏi:

- Quy y Tam Bảo là sao?

Trời Đế Thích nói:

- Quy y Tam Bảo là quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng.

Ông hỏi:

- Bây giờ Phật ở đâu?

- Hiện giờ Phật đang thuyết pháp ở Vườn Trúc tại xứ Nalanda.

Ông than:

- Bây giờ tôi sắp chết làm sao đến đó để quy y được.

Trời Đế Thích bảo:

- Không sao, chỉ cần ông chắp tay hướng về chỗ Phật đang thuyết pháp nói to lên thế này: "Con tên…… xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Xin Phật cứu con, xin Phật độ con", như vậy ba lần.

Nghe vậy ông liền quỳ gối chắp tay hướng về Vườn Trúc Nalanda, nói ba lần: "Con xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Xin Phật độ con." Sau khi nói ba lần như vậy rồi, ông liền chết.

Quả thực sanh xuống trần gian ông làm con Trưởng giả. Khi con ông Trưởng giả lớn lên, một hôm gặp đức Phật khất thực ngang qua nhà. Thấy Phật, ông liền phát tâm muốn đi tu. Sau đó ông được Phật độ tu hành chứng quả A La Hán.

Qua đó, chúng ta thấy chỉ cần cận tử nghiệp hướng về Tam Bảo mà sau này khỏi đọa địa ngục, còn được xuất gia và tu hành giải thoát. Như vậy cận tử nghiệp rất là quan trọng. Nếu chúng ta không biết, để cận tử nghiệp chuyển thành ác sẽ đưa tới cõi ác. Nếu chúng ta biết, dù trước kia có làm ác, nhưng nhờ cận tử nghiệp thiện thì sẽ đưa tới cõi lành. Do đó người Phật tử chân chính phải nhớ, phải biết rõ tầm quan trọng của cận tử nghiệp.

Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa phủ nhận tích lũy nghiệp là nghiệp do chúng ta chứa chấp từ khi mới sanh ra cho tới già. Nếu chúng ta làm điều lành nhiều thì gọi đó là tích lũy nghiệp thiện; làm điều ác nhiều thì gọi là tích lũy nghiệp ác. Nếu tích lũy nghiệp thiện, và lúc sắp lâm chung không khởi niệm ác, thì con đường thiện nhất định sẽ đến với chúng ta. Còn nếu tích lũy nghiệp thiện nhưng khi sắp lâm chung khởi niệm ác thì con đường thiện của chúng ta phải bị quanh co, có khi nó dẫn mình tới chỗ dữ. Ngược lại, nếu tích lũy nghiệp ác nhưng sắp lâm chung khởi niệm thiện thì con đường ác lý đáng chúng ta phải chịu nhưng giờ đây chuyển sang con đường lành. Nên biết cận tử nghiệp rất mạnh, rất đáng sợ. Quý vị nào tuổi đã lớn, hoặc hay bệnh hoạn nên dè dặt tối đa, không nên tạo ảnh hưởng lớn gây cho chúng ta những đau khổ sau này. Đó là tôi nói về sức mạnh của cận tử nghiệp.

*

Tiếp theo, tôi sẽ nói những điều cấm kỵ của người khi sắp lâm chung. Những điều cấm kỵ là những điều không nên làm khi chúng ta biết đạo lý.

Một là lúc sắp lâm chung cấm kỵ không nên sân giận. Dù cho có điều gì trái ý cũng phải bỏ qua để lo cho cái chết của mình, không nên sân giận làm gì. Nếu sân giận thì chúng ta sẽ đọa vào cõi dữ làm những con vật hung dữ khó thể tránh khỏi. Đó là điều thứ nhất.

Thứ hai là phải dứt tâm oán thù. Nếu ôm tâm oán thù thì khi nhắm mắt chúng ta sẽ theo nghiệp oán thù, đền đền trả trả không có ngày cùng. Nghĩa là mình thù người, sanh ra gặp lại nhau rồi hại nhau, đau khổ chồng chất không biết đến đâu cho hết. Vì vậy chúng ta phải dứt tâm oán thù.

Thứ ba là tâm yêu mến con cháu, tiếc của cải, v. v… Đó là mối hiểm họa, nghĩa là vì yêu tiếc mà đôi khi bị trầm luân hay là trở lại làm những con vật không tốt.

