Friday, 29 December 2017

Tổ chức Hệ phái Phật giáo Nam tông Kinh 1938–2014

Tổ chức Hệ phái Phật giáo Nam tông Kinh 1938–2014
Nguyên Hậu Kusalapacchā
Tạp chí Phật giáo Nguyên thủy, 2015

Năm 1981, Hệ phái Phật giáo Nam tông Kinh là một trong chín thành viên dựng nên ngôi nhà chung hoàn mỹ: Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Bài viết này xin giới thiệu khái quát quá trình hình thành và phát triển của Hệ phái Phật giáo Nam tông Kinh từ 1938–2014. Đặc biệt nhấn mạnh đến hệ thống tổ chức của hệ phái Phật giáo Nam tông Kinh cho đến 1981, thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

1. Nguồn gốc, danh xưng Hệ phái Phật giáo Nam tông Kinh

Từ năm 1930 đến 1957 giai đoạn hình thành với tên gọi Đạo Phật Thích Ca, [15, tr1]. Thời gian này các bậc khai sáng, hữu công ngưỡng mộ Phật giáo Nam tông từ Campuchia, đang tìm tòi học hỏi. Sau đó, các vị từng bước xuất gia tại Campuchia, xây chùa tháp ở Việt Nam, đưa Phật giáo Nam tông du nhập Việt Nam. Từ 1957 đến 1964 thành lập “Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam (Theravada)” [2]. Từ 1964 đến 1981 mặc nhiên với tên gọi “Phật giáo Nam tông” [17, tr.xviii].

Sau khi thành lập Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam (Theravada), Phật giáo Nam tông dần ổn định và phát triển. Từ năm 1963 Phật giáo Nam tông Kinh đồng hành cùng dân tộc, với Tổng hội Phật giáo chống lại chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo, đòi tự do tôn giáo. Ngày 1-11-1963 chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, Phật giáo Nam tông là thành viên trọng yếu (trong Hiến chương 1963 chỉ ghi 2 hệ phái thành lập: Nam tông và Bắc tông) lập nên Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất (Thành lập từ 31-12-1963 đến 15- 01-1964).

Từ 1981 đến 2010: Hệ Phái Nam tông. Năm 1981 Phật giáo Nam tông cùng các tông phái khác sáng lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Năm 2010 đến nay, để phân biệt với Phật giáo Nam tông Khmer, Giáo hội Phật giáo Việt Nam văn phòng tại Thành Phố Hồ Chí Minh gọi với danh xưng “Hệ phái Phật giáo Nam tông Kinh” [17, tr.xvii].

 2. Quá trình hình thành

Căn cứ vào điều lệ và nội quy Giáo hội Tăng giả Nguyên thủy Việt Nam (Hệ phái Phật giáo Nam tông Kinh ngày nay) có quá trình thành lập sau:

Ngày 20-02-1957 Ban Chưởng Quản tạm thời đệ “…đơn xin phép thành lập một Hiệp Hội lấy tên là Giáo hội Tăng Già Nguyên thủy Việt Nam (Theravada)” [2, tr.1]. “…Ngày 18-12-1957 Bộ Trưởng Nội vụ ôn Vũ Tiến Huân thừa lệnh Tham Lý Nội An đóng dấu ký duyệt cho Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam hoạt động theo đạo dụ số 10” [2, tr.1].

Như vậy, kể từ thời gian kể trên Giáo Hội Tăng Già Nguyên thủy Việt Nam (Theravada), chính thức có tư cách pháp nhân, pháp lý, có mặt trên toàn cõi Việt Nam, tham gia hoằng Pháp độ sinh. Từ đó, Giáo Hội Tăng Già Nguyên thủy Việt Nam (Theravada) đóng vai trò vô cùng lớn, quan trọng trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, đặc biệt giai đoạn 1963 cùng Tổng hội Phật giáo tranh đấu đòi công bằng, tự do tín ngưỡng, góp phần cùng với phong trào cách mạng làm sụp đổ chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm, lập nên Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất

Hệ phái Phật giáo Nam tông Kinh đã trải qua một thời gian dài, thai nghén hình thành, xây dựng mới có được thành quả như trên. Những bậc hữu công đầu tiên có công đầu khai sáng hệ phái, giữ vai trò cực kỳ quan trọng dẫn đến sự tồn tại, phát triển của hệ phái Phật giáo Nam tông Kinh, không thể không nhắc tới đó là Cụ Nguyễn Văn Hiểu, Văn Công Hương, Nguyễn Văn Quyến, Đoàn Văn Hường…và gia đình chủ đất Bùi Ngươn Hứa đã hiến cúng đất xây nên ngôi chùa Nguyên thủy đầu tiên vào năm 1938. Bên cạnh đó còn có ông “Ngô Bảo Hộ, sau xuất gia năm 1937, pháp danh Thiện Luật; Hồ Văn Viên, xuất gia năm 1938, pháp danh Huệ Nghiêm; Phạm Văn Tông, xuất gia 19-7-1940, pháp danh Bửu Chơn; Người thứ tư, Lê Văn Giảng, xuất gia 15-10-1940, pháp danh Hộ Tông” [12].

Đây chính là bốn vị cao Tăng thạc đức khai mở, du nhập Việt Nam Phật giáo Nguyên thủy đầu tiên. Cùng với các bậc cư sĩ hữu công trên đã khai sáng nên hệ phái góp phần làm giàu thêm bản sắc văn hóa, tín ngưỡng của người Việt từ đó đến nay. 

Tất cả các vị trên đều xuất thân từ thành phần trí thức, công chức cho Pháp như cụ Hiểu, Bác sĩ Lê Văn Giảng… họ là những người bạn thân nhau cùng chung chí hướng, cùng có tâm đạo, cùng hướng về đạo pháp. Họ cùng nhau nguyện ước: người xây chùa (cụ Hiểu), người xuất gia tầm đạo (Bác sĩ Lê Văn Giảng) và cứ thế cùng nhau thực hiện.

Năm 1938, cụ Hiểu và hai người bạn Văn Công Hương, Nguyễn Văn Quyến rủ nhau tìm đất xây chùa, thích hợp tu Thiền, không xa thành phố, không gần thành thị không quá bất tiện cho hoằng dương Chánh pháp. Họ tìm được khu đất phù hợp, định thuê đất cất chùa, nhưng gia đình chủ đất phát tâm cúng dường phần đất xây chùa, không phải thuê. Đó là phần đất tại ấp Gò Dưa, Phường Bình Chiểu, Quận Thủ Đức (Nay 171/10 Quốc Lộ 1A Phường Bình Chiểu, Quận Thủ Đức, Thành Phố Hồ Chí Minh, Việt Nam).

Kết quả ngôi Tam Bảo Phật giáo Nguyên thủy đầu tiên trở thành hiện thực, tồn tại và phát triển cùng năm tháng. Bấy giờ chùa chỉ là…ngôi tịnh xá (Tam bảo tịnh xá) thờ Phật và cất 8 cái cốc cao cẳng theo kiểu nhà người Miên. Trong khi chờ đợi người bạn và thỉnh chư Tăng đến hoằng pháp, anh em cư sĩ mỗi buổi chiều, ra giờ làm việc đều lên ở trong cốc tham thiền, mỗi chiều thứ 7 lên ở tới sáng thứ hai mới trở về Sài Gòn làm việc..” [7, tr.6].

Năm 1938, ông Nguyễn Văn Hiểu và Bác sĩ Lê Văn Giảng mời Tỳ khưu Thiện Luật về Việt Nam trụ trì ngôi chùa chưa đặt tên ít lâu sau khi xây dựng xong.

Ngày 15-04-1940, Ngài Thiện Luật, Ngài Huệ Nghiêm và nhóm tín đồ ông Nguyễn Văn Hiểu tổ chức lễ khánh thành và kiết giới Sima, đặt tên Bửu Quang tự, tên Pali Ratanaramsyàràma. Trong buổi lễ có sự chứng minh của phó Sãi Vương Campuchia, Hòa thượng Som-Dach Choun-Nath, 30 vị Tỳ khưu Khmer và đông đảo thiện nam tín nữ chật sân chùa và tràn cả xung quanh. Lễ trồng cây Bồ Đề do Quốc Vương Sihanu hiến cúng cũng được tiến hành ngay sau đó. Từ đó, chùa chính thức có tên gọi, tồn tại, phát triển theo thời gian. Lễ khánh thành tổ chức long trọng có đại diện chính quyền địa phương, có quan chức “bảo hộ” Pháp, đại diện các chùa, các Khuôn hội, các Niệm Phật Đường trong vùng tham dự.

Năm 1940, ông Nguyễn Văn Hiểu bán biệt thự riêng tại Sài Gòn dùng nửa tiền xây lại chùa Bửu Quang bằng gạch thẻ mái ngói, cốc lầu gạch ngói, nửa tiền còn lại mua ruộng lúa canh tác lo chi phí nhang đèn. Đến “…Năm 1945, khi thực dân Pháp trở lại chiếm Sài Gòn, phong trào kháng chiến bùng nổ, chư Tăng liền tản cư về Nam Vang, cư sĩ không ai dám đến chùa chỉ có ông cả Ngưu (Phú Nhuận) ở lại làm từ.

Qua năm 1947, chùa Bửu Quang bị lính Pháp phá, dỡ lấy ngói gạch và đốn hết cây cối làm vật liệu xây lô cốt.

Qua năm 1951, giặc tạm yên, anh em cư sĩ xin vật liệu các nhà hư đổ chở đến xây cất lại ngôi chùa” [7, tr.7].

Sau khi chùa Bửu Quang bị thực dân Pháp chiếm chùa, phá dỡ, phục vụ cho xâm lược lần thứ hai ở Việt Nam (1945-1954), chư Tăng, tín đồ chạy giặc khắp Sài Gòn, thuận duyên họ mượn chùa Kỳ Viên, Bàn Cờ, bà Năm Ngọc trụ trì làm nơi thuyết pháp, luận đạo.  

Trong giai đoạn này ông Nguyễn Văn Tịnh, ông Dương Văn Thêm học đạo từ Campuchia trở về cùng chư vị cư sĩ lão thành tạo lập chùa Giác Quang ở Bến Bình Đông năm 1945 (nay 47 Lương Văn Cang Q 8). Đây chính là cơ sở thứ 2 Phật giáo Nguyên thủy sau năm 1938. 

Năm 1953, Ngài xuất gia [12] tại chính ngôi chùa mình góp công đức tạo dựng, pháp danh Giác Quang.  

Sau chùa Bửu Quang, chùa Giác Quang, chùa Kỳ Viên là ngôi Tam Bảo Phật giáo Nguyên thủy thứ 3. Chùa Kỳ Viên do bà Bùi Thị Ngọc trụ trì, tạo lập ngày 19–6–1922.

Trong số tín đồ chùa Bửu Quang tản cư năm 1945 có ông Quờn chạy về Bàn Cờ gặp Thầy Đội Hậu rủ nhau hộ pháp chùa Kỳ Viên, càng về sau thiện nam tín nữ chùa Bửu Quang về càng đông. Lần lượt có ông Hiểu, ông Cầm, Nhân, Phước, Minh, Ngưu đến phụ lực, thỉnh mời sư Huệ Nghiêm, pháp sư Thông Kham… thuyết pháp.

Ngày 21–07–1949, do giải tỏa, nhóm tín đồ ông Nguyễn Văn Hiểu thuê đất cất chùa Kỳ Viên mới góc đường Phan Đình Phùng–Bàn Cờ. Ngày 09-10-1949 chùa Kỳ Viên tổ chức lễ An Vị Kim Thân Phật.

Sau đó, ông Kim Long và bà Lâm Thị Thiệt mua khu đất thuê cùng đông đảo tín đồ long trọng cử hành lễ cúng dường đất, chùa ngày 16-02-1952 (nhằm 21 tháng giêng Nhâm Thìn), đến chư Tăng đại diện Phật giáo Nguyên thủy. Ngày hôm sau 17-02-1952 lễ nhận chùa, đất, kiết giới Sima được tiến hành có Tỳ khưu Hộ Tông và sư Cả trụ trì chùa Mahàmontrey, Campuchia chứng minh buổi lễ.

Năm 1953, khu Bàn Cờ hỏa hoạn, chùa Kỳ Viên cháy xén góc bếp, chùa thành nơi cứu trợ nạn nhân hỏa hoạn. Vì thế, chùa trùng tu từ 12-02-1954 đến tháng 11-1954, xoay mặt tiền ra đường giải tỏa, nối dài đường Phan Đình Phùng, trở thành ngôi chùa Nam tông đẹp nhất Sài Gòn lúc bấy giờ.

Chùa Bửu Long, gần cầu Đồng Nai là cơ sở thờ tự thứ 4 ở Việt Nam (nay số 81, Nguyễn Xiển, Ấp Thái Bình I, phường Long Bình, Q9, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, thuộc Công Viên Lịch Sử và Văn Hóa Dân Tộc). Năm 1942, thiện nam Võ Hà Thuật mua khu đất khoảng 13ha làm nơi Tỳ khưu Hộ Tông dạy thiền, thuyết pháp, trở thành rừng thiền cho bất cứ ai có nhu cầu. Năm 1957, Giáo hội Tăng Già Nguyên thủy thành lập, tín đồ Võ Hà Thuật cúng dường Giáo hội khu đất này.

Ở Việt Nam Tỳ khưu Thiện Luật là người đầu tiên thọ nhận chùa Phổ Minh (cơ sở thờ tự thứ 5) xây dựng năm 1934, thuộc truyền thống Bắc tông do Bà Năm Ngọc quản lý, dâng cúng năm 1957. (nay số 02 Thiên Hộ Dương, phường 1, quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam). Sau đó, Tỳ Khưu Hộ Tông đề cử một số sư từ chùa Bửu Quang sang ở Phổ Minh để vừa tu vừa coi sóc chùa mới” [5, tr.500].

Năm 1960, Tỳ khưu Thiện Luật mời Tỳ khưu Bửu Chơn trụ trì, hoằng pháp.

Từ 1950 trở đi, Phật giáo Nam Tông Kinh tại miền Trung, Trung phần, được du nhập, khai sáng trực tiếp bởi Tỳ khưu Giới Nghiêm. Chùa Tam Bảo 119c Đại lộ Phan Chu Trinh, Đà Nẵng (nay 323 Phan Châu Trinh, Thành Phố Đà Nẵng, Việt Nam) là tổ đình đầu tiên tại miền Trung, Trung phần, tạo lập năm 1953 (Phật lịch 2497), bởi công đức các tín đồ nòng cốt Hà Thúc Diếu, Vĩnh Cơ… Ngày 15-03-1963 (Phật lịch 2507), chùa Tam Bảo khánh thành có Ngài Narada, sư Dũng Chí, sư Hộ Giác, sư Tịnh Sự, sư Ẩn Lâm, sư Tối Thắng, sư Giác Quang…tất cả cao Tăng thạc đức Trung ương Giáo hội Tăng Già Nguyên thủy Việt Nam tham dự. Có nhóm tín đồ ông Nguyễn Văn Hiểu từ Sài Gòn, ở Huế có ông bà Vĩnh Thái và đông đảo thiện nam tín nữ. Có cả chư Tăng Bắc tông như Thích Đôn Hậu, Thích Mật Nguyện, Mật Hiển, Sơn Trí… Số lượng tín đồ ngày càng đông, người xuất gia tu học ngày càng nhiều nên chùa trở thành ngôi trường, Phật học viện sơ cấp (với sự hỗ trợ của Thiền Sư Hộ Tông và Ngài Bửu Chơn, đức Giới Nghiêm hướng dẫn) cho nhiều tu sĩ truyền thống Phật giáo Bắc Tông tu học, tiêu biểu Tỳ khưu Hộ Nhẫn…. Nhiều khóa thiền được khai giảng, nhiều lớp Chư Tăng, Tu Nữ và tín đồ hành trì dưới ngôi Tam Bảo uy nghi, tôn nghiêm này.

Năm 1954, Ngài Giới Nghiêm cùng Tỳ khưu Bửu Chơn, Tỳ khưu Thiện Luật, Tỳ khưu Hộ Nhẫn đến Huế hoằng pháp. Trong 2 năm tín đồ theo học tròn trăm lẽ, chính lực lượng tín đồ đầu tiên này tìm mua đất cất chùa. Năm 1956, ngôi chùa Phật Giáo Nguyên Thủy đầu tiên ở Huế được xây dựng: Tăng Quang Tự, tên tiếng Pàli: Sangharànsyaràma; dân địa phương hay gọi là "chùa Áo Vàng". Đây là cơ sở vững chắc khởi đầu truyền bá Phật giáo Nguyên Thủy tại Huế và lan rộng: chùa Định Quang ở Giạ Lê, tạo lập năm 1958, Chùa Thiền Lâm ở Từ Hiếu, Đàn Nam Giao, kiến lập bởi Tỳ khưu Hộ Nhẫn…. Thuở đầu chùa Tăng Quang là căn nhà đơn sơ Ngài Giới Nghiêm tu thiền, truyền đạo cho thiện nam tín nữ hữu duyên. Nhờ oai lực Tam Bảo và đạo hạnh của Ngài nên tín đồ thành tâm mua đất xây chùa, Chư Tăng có chỗ tu hành, tín đồ có nơi cúng dường Tam Bảo.

Một trong những thiện nam tín nữ đầu tiên hộ trì Tam Bảo Phật Giáo Nguyên Thủy ở Huế tích cực nhất ông bà Nguyễn Thiện Đông và Nguyễn Thị Cúc (ông bà Vĩnh Thái, tên cửa hàng bách hóa lớn nhất Huế bấy giờ). Ông bà cùng các tín đồ tâm đạo cao, ra sức vận động, quyên góp tài chính, thường xuyên hỗ trợ nên chùa Tăng Quang được tạo lập. Cũng chính nhờ cơ sở này, Phật Giáo Nguyên Thủy có nơi bám trụ, phát triển đến nay tại Huế. Giới tử xuất gia Sa di chùa Tăng Quang đầu tiên Ngài Thiện Tâm, nay trở thành Hòa Thượng cao Tăng khả kính.

 “…Chúng tôi là ông Nguyễn Thiện Đông…vợ là bà Đặng Thị Cúc…nguyện cúng vĩnh viễn thửa đất số 1352 có cất nhà số 1/1 đường Minh Mạng Huế đến Tổng hội Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam tại Đà Nẵng…”[6].

Để có được cơ sở trên phần đất Việt Nam như vậy thì Bác sĩ Lê Văn Giảng và những người bạn không ngừng nổ lực tại Campuchia. Từ trước những năm 1928 Bác sĩ thú y Lê Văn Giảng và các tín đồ Việt kiều trí thức như: Phạm Văn Tông (hoặc Thông), Đoàn Văn Hộ, bác sĩ Dương Văn Phát, Lê Minh Học, Sáu Hoa, Ba Lý, Sáu Diên, Phán Long, Văn Công Hương, Ngô Bảo Hộ, Hồ Văn Viên, Phán Nghiêm, Phán Lai, Phán Ngọt, Phán Huê, Tô Kim Phước, Lý Văn Ngữ, Trương Phong Vĩnh... Đặc biệt, có ông Francois Nguyễn, lai Pháp, ông Charles Clairet, quốc tịch Pháp, bốn sư người Việt: sư Cả Thạnh, sư Tuệ Báu, sư Lê Khanh và sư Nguyễn Phát Phước.. đã tôn tạo chùa Sùng Phước theo truyền thống Phật giáo Bắc tông (thân sinh thầy Lê Minh Học trụ trì chùa) thành ngôi chùa Phật giáo Nguyên thủy làm nơi sinh hoạt tâm linh, lễ bái, tụng kinh, niệm Phật theo hình thức Phật giáo Nguyên thủy, rộng khoảng 1ha tại xóm Trường Đua, Quận 4, Phnômpênh. Trong đó, số người hay lui tới có Ba Diên, Sáu Hoa, Ba Lý, Văn Công Hương, Phạm Văn Tông, Hồ Văn Viên... Họ thành lập “An Nam Phật Giáo Hội”. Ông Lê Văn Giảng phụ trách nghiên cứu, tu tập, soạn dịch Kinh tạng truyền bá tại Campuchia, Việt Nam.

Ngày 05-7-1935, “An Nam Phật Học Hội tại Campuchia” chính thức thành lập, văn phòng tại chùa Sùng Phước [5, tr.112].

Tháng 3 năm 1936, chùa Sùng Phước được bác sĩ Lê Văn Giảng cùng mọi người cải sửa thành tu viện Theravāda và gia nhập Giáo hội Phật giáo Campuchia [5, tr.127]. Trở thành trung tâm Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam tại Campuchia, đào tạo Tăng tài, ấn tống Kinh sách, tạp chí, lưu giữ và nghiên cứu Kinh tạng ngôn ngữ Pāḷi, Pāḷi–Miên, Anh, Pháp, Hán, Việt, Miên. Các sư Cả Thạnh, sư Tuệ Báu, sư Lê Khanh và Nguyễn Phát Phước phụ trách nghi lễ, nghi thức. Tổ chức tu tập Tam quy, Ngũ giới, Bát quan trai giới, tham thiền, kinh hành, thuyết pháp vào các ngày rằm mùng 1 và 16 âm lịch cho cộng đồng người Việt…Trụ trì viên tịch, Tỳ khưu Hộ Tông kế thừa rồi bàn giao sư Cả Thạnh tiếp nối cho đến khi bị sát hại… Nhờ có chùa Sùng Phước tại Campuchia các tín đồ Việt kiều có nhiều cơ hội hiểu rõ Phật giáo Nguyên thủy. Bậc sơ tổ xuất gia Phật giáo Nguyên thủy cũng từ ngôi chùa này. Đây chính là điểm hoằng pháp Phật giáo Nguyên thủy đầu tiên của người Việt tại Campuchia, nhờ đó du nhập Chánh pháp về Việt Nam có nhiều thuận lợi, đạt nhiều thành tựu về sau.

Đó chính là những tiền đề dẫn đến thành lập Giáo hội Tăng già như đã kể trên. Có thể phân chia Giáo hội Tăng Già Nguyên thủy Việt Nam thành 5 giai đoạn. Giai đoạn tiền đề (1928–1957) như trên đã nói. Đây chính là giai đoạn cực kỳ quan trọng khai sinh một hệ phái đã làm nên kỳ tích tưởng chứng như không thể. Giai đoạn 1955–1963; Giai đoạn 1963–1967; Giai đoạn 1967–1981; Giai đoạn 1981–nay (2014).

3. Giai đoạn 1955–1963 thành lập Hội Phật giáo Nguyên Thủy Việt Nam (Theravada) ở Đà Nẵng

Để có thành lập được Giáo hội Tăng Già Nguyên thủy Việt Nam thì vai trò hộ pháp của nhóm thiện nam Nguyễn Văn Hiểu cực kỳ quan trọng. Chính tín đồ Nguyễn Văn Hiểu, Văn Công Hương, Nguyễn Văn Quyến….đã dầy công thúc đẩy thành lập Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam.

 Tại miền Trung, Trung phần, Ngài Giới Nghiêm và các tín đồ nòng cốt Hà Thúc Diếu, Vĩnh Cơ…đệ đơn xin lập Hội Phật giáo Nguyên Thủy Việt Nam. Ngày 21-10- 1955 ông Nguyen Đon Duyen, tòa đại biểu chính phủ tại Trung Việt, Huế duyệt y bởi nghị định số 3716-ND-PC, cho phép Hội Phật giáo Nguyên Thủy Việt Nam có trụ sở tại Đà Nẵng được phép thành lập, hoạt động toàn lãnh thổ Trung Việt. Trong Điều lệ, gồm 9 chương 19 điều chương thứ nhất ghi:

Danh hiệu: Hội lấy danh hiệu là Hội Phật Giáo Nguyên Thủy Việt Nam.” Mục đích “…Hội Phật Giáo Nguyên Thủy Việt Nam là hiệp nhứt tất cả Tín Đồ Phật Giáo Nguyên Thủy thành một đoàn thể duy nhất, không phân biệt giai cấp, già trẻ, trai gái, để cùng nhau tu tập duy trì chánh pháp…lấy Tam Tạng PALI là Kinh Luật Luận của Đức Phật Thích Ca Mưu Ni làm nền tảng…..không tham gia vào công việc có tánh cách chính trị.

Chương thứ hai gồm điều thứ IV, điều thứ V: Thời hạn–Phạm vi hoạt động. Điều thứ V ghi “…hoạt động không thời hạn…trong toàn lãnh thổ Trung Việt”

Ban sáng lập và dự thảo điều lệ gồm:

Chánh Hội trưởng: Vĩnh Cơ, Thương gia, Hội đồng thành phố; 2. Nguyễn Ngô Riển, chủ sự cơ xưởng hỏa xa Đà Nẵng, Phó Hội trưởng; 3. Tôn Thất Thiệp, Chánh thơ ký, công chức Việt Nam công thương ngân hàng; 4. Đoàn Ngọc Châu, công chức hỏa xa, nghi lễ; 5. Trịnh Đỗ Hách, Thầu khoán Đà Nẵng, kiểm soát; 6. Lê Văn Thừa, nhân viên hỏa xa; 7. Hà Thúc Diếu, y tá bệnh Đà Nẵng, tài chánh kiêm thủ quỹ; 8. Phan Văn Toán, thương gia Đà Nẵng, kiểm soát; 9. Trần Hải, nhân viên hỏa xa, nghi lễ. [3, tr.5].

3.1. Hội Phật giáo Nguyên Thủy Việt Nam (Theravada) thành lập ở Sài Gòn
Ngày 10-06-1956, nhóm tín đồ ông Nguyễn Văn Hiểu soạn thảo nội quy, điều lệ, đơn xin thành lập Hội Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam gửi chính quyền Ngô Đình Diệm. Đến 14-05-1957 chính quyền Ngô Đình Diệm phê duyệt cho phép thành lập Hội Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam hoạt động theo quy chế các hiệp hội Đạo dụ số 10 do vua Bảo Đại ký ngày 6-8-1950. Theo Đạo dụ này các tôn giáo khác chỉ được xem xét công nhận là Hiệp hội trừ giáo hội Công giáo có điều khoản riêng.

Điều lệ Hội Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam gồm 10 chương 40 điều. Trong đó, Chương Nhứt, điều thứ 1 ghi: Hội có danh hiệu: “HỘI PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY VIỆT NAM (THERAVADA)”.

 Điều thứ 2, tôn chỉ của “Hội Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam (Theravada) là hành đạo đúng theo Chánh Pháp của Phật Tổ Thích Ca chơn truyền có ghi chép trong Tam Tạng Pháp Bảo bằng Phạn Ngữ (Pali)”; Mục đích của Hội “Đoàn kết trong các hàng Phật tử để dìu dắt và hỗ trợ nhau trong việc tu hành, phổ biến Phật Pháp đặng tránh những điều mê tín dị đoan, đem lại sự yên vui cho mình và cho tất cả mọi người”.

Điều thứ 3, “Trụ sở của Hội Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam đặt tại thủ đô Sài Gòn và tạm thời tại Kỳ Viên Tự (Jetavana Vihàra) số 610 Phan Đình Phùng Sài Gòn” [3, tr. 5].

 Sau đó dời về Phúc Tuệ Tịnh Môn, số 491/12 Phan Đình Phùng, Sài Gòn và hoạt động Phật sự cho đến ngày…”[9, tr.47].

Ban sáng lập Hội và dự thảo Bản Điều lệ gồm:

1.      Ô. NGUYỄN VĂN HIỂU, công chức Sở Công chánh hồi hưu, cư ngụ tại số 8 đường Phan Đình Phùng, Gia Định.
2.      Ô. TRƯƠNG VĂN HUẤN, giáo sư Trường Trung học Pétrus Ký, cư ngụ tại trường Pétrus Ký, Sài Ggòn.
3.      Ô. TRẦN VĂN CẦM, Phó chủ sự văn phòng Ty Ốc lộ và Kiến thiết Hỏa xa Việt Nam, cư ngụ tại số 132 đường Bùi Thị Xuân, Sài Gòn.
4.      Ô. TRẦN VĂN NHÂN, Thư ký tại văn phòng ông Phó Đô trưởng Sài Gòn, cư ngụ tại số 30/2 đường Ngô Thời Nhiệm, Sài Gòn.
5.      Ô. TRẦN VĂN NHƠN, Thư ký tại phòng Thống kê Tổng Nha Công Thuế và Công Quản, cư ngụ tại số 51/6B đường Cao Thắng, Sài Gòn.
6.      HUỲNH CÔNG YẾN, Thư ký Nha Thương cảng Sài Gòn, cư ngụ tại số 65/7 đường Phát Diệm, Sài Gòn.
7.      Cụ ĐẶNG VĂN CHẤT, Giáo viên Trường Trương Minh Ký, cư ngụ tại số 355/17A đường Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn.
8.      Cụ ĐÀNG VĂN NGỘ, Giáo viên Trường Trương Minh Ký, cư ngụ tại số 371/252 đường Phan Đình Phùng, Sài Gòn [3, tr.15].

Từ đó các tín đồ Hội Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam (Theravada) chính thức hoạt động, có tư cách pháp nhân, pháp lý.

Ngoài ra Hội Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam (Theravada) còn ban hành Nội quy Hội Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam nhằm mục đích “ấn định những chi tiết về sự hoạt động của Hội và những kỷ luật căn bản về sự thực hành của Hội viên” [10, tr.19].

 Nội quy chia ra hai phần.

Phần nhứt có hai chương. Chương A tóm lượt định nghĩa của những danh từ thường dùng để giúp cho hàng Phật tử sơ cơ có một quan niệm rõ rệt về Phật giáo Nguyên thủy. Chương B giảng giải thêm những nghi thức thờ cúng, quy y, thọ giới và những phận sự trọng yếu của người cư sĩ.

Phần nhì là phần chủ yếu của nội quy gồm có 5 chương 41 khoản sau đây:

Chương I - Mối liên quan giữa Tăng và tín đồ.
Chương II - Nhiệm vụ, quyền hạn của các Ban Quản trị và Thường trực.
Chương III - Thể thức lập chi hội.
Chương IV - Phận và quyền hạn của hội viên.
Chương V - Tương trợ hội viên, công tác từ thiện.

Tóm lại, Điều lệ, nội quy Hội Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam đề cập đến sinh hoạt của các tín đồ hội viên với nội dung lành mạnh, hoạt động thuần túy theo giáo lý Nguyên thủy (Theravàda).