Trong sử ba mươi ba vị Tổ có kể về một vị tăng Ấn Độ tôi không nhớ rõ tên. Một hôm Ngài đi khất thực ngang qua nhà ông Trưởng giả. Nhưng ông Trưởng giả đi khỏi. Trong nhà có con chó chạy ra sủa rất to. Ngài nhìn nó và quở: "Ngươi vì bệnh tiếc của mà trở lại làm chó, đã không biết còn sủa om sòm!" Nghe nói như vậy con chó buồn bỏ ăn. Ông Trưởng giả về, thấy con chó cưng của mình bỏ ăn. Ông liền hỏi lý do và được người nhà kể lại rằng hồi sớm mai có một vị Sa môn đi ngang, nó thấy liền sủa. Rồi không biết ông ấy nói gì với nó, từ đó nó buồn, bỏ ăn. Ông hỏi vị Sa môn ấy ở đâu và tìm gặp được Ngài. Với tâm rất sân hận, ông hỏi:

- Hồi sáng ông nói gì mà con chó của tôi nó buồn đến bỏ ăn?

Ngài bảo:

- Ông đừng nóng, để tôi nói cho ông nghe. Con chó đó là cha của ông.

Ông càng tức hơn, hỏi:

- Tại sao con chó đó lại là cha tôi?

Ngài nói:

- Nếu ông không tin ta, ông hãy về tìm ngay giữa giường nơi cha ông khi xưa ngủ mà bây giờ là chỗ con chó hay nằm đó, ông đào xuống sẽ thấy một ché vàng. Vì khi cha ông chết không kịp trối trăn lại với ông, nên bây giờ tiếc của mới sanh trở lại làm chó để giữ của. Nếu không tin ta, ông hãy về đào lên sẽ thấy!

Khi ấy vị Trưởng giả không còn lớn tiếng với Tổ nữa, mà trở về đào chỗ Tổ chỉ. Quả nhiên ông thấy có một ché vàng. Ông liền chạy tới xin Tổ cứu cha ông. Tổ khuyên Trưởng giả nên đem của đó bố thí để cha ông hết nghiệp. Trưởng giả nghe lời Tổ dạy liền đem ché vàng bố thí. Sau đó con chó chết.

Như vậy, vì yêu tiếc của nên trở lại làm chó để giữ của. Đó là điều đáng sợ. Nên ở đây tôi nhắc ba điều cấm kỵ trước khi lâm chung, Phật tử phải nhớ đừng bao giờ để xảy ra. Tôi lặp lại, điều thứ nhất là tâm sân giận; điều thứ hai là tâm oán thù; và điều thứ ba là tâm yêu tiếc, tức yêu con tiếc của. Nhớ, đừng có ba tâm đó mới khỏi đọa vào con đường khổ. Có ba tâm đó là nguy hiểm.

Nếu khi sắp lâm chung mà khởi tâm thiện thì sẽ được điều lành, điều tốt. Tâm thiện là tâm gì? Điều thứ nhất, khi sắp lâm chung phát tâm bố thí, giúp đỡ người nghèo kẻ bệnh. Mình có phương tiện tới đâu phát tâm tới đó. Điều thứ hai đối với người quy y rồi thì phát tâm cúng dường Tam Bảo; còn chưa quy y thì phát tâm quy y Tam Bảo để tâm thiện tăng trưởng. Làm như vậy là đã hướng về điều thiện và sẽ đi theo con đường thiện. Ba là phát tâm phóng sanh, nghĩa là cứu những con vật bị người ta bắt và sẽ bị giết. Mình cứu nó bằng cách mua lại đem thả, hoặc tìm cách nào cứu cho con vật không bị chết. Đó là phát tâm phóng sanh.

Bố thí, cúng dường, phát tâm phóng sanh là tâm lành. Nhờ phát tâm lành, tự nhiên lần lần chúng ta sẽ đi theo con đường lành. Đó là những điều tâm nên khởi khi sắp lâm chung.

*

Người Phật tử biết tu, khi sắp lâm chung, cần biết ứng dụng pháp Phật dạy, gìn giữ tâm mình luôn luôn đi đúng đường, không bị lệch lạc. Đối với người tu Tịnh độ, lâu nay chuyên niệm Phật, khi bệnh nhiều phải ráng nhớ niệm Phật, không quên. Lúc nào tâm mình cũng hướng về Phật không lơi lỏng, không nghĩ tới con, không nghĩ tới cháu, cũng không nghĩ tới tài sản gì hết. Được như vậy thì nhất định sẽ đi theo Phật không nghi ngờ. Đó là điều thứ nhất.

Thứ hai, đối với người không chuyên niệm Phật mà thường hay xem kinh sách thì phải nhớ một bài kệ. Chẳng hạn, nếu quý vị thường tụng kinh Kim Cang, thì phải nhớ một bài kệ, tức là nhớ tới Pháp giống như nhớ tới Phật, niệm Phật vậy. Chúng ta nghiên cứu kinh điển, học pháp của Phật thì phải nhớ pháp, như tụng bài kệ sau đây trong kinh Kim Cang:

Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng huyễn bào ảnh
Như lộ diệc như điện
Ưng tác như thị quán.