Sau khi hai Hội Phật giáo Nguyên Thủy Việt Nam Trung phần (trụ sở Đà Nẵng) và Sài Gòn thành lập thì đó chính là động lực thúc đẩy thành lập Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam. Trước đó, nhóm tín đồ ông Nguyễn Văn Hiểu đề nghị chưa được vì các bậc khai sáng chưa muốn lập hội, chỉ muốn tu hành chứng thành đạo quả, cứu độ chúng sinh mà thôi. Tuy nhiên, trước quyết tâm thành lập giáo hội Tăng già nhằm đem duyên lành Chánh pháp đến chúng sinh bằng việc thành lập Tổng hội ở Đà Nẵng và Tổng hội cư sĩ ở Sài Gòn, các bậc khai sáng liền chấp thuận thành lập giáo hội Tăng già.

3.2. Sự thành lập Giáo hội Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam (Theravàda)
Cuối năm 1957, nhóm tín đồ ông Nguyễn Văn Hiểu thỉnh mời chư Tăng từ Campuchia, Lào sang Việt Nam dự lễ sám hối, tất niên, cầu nguyện quốc thái dân an. Đồng thời, bầu Ban Chưởng Quản tạm thời nhằm soạn thảo điều lệ, đơn từ chuẩn bị thành lập Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam chính thức. 14g ngày 15-01-1957 tại chánh điện chùa Kỳ Viên, 610 Phan Đình Phùng, Sài Gòn, Chủ tọa, Thiền Sư Bửu Chơn, sư Kim Quang, thư ký và 22 vị Tỳ khưu bỏ thăm kín, kết quả đắc cử sau:

1. Tăng Thống: Tỳ khưu Bửu Chơn; 2. Phó Tăng Thống I: Tỳ khưu Thiện Luật; 3. Phó Tăng Thống II: Tỳ khưu Hộ Tông; 4. Tổng Thư ký: Tỳ khưu Kim Quang; 5. Phó Thư ký: Tỳ khưu Giới Nghiêm; 6. Cố Vấn I: Tỳ Kheo Tối Thắng; 7. Cố Vấn II: Tỳ khưu Giác Quang [1].

Ngày 20-02-1957 Ban Chưởng Quản tạm thời gồm các ông Phạm Văn Tông, Đoàn Văn Hộ, Lê Văn Giảng, Ngô Văn Sáu, Nguyễn Đình Trấn, Mã Văn Hiền và Dương Văn Thêm đệ “…đơn xin phép thành lập một Hiệp Hội lấy tên là Giáo hội Tăng già Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam” [2, tr.1]. “…Ngày 18-12-1957 Bộ Trưởng Nội vụ ôn Vũ Tiến Huân thừa lệnh Tham Lý Nội An đóng dấu ký duyệt cho Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam hoạt động theo đạo dụ số 10” [2, tr.1].

Giáo Hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam (Theravada), sinh hoạt theo điều lệ gồm 8 chương 29 điều. Trong đó, chương nhứt gồm 3 điều: 1, 2, 3 quy định Danh Hiệu, Tôn Chỉ và Mục Đích, Trụ Sở. Điều thứ 1 quy định:

“…lấy danh hiệu là GIÁO HỘI TĂNG GIÀ NGUYÊN THỦY VIỆT NAM (THERAVADA)”. Điều thứ 2 quy định tôn chỉ “…hành đạo đúng theo Chánh pháp, có tam y, quả bát, giữ đúng giới luật của Phật tổ Thích CaMục đích…đoàn kết tất cả Chư Tăng Việt Nam thành một đoàn thể duy nhứt để bảo tồn và phổ thông Phật pháp

Điều thứ 3 ghi: Trụ sở của Giáo Hội tạm đặt tại KỲ VIÊN TỰ (JETAVANA VIHÀRA), số 610 đường Phan Đình Phùng–Sài Gòn” [2, tr.3].

 Chương hai, điều 4 ghi“…được hoạt động vĩnh viễn trên khắp lãnh thổ Việt Nam.” [2, tr.3].

Chương ba quy định Hội Viên, Hệ Thống giáo Hội, Nhiệm vụ, bao gồm 5 điều từ điều 5 đến điều 10.

Chương tư quy định Vào Giáo Hội, Xin Ra, Trục Xuất.Chương tư từ điều 11 đến điều 14.

Chương năm gồm điều 15 quy định Chương Trình Hoạt Động Của Giáo Hội.

Chương sáu từ điều 16 đến điều 19 nói về nhóm Ban Chưởng Quản, Nhóm Đại Hội.

Chương bảy quy định Khuôn Dấu, Giấy Chứng Nhận Xuất Gia Của Hội Viên, bao gồm điều thứ 20 đến điều thứ 22.

Chương tám từ điều thứ 23 đến điều thứ 29 quy định về Thi Hành Điều Lệ Thay Thế Trong Ban Chưởng Quản, Giải Tán.

Bên cạnh bản điều lệ Giáo Hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam (Theravada) được ban hành còn có bản nội quy gồm 27 khoản, làm tại Sài Gòn ngày 12-7-1958. Trong đó, gồm nhiều mục như: Đối với Phật Bảo, Pháp Bảo, Tăng Bảo, Chánh quyền, Xã hội và đối với Tín đồ.

Trong nội quy, phần đối với Phật Bảo khoản 1 ghi rõ: “Chỉ thờ phụng đức Phật tổ Thích Ca Mâu Ni, có đắp Y Cà Sa”. Khoản 12 ghi “Ban Chưởng Quản Giáo Hội Tăng Già phải là người có quốc tịch Việt Nam và thông thuộc tiếng Việt Nam”. Khoản 12 “đọc kinh theo giọng Nam Phạn Pali (Ấn Độ)” [11].

3.3. Hệ thống tổ chức Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam
Như trên chúng tôi vừa trình bảy để thành lập được Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam thì các tín đổ nòng cốt của giáo hội phải thành lập trước Tỉnh hội tại Đà Nẵng và Tổng hội cư sĩ tại Sài Gòn. Đây chính là động lực thúc đẩy chư Tăng Nam tông tiến hành thành lập Giáo hội Tăng già vì chư Tăng chỉ muốn tu hành theo Chánh pháp, các tín đồ trước đó nhiều lần thỉnh cầu nhưng chưa được chư Tăng chấp thuận.

Chúng ta thấy Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam có 2 tổ chức cùng song song tồn tại. Một của Tổng hội Cư sĩ có vai trò hộ trì Tam Bảo, một của chư Tăng. Tuy nhiên, tuy hai mà một, cả hai tổ chức phối hợp nhịp nhàng, ăn ý, không cản trở nhau trên con đường giải thoát, dựa vào nhau, hành đạo và hộ trì, tạo tiền đề đột phá, phát triển vượt bậc.

Về Hệ thống tổ chức của Tổng hội cư sĩ tại Đà Nẵng là: “công việc quản trị của Hội do một Ban Quản trị Trung ương Tổng hội tạm đặt trụ sở tại Đà Nẵng và những Ban Quản Trị cấp tỉnh, thành đặt tạị tỉnh thành, Ban Quản trị Chi Hội đặt tại xã, thôn ở Trung Việt”.

“Ban quản trị Trung Ương Tổng hội gồm:
1 vị Pháp chủ; 2 vị cố vấn tinh thần; 1 Hội trưởng; 1 Phó Hội trưởng; 1 Tổng thơ ký; 2 Kiểm soát; 1 thủ quỹ; 2 liên lạc và lễ nghi.

Ban Quản trị cấp Tỉnh, Thành gồm:
1 vị cố vấn tinh thần; 1 Hội trưởng; 1 Phó Hội Trưởng; 1 Tổng Thơ ký; 1 Phó Thơ ký; 1 Thủ Quỹ; 1 Liên Lạc và Lễ Nghi; 1 Kiểm Soát

Ban Quản Trị Chi Hội gồm có:
1 vị Cố Vấ tinh thần; 1 Chi Trưởng; Thư Ký; 1 Thủ Quỹ; 1 Liên Lạc và Lễ Nghi; 1 Kiểm Soát (Chương năm điều XI)

Hội đưa ra chương trình hành động sau:
1.        …Xuất bản tờ Nguyệt San Phật Pháp…; 2...Lập ban Thanh Thiếu Niên Phật tử ở Tổng Hội để phụng sự Tam Bảo…; 3… Lập Ban Tương tế Cứu tế, giúp đồng bào nghèo khó, bố thí, mở các cô nhi viện…4. …Lập Ban Văn Hóa, mở Phật học đường, mở thư viện… 5.…Lập Ban Kiến Thiết và Kế Hoạch… xây dựng chùa tháp…” [4, tr 2-3-4].

Điều lệ Hội Phật giáo Nguyên Thủy Việt Nam Trung phần gồm 9 chương 19 điều.

Chương thứ nhất quy định Danh hiệu–Mục đích và Trụ sở của Hội.

Chương thứ hai gồm điều thứ IV, điều thứ V: quy định Thời hạn–Phạm vi hoạt động.

Chương thứ ba nói về Thể thức vào Hội, ra Hội và khai trừ khỏi Hội. Chương thứ ba có điều thứ VI, VII, VIII.

Chương thứ tư quy định Nghĩa vụ và quyền lợi của Hội viên, gồm điều thứ IX, X.

Chương thứ năm từ điều thứ XI, XII, XIII, XIV, XV, quy định Việc quản trị của Hội.

Chương thứ sáu: gồm điều thứ XVI nói về Chương trình hành động của Hội.

Chương thứ bảy chỉ có điều thứ XVII nói về Tài sản–Động sản và bất động sản.

Chương thứ tám quy định Thay đổi điều lệ: điều thứ XVIII.

Chương thứ chín nói về Giải tán Hội: điều thứ XIX.

Về Hệ thống tổ chức của Tổng hội cư sĩ tại Sài Gòn gồm: Tổng hội, Tỉnh hội và Chi hội. Điều hành Tổng hội cư sĩ gồm Ban Quản trị trung ương. Tỉnh hội và Chi hội cũng điều hành với cơ cấu tương tự là Ban Quản trị. Mỗi nhiệm kỳ 2 năm được bầu cử bằng cách bỏ thăm kín.

Chương năm từ điều 12 đến điều 17 nói về Tổ Chức Việc Quản Trị. Điều 12 quy định:

1 Hội trưởng; 2 Phó hội trưởng; 1 Tổng thư ký; 2 Phó thư ký; 1 Thủ quỹ; 2 Phó thủ quỹ; 1 Cố vấn; 2 Kiểm soát viên; 1 Đại diện của mỗi Tỉnh hội (nếu có)” [3, tr.9].

“Trong giai đoạn 1957–1958 Ban Quản trị trung ương gồm:

1.      Hội trưởng Nguyễn Văn Hiểu.
2.      Phó hội trưởng I Đặng Văn Ngộ.
3.      Phó hội trưởng II Văn Công Hương.
4.      Tổng thư ký Trần Văn Cầm.
5.      Phó tổng thư ký I Đặng Văn Chất.
6.      Phó tổng thư ký II Nguyễn Hạp.
7.      Thủ quỹ Đoàn Văn Hai.
8.      Phó thủ quỹ Huỳnh Công Yến.
9.      Phó thủ quỹ Ngô Vi Thụy.
10.  Cố vấn Trần Văn Nhân.
11.  Kiểm soát Tôn Thất Thiệp” [3, tr.15].

Điều lệ Hội Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam gồm 10 chương 40 điều. Trong đó, Chương Nhứt nói về Danh Hiệu, Tôn Chỉ, Mục Đích và Trụ Sở. Chương Nhứt bao gồm từ điều 1 đến điều 3.

Chương hai từ điều 4 đến điều 7 quy định về Thời Hạn, Phạm vi Hoạt Động và Chi Hội. Trong đó:

Điều 4: Hội Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam (Theravada) được hoạt động vĩnh viễn trên khắp lãnh thổ quốc gia Việt Nam.

Chương ba từ điều 8 đến điều 10 quy định về Điều Kiện Gia Nhập Hội; Thôi Hội; Khai Trừ.

Chương tư gồm điều 11: Nghĩa Vụ và Quyền Lợi của Hội Viên.

Chương sáu gồm 6 điều, từ điều 16 đến điều 23, trong đó quy định về Tài Chánh, Động sản, Bất động sản, Chi Tiêu của hội.

Chương bảy gồm điều 24 quy định Chương Trình Hoạt Động của Hội.

Chương tám từ điều 25 đến điều 34 quy định Nhóm Ban Quản Trị, Nhóm Đại Hội, Thủ Tục Đề Nghị và Biểu Quyết.

Chương chín từ điều 35 đến điều 38 quy định sửa đổi điều lệ, Thay Thế Trong Ban Quản Trị.

Chương mười quy định Giải Tán, Thanh Toán gồm điều 39, điều 40.

Về Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam: Căn cứ vào điều lệ, hệ thống tổ chức Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam bao gồm Giáo hội trung ương và Tỉnh hội (Chương bảy). Cơ sở cuối cùng của hệ phái là chùa, niệm Phật đường, Phật học viện, thiền viện. Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam được điều hành bởi Ban Chưởng Quản chính thức, bao gồm1 Tăng thống; 2 Phó Tăng thống; 1 Tổng thơ ký; 1 Phó thơ ký; 2 cố vấn.

Nhiệm kỳ đầu tiên của Ban Chưởng Quản là 4 năm (1958–1961), đến nhiệm kỳ thứ hai trở đi chỉ còn hai năm.

Sau khi chính quyền cho phép thành lập giáo hội, 14g ngày 12-7-1958, Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam Đại hội bầu Tăng Thống và Ban Chưởng Quản chính thức. Kết quả Tăng Thống nhiệm kỳ đầu tiên, niên khóa 1958–1961:

 “Đại đức Hộ Tông đắc cử Tăng Thống.
Đại đức Bửu Chơn đắc cử Phó Tăng Thống nhứt.
Đại đức Thiện Luật đắc cử Phó Tăng Thống nhì.
Đại đức Kim Quang đắc cử Tổng Thư ký.
Đại đức Giới Nghiêm đắc cử Phó thư ký.
Đại đức Tối Thắng Cố Vấn.
Đại đức Giác Quang Cố Vấn “[1].

Tuy nhiên, đến nhiệm kỳ thứ 2, đời Tăng Thống thứ 2 năm 1962 điều 7 điều lệ Giáo Hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam (Theravada) được sửa đổi và Đại hội đồng Chưởng Quản họp ngày 25-2-1962 chấp thuận thông qua. Bản sửa đổi điều lệ được chính quyền duyệt y ngày 8-5-1962 do Bộ trưởng Nội vụ Bùi Văn Lương ký.

Ở điều 7 bản sửa đổi Ban Chưởng Quản từ 2 vị Phó Tăng Thống giảm chỉ còn 1 vị. Từ 1 vị Phó Thư ký tăng lên 2 vị. Có điểm mới là có thêm 2 vị Kiểm soát, kèm thêm quy định đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của kiểm soát.

Mỗi nhiệm kỳ được bầu cử bằng cách bỏ thăm kín, Chư Tăng lãnh đạo Giáo hội Trung ương tín nhiệm, liên tục được đề cử, trúng cử và chư vị đã lèo lái Giáo hội ngày càng phát triển. Sau khi tổ chức giáo hội Trung ương đại hội chọn Ban Chưởng Quản mới ở mỗi nhiệm kỳ xong thì toàn bộ hệ thống tổ chức Tỉnh hội cho đến trụ trì các ngôi chùa cũng được thuyên chuyển sang chùa khác. Hoặc tiếp tục điều hành hoạt động ở Tỉnh hội và ở chùa trong hệ thống tổ chức giáo hội nhằm đóng góp những gì tốt đẹp nhất cho đời và Đạo.

Ban Chưởng Quản đưa ra chương trình hoạt động như:

“a. Giáo hội được quyền mở trường dạy về Phật giáo, ấn tống Kinh, Sách và Tạp chí; b. Giáo hội được phép mở các Tỉnh hội; c. Tổ chức những Ban phụ trách Tổ chức việc Giáo Huấn, Phiên dịch, Giám luật, Nghi lễ, Thiền định. Mỗi Ban sẽ đặt dưới quyền điều khiển của một Trưởng ban.

Trưởng ban giáo huấn đảm nhiệm việc mở trường dạy Phạn ngữ (Pali), soạn thảo chương trinh học tập và huấn luyện Pháp sư.

Trưởng ban Hoằng pháp chuyên lo soạn chương trình thuyết pháp, ấn tống Kinh, Sách, xuất bản Tạp chí.

Trưởng ban phiên dịch có nhiệm vụ dịch Tam tạng Pali ra Việt Văn và kiểm duyệt các loại Kinh, Sách và Tạp chí xuất bản.

Trưởng ban Giám luật có nhiệm vụ thẩm xét, lập biên bản những vụ phạm giới, hay những vi phạm về điều lệ và nội quy của giáo hội để phúc trình lên Ban Chưởng Quản quyết định.

Trưởng ban nghi lễ có nhiệm vụ:
a/. Soạn thảo nghi thức cho Tăng đồ và tín đồ.
b/. Tổ chứ các cuộc lễ.

Trưởng ban Thiền định có nhiệm vụ chỉ giáo Pháp thiền định cho Tăng đồ và tín đồ ” (Chương năm) [2, tr.11].

 Như vậy, Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam thành lập ngày 18-12-1957 hoạt động đến 7-11-1981 kết thúc vai trò lịch sử 24 năm vẻ vang, đầy thách thức của mình. Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam cùng 8 thành viên khác thành lập ngôi nhà chung năm 1981: Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam tổng cộng 9 nhiệm kỳ Tăng Thống. Trong 9 nhiệm kỳ, chư Tăng Nguyên Thủy luân phiên đắc cử Tăng Thống như quý Ngài Hộ Tông, Bửu Chơn, Giới Nghiêm, Ẩn Lâm. Chức vụ Phó Tăng Thống: Hòa Thượng Thiện Luật, Hòa Thượng Bửu Chơn, Tối Thắng, Hộ Tông, Siêu Việt cũng xứng đáng luân phiên đắc cử trong 9 nhiệm kỳ. Đặc biệt, trong trong 9 nhiệm kỳ, quý Ngài như Thượng Tọa. Kim Quang, Pháp Tri, Pháp Siêu, Thiện Căn, Thiện Dũng, Giác Minh, Thiện Tâm và Viên Minh đắc cử chức vụ tổng thư ký Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam.

3.4. Vấn đề tu nữ Phật giáo Nam tông Kinh
Từ năm 1945 chùa Bửu Quang, Thủ Đức bắt đầu tiếp nhận tu nữ xuất gia theo truyền thống Phật giáo Nam tông. Tu nữ đầu tiên có pháp danh Diệu Đáng. Tu nữ Diệu Đáng thông thạo tiếng Anh, Pháp, Campuchia, Myanmar, tốt nghiệp cử nhân Phật học tại Myanmar. Tu nữ Diệu Đáng xuất gia tại Campuchia, ít lâu sau về chùa Bửu Quang, Việt Nam thành lập hội chúng tu nữ Phật giáo Nam tông đầu tiên. Từ đó trở đi, hội chúng tu nữ thành lập tại các chùa Bửu Long (quận 9), chùa Giác Quang (quận 8), chùa Tam Bảo (Đà Nẵng)...

 Từ 1957–1981, Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam cấp giấy chứng nhận tu nữ xuất gia theo truyền thống Phật giáo nguyên thủy Việt Nam. Nhiều tu nữ thời kỳ đầu tiên vẫn còn tu học tại chùa Bửu Quang như tu nữ Diệu Ngọc 99 tuổi, người cao tuổi nhất là tu nữ Diệu Chí 102 tuổi. Đến nay chùa Bửu Quang vẫn duy trì khoảng 40 tu nữ tu học, khoảng 400 tu nữ tu học tại các chùa, thiền viện thuộc hệ phái Nam tông Kinh từ Thừa Thiên–Huế đến các tỉnh miền Tây.

Từ 1957–1981, tu nữ Phật Giáo Nam Tông có tính pháp lý cao, có hệ thống tổ chức tốt, do họ trực thuộc Giáo hội Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam quản lí, nhiều vị tu nữ được cử du học nước ngoài.

Từ năm1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành lập, tu nữ Phật Giáo Nam Tông không được công nhận trong hệ thống tăng đoàn của Giáo hội, lý do họ chưa phải là tỳ khưu ni. Dù bị thiệt thòi, hạn chế nhiều mặt nhưng quý tu nữ vẫn tu học chăm chỉ, không yêu sách, không đòi hỏi Giáo hội tính pháp lý. Năm 2000, Giáo sư Tiến sĩ Lê Mạnh Thát (Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh) chủ trương ai có bằng tốt nghiệp phổ thông trung học, có dự thi, trúng tuyển được nhập học tại Học viện. Từ đó, Học viện Phật giáo Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh được quý cô tu nữ Phật giáo Nam tông Kinh học ngày càng đông. Nhiều tu nữ du học nước ngoài bảo vệ luận văn, luận án tiến sĩ tại Thái Lan, Myanmar….

Tại Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nhiệm kì VI (2007-2012), do tập thể trụ trì các chùa Phật Giáo Nam tông Kinh đồng ký tên kiến nghị nên Ban Tăng sự trung ương đã công nhận tu nữ Phật giáo Nam tông là thành phần xuất gia trong hệ phái Phật giáo Nam Tông Kinh nói riêng, trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam nói chung.

Năm 2009, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ban Tăng sự trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành lập Phân Ban đặc trách Ni giới trực thuộc. Tu nữ Siêu Pháp (Tổ đình Bửu Quang, TP.HCM) đại diện Ni giới Phật giáo Nam tông đọc bài tham luận nhân ngày lễ tuyên bố thành lập Phân Ban đặc trách Ni giới. Sau lễ tuyên bố, Phân Ban đặc trách Ni giới thành lập 10 tiểu ban, trong đó có đại diện tu nữ Phật giáo Nam Tông. Tại Hội nghị nữ giới Phật giáo thế giới (SakyaDhita), hay còn gọi là “Hội nghị những người con gái của Đức Phật” lần thứ 11 diễn ra từ ngày 28-12-2009 đến 3-1-2010 tại Nhà Truyền thống Văn Hoá thành hội Phật giáo TP.Hồ Chí Minh, chùa Phổ Quang, quận Tân Bình, TP.Hồ Chí Minh. Các tiểu ban đều có đại diện tu nữ Phật giáo Nam tông. Đặc biệt trong hội nghị này, tu nữ Diệu Định (Thiền viện Phước Sơn) đại diện 400 tu nữ Việt Nam (Phật giáo Nam tông Kinh) trình bày tham luận và được chọn in trong kỷ yếu của hội nghị bản tiếng Việt, tiếng Anh.

Cuối tháng 5–2012, tại Hà Nội,Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức hội nghị tu chỉnh hiến chương chuẩn bị hội nghị Phật giáo toàn quốc lần thứ VII. Trong hội nghị, Hòa thượng Đào Như (Cần Thơ), Đại đức Sơn Ngọc Huynh (Vĩnh Long) và Thượng tọa Pháp Chất (TP.HCM) trình bày tham luận kiến nghị Trung ương Giáo hội việc cấp giấy chứng nhận xuất gia cho tu nữ Nam tông để quý tu nữ có đủ pháp lý tu học và hoằng pháp.

Hiện nay, do hội chúng tu nữ Phật giáo Nam tông chưa có tự viện riêng nên còn rất yếu, sinh hoạt tu tập rất hạn chế. Tại Cần Thơ chỉ có duy nhất chùa Siêu Lý là chùa tu nữ Phật giáo Nam tông. Vĩnh Long có chùa Như Pháp tạo lập năm 2010. TP.Huế có chùa Kiều Đàm Di Mẫu, tách ra từ chùa Thiền Lâm. Ở TP.HCM có chùa Diệu Quang, tại các chùa Nam tông Kinh như Tổ Đình Bửu Quang, Tổ Đình Bửu Long,Thiền viện Phước Sơn, Đồng Nai, Ni viện có khu vực riêng cho quý tu nữ xuất gia tu học nhưng còn thiếu thốn nhiều về cơ sở hạ tầng.

Mặc khác, quý cô tu nữ cần nỗ lực tu học, tham gia các hoạt động hoằng pháp, viết sách, dịch kinh, góp phần phát triển hội chúng tu nữ Phật Giáo Nam Tông Kinh. Đồng thời cần xây dựng thêm nhiều chùa tu nữ Nam tông trên cả nước, đặc biệt là vùng Tây Nguyên, Tây Bắc, Hà Nội… cần có chùa của hệ phái nhằm đem duyên lành, đời sống tâm linh đến đồng bào các tỉnh thành. Lập thêm nhiều đạo tràng Phật tử Nam tông, giảng dạy giáo lý Phật giáo, dạy pháp tu thiền Tứ Niệm Xứ.

4. Giai đoạn 1963–1967 Phật giáo Nam tông Kinh đồng hành cùng dân tộc

4.1. Năm 1963 Phật giáo Nam tông Kinh tranh đấu vì tự do tín ngưỡng
Sau Hiệp định Genève (1954), Ngô Đình Diệm về miền Nam làm thủ tướng bù nhìn. Chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện chính sách độc tài, “giáo trị” và kỳ thị tôn giáo đối với Phật giáo trên tất cả các lĩnh vực, từ tư tưởng–chính trị đến kinh tế–xã hội và văn hóa–giáo dục từ năm 1955 đến 1963.

Hệ phái Phật giáo Nam tông Kinh từ khi du nhập vào Sài Gòn năm 1938, Phật lịch 2482 cũng không thoát khỏi chính sách kỳ thị tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm. Đỉnh điểm của chính sách kỳ thị là công điện 9195 triệt hạ cờ Phật giáo ngày 6- 5-1963 làm “giọt nước nước tràn ly”, phong trào tranh đấu của Phật giáo Việt Nam bùng nổ mạnh mẽ, quyết liệt. Trong phong trào tranh đấu của Phật giáo Việt Nam năm 1963, hệ phái Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam ngay từ đầu đã tham gia cùng tranh đấu tích cực cho đến khi chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, thành lập Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất cuối năm 1963 đầu năm 1964.

Tại buổi lễ Phật đản tại chùa Từ Đàm (Huế) sáng ngày 15-4-1963, Phật lịch 2507, chư Tăng các chùa Phật Giáo Nguyên thủy Việt Nam: Hộ Nhẫn, Pháp Quang, Tịnh Sự… đã nhiệt tình dự lễ.

Ngày 10-5-1963 chùa Từ Đàm (Huế) tổ chức mít tinh công bố năm nguyện vọng, các nhà sư Phật Giáo Nguyên thủy Việt Nam hưởng ứng nhiệt liệt bản tuyên ngôn của Tổng hội Phật Giáo.

Ngày 15-5-1963, Tỳ khưu Dũng Chí (TS Thái Văn Chải) đại diện Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam cùng phái đoàn Phật giáo vào hội kiến Tổng Thống Ngô Đình Diệm yêu cầu giải quyết 5 nguyện vọng của Phật Giáo.

Ngày 25-5-1963 Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật giáo tuyên bố thành lập. Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam, Hội Phật Giáo Nguyên Thủy Việt Nam đã tích cực cùng Tổng hội Phật giáo tranh đấu quyết liệt. Cử các thành viên thường trực để kịp thời đóng góp ý kiến trong “Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật giáo” như Ngài Pháp Tri, Dũng Chí…Đó là chưa kể Tỳ khưu Bửu Chơn tham gia Ban Chứng Minh, Tỳ khưu Giới Nghiêm làm Phó Chủ tịch ủy ban; Tỳ khưu Hộ Giác, Tỳ khưu Bửu Phương tham gia Ban Đối ngoại và phát ngôn. “Tỳ khưu Pháp Tri sang Campuchia vận động Chính phủ, nhân dân và Phật giáo Campuchia ủng hộ phong trào tranh đấu của Phật giáo Việt Nam” [17, tr.784].

Tại chùa Xá Lợi ngày 30-5-1963, hơn 400 chư Tăng tuyệt thực“bất bạo động”. Trong đó, có bốn mươi nhà sư Phật Giáo Nguyên thủy, biểu thị sự ủng hộ tuyệt đối đường lối tranh đấu của Tổng hội Phật giáo. Tỳ khưu Tối Thắng, cố vấn 1, Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam động viên chư Tăng tuyệt thực tại chùa Xá Lợi.

Tại chùa Tam Bảo, Đà Nẵng, vì mục đích công bằng, tự do tín ngưỡng tôn giáo nên đông đảo chư Tăng chấp hành nghiêm giáo huấn của tổng điều hành Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam tại Trung phần, tham gia ủng hộ đường lối tranh đấu của Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật giáo.

Ngày 18-08-1963, thực hiện lời kêu gọi của lãnh đạo Phật giáo, các tín đồ tập trung tại chùa Xá Lợi làm lễ cầu siêu cho những Phật tử vì Đạo pháp trên toàn miền Nam để phản đối chính sách của chính phủ Nam Việt Nam. Tỳ khưu Bửu Phương cầm giáo kỳ dẫn đầu thể hiện sự quyết tâm tranh đấu của Phật giáo nguyên thủy Việt Nam.

Cùng ngày, tại chùa Tam Bảo 119c Phan Châu Trinh, Đà Nẵng, Ngài Giới Nghiêm lãnh đạo chư Tăng Phật giáo Nguyên thủy cùng ba cấp trị sự Phật giáo Đà Nẵng cầu siêu cho những Phật tử vì Đạo pháp, sau đó diễu hành từ chùa Tỉnh hội qua đường Hoàng Diệu, Chu Văn An, Phan Châu Trinh đến chùa Tam Bảo [16].

Ngày 1-11-1963 chính quyền Ngô Đình Diệm cáo chung, Phật giáo Nguyên thủy bước sang giai đoạn mới. Từ ngày 31-12-1963 đến ngày 15-01-1964, đại diện các giáo phái Bắc tông, Nam tông… họp tại chùa Xá Lợi, thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam thống nhất. Phật giáo Nguyên thủy trở thành thành viên tích cực, không thể thiếu cùng điều hành giáo hội.

Tỳ khưu Pháp Tri, đại diện Phật giáo Nguyên thủy đã nói những lời nhiệt thành trong lễ thành lập giáo hội: “…Thống nhất Phật giáo chẳng qua thống nhất về mặt pháp lý–chớ mọi ý chí, hành động đã thống nhất từ lâu[18].

Thượng tọa Thích Thiện Hoa, Viện trưởng Viện Hóa Đạo khi đánh giá về sự đóng góp của Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam (Hệ phái Phật giáo Nam tông Kinh) trong phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963 sau: “Pháp nạn năm 1963, Phật-giáo Nam Tôn Việt Nam rất tích cực đóng góp cho Đạo pháp…” [8, tr.64 ].

Hệ phái Phật giáo Nam tông Kinh tham gia điều hành ở cả hai Viện Tăng thống và Viện Hóa Đạo. Tại Viện Tăng thống Hòa Thượng Tối Thắng được suy tôn Phó Tăng Thống. Thượng tọa Giới Nghiêm, Phó thư ký.