Nghĩa là tất cả pháp hữu vi như mộng, như huyễn, như bọt, như bóng, như sương mai, như điện chớp, phải luôn quán như thế. Chúng ta tụng mãi bài kệ này thì tâm chúng ta được trong sáng, không kinh hoàng khi sắp lâm chung. Đó là trường hợp thứ hai.

Trường hợp thứ ba, nếu người biết tu thiền, tâm được yên tĩnh phần nào thì nhớ lúc sắp lâm chung, mình hằng sống với tâm thanh tịnh, đừng chạy theo tâm vọng tưởng điên đảo. Nghĩa là nhớ ngay trong thân người bại hoại này có cái không bại hoại. Nhờ vậy chúng ta không kinh hoàng, không sợ sệt mà hằng sống với tâm bất sinh bất diệt của mình. Thân này chẳng qua là tướng hư ảo, có đó rồi mất đó, chớ không bền. Chỉ cái thể chân thật của mình là thanh tịnh, không sanh, không diệt muôn đời. Đó là chúng ta biết tu.

Trong ba trường hợp tôi kể ở trên, người tu niệm Phật thì chuyên niệm Phật, không nhớ chuyện đời. Người chuyên nghiên cứu Pháp thì nhớ một bài kệ. Người tu Thiền thì nhớ ngay nơi mình có cái chẳng sanh diệt, hằng thanh tịnh, không có gì đáng sợ, không có gì đáng lo. Người biết tu nhớ được những điều này thì không bị mê muội, không có gì sợ hãi, ra đi êm ái nhẹ nhàng. Đó là những điều tôi nhắc cho quý vị khi sắp lâm chung.

*

Bây giờ tôi nói tới hậu sự, tức là việc sau khi mình chết. Nhiều vị nghĩ rằng khi mình chết phải trối trăn lại với con cháu làm thế này, làm thế kia cho mình. Điều đó dư. Tại sao? Bởi vì thân này do tứ đại hòa hợp mà thành, chúng ta sống cũng mượn tứ đại mà sống: uống nước giúp cho thủy đại, ăn giúp cho địa đại, thở giúp cho phong đại, v. v… Như vậy bốn đại đó nhờ vay mượn bên ngoài mới tồn tại.

Đến khi chết là không vay mượn nữa thì trả về cho tứ đại. Tứ đại trả về tứ đại thì chỗ nào cũng là tứ đại hết. Tại xứ người, tứ đại cũng là tứ đại; ở quê hương mình thì tứ đại cũng là tứ đại. Đừng nghĩ bỏ thân ở xứ người là thiệt thòi. Thiệt thòi nhất là cái tâm, tinh thần của mình ra đi mà không sáng suốt, đó mới thật thiệt thòi. Còn thân tứ đại này bỏ ở đâu cũng được hết. Người ta hay nói thân này là thân cát bụi cho nên khi chết trả về cho cát bụi, chứ không phải trả về xứ mình, thành vàng thành ngọc gì, cho nên đừng quan trọng nó.

Thân này để cho con cháu giải quyết bằng cách nào thuận lợi nhất thì tốt, mình khỏi cần dặn dò gì hết, khỏi cần bắt buộc gì hết. Dặn dò bắt buộc nhiều khi làm cho con cháu càng thêm lúng túng. Thí dụ nơi đó không có lò thiêu mà bảo phải thiêu, trong khi có đất chôn mà không chịu chôn. Hay ngược lại, chỗ đó không có đất chôn mà có lò thiêu, mình lại không chịu, nói thiêu nóng lắm, phải tìm đất chôn. Như vậy con cháu lo sợ không biết tìm đất đâu mà chôn, càng làm cực khổ cho người sống chớ không có ích lợi gì. Đã là thân tứ đại hoại rồi thì còn biết gì nữa mà sợ nóng, còn biết gì nữa mà đòi đem về quê hương. Biết chăng là cái tinh thần, cái tâm của mình. Do đó quý vị đừng có lầm lẫn thân này phải trở về quê mình mới tốt. Nghĩ như vậy là sai lầm. Chính cái tâm của chúng ta, tâm sáng thì đi tới chỗ tốt, điều đó mới quan trọng.

Đó là những lời nhắc nhở để quý vị biết sau khi chúng ta có trăm tuổi, không làm phiền hà cho con cháu.

*

Tôi chỉ nói một phần ngắn cho quý vị biết khi đau, bệnh và già sắp lâm chung. Theo đó, quý vị có hướng chọn lựa, đừng bị tâm phàm tục làm cho mình đau khổ ngay hiện tại và kéo dài sau khi lâm chung. Đó là những điều thiết yếu.