Tại Viện Hóa Đạo Thượng tọa Pháp Tri làm Phó Viện trưởng. Đại đức Hộ Giác, Ủy viên truyền bá vụ, Tổng vụ hoằng pháp

Ký hiến chương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam thống nhất ngày 20–01–1964 gồm:

1.      Đại đức Giới Nghiêm, Trưởng phái đoàn giáo hội Phật giáo Nguyên thủy.
2.      Đạo hữu Nguyễn Văn Hiểu, Trưởng phái đoàn Hội Phật giáo Nguyên thủy [13].

4.2. Năm 1967 Giáo Hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam (Theravada) ly khai
Sau năm 1963 đầu 1964 Phật giáo Việt Nam chuyển mình bước vào thời kỳ mới trưởng thành hơn giai đoạn 1951, đó là thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất. Song trong suốt thời kỳ 1964–1967 Phật giáo Việt Nam trải qua bao thăng trầm, biến đổi, đầy gian nan thử thách. “Năm 1967, Hòa Thượng Giới Nghiêm nhận thấy kể từ ngày tham gia Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất, các hoạt động của Phật giáo Nguyên thủy không phát triển tốt, chư tăng không tinh tấn tu hành, có xu hướng tham gia chính trị - xã hội nhiều quá. Do đó, Ngài cùng các vị Trưởng lão xin rút Phật giáo Nguyên thủy ra khỏi tổ chức của GHPGVNTN, trở về sinh hoạt như tổ chức Giáo hội Tăng già Nguyên thủy xưa” [17, tr.551].

 Đầu tháng 1–1967 Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam “…họp thường niên lúc 22g30 ngày 1–1–1967 đã tự ý bỏ thăm rút lui ra khỏi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất” [14]. Song sự ly khai của Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam không ngoài mục đích tu hành nghiêm mật mà giới luật Nguyên thủy quy định, hội viên không được phép tham gia các hoạt động chính trị, bên ngoài có tam y quả bát, bên trong có giới định tuệ. Tuy nhiên sự rút lui của Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam đã không được sự ủng hộ tuyệt đối 100 % của toàn thể tăng già 300 người và đông đảo tín đồ. Như Ngài Thiện Luật, tăng trưởng chùa Pháp Quang, Gia Định viết: “…chúng tôi là trụ trì và toàn thể chư Tăng, sadi và thiện tính chùa Pháp Quang….không chấp nhận sự biểu quyết ….trong Đại hội trên” [14].

 Mặc dù ly khai nhưng vẫn có một số tăng sĩ tiếp tục cống hiến cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất với tư cách cá nhân không nhân danh Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam, chẳng hạn như Ngài Hộ Giác, Ngài Pháp Tri…Chính lực lượng này cùng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đấu tranh chống sự chia rẽ của “nền đệ nhị cộng hòa”, gây phân hóa, mất đoàn trong nội bộ Phật giáo cho đến 1975 thống nhất hai miền Tổ quốc.

Các ngày 26/27/28–9–1967 Hòa Thượng Thiện Luật cùng phái đoàn trong hàng giáo phẩm cao cấp và 500 tăng ni của Giáo hội đến của Dinh Độc Lập thỉnh nguyện thư hủy bỏ sắc luật 23/67.

Như vậy, đến năm 1967 Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam chấm hết vai trò lịch sử của mình, không tham gia các hoạt động chính trị đương thời, trở về “bản thể chân tâm” tu hành giải thoát, thực hành đúng như giới luật Nguyên thủy lưu truyền.

5. Giai đoạn 1967–1981

Sau khi Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam rút lui khỏi Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất năm 1967, chư Tăng Nguyên thủy tập trung vào củng cố tổ chức, phát triển chùa tháp khắp nơi. Tính đến ngày 29-12-1976 tổng số chùa và tự viện trên toàn quốc là 44 ngôi. Một số chùa được trả lại cho giáo hội quản lý như Phước Hải, Tam Bảo. Một số chùa tháp được xây dựng thêm trong tỉnh Đồng Nai như chùa Thiền Quang I, Thiền Quang II, Quảng Nghiêm, Tam Phước, Ngọc Đạt, Y Sơn, Phước Hộ, Cồ Đàm, Bửu Đức, Linh Phú, Từ Thiện, Thái Hòa, Quang Minh, Phước Huệ…Đặc biệt Thượng Tọa Viên Minh tạo lập Thiền Viện Viên Không tại Núi Dinh, Bà Rịa–Vũng Tàu với ý định xây dựng thành làng thiền của Phật giáo Nam tông.

Lập Phật học viện Nam Tông, Nguyên Thủy… giáo sư, chương trình giảng dạy không khác gì Phật học viện các nước Phật giáo Nguyên thủy. Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam gửi chư Tăng du học các nước Ấn Độ, Myanmar, Thái Lan… Trong lĩnh vực hoằng pháp Pháp sư Thông Kham, Hộ Giác thường xuyên thuyết giảng thu hút hang ngàn tín đồ cả Nam và Bắc tông tham dự. Sau 1975 tình hình khó khăn chung khi đất nước vừa độc lập, thống nhất, cả dân tộc bước vào hàn gắn nỗi đau chiến tranh. Do đó, hoạt động hoằng pháp của Phật giáo Nguyên thủy cũng có phần giới hạn, nhưng vẫn duy trì đều đặn các thời tụng kinh, thuyết pháp, các lễ hội hàng năm. Các hoạt động của chư Tăng Phật giáo Nguyên thủy trong 10 năm đầu 1975-1985 hết sức khiêm tốn và càng về sau sự khó khăn giảm dần. Đặc biệt giai đoạn 1979 Phật giáo Campuchia bị sát hại, tất cả sư sãi bị buộc hoàn tục. Sau khi Campuchia được Việt Nam giúp đỡ thoát khỏi họa diệt chủng của Pôn Pốt, Nhà nước và Ban Tôn giáo Việt Nam đã cử phái đoàn Chư Tăng, cư sĩ, thành viên 12 vị sang Campuchia truyền giới, phục hồi tăng tướng cho các sư sãi Campuchia bị buộc hoàn tục.

Bảy vị cao tăng thạc đức Campuchia được truyền giới ngày 19-9-1979, vị thấp tuổi nhất là 50 có 3 vị, cao tuổi nhất 80 có 1 vị, còn lại là 60 tuổi có 2 vị, 70 tuổi có 1 vị. Từ đó, Phật giáo Campuchia được phục hồi, phát triển đến nay.

Đến năm 1981, Giáo hội Phật Giáo Việt Nam thành lập, Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam là thành viên tích cực sáng lập ngôi nhà chung cùng 8 tổ chức tông phái trong toàn thể Phật giáo đồ Việt Nam. Phật Giáo Việt Nam một lần nữa chuyển mình phát triển sau lần 1951, 1964, ngày càng ổn định thống nhất về tổ chức lẫn nội dung.

6. Giai đoạn 1981–2014

Sau khi thành lập Giáo hội Phật Giáo Việt Nam, Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam hòa vào sự phát triển chung của Phật Giáo Việt Nam. Nhiều vị giáo phẩm của Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam tham gia tích cực các hoạt động Phật sự cùng điều hành giáo hội. “Thiền sư Giới Nghiêm đảm nhiệm chức Phó hội đồng trị sự trung ương Giáo hội Phật Giáo Việt Nam đặt trách hệ phái Nam tông. Pháp sư Siêu Hỷ, ủy viên hội đồng trị sự trung ương Giáo hội Phật Giáo Việt Nam. Pháp sư Thiện Tâm, Tổng thư ký Ban trị sự thành hội Phật giáo TP. HCM” [9, tr.60]. Năm 1984 Thiền sư Giới Nghiêm viên tịch, Pháp sư Siêu Hỷ gánh vác nhiệm vụ thay Thiền sư Giới Nghiêm vô cùng tích cực. Từ đó Pháp sư giữ các chức vụ “Phó hội đồng trị sự trung ương Giáo hội Phật Giáo Việt Nam. Phó ban hoằng pháp trung ương Giáo hội Phật Giáo Việt Nam. Phó ban trị sự thành hội Phật giáo TP. HCM kiêm tăng trưởng hệ phái Nam tông Việt Nam” [9, tr.61].

Nhiệm kì II (1987-1992), Hòa thượng Siêu Việt, giữ các chức vụ Phó Chủ tịch Ban thường trực, thành viên hội đồng trị sự trung ương Giáo hội Phật Giáo Việt Nam.

Năm 1989 do nhu cầu Phật sự nên “Ban tôn giáo chính phủ, Văn phòng 2 trung ương giáo hội Giáo hội Phật Giáo Việt Nam, Hòa Thượng Thích Thiện Hào ấn ký ngày 4-11-1989 quyết định cho hệ phái Nam tông thành lập Ban trợ lý…

1.      Cố vấn: Hòa Thượng Pháp Lạc
2.      Cố vấn: Hòa Thượng Thiện Thắng
3.      Cố vấn: Hòa Thượng Kim Minh
4.      Trợ Lý: Ngài Bửu Phương
5.      Thư ký 1: Đại Đức Minh Giác
6.      Thư ký 2: Đại Đức Thiện Nhân” [9, tr.63].

Ban trợ lý hoạt động hiệu quả, tích cực, chính ban này đã đệ đơn xin giao lại thắng tích Thích Ca Phật Đài tại Núi Lớn–Bà Rịa Vũng Tàu cho Hệ Phái Nam tông quản lý, có chỗ cho chư Tăng tu tập. Ban trợ lý giúp các thành viên đoàn kết, nề nếp được củng cố.

Nhiệm kì III (1992-1997), Hòa thượng Siêu Việt, giữ các chức vụ Phó Chủ tịch Ban thường trực, trung ương Giáo hội Phật Giáo Việt Nam.

Nhiệm kì IV (1997-2002), Hòa thượng Hộ Nhẫn, giữ các chức vụ Phó Chủ tịch Ban thường trực, thành viên hội đồng trị sự trung ương Giáo hội Phật Giáo Việt Nam. Hòa thượng Thích Thiện Tâm thành viên hội đồng trị sự trung ương Giáo hội Phật Giáo Việt Nam.

Nhiệm kì V (2002-2007), Hòa thượng Thích Thiện Tâm thành viên hội đồng trị sự trung ương Giáo hội Phật Giáo Việt Nam.

Nhiệm kì VI (2007-2012), Hòa thượng Thích Thiện Tâm ủy viên Ban thường trực trung ương Giáo hội Phật Giáo Việt Nam. Ủy viên hội đồng trị sự trung ương Giáo hội Phật Giáo Việt Nam.

Nhiệm kì VII (2012-2017), Hòa thượng Thích Thiện Tâm Phó chủ tịch Hội đồng trị sự Trung ương Giáo hội Phật Giáo Việt Nam. Phó Viện Trưởng Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam. Thượng Tọa Bửu Chánh ủy viên thường trực, Ban thường trực thành viên trung ương Giáo hội Phật Giáo Việt Nam. Phó Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM. Hòa Thượng Viên Minh thành viên Hội Đồng Chứng Minh Giáo hội Phật Giáo Việt Nam. Giám đốc Trung tâm nghiên cứu ứng dụng thiền Nnguyên thủy, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, TP.HCM. Tỳ khưu Thiện Minh - Ủy Viên Hội đồng trị sự Trung ương Giáo hội Phật Giáo Việt Nam; Phó ban Từ thiện Trung ương Giáo hội Phật Giáo Việt Nam.

Về đối ngoại, tham gia các hoạt động trong Ban Phật giáo quốc tế, đóng góp chung cho Phật giáo Việt Nam. Chư Tăng Hệ Phái Nam tông hoạt động tích cực như Hòa Thượng Bửu Chơn, Hòa Thượng Siêu Việt, Hòa Thượng Thiện Tâm, Hòa Thượng Hộ Pháp, Thượng Tọa Tăng Định, Thượng Tọa Bửu Chánh, Thượng Tọa Minh Giác, Thượng Tọa Thiện Minh, Thượng Tọa Pháp Chất….

Khoảng năm 1990, Thượng Tọa Hộ Pháp đã gửi 8 Tăng sinh sang Myanmar, 2 Tăng sinh Thái Lan tu học. Cùng thời gian này Thượng Tọa Thiện Tâm cùng phái đoàn Giáo hội Phật giáo Việt Nam đi dự các hội nghị Phật giáo quốc tế tại Đài Loan và Thái Lan. Thượng Tọa Tăng Định cũng sang Myanmar sau đó nghiên cứu pháp hành thiền Tứ Niệm Xứ.

Năm 2000, Tỳ khưu Thiện Minh nhập hạ, tu học tại Trung tâm Phật giáo Amaravati thuộc trụ sở giáo hội Tăng già Anh quốc, nổi tiếng nước Anh.

Về hoạt động từ thiện xã hội, mặc dù chư Tăng Nguyên thủy chú trọng tu tập nhiều hơn nhưng vẫn quan tâm, động viên Tổng hội cư sĩ thể hiện lòng từ bi, cứu độ chúng sinh. Tại Huế, Tỳ khưu Giới Hỷ trụ trì chùa Tăng Quang từ năm 1964 đến 1979, hoạt động rất tích cực, Ngài kiêm nhiệm Chánh đại diện Phật giáo Nam tông miền Trung, Trưởng Ban hướng dẫn gia đình Phật tử miền Trung, đại diện Ban chính trị–xã hội.

Ngài đóng góp cho Đạo pháp và gia đình Phật tử vô cùng lớn, có thể nói không ai có thể nổi trội, vượt tâm và tầm hơn Ngài lúc bấy giờ. Thiên tai dịch họa, công tác từ thiện, lũ lụt các tỉnh Quảng Nam, Quảng Trị…gần như thường xuyên, Ngài đều triển khai thực hiện cứu trợ kịp thời. Mậu Thân 1968 từ 1-1-1968 đến 32-12-1969 Ngài cùng Tổng hội cư sĩ đã cứu trợ tại Sài Gòn và Huế trong 2 đợt gồm thuốc men, gạo và tiền là 358. 048đ. Sau 1975 đến nay công tác cứu trợ của hệ phái Phật giáo Nam tông không ngừng xúc tiến ở Huế có Thượng Tọa Viên Minh, Giới Đức, Pháp Tông, Quảng Nam - Đà Nẵng có Ngài Pháp Cao, Giới Hỷ. Ở Sài Gòn có Ngài Tăng Định, Chánh Niệm, Pháp Chất, Chánh Định, Tuệ Quyền, Thiện Đạt, Thiện Minh trụ trì chùa Bửu Quang luôn kịp thời cứu trợ khi có thiên tai dịch họa. Trong 2 năm 1999–2000 hệ phái Phật giáo Nam tông đã cứu trợ đồng bào miền Tây, miền Trung Gạo, đường, nước tương..với tổng giá trị 1 tỷ đồng. Năm 2002 chùa Kỳ Viên đi cứu trợ 8 chuyến cứu trợ miền Tây, mỗi chuyến khoảng 30 triệu đồng. Cùng năm này chư Tăng và các tín đồ trong và ngoài nước đã tài trợ 100 ca mổ cườm với mỗi ca 500.000 đồng trong chương trình “Đem lại ánh sáng cho người mù nghèo”.

Tóm lại, sau 76 năm (1938–2014) du nhập Việt Nam, Phật giáo Nam tông Kinh không ngừng phát triển và hiện nay có khoảng 85 Tự viện, 600 chư Tăng và 400 tu nữ trên cả nước. Phật giáo Nam tông Kinh đã nhanh chóng hòa nhập vào văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc. Với tư tưởng từ bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha, Phật giáo Nam tông Kinh đã góp phần làm giàu thêm bản sắc văn hóa dân tộc, tín ngưỡng của người Việt. 

Về cơ bản, Phật giáo Nam tông Kinh có vai trò rất lớn, là nền tảng cho sự phát triển của Phật giáo từ khi du nhập Việt Nam 1938. Phật giáo Nam tông Kinh hòa chung vào dòng chảy của dân tộc, đồng hành cùng dân tộc. Vì Đạo pháp và dân tộc, đó là mục tiêu và hành động của hệ phái Phật giáo Nam tông Kinh.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Biên bản buổi nhóm đại hội của Giáo hội tăng già nguyên thủy Việt Nam.
[2]. Điều lệ Giáo Hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam (Theravada), Sài Gòn, 1958.
[3]. Điều lệ Hội Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam, Sài Gòn, 1958.
[4]. Điều lệ Hội Phật giáo Nguyên Thủy Việt Nam Trung phần. 1955.
[5]. Thích Giới Đức (2011), Thắp lửa tâm linh, Nhà xuất bản Thời Đại.
[6]. Giấy hiến cúng đất, chùa của vợ chồng Nguyễn Thiện Đông, Đặng Thị Cúc, Phường Phú Thọ bấy giờ chứng thực ngày 1–7–1958.
[7,]. Nguyễn Văn Hiểu (Tiểu sử) cố hội trưởng Tổng hội cư Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam, do chính tay tác giả viết, phổ biến nội bội.
[8]. Thích Thiện Hoa (1970), 50 năm chấn hưng Phật Giáo Việt Nam, Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN xb.
[9]. Thiện Minh (1997), Lịch sử Phật giáo Nam tông Việt Nam.
[10]. Nội quy Hội Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam, Sài Gòn, 1958.
[11]. Nội quy Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam, Sài Gòn, 1958.
[12]. Sổ hội viên chùa Bửu Quang.
[13]. Trung Tâm Lưu Trữ quốc gia II, Phủ Thủ Tướng, Hồ Sơ Số 29367.
[14]. Trung Tâm Lưu Trữ quốc gia II, Phủ Thủ Tướng, Hồ Sơ Số 30395.
[15]. Hộ Tông (1943), Luật Tu Xuất Gia, Sài Gòn.
[16]. Trung Tâm Lưu Trữ quốc gia II, Phủ Tổng Thống Đệ nhất Cộng Hòa, Hồ Sơ Số 8520.
[17]. Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn và Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam (2014) Phật giáo nguyên thủy từ truyền thống đến hiện đại. Nxb Hồng Đức.
[18]. UBLPPGVN (1963), Chương trình và diễn văn Đại hội Thống nhất Phật giáo Việt Nam, Đoàn sinh viên Phật tử Việt Nam ấn hành tại nhà in Đông Nam Á, Sài Gòn.

* * *

Thiền viện Phước Sơn, Đồng Nai



Sách: Phật giáo Nam tông Kinh Việt Nam 1938-1963

Sách mới.

Thiện Hậu Kusalapaccha (2017). Phật giáo Nam tông Kinh Việt Nam 1938-1963.


Tải về đọc: http://budsas.net/sach/vn46.pdf (2.92 MB)

*

Thursday, 28 December 2017

Mèo của tôi

Đây là mèo bốn chân, không phải là loại mèo hai chân thường là nguyên nhân gây gổ giữa vợ chồng trong xã hội. Nó là loại mèo hoang, không biết từ đâu đến nhà chúng tôi. Hai cô con gái tôi đi học về – lúc ấy còn học trường trung học, thấy nó dễ thương, vuốt ve, và đem cơm cho nó ăn. Thế là nó ở lại, không chịu đi nơi khác.

Một ngày nọ, tôi đi làm về, vào phòng cô Hai hỏi thăm, thấy cô ấy đem nó lên giường, nằm vuốt ve nó! Tôi không hài lòng, vì đó là mèo hoang, không biết dơ sạch thế nào, nên tôi cấm hai cô đem nó vào nhà, và đuổi nó đi. Hai cô năn nỉ, xin phép tôi giữ nó lại và nuôi nó. Chìu ý con, tôi nói có thể giữ nó lại, nhưng tuyệt đối không đem vào nhà.

Từ đó, nó thành mèo của chúng tôi. Tôi mua cho nó một cái giỏ đặc biệt dành cho mèo để nó ngủ, mua thức ăn đặc biệt cho nó. Mỗi ngày cho nó ăn và uống một ít sữa tươi. Vì là gốc mèo hoang, nó dễ sống, và cũng dễ dạy. Tôi chỉ rầy la mấy lần là nó biết ý, không chạy vào nhà nữa. Không biết nó là đực hay cái, cũng không biết đặt tên là gì, bèn gọi nó là “Mr C” – C là Cat, con mèo. Từ đó, cả nhà dùng tên nầy để gọi nó.

Khi dọn về nhà mới, tôi mang nó theo. Lúc đầu nó sợ, nhưng rồi cũng quen sân vườn nhà mới. Bây giờ hai cô đã học xong. Cô Hai lấy chồng rồi sang miền Đông lập nghiệp. Cô Ba tốt nghiệp, có việc làm, mua nhà phía sau, cũng dọn ở riêng. Chỉ còn vợ chồng tôi và Mr C. Mỗi ngày hai lần, tôi gánh vác việc cho nó ăn uống. Nhưng cũng vui, vì mỗi lần tôi ra tưới cây làm vườn là nó chạy theo làm bạn. Ban đêm, khi tôi ngồi trong phòng đọc sách hay mở máy vi tính, nó đi đến nằm bên ngoài vách tường, cạnh khung cửa sổ. Thỉnh thoảng gọi meo meo, có lẽ để trò chuyện với tôi qua khung cửa.

Mấy tháng trước nó bị kiến cắn sưng mắt. Cô Ba đem nó đến bệnh viện thú y. Khi khám bệnh, mới biết là mèo cái! Đã lỡ gọi là “Mr C” rồi, thì thôi, đành phải tiếp tục gọi như thế. Không biết nó bao nhiêu tuổi, nhưng nó ở với chúng tôi đã trên 15 năm. Theo thống kê, một năm tuổi mèo tương đương với bảy năm tuổi người. Như thế, tính theo tuổi người, nó cũng hơn trăm tuổi.

Mấy tuần qua, đột nhiên nó biếng ăn, hơi thở khọt khẹt, không còn năng động như trước, lông bắt đầu rụng khá nhiều. Tôi đoán có lẽ nó gần hết tuổi thọ. Tôi khéo léo báo cho bà xã và hai cô con gái biết, giải thích về sự vô thường, để sửa soạn tâm lý cho mọi người.

Trưa nay, đi bơi về, không thấy nó ra đón. Nhưng tôi bận, không để ý. Đến khoảng 6 giờ chiều, như thường lệ, tôi mở cửa sau nhà, gọi nó đến ăn, nhưng không thấy nó đâu. Tôi đi vòng ra phía trước, thấy nó nằm trước cửa, thoi thóp thở. Tôi đến gần, quan sát vuốt ve, biết ngay đây là những giây phút cuối cùng của nó. Tôi lấy cái nôi của nó, đặt nó vào đó, vuốt ve, nhẹ nhàng nói với nó nên ra đi thanh thản, đừng sợ sệt, đừng bám víu vào cái gì, nguyện cho nó được tái sinh vào cõi tốt lành, đừng tái sinh vào cảnh thú vật nữa.

Khoảng mười phút sau, nó nhắm mắt, ngừng thở. Chết nhẹ nhàng, không một tiếng rên la. Cũng lạ là hôm nay nhà vắng, không có ai, chỉ có tôi với nó. Tôi gọi điện thoại đến bệnh viện thú y hỏi thông tin, và đem xác nó đến đó để hỏa thiêu.

Trên đường đi, tôi suy nghĩ về sự vô thường, về kiếp sống khổ cực của loài thú, về duyên nghiệp của nó với gia đình chúng tôi, và nhất là về sự may mắn của tôi được sinh ra làm người, lại biết được Phật pháp và được gần gũi những người có tâm tu tập tốt. Vì vậy, tôi cần phải tinh tấn hơn nữa, trong sự tu tập cũng như trong các thiện sự. Đời người ngắn ngủi và bất định, không nên để phí thì giờ vào những việc hơn thua, tranh luận, tranh cãi vô ích.

Bình Anson
Perth, tháng 12-2014
-------------------------------------------

Sau một tuần lễ, khi các cảm xúc đã lắng dịu, tôi gửi email nầy đến cô Hai & cô Ba:

At 6.00 pm Friday 05/12/2014, as usual, I went outside to feed her. I called her few times but she did not turn up. I went around the house to the front door and saw her laying there, very weak. I touched her and she still recognised me. I knew she was dying. I took her basket, spread Jennifer’s old towel, and placed her on it. Then I took the basket to the front sliding door of the shrine room and left her there. I went inside, lid the candles, burnt the incense. I also placed an incense stick next to her basket. I prayed to the Buddha, then, went ouside and gently caressed her. I told her to let go, it’s time now to depart this world peacefully, don’t be scared, don’t be attached to anything, don’t be reborn again as a cat, let go ... About 10 minutes later, she had her last breath. I believe she had a good and peaceful death, and a good rebirth to a better destination in this universe.

I contacted the veterinary hospital in Balcatta, and took the whole basket there for cremation. I told them I did not want her ashes back.

Yesterday, a young Vietnamese boy died suddenly from a freak car accident in front of his house. I am helping his family for funeral arrangements. He just turned 18. Life is short and uncertain. Let enjoy every moment we have in a meaningful way.


Friday, 22 December 2017

Bốn pháp lập niệm & niệm hơi thở

Bốn pháp LẬP NIỆM (Tứ niệm xứ) & Quán niệm hơi thở
Tỳ-khưu Bodhi 
(Trích “Những lời Phật dạy”, trang 344-348, Bình Anson dịch)
 
Bài kinh giảng thường được xem bao gồm những hướng dẫn hành thiền đầy đủ nhất là Kinh Lập Niệm hay Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna Sutta). Có hai phiên bản bài kinh này, phiên bản dài trong Trường bộ, phiên bản trung bình ở Trung Bộ. Bản dài khác với bản trung bình ở phần phân tích mở rộng về Tứ Thánh Đế, có lẽ nguyên thủy là một chú giải sơ bộ được đưa vào bài kinh. Toàn bộ một chương trong Tương ưng bộ – chương Tương ưng Lập niệm (Satipaṭṭhāna-saṃyutta), cũng dành cho hệ thống hành thiền này.
 
Bài kinh Lập Niệm không đề nghị một đề mục hành thiền duy nhất hay một pháp hành thiền duy nhất. Mục đích của bài kinh là giải thích làm thế nào để thiết lập một chế độ chiêm niệm cần thiết để thực chứng Niết-bàn. Khung tâm thức thích hợp được thiết lập, như ngụ ý trong tựa bài kinh, được gọi là “thành lập niệm”. Từ “satipaṭṭhāna” có lẽ nên hiểu như là một hợp từ của “sati”, niệm hay tỉnh thức và “upaṭṭhāna”, thành lập. Vì thế “thành lập niệm” có lẽ là cách dịch tốt nhất nắm bắt được ý nghĩa nguyên thủy.
 
Theo công thức tiêu chuẩn kèm theo mỗi bài tập, mỗi “satipaṭṭhāna” là một phương thức trú xứ (viharati). Phương thức trú xứ này có liên quan đến việc quan sát các đối tượng trong một khung tâm thức thích hợp. Khung tâm thức đó gồm có ba phẩm chất tích cực: nhiệt tâm (tinh cần, ātāpa), niệm (sati) và tỉnh giác (hiểu biết rõ ràng, sampajañña). Từ “sati” nguyên thủy có nghĩa là trí nhớ, nhưng trong ngữ cảnh này có nghĩa là ghi nhớ hiện tại, một sự nhận thức bền vững về những gì đang xảy ra cho ta và trong ta trong mỗi lần trực nghiệm. Niệm, trong những giai đoạn đầu tiên, có liên quan đến giữ tâm quán sát liên tục vào đối tượng, có nghĩa liên tục giữ đối tượng trong tâm. Niệm ngăn ngừa tâm tuột đi, lang thang đến nơi khác qua những ý tưởng ngẫu nhiên, tạo thành hý luận và quên lãng. Niệm thường được xem xảy ra kết hợp chặt chẽ với “tỉnh giác”, một sự hiểu biết rõ ràng về những gì hành giả đang trực nghiệm.
 
Công thức mở đầu của bài kinh nói rằng hành giả tham gia vào việc thực hành này sau khi “đã chế ngự tham dục và ưu sầu trên đời” (vineyya loke abhijjhā-domanassaṃ). Cụm từ “đã chế ngự” không nhất thiết phải hiểu rằng hành giả trước tiên phải vượt qua ham muốn và ưu sầu – theo Chú giải, có nghĩa là dục tham và sân hận và từ đó đại diện cho năm triền cái – trước khi hành giả thực hành lập niệm. Cụm từ đó có thể hiểu là chính sự thực hành là phương tiện để chế ngự tham dục và ưu sầu. Như thế, trong khi chế ngự các ảnh hưởng ngăn che của tham lam và sân hận, hành giả làm khơi dậy các phẩm chất tích cực của nhiệt tâm, niệm và tỉnh giác và quán soi bốn lĩnh vực đối tượng: Cơ thể, các cảm thọ, các trạng thái tâm và các hiện tượng (thân, thọ, tâm, pháp).
 
Đây là bốn lĩnh vực đối tượng phân chia việc quan sát tỉnh thức thành bốn sự thành lập niệm. Bốn lĩnh vực đối tượng này chia phần mô tả kinh Lập Niệm thành bốn đoạn chính. Hai trong số đoạn này, đoạn đầu và đoạn cuối, có nhiều phân đoạn. Khi tổng cộng các phân đoạn, chúng ta có được hai mươi mốt đề mục hành thiền. Nhiều đề mục này có thể dùng để phát triển an chỉ (samatha), nhưng toàn thể hệ thống lập niệm dường như đặc biệt được thiết kế để phát triển minh quán (vipassanā). Những đoạn chính trong cách phân chia này như sau:
 
1. Quán thân (kāyānupassanā). Gồm có mười bốn đề mục: quán niệm hơi thở; quán bốn oai nghi; quán thân hành; quán thân ô trược (qua quan sát các bộ phận của cơ thể); quán tứ đại; và chín đề mục quán tử thi – những pháp quán tử thi qua các giai đoạn hư thối.

2. Quán thọ (vedanānupassanā). Cảm thọ chia làm ba loại chính – lạc, khổ, không khổ không lạc – và mỗi loại thọ được phân biệt thêm về cảm thọ nơi thân xác hay ở tâm. Tuy nhiên, bởi vì chúng chỉ là cảm thọ, quán thọ được xem chung là một đề mục.
 
3. Quán tâm (cittānupassanā). Đây là một đề mục về tâm, phân biệt thành tám đôi trạng thái tâm đối nghịch.

4. Quán pháp (dhammānupassanā). Từ “pháp” (dhammā) ở đây có lẽ để chỉ các hiện tượng, được phân thành năm loại theo lời dạy của Đức Phật, là Giáo Pháp (Dhamma, Pháp). Như thế, “quán pháp” có ý nghĩa kép, là các pháp (dhammas, hiện tượng) được quán bằng Giáo Pháp (Dhamma). Năm phân hạng là: năm triền cái, năm uẩn, sáu nội xứ và sáu ngoại xứ, bảy giác chi và bốn sự thật cao quý.
 