Mong rằng tất cả quí Phật tử nghe rồi, khéo ứng dụng để tự cứu mình, đó cũng là lời Phật dạy cho chúng ta thoát khổ.

Hòa thượng Thích Thanh Từ,
Thiền viện Thường Chiếu, Đồng Nai (1996)
(Trích: Hoa Vô Ưu, Tập 3)

*



Lời huấn từ của Hòa thượng THÍCH THANH TỪ

 (Lời huấn từ của Hòa thượng Thích Thanh từ trong buổi lễ chúc thọ Hòa thượng tám mươi tuổi, ngày 23/01/2003 tại Thiền viện Thường Chiếu, Long Thành, Đồng Nai)

Hôm nay gần như là lần chót chúng tôi nói chuyện tại Thiền viện Thường Chiếu, nên những gì đã ôm ấp từ trước tới giờ, tôi sẽ nói ra cho quí vị nghe và hiểu. Trước hết tôi nói về những thành quả trong đời tôi đã làm được và nguyên nhân của những thành quả đó để quí vị biết, học hỏi, hầu tiếp tục làm tròn phận sự của mình.

Phần lớn những thành quả tôi đạt được đều là những cái không ngờ. Như khi xưa đọc sử chư Tổ, tôi thấy ở Trung Hoa có nhiều vị ra đời giáo hóa đến cuối đời, tính ra có hàng vạn tín đồ. Khi bắt đầu đi vào con đường tu học, tôi nghĩ đời mình tới trăm tuổi giáo hóa nhiều lắm chỉ đến ngàn Phật tử, tức là một phần mười chư Tổ thôi, chớ không bao giờ có sức hướng dẫn một số đông như vậy. Nhưng đến nay số lượng Phật tử qui y, khoảng trên tám mươi bốn ngàn người. Đó là phần Phật tử tại gia, còn số lượng xuất gia khó tính quá. Quí vị biết tại sao không? Vì có vị cạo đầu ba bốn năm rồi để tóc lại, làm sao tính được! Như vậy mới thấy thành quả này không phải là việc ngẫu nhiên. Tôi không bao giờ nghĩ mình sẽ thu hoạch được kết quả tốt như vậy. Cho nên ngày nay được thế là chuyện không ngờ đối với tôi.

Kế nữa tôi cũng từng tuyên bố với Tăng Ni, Phật tử: Tôi tu hành chỉ lo hướng dẫn Tăng Ni biết rõ đường lối tu, chớ không đặt nặng chùa to Phật lớn, song bây giờ tôi lại có chùa to Phật lớn. Đây dường như là điều mâu thuẫn, nhưng sự thật không phải mâu thuẫn. Vì tôi lo cho Tăng Ni mà Tăng Ni ngày càng đông nên chùa phải to, chùa nhỏ làm sao dung hết? Chùa to thì Phật cũng phải to theo. Đó là điều tự nhiên, không gượng ép gì hết.

Hiện giờ ở trong nước số thiền viện tiêu biểu, trực thuộc dưới sự hướng dẫn của chúng tôi như:

1. Thiền viện Chân Không.
2. Thiền viện Thường Chiếu.
3. Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt.
4. Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử.
5. Thiền viện Tuệ Quang.
6. Thiền viện Đạo Huệ.
7. Thiền viện Linh Chiếu.
8. Thiền viện Viên Chiếu.
9. Thiền viện Huệ Chiếu.
10. Thiền viện Phổ Chiếu.
11. Thiền viện Tịch Chiếu.
12. Thiền viện Liễu Đức.
13. Thiền viện Hương Hải.
14. Thiền viện Tuệ Thông.
15. Thiền tự Phúc Trường.

Tại nước ngoài, tiêu biểu như:

1. Thiền viện Đạo Viên tại Canada.
2. Thiền viện Đại Đăng tại Mỹ.
3. Thiền viện Bồ-đề tại Mỹ.
4. Thiền viện Quang Chiếu tại Mỹ.
5. Thiền viện Diệu Nhân tại Mỹ.
6. Thiền tự Vô Ưu tại Mỹ.
7. Thiền tự Hiện Quang tại Úc.
8. Thiền tự Pháp Loa tại Úc.
9. Thiền tự Hỉ Xả tại Úc.
10. Thiền tự Tiêu Dao tại Úc.

Đó là chỗ tôi không bao giờ nghĩ, không bao giờ tưởng, nay nó đến một cách đầy đủ, đột ngột, nên tôi nói bất ngờ. Tôi sẽ kể tiếp đời tu của tôi có những bất ngờ như sau:

Bất ngờ thứ nhất là ngày xưa Thầy tôi, Sư ông tôi và các Hòa thượng dạy tôi đều tu Tịnh độ, nhưng tôi lại tha thiết tu Thiền. Thời xưa của tôi không có một vị Thiền sư nào cả, chỉ có những người dạy Thiền mang tánh cách ngoại đạo thôi. Như vậy tâm nguyện tha thiết của tôi không có chỗ tựa, chỉ một người bạn đồng hành duy nhất là thầy Nhất Hạnh. Lúc còn ở Ấn Quang, thầy cũng tha thiết tu Thiền như tôi. Vì vậy hai chúng tôi có chỗ thông cảm về đường lối tu Thiền. Tuy đồng một quan niệm tu Thiền, nhưng hai người có hai lối tu khác nhau.

Sau khi dạy ở Phật học viện Huệ Nghiêm rồi, tôi thấy mình phần nào đã trả được nợ cơm áo của thí chủ và công ơn Thầy Tổ, nên xin ra Vũng Tàu cất thất tu Thiền. Tuy ham tu Thiền nhưng tôi chưa biết phải tu theo Thiền nào, đó là lỗi không gặp được thầy hướng dẫn. Tôi chỉ lấy kinh làm nền tảng tu. Trước hết nghiên cứu kinh A-hàm, tôi thấy pháp tu Thiền trong A-hàm là pháp Tứ niệm xứ, theo đó thì quán hơi thở. Sau này ngài Trí Khải đại sư viết thành cuốn Lục Diệu Pháp Môn, tôi ứng dụng tu theo hai phần.

Phần thứ nhất là Tứ Niệm Xứ, ứng dụng chưa có kết quả thì tôi đã bị lúng túng, do đó tôi chuyển qua Lục Diệu Pháp Môn. Buổi đầu thấy tiến khá tốt, nhưng đi sâu vào tôi cũng bị dội. Thế là xoay qua Thiền tông, tôi dịch một tác phẩm dạy tu thiền của Thiền sư Hư Vân, trong đó ứng dụng theo lối tu Thiền thoại đầu. Song tôi bị ngăn trở khoảng giữa đường, tu cũng không tiến. Đau khổ vô cùng, tôi không biết hướng nào đi, cứ dò dẫm chỗ này, dò dẫm chỗ kia, rốt cuộc bị ngăn trở không tiến được. Lễ Phật, tôi khóc.

Nhưng điều tôi không ngờ được là do túc duyên đời trước. Một đêm chân thành lễ Phật sám hối, sau đó đi nghỉ, tôi mộng thấy mình đi vào một ngôi chùa xưa giống như chùa Tàu. Tôi thấy hai vị Tổ ngồi ở nhà Tổ. Nhìn qua tôi biết liền, đây là Tổ Tăng Xán, đây là Tổ Huệ Khả, thấy rõ hình ảnh ấy tới bây giờ tôi vẫn còn nhớ. Mừng quá, tôi chạy kêu thầy Trụ trì ở đâu sao không đem trà nước mời gì cả, để hai vị Tổ ngồi buồn. Mải lo chạy kêu thầy Trụ trì, khi trở ra thì hai vị đi mất ra ngã sau. Tôi giật mình thức dậy, nghĩ rằng mình đã có duyên với Tổ nên ngày nay mới thấy. Đã có duyên như vậy, tại sao hơn một ngàn năm qua mình còn lao đao, lận đận, tu hành không đến đâu hết. Tôi buồn, thấy tủi thân vì duyên của mình không thành tựu gì cả.

Một đêm khác cũng trong thời gian nhập thất, tôi nằm mơ thấy Tổ Huệ Khả. Ngài đứng trên cao đọc một bài thơ, nghe qua tôi không nhớ hết, chỉ nhớ câu cuối cùng Ngài nói: “Không bình, không trắc”. Giật mình thức dậy, tôi lấy làm lạ quá, tại sao thơ mà không bình không trắc, nếu thơ thì phải có luật bình trắc chứ? Tôi cứ nghiền ngẫm tại sao không bình không trắc? Đến giờ ngồi thiền khuya, bỗng dưng tôi sáng được lý Bát-nhã, từ chỗ không bình không trắc đó, tôi nhớ tới câu “sắc tức thị không, không tức thị sắc”. Sắc-Không không rời nhau, Sắc-Không không hai, bất thần ngay nơi đó tôi hiểu được lý Sắc-Không. Thế là suốt ba ngày, đi tới đi lui một mình tôi cười hoài, rất vui mà không biết vui ra sao nữa? Sau tôi đọc trong tạng, tới bộ Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự, đọc tới đâu thấy sáng tỏ tới đó. Đến đây, rõ ràng tôi biết mình có duyên tu Thiền.