Mặc dù không nói rõ trong bài kinh, một chuỗi tăng tiến dường như được ngụ ý bằng các điều khoản mô tả mỗi pháp quán. Trong quán niệm hơi thở, hành giả tiến dần đến các mức độ an định vi tế; trong pháp quán thọ, hành giả tiến đến các cảm thọ phi cơ thể không lạc không khổ; trong pháp quán tâm, hành giả tiến đến trạng thái tâm tập trung và giải thoát. Những điều này cho thấy các diễn tiến trong ba pháp quán này giúp tăng cường mức định tâm. Trong pháp thứ tư – quán các pháp, tầm quan trọng chuyển hướng đến minh sát. Hành giả bắt đầu bằng cách quan sát và chế ngự năm triền cái. Chế ngự năm triền cái đánh dấu thành công trong định tâm. Với tâm định, hành giả quán năm uẫn và sáu xứ. Khi quán niệm có đà phát triển, bảy giác chi hiện rõ ra và phát triển bảy giác chi đưa đến đỉnh điểm về tri kiến bốn sự thật cao quý. Tri kiến bốn sự thật cao quý giúp giải phóng tâm khỏi các lậu hoặc và như thế, đưa đến chứng đắc Niết-bàn. Do đó, hệ thống hành thiền này hoàn tất con đường trực tiếp hướng đến thực chứng Niết-bàn, như Đức Phật đã giảng dạy.
 
Mỗi bài tập quán niệm chính được bổ sung bằng một đoạn phụ trợ, một “điệp khúc” với bốn phân đoạn. Phân đoạn thứ nhất cho biết hành giả quán đề mục bên trong (bên trong kinh nghiệm của chính mình), bên ngoài (suy ngẫm như thể xảy ra với kinh nghiệm của người khác) và cả hai. Việc này đảm bảo hành giả có được một cái nhìn cân bằng và đầy đủ về đối tượng. Phân đoạn thứ hai cho biết hành giả quán đề mục vốn được sinh khởi, bị đoạn diệt, được sinh khởi lẫn bị đoạn diệt. Điều này soi sáng tính chất vô thường và từ đó, đưa đến tuệ minh về ba đặc tướng: vô thường, khổ và vô ngã (anicca, dukkha, anattā). Phân đoạn thứ ba dạy hành giả đơn thuần ghi nhận đối tượng với mức độ cần thiết cho niệm vững bền và tri kiến. Phân đoạn thứ tư chỉ rõ hành giả an trú vào trạng thái tâm hoàn toàn xả ly, không dính chấp vào bất cứ việc gì trên đời.


Trong bài kinh Lập Niệm, quán niệm hơi thở (ānāpānasati) được đưa vào như chỉ là một đề mục hành thiền trong nhiều đề mục khác, nhưng kinh tạng Nikāya gán cho pháp thiền ấy một vị trí có tầm quan trọng cơ bản. Đức Phật nói Ngài dùng pháp quán niệm hơi thở như là đề mục hành thiền chính để chứng đạt giác ngộ (SN 54:8). Trong suốt cuộc đời hoằng pháp, thỉnh thoảng Ngài sống ẩn dật và dành trọn thời gian cho việc “định tâm bằng quán niệm hơi thở”, và Ngài đã vinh danh pháp quán đó qua cách gọi đó là “trú xứ của Như Lai (Như Lai trú)” (SN 54:11).

Quán niệm hơi thở là chủ đề của trọn một chương trong Tương ưng bộ (SN 54, Ānāpāna-saṃyutta, Tương ưng Hơi thở vào ra). Trong khi kinh Lập Niệm giải thích quán niệm hơi thở qua công thức bốn bước, các bài kinh trong Tương ưng bộ mở rộng thành mười sáu bước. Các bài kinh nầy mô tả mười sáu bước đó. Bởi vì các bước này không cần thiết phải tuần tự nhưng có phần trùng lặp, chúng có thể xem như là các khía cạnh chứ không phải là các bước thực hành. Mười sáu bước được gom lại thành bốn nhóm bộ bốn, mỗi bộ tương ứng với một trong bốn cách lập niệm. Bộ bốn đầu tiên là bốn khía cạnh đã đề cập trong kinh Lập Niệm trong đoạn về quán thân, nhưng các bộ bốn kia mở rộng việc thực hành đến quán thọ, quán tâm và quán pháp. Vì vậy, phát triển quán niệm hơi thở có thể thực hiện không chỉ là một nhưng tất cả bốn sự thiết lập niệm.
 
Bốn pháp lập niệm, dựa trên quán niệm hơi thở, lần lượt hoàn tất bảy giác chi; và điều này đưa đến tuệ tri và giải thoát. Bài giảng này cho thấy quán niệm hơi thở là pháp thiền đầy đủ, bắt đầu bằng chú tâm đơn giản vào hơi thở và đưa đến đỉnh điểm tâm giải thoát vĩnh viễn.

* * *

Sunday, 17 December 2017

Học trò cùng trường

HỌC TRÒ CÙNG TRƯỜNG

Phật tử chúng ta như thể là những học trò cùng học một trường. Có người học “full-time”, dành toàn thời gian để học. Có người học “part-time”, vừa đi học, vừa đi làm. Có người học full-time vài năm rồi chuyển sang part-time. Cũng có người học part-time một thời gian rồi chuyển sang full-time. Có người thích học môn học nầy, có người thích học môn học kia. Có người thích học các môn học căn bản để áp dụng vào đời sống hằng ngày; nhưng cũng có người chọn học các môn học triết lý siêu hình, lý luận xa vời viễn vông.

Từ "Phật tử" (Buddhists) ở đây được dùng theo nghĩa rộng, để chỉ chung cho những người con Phật, đệ tử, học trò của Ngài, tức là "tứ chúng": xuất gia (học full-time) và tại gia (học part-time), nam và nữ.

Có người học chậm, có người học nhanh. Có người học nghiêm túc, thi cử đàng hoàng. Có người chỉ thích học tắt, có khi tìm cách gian lận lúc làm bài thi. Có người siêng năng, chăm chỉ; nhưng cũng có người ham chơi, lười biếng, v.v.

Tuy nhiên, trường học này không bao giờ xua đuổi học trò cho dù chúng học chậm, trốn học, quậy phá, gian lận v.v. Chỉ có trò bỏ trường, trường không bao giờ bỏ trò.

Đặc biệt của trường học này là rất hiếm có thầy giỏi. Thông thường, người học lớp trên chỉ dạy lại cho người học lớp dưới. Nguyên tắc chung là mỗi người phải nỗ lực tự tìm tòi học hỏi cho riêng mình.

Có rất ít người học xong và tốt nghiệp ra trường. Cần phải dè dặt, suy xét, tìm hiểu về những người tự xưng đã tốt nghiệp, hay được người khác tôn xưng đã tốt nghiệp. Có thể đó là những người dùng bằng cấp giả, hay được người khác gán ghép cho những bằng cấp mà họ chưa có.

*

Friday, 15 December 2017

9 câu ngụy biện điển hình của người Việt

9 câu ngụy biện điển hình của người Việt 
Quang Minh, 07/11/2016


Có một thói quen rất nguy hiểm mà người Việt thường xuyên sử dụng trong giao tiếp, đó là thói quen ngụy biện. Thói quen này đã lây nhiễm một cách vô hình từ giao tiếp thường nhật, từ tâm lý thắng thua khi tranh cãi, và nhất là trong cộng đồng cư dân mạng …

Dưới đây xin được tổng hợp lại 9 câu “ngụy biện” điển hình của người Việt:

1. “Nhìn lại mình đi rồi hẵng nói người khác”

Mình làm sai thì là sai rồi, sao lại không nhận sai, không nói thẳng vào vấn đề “mình sai” mà lại quay qua tìm điểm yếu của người khác? Việc này cũng giống như là khi nhận được góp ý: “Viết sai chính tả rồi kìa”, thì thay vì sửa sai, bạn lại bốp chát: “Thế mày chưa viết sai bao giờ à?”

2. “Có làm được gì cho đất nước đâu mà to mồm”

Người ta có làm được gì hay không thì là điều mình chưa biết, hơn nữa bạn đã “lạc đề” rồi. Vấn đề người ta nêu ra thì bạn không trả lời, không đưa ra luận điểm logic, mà lại đi đường vòng, chuyển qua công kích người khác.

3. “Nó ăn trộm chó thì cứ đánh cho nó chết”

Lập luận này đã khiến cho những kẻ trộm chó vốn không đáng phải chết bị giết chết bởi chính những người dân tưởng chừng “lương thiện”. “Ăn trộm chó” là sai, nhưng “giết người” cũng là sai, hai sai thì không phải là một đúng, mà là sai lại càng sai.

4. “Làm được như người ta đi rồi hãy nói”

Lại một hình thức “lạc đề”. Luận điểm mà người ta đưa ra thì bạn không xoay quanh mà bàn luận, lại cứ phải công kích cá nhân người khác thì mới vừa lòng sao?

5. “Nếu không hài lòng thì cút xéo ra nước ngoài mà sinh sống”

Lời nói này không chỉ đánh lạc hướng vấn đề, mà còn rất bất lịch sự, chuyên dùng để làm người đối diện tức giận, chứ chẳng có một chút logic nào trong đó cả.

6. “Chỉ có những người chân lấm tay bùn từ nhỏ mới là người cần cù chăm chỉ xây dựng đất nước”

Câu khẩu hiệu này đã từng xuất hiện ở Việt Nam trong quá khứ. Người ta có câu “vơ đũa cả nắm”, ấy chính là để chỉ việc lập luận cảm tính, khái quát cảm tính, mà không hề đưa ra logic hợp lý nào cả. Cũng như vậy, khi phân chia giai cấp và tuyệt đối hóa đấu tranh giai cấp, thì người ta đã mắc sai lầm ngụy biện, ví như chủ đất không nhất định là xấu, chủ doanh nghiệp cũng không nhất định là xấu, và người làm công ăn lương hay nông dân chắc gì đã là một người tốt cần cù chăm chỉ?

7. “Nước nào mà chẳng có tham nhũng”

Vì nước nào cũng có tham nhũng nên Việt Nam được phép có tham nhũng hay sao? Vì mọi người đều vượt đèn đỏ nên tất nhiên tôi cũng phải vượt đèn đỏ? Vì xã hội thiếu gì nghiện hút nên trong nhà có người hút chích cũng là bình thường?

8. “Nếu anh là họ mà anh làm được thì hẵng nói”

Đặt mình vào vị trí người khác là một tiêu chuẩn người xưa dùng để tu sửa bản thân, hướng vào bản thân tìm lỗi, là một nét văn hóa rất độc đáo của phương Đông. Tuy nhiên câu nói đó chỉ sử dụng khi một người tự răn mình, chứ không phải là một câu nói dùng trong tranh luận. Việc sử dụng nó trong tranh luận không chỉ là sự bịt miệng những phê bình của người khác, không giải thích các luận điểm của người khác, mà còn chứng tỏ rằng chúng ta đang phá hoại và lãng quên văn hóa truyền thống của chính mình.

9. “Tại sao anh dám nói chúng tôi sai? Anh là một tên phản bội dân tộc”

Kiểu lập luận chụp mũ này mặc nhiên coi mình là đúng, họ là sai, và những người đồng quan điểm với họ cũng là sai. Nó không hề đưa ra một thứ logic nào, nhưng lại cắt ngang một cái giới tuyến, và tùy tiện định tội cho người khác.

*

Tất nhiên đây mới chỉ là những câu ngụy biện cơ bản nhất, thường thấy nhất. “Văn hóa ngụy biện” đã ngày càng xuất hiện thường xuyên hơn, muôn hình vạn trạng, và luôn ẩn giấu trong tư duy của người Việt. Vậy nguyên nhân của thói quen này là từ đâu?

Trong phần nhiều các lỗi ngụy biện thường gặp của người Việt, có một tâm lý cơ bản hiện rõ ra khi tham gia thảo luận, đó chính là tâm tranh đấu, hiếu thắng, và không hề tôn trọng người đối diện. Ngoài đó ra, chúng ta cũng hay bị ảnh hưởng của tâm lý đám đông, lợi dụng tâm lý đám đông để che đi trách nhiệm của bản thân mình.

Muốn tránh cách tư duy ngụy biện, chúng ta không những phải sửa lối tư duy vòng vo, thiếu suy nghĩ, mà còn phải sửa chính từ tâm thái của mình khi trao đổi và luận bàn về mọi việc. Điều cơ bản nhất khi tham gia tranh luận là có trách nhiệm trong lời nói của chính mình và biết tôn trọng người đối diện.

Quang Minh tổng hợp

*
Đọc thêm:
Về thói Ngụy Biện, http://budsas.blogspot.com.au/2013/03/ve-thoi-nguy-bien.html

*

Sunday, 10 December 2017

Nên đọc Kinh như thế nào?

NÊN ĐỌC KINH NHƯ THẾ NÀO

How to Read the Suttas

Bhante Sujato
Nhóm Phật tử Bắc Mỹ dịch Việt

Từ những ngày mới bắt đầu thực hành Phật Pháp, tôi đã thấy các bộ kinh Phật là nơi nương tựa tuyệt vời. Nơi ấy có biết bao điều uyên thâm, kỳ diệu – thật là một kho tàng vô tận về Giáo Pháp. Tôi muốn khuyến khích mọi Phật tử nên hàng ngày mở kinh ra đọc, hay ít nhất là hàng tuần.

Kinh Phật không có sức lôi cuốn tức khắc. Trái lại, thường lập đi lập lại, và có thể không có gì hấp dẫn. Nhưng cái hay đẹp của kinh rất tinh tế. Nó tiềm ẩn trong sự quân bình, trong cách cấu trúc rõ ràng, trong sự hợp lý, trong bản chất thanh tịnh và trí tuệ của Đức Phật trước mọi tình huống có thể tưởng tượng được.

Tốt nhất là nên đọc mỗi lần một ít. Mỗi lần đọc kinh thì nên đọc một đoạn kinh dài trung bình là lý tưởng nhất. Đọc từ từ, cẩn trọng. Để ý xem có chỗ nào mình không hiểu – và cẩn thận xem xét lại cả những chỗ mình nghĩ là mình đã hiểu. Đọc xong rồi nên kiểm lại với những chú thích cuối trang hay những hướng dẫn khác để thông hiểu . Tránh không phân tích quá chi li – hãy cố gắng thâm nhập trọn vẹn cốt lõi của lời kinh. Nếu chúng ta đọc kinh trước khi ngồi thiền, nó có thể giúp ta hứng khởi, tâm tư trong sáng, ý nghĩa trong kinh sẽ rõ ràng hơn.

Nên nhớ là chúng ta đang đọc bản dịch. Đừng vướng mắc, bận tâm vào những thuật ngữ này nọ - đó chỉ là sự chọn lựa chữ dùng của dịch giả. Nên tập làm quen, mỗi lần một chữ, với các từ Pali hay Sanskrit vốn là nền tảng của lời Phật dạy. Lại càng nên đề phòng thói quen hay diễn giải quá lố từng chữ một: ý nghĩa đích thực của bài kinh thoát ra từ ngữ cảnh và kinh nghiệm, không phải nơi từ ngữ chuyên khoa.

Lắng nghe những cảm xúc của chính mình: điều gì cho mình cảm hứng, điều gì thấy nhàm chán, điều gì mơ hồ, không rõ. Cái phản ứng đó là của bạn, không phải là từ bài kinh.