Ngày xưa, vì thấy việc này hơi thần thoại, do đó tôi không dám kể với quí vị, chỉ đơn độc thực hành thôi. Khi thực hành thấy kết quả tốt, tôi đem hết sách Thiền ra đọc và dịch để Tăng Ni, Phật tử có tài liệu tham khảo. Từ đó tôi biết rõ đường lối tu Thiền. Như vậy tôi tu thiền không có thầy, chỉ nhờ duyên đánh thức qua hình ảnh hồi xưa, đó là một lý do. Cho nên những Phật sự ngày nay tôi làm được, không phải là chuyện ngẫu nhiên mà do túc duyên từ thuở nào. Khi đọc kinh Pháp Hoa, tôi càng thấy rõ hơn, không một đức Phật nào thành Phật chỉ trong một đời. Một đời thành Phật là đời chót, chớ không phải tu một đời.

Chúng ta tu từ những đời trước, đã tạo được duyên lành nên qua đời này tuy không gặp thiện tri thức chỉ dạy, song nhân một cơ duyên nào đó mình cũng thức tỉnh được. Trong đời này số Phật tử tôi giáo hóa đông đảo, đương nhiên đã gieo duyên nhiều đời lắm rồi, chớ không phải một đời. Hiểu rõ như thế tôi biết chắc không phải một đời này mình đủ tài đủ đức giáo hóa như vậy. Từ những đời trước chúng ta đã gieo duyên với nhau rồi, nên đời nay gặp lại đông đảo thế này. Lý luân hồi nhân quả của đạo Phật không bao giờ sai chạy. Chúng ta đã gieo nhân thế nào thì sẽ gặt quả thế ấy, không bao giờ mất.

Cho nên trên đường tu chúng ta đừng nghĩ rằng chỉ một đời này mình tu thôi. Những người xuất gia thọ giới tu hành được kha khá đều có duyên từ nhiều đời trước, nên đời này tiếp tục tu nữa. Vì vậy làm được việc gì, tất cả công đức chúng ta tạo ra, gốc đều từ duyên lành đời trước chớ không phải chỉ trong đời này. Nghĩ như vậy rồi chúng ta không có lý do gì để tự cao, ngạo mạn mình là người tài giỏi. Nên biết rằng đây là chúng ta tiếp tục con đường mình đã đi trong nhiều đời, và còn nhiều đời nữa phải tiếp tục, chớ không phải ngang đây là dứt. Đó là lý do thứ nhất mà đời tu này của tôi có được những việc bất ngờ.

Lý do thứ hai tôi muốn nhắc cho Tăng Ni, Phật tử biết việc làm đạt được kết quả tốt là do lòng chân thành của chúng ta. Tôi lo cho Phật pháp, lo cho Tăng Ni, chỉ một bề làm sao cho Tăng Ni tu được, học được, làm sao cho tất cả Phật tử đến với mình phát tâm Bồ-đề ngày càng rộng lớn, chớ không bao giờ nghĩ lợi dụng Phật tử để làm việc riêng cho mình. Muốn cho Phật tử đến chùa mỗi ngày đều được lợi ích, được thấm nhuần chánh pháp; muốn cho Tăng Ni mỗi ngày tu đều, đi sâu trong đạo đức, thấy suốt được lời dạy của Phật Tổ; cả đời tôi chỉ lo cho Tăng Ni, Phật tử tu. Có lẽ vì tâm đó mà Phật tử ủng hộ, giúp đỡ tôi không tiếc công, tiếc của. Tôi chưa kêu gọi quí vị đã hưởng ứng, tôi chưa khuyên bảo tiếp giúp, quí vị đã sẵn sàng gánh vác những công tác tôi muốn làm hay đang làm. Đó là điều chư Tăng, chư Ni nên ghi nhớ muốn làm Phật sự được, chúng ta đừng bao giờ nghĩ đến danh đến lợi, mong mọi người quí kính mình. Chúng ta làm là vì người sau, vì muốn cho chánh pháp ngày càng sáng tỏ, bủa khắp các nơi. Không phải nghĩ tới bản thân mình hoặc nghĩ tới thân nhân mình mà làm Phật sự. Lòng chân thật ấy là lý do thứ hai mà tôi có được những sự việc bất ngờ.

Điều thứ ba tôi muốn nhắc nhở cho Tăng Ni nhớ thật kỹ, chúng ta làm Phật sự phải đúng nghĩa Phật sự, vì muốn cho tất cả chúng sanh hiểu Phật pháp, chớ không nên làm Phật sự mà trá hình bởi cái này, cái nọ. Vì muốn chúng sanh thức tỉnh, giác ngộ được lẽ thật nên chúng ta làm Phật sự, chớ không vì cầu cạnh điều gì, không vì lời khen, không vì những quyền lợi nhỏ lớn nào đó mà làm. Chỉ một bề lo cho Tăng Ni, Phật tử làm sao thức tỉnh, làm sao giác ngộ để đánh tan mê lầm muôn đời của mình, lần lần tiến lên, chớ không nên mong một điều gì khác. Vì vậy tôi mong toàn thể chư Tăng, chư Ni, quí vị đã hi sinh cả cuộc đời, bỏ tất cả thân quyến để vào đạo tu hành, phải làm sao đời tu của mình thật xứng đáng, là một con người giác ngộ thật sự để dìu dắt, chỉ dạy những người sau. Chúng ta là những người mang lại tình thương cho nhân loại bằng cách đánh thức họ, đừng để chúng sanh mê lầm gây tạo tội lỗi khổ đau. Do đó không nên vì một lý do nào mà Tăng Ni xao lãng việc tu hành của mình. Đó là điều hết sức thiết yếu.

Đời này tôi làm Phật sự được kết quả tốt đẹp, nhiều người tán thán không phải do tài của tôi trong một đời, mà là cộng lại quá khứ chúng tôi đã gieo trồng duyên lành với Phật pháp nhiều đời. Đời này tiếp tục nên việc làm dễ dàng có kết quả tốt đẹp, đồng thời cũng do tâm chân thành, một lòng vì chánh pháp, chớ không vì lý do nào khác. Trên bước đường tu, dù chúng ta có giác ngộ cũng chỉ giác ngộ phần nào thôi, chưa phải giác ngộ hoàn toàn. Ví như người thấy núi, đứng dưới chân núi vẫn chưa gọi là đã lên đỉnh núi. Quá trình leo lên tới đỉnh còn trải qua bao nhiêu công phu nữa. Chúng ta đừng lầm khi thấy cái gì hay hoặc tu được kết quả tốt rồi khoe mình thế này, thế nọ. Đó là tổn phước, tổn đức. Phải thấy đường đi của mình còn dài, dù hiện giờ chúng ta biết được đường đi, nhưng chỉ là người đứng ở đầu đường, chưa phải đến được cuối đường. Biết được như vậy, lúc nào cũng là lúc chúng ta phải tu, không nên nói rằng mình làm được nhiều việc rồi, bây giờ thảnh thơi ăn chơi tự tại. Đó là điều không tốt.

Thật tình chúng ta tiến được năm mười bước thì phải thấy rằng đây là những chặng đầu, chưa phải là chặng cuối. Cho nên những bước sau càng mạnh mẽ cố gắng hơn nữa, đừng ngỡ rằng chúng ta đã tiến một hai bước rồi hài lòng, tự mãn, chết chìm trong đó, không tốt. Bởi vậy sau bao nhiêu năm lo dạy Tăng Ni, Phật tử tôi cũng cố gắng tu nhưng sự tu bị giới hạn. Như hôm nay giảng, buổi tối ngồi thiền nhớ câu nào hay hoặc đề tài nào đúng mình lôi ra để mai giảng, bị những thứ ấy lôi đi nhưng vẫn phải chịu thôi. Ngày nào cũng thế, tự nhiên công phu của mình hao hụt rất nhiều, vì vậy việc tu thiệt thòi. Do đó tôi muốn có được một thời gian trọn vẹn để yên ổn tu hành.

Tôi nhớ lại nhiều thầy đồng tuổi với mình đã từ giã cõi đời lâu rồi. Gần nhất là thầy Tịnh Viên ở chùa Linh Sơn Vũng Tàu. Kế đó là thầy Huỳnh Kim ở Sài Gòn đã đi mất hai ba năm nay. Thầy Thiền Định học chung một lớp với tôi cũng đã đi được hai ba năm và nhiều thầy nữa đã đi. Không những quí thầy đồng tuổi với tôi, mà các thầy nhỏ tuổi hơn tôi như thầy Thiện Châu cũng đi, thầy Huyền Vi thì đang bệnh. Tất cả quí thầy kẻ đi trước người đi sau, đi lần mòn, riêng tôi còn sót lại. Đó có phải là điều hạnh phúc không? Chính vì còn sót lại nên tôi mới lo nhiều. Ngày nay mình còn ở đây phải làm gì chứ, không thể chần chừ được. Sanh tử đã chực sẵn, chỉ cần một cái sơ sẩy là mất mạng liền, không thể chần chừ được nữa. Bởi vậy tôi phải từ giã Tăng Ni để ngồi yên nỗ lực tu hành. Ngày nào còn sáng, còn tỉnh, còn mạnh thì ngày đó tôi làm việc cho mình, để khi hết cuộc đời con đường đi của tôi được gần hơn một chút. Hay nói một cách cụ thể hơn, ngày ra đi tôi được tỉnh táo, sáng suốt để Tăng Ni, Phật tử tăng trưởng lòng tin. Nếu không như thế thì tôi chịu trách nhiệm lãnh đạo Tăng Ni, Phật tử tu hành mà không để lại được niềm tin nơi quí vị thì thật đáng buồn!

Các Thiền sư khi ra đi rất là thanh thoát, trước khi đi các ngài còn làm những bài kệ khuyên nhắc đệ tử. Bây giờ nếu tôi ra đi một cách mê muội tối tăm thì chắc rằng lòng tin của Phật tử phải suy giảm. Do đó tôi tu vừa để lợi ích cho bản thân, vừa để làm gương cho những người sau noi theo. Vì lý do đó nên tôi cố gắng tu chớ không phải tu để được ai khen hết. Bởi vì tu là việc của mình, lo cho mình, làm cho mình. Chính mình làm được cho mình mới có thể khuyên nhắc mọi người cùng làm theo. Bản thân mình làm không được mà khuyên người ta làm thì làm cái gì? Mình đứng một chỗ mà xúi người ta đi thì ai đi được? Điều đó không thiết thực.

Tôi muốn trên đường tu của mình, từ khi mới bắt đầu cho đến phút cuối cùng, lúc nào cũng nỗ lực, cũng tinh tấn đi cho hết con đường. Dù biết rằng đường rất dài, tới khúc nào đó ta cũng kiệt lực, nhưng phút kiệt lực chúng ta vẫn là người đang đi, chớ không nên ngã quị hay lăn xuống giếng. Được như vậy mới xứng đáng, mới không hổ thẹn mình là người có trách nhiệm lãnh đạo Tăng Ni, Phật tử tu hành. Do vậy lúc nào tôi cũng tha thiết, cũng muốn làm cho xong phần mình, rồi sau mới kêu gọi anh em cùng làm. Trọng trách này rất là nặng nề.

Hôm nay nhân ngày quí vị tổ chức mừng thượng thọ của tôi, đây là điều mừng hay buồn? Nếu nói theo tôi thì mừng, vì tôi còn sống để lo tu. Thêm được ngày nào là quí ngày ấy, những năm về trước tôi quá nhiều việc nên chạy ra ngoài nhiều, bây giờ ngày nào cũng là ngày của tôi. Sống thêm một tháng là được một tháng, một năm là tốt một năm, được năm bảy năm thì càng tốt hơn, tùy duyên. Biết rằng cái chết lúc nào cũng chực sẵn, chúng ta không ai tránh khỏi, nhưng đi muộn thì mình có thời gian để tu, đó là duyên phúc lành. Vì vậy tuổi cao tôi không sợ, chỉ sợ ngày ra đi mê mờ không biết gì. Thế nên những ai chân thành tu đều phải thấy, phải biết lẽ này để chúng ta dồn sức tu hành. Tuổi càng lớn sự tu càng nhặt hơn, càng nỗ lực hơn. Không thể nói thầy già rồi để thầy chơi, còn mấy đứa nhỏ ráng tu. Mình là người đi trước thì lúc nào cũng phải đi và đi rất mạnh mẽ cho người đi sau nương theo. Đó là trách nhiệm tôi tự thấy, tự gánh vác, tự đặt cho mình, chớ không ai bắt buộc tôi cả.

Những năm còn lại là những năm rất đủ cho tôi làm bổn phận của mình, không phải là những năm thừa để nhàn hạ. Đó là điều tôi muốn nói cho toàn thể Tăng Ni biết, các đệ tử sau tôi cũng theo gương đó dành dụm những ngày chót của mình, nỗ lực tu hành thật nhiều, đừng để phí tổn thời gian vô ích. Cuộc đời tu của chúng ta có mấy chục năm chớ không dài, nếu để phí tổn như vậy thì thật là thiệt thòi lớn!

Tôi đem bản thân mình nhắc nhở cho tất cả chư Tăng Ni, Phật tử hiểu rõ để tu hành, chớ không nói những chuyện gì xa. Mong quí vị nhìn theo tôi, cố gắng tu để đời tu của mình xứng đáng, không hổ thẹn là một người xuất gia tu hạnh giải thoát, mà cuối cùng mình đi trong con đường mê. Cầu mong tất cả Tăng Ni, Phật tử đều là những người tỉnh giác, đi đúng đường cho tới ngày nào đạt được kết quả cuối đường là giác ngộ giải thoát.

Thiền sư Thích Thanh Từ
Thiền viện Thường Chiếu, Đồng Nai
23/01/2003
(Trích: Phật Pháp tại thế gian, Tập 2)

*