Hãy coi chừng cái tâm có thói hay phê phán lời người khác. Mặc dù chính tôi tin rằng việc học hỏi, nghiên cứu, phê bình lời kinh là việc quan trọng, đây là sau nhiều năm nghiên cứu và tu tập. Cần phải có thời gian mới thấm được ý nghĩa. Nên thương yêu, quý mến lời kinh. Đọc với lòng nâng niu, trìu mến, như là ta đang lắng nghe người bạn thiết tha trò chuyện. Lời lẽ trong kinh được hình thành từ truyền thống truyền khẩu, xảy ra từ một thuở đã xa xưa, ở một nơi xa xôi lắm. Nó còn được lưu truyền đến ngày nay đã là một phép lạ. Vì thế, chúng ta không nên nản lòng cho dù đôi khi cách diễn đạt có vẻ xa lạ với chúng ta.

Một điều nữa có lẽ còn nguy hại hơn, đó là ý muốn hiểu kinh theo nghĩa đen hay cứ chấp chặt theo một cách giảng giải riêng biệt nào đó. Trong kinh Phật cũng có một chữ để chỉ thái độ ấy: idasaccabhinivesa– khăng khăng cho rằng “chỉ điều này mới là sự thật”. Lời kinh nào cũng có thể có nhiều cách giảng khác nhau, đặt trọng tâm vào những chỗ khác nhau. Rất dễ thấy trường hợp các vị sư hiện thời, hay các trường phái truyền thống giảng dạy những điều khác biệt với kinh tạng. Điều không dễ gì hiểu được, nhưng rất đáng quan tâm, là những sự đổi thay ấy do đâu mà có, và những khía cạnh nào của giáo pháp có thể bị ảnh hưởng đến. 

Nếu bạn hoang mang, hãy nhớ đến tinh thần bình thản mà kinh Phật vẫn nhắc đến: “Không chấp nhận, cũng không chối từ, tôi sẽ tìm hiểu ý nghĩa…” Trong đạo Phật, chúng ta không nhất thiết phải hoàn toàn tin vào từng chi tiết của kinh điển; nhưng nếu ai đọc kinh với thái độ bới lông tìm vết, thì người ấy sẽ chẳng bao giờ thực sự hiểu được.

Ở bất cứ khía cạnh nào của Pháp – dù là thiền, là triết lý, là đạo đức, luân lý, là những câu chuyện đầy cảm hứng - không gì sánh được với những trải nghiệm của chính bản thân. Hãy thử sống theo lời dạy trong kinh rồi xem nó ảnh hưởng như thế nào đến cuộc đời bạn. Hãy quán niệm về nó. Tôi đã làm điều ấy 18 năm, và chưa lần nào bị thất vọng. Lỗi lầm gì của tôi, tất cả đều xảy ra do tôi không sống được đúng theo Pháp, chứ chẳng khi nào là do sai lầm của Pháp.

Chuyển dịch: Một nhóm Phật Tử Bắc Mỹ

---------------------------- 

How to Read the Suttas

Bhante Sujato


Since I started practicing Buddhism, I have found the Suttas to be an invaluable refuge. There is so much wisdom, so many amazing things – they are an inexhaustible trove of Dhamma. I encourage all Buddhists the have the habit of daily, or at least weekly, reading the Suttas.

The Suttas are not immediately striking. They are often repetitive, and can be mundane. But their beauty is a subtle thing. It lies in the balance, the sense of form, the reasonableness, the Buddha’s serenity and wisdom in every imaginable situation.

It’s best to read them a little at a time. One Middle-length Sutta is ideal for one session. Read it slowly, carefully. Notice if there are things that you don’t understand—and beware of what you think you already understand. When you have finished, check any footnotes or other guides to comprehension. Don’t get too analytic about it—try to soak in the whole essence of the teaching. If you read a Sutta before meditation, it can uplift and inspire your mind, and the meaning becomes clear.

Remember you are reading a translation. Don’t get hung up on the specific connotations of terminology—that’s just the choices of the translator. Become familiar, one word at a time, with the Pali/Sanskrit terms that underlie all Buddhist teachings. But beware of over-interpreting individual words: the true meaning of a spiritual text emerges from context and experience, not from etymology.
Notice your own response to the text: what is inspiring, what is boring, what is dubious. Your responses belong to you, not the text.

Beware of the mind that wants to criticize the text. Even though I myself believe in the importance of text-critical studies, this is after many years of study and reflection. It takes time to get a sense for these things. Have compassion for the text. Read it kindly, as if you were listening to a beloved friend. It was composed in an oral tradition in a far off time and place. It is a miracle that it exists at all, and we should not be put off if some of the modes of expression are alien to us.

Perhaps a bigger problem is the desire to literalize or insist on a particular reading. The Suttas have a word for this: idasaccabhinivesa—the insistence that “this alone is the truth”. Any text is open to different readings and emphases. It is easy enough to find cases where modern teachers or traditional schools teach things that differ from the Suttas. It is not so easy, but far more valuable, to understand why these changes came to be made, and to understand what aspect of Dhamma is at stake.

If you are in doubt, remember the poised attitude that the Suttas themselves speak of: “Neither accepting nor rejecting, I will inquire about the meaning…”. In Buddhism, we are not expected to believe literally every detail of the scriptures; but if we read them with a fault-finding mind, we will never really get it.

Whatever aspect of Dhamma—whether meditation, philosophy, ethics, or inspiring stories—there’s nothing like the real thing. Take the text, and live it. Try it out and see what it does in your life. Meditate on it. I’ve been doing this for 18 years now, and I’ve never been let down. Whatever faults I have, they’re all because of my failing to live up to the Dhamma, not because of the Dhamma itself.

*

Saturday, 2 December 2017

Tượng Phật xúc địa trong chùa Đại Giác, Bồ-đề Đạo Tràng (Mahabodhi Temple, Bodh Gaya)

Nguồn: Bhante Dhammika, The Buddha’s True Face

Trong suốt 500 năm, chánh điện trong chùa Đại Giác vẫn trống rỗng. Vào năm 1877, vua Miến Điện gửi một phái đoàn được gửi đến sửa chữa ngôi chùa, và họ đã an vị một tượng Phật bên trong chùa nhưng là một tượng không được đẹp lắm vì được làm bằng gạch trát vữa. Sau đó vào năm 1880, ông Joseph Beglar được chính phủ Ấn Độ ủy quyền để sửa chữa ngôi đền. Vị cố vấn không chính thức của ông trong nhiệm vụ này là nhà khảo cổ nổi tiếng Alexander Cunningham. Sau khi việc trùng tu ngôi chùa kết thúc, hai ông cảm thấy vẫn còn thiếu một cái gì đó, cần có một tượng Phật phù hợp để đặt trong chánh điện. Rất nhiều tượng Phật được tìm thấy trong vùng Bodh Gaya nhưng sau khi xem xét hai ông thấy đều không phù hợp – hoặc quá nhỏ, hoặc không nguyên vẹn, hoặc giống các vị bồ- tát hơn là Đức Phật.

Cuối cùng họ tìm được một tượng Phật tại một ngôi đền nhỏ trong dinh thự của vị đạo sư Ấn Độ giáo trong vùng, là người đã từng đòi quyền sở hữu khuôn viên Bodh Gaya và chùa Đại Giác. Tượng Phật nầy vẫn còn nguyên vẹn, với hình dáng rất đẹp và vừa đúng kích thước, không quá nhỏ để cảm thấy tầm thường trong chánh điện mà cũng không quá lớn làm cho chánh điện có vẻ chật chội. Những dòng chữ khắc trên đế của tượng Phật cho biết tượng do ông Chhindha Purnabhadra đặt làm trong khoảng thế kỷ 12.

Khi ông Cunnimgham hỏi xin tượng Phật đó, vị đạo sư Ấn Độ giáo từ chối. Nhưng ông là một người khôn khéo nhiều mưu lược nên cuối cùng ông cũng có được tượng Phật từ vị đạo sư ấy. Chúng ta không biết bằng cách nào ông đã thành công – bằng những lời hứa hẹn, những lời tâng bốc, hay những lời đe dọa. Hôm nay tượng Phật này được an vị trong chánh điện chùa Đại Giác, trầm lặng nhìn xuống khách hành hương từ khắp nơi trên thế giới đến đây chiêm bái.

– Quy Dac Nguyen dịch Việt
(Binh Anson hiệu đính), 19-07-2017

* * *
For nearly 500 years the asana inside the Mahabodhi Temple stood empty. In 1877, the embassy sent by the king of Burma to repair the Mahabodhi Temple installed a statue inside it but this was a rather unattractive image made out of old bricks and plaster. Then in 1880, Joseph Beglar was commissioned by the Indian government to repair the Temple. His unofficial adviser in this task was the great archaeologist Alexander Cunningham. After work on the Temple was finished the two men felt that there was still something missing, a fitting statue in its main shrine. Numerous Buddha statues were lying all around Bodh Gaya but on examination they were all found to be unsuitable, either too small, damaged or of Bodhisattvas rather than of the Buddha himself.

Finally a statue was located in a small shrine in the Mahant’s residence, the Hindu monk who laid claim to own Bodh Gaya village and its temple. The statue was undamaged, with fine feature and just the right size, neither too small so as to look insignificant in the shrine or too large so as to make it appear cluttered. The fragmentary inscription on the base of this statue says that it was commissioned by the Chhindha Purnabhadra in about the 12th century.

When Cunnimgham asked the Mahant if he could have the statue he refused. But he was a resourceful man and he finally was able to pry it from the Mahants grip. What promises, flattery or threats he used we do not know. Today this statue sits in the Mahabodhi Temple, its serene and being gaze looking down on those who come from all over the world to worship it.

*


November 2017

Saturday, 18 November 2017

Khóa Phật học từ xa (Buddhist Distance Education)

Khóa Phật học từ xa (Buddhist Distance Education)
Học viện PGVN, Sài Gòn

Hôm qua tôi xem một video trên Youtube trong đó thầy Nhật Từ có giới thiệu đến các cư sĩ Phật tử về chương trình các khóa Phật học từ xa (Distance Learning, Distance Education) của Học viện Phật giáo Việt Nam, Sài Gòn. Tò mò, tôi tìm đến trang web http://vbu.edu.vn/elearning/ để xem chương trình học.

Tôi hoan hỷ và xin tán thán công đức của quý vị giảng sư và ban tổ chức chương trình nầy. Rất đầy đủ, có thể so sánh tương đương với khoa Phật học của các đại học khác trên thế giới.

Tôi biết có vài bạn cư sĩ Phật tử của tôi đã hoàn tất hay đang theo học chương trình nầy và tôi thật sự ngưỡng mộ các bạn ấy. Tôi xin giới thiệu đến các bạn khác, tùy hoàn cảnh và nếu thu xếp được, cũng nên tìm hiểu và tác ý đăng ký theo học.

---------------
Chương trình (Khóa III, 2013-2017)

HỌC KỲ 1
Khái luận về Phật học
Lịch sử Phật giáo Ấn Độ
Tiếng Việt thực hành
Triết học Ấn Độ
Phương pháp nghiên cứu
Hán cổ (1)
Thuật ngữ Phật pháp tiếng Anh (1)
Kinh Trung bộ (1)

HỌC KỲ 2
Luật học Phật giáo đại cương
Thiền học đại cương
Lịch sử triết học phương Tây
Lịch sử Việt Nam
Trường A Hàm
Hán cổ (2)
Thuật ngữ Phật pháp tiếng Anh (2)
Kinh Trung bộ (2)

HỌC KỲ 3
Kinh Trung bộ (3)
Văn học Phật giáo
Lịch sử Phật giáo Việt Nam
Tâm lý học
Triết học Mác-Lênin
Hán cổ (3)
Thanh tịnh đạo luận
Thuật ngữ Phật pháp tiếng Anh (3)

HỌC KỲ 4
Kinh Pháp Hoa
Tín ngưỡng tôn giáo
Lịch sử văn học Việt Nam
Triết học Phật giáo
Tiểu bộ kinh
Quản trị hành chánh
Thuật ngữ Phật pháp tiếng Anh (4)
Hán cổ (4)

HỌC KỲ 5
Kinh Kim Cang
Đạo đức học Phật giáo
Thắng pháp tập yếu luận
Câu xá luận
Hán cổ (5)

HỌC KỲ 6
Triết học Tôn giáo
Triết học Chính trị-Xã hội Phật giáo
Đại thừa khởi tín luận
Logic học Phật giáo
Hán cổ (6)

HỌC KỲ 7
Kinh Lăng Già
Dị bộ tông luân luận
Thành duy thức luận
Nhận thức luận Phật giáo
Hán cổ (7)

HỌC KỲ 8
Trung quán luận
Phật giáo Nguyên thủy và Đại thừa
Kinh Trường bộ
Tư tưởng Phật giáo Việt Nam
Hán cổ (8)

*

Thursday, 9 November 2017

Mission accomplished (Sứ mệnh đã hoàn thành)

Sách: NHỮNG LỜI PHẬT DẠY, Bhikkhu Bodhi, Bình Anson dịch

Một cuốn đã hứa cho bạn đạo tại Perth, còn lại một cuốn cuối cùng dành cho người hữu duyên. Nghe nói chùa Giác Ngộ, Q. 10 Sài Gòn, cũng đã phát hết sách.

Như thế, tổng cộng số sách đã in ấn tống (không bán) trong 2 năm qua trong nước (bởi các nhóm Phật tử hùn phước ấn tống, Pháp viện Minh Đăng Quang, Chùa Giác Ngộ) và hải ngoại (Chùa Pháp Luân, Texas, USA) là 25.000 cuốn.

Thêm vào đó, tôi đã có những buổi trình bày giới thiệu sách tại Sài Gòn, Đà Nẵng, Hà Nội, có 3 đợt chia sẻ trong diễn đàn PG Nam tông của PalTalk vào sáng Thứ Hai mỗi tuần, và gửi vào chia sẻ các biểu đồ, dàn bài trong trang Facebook cá nhân.

Sách cũng được phổ biến trong dạng e-book (PDF) tại các trang web Phật giáo. Ngoài ra, Trung tâm Diệu Pháp Âm (chùa Khuông Việt, Q. Tân Bình, Sài Gòn) đã tổ chức thu âm, phổ biến dạng sách nói.

Tôi đã nhiều lần khuyến khích mọi người cố gắng đọc cuốn sách cho xong trong 3 tháng. Không biết kết quả thế nào, tùy duyên, tùy nỗ lực tu học, tùy hoàn cảnh của mỗi cá nhân. Mỗi người phải tự mình thắp đuốc mà đi. Không ai tu giùm cho mình, mà mình cũng không nên có ảo tưởng tu cho người khác.

Xem như đã hoàn tất, kết thúc một giai đoạn. Bây giờ gác sang một bên, chuyển qua công việc khác.

*

Xin hồi hướng phần phước báu tạo được đến chư Thiên, cha mẹ ông bà, thân bằng quyến thuộc, quý chư tôn đức Tăng Ni đã khuyến khích hỗ trợ, quý vị thí chủ và các bạn cộng sự viên trong công tác ấn tống sách, bạn bè gần xa, và mọi loài chúng sinh trong cõi Ta-bà.

Nam-mô Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
_()_ _()_ _()_

Bình Anson
Perth, Western Australia
09/11/2017

* Xem thông tin về cuốn sách Những Lời Phật Dạy:

*

Wednesday, 8 November 2017

Rắc rối nhưng lợi ích

RẮC RỐI NHƯNG LỢI ÍCH
(nhất là cho các bạn đang học tiếng Anh)
 
Không phải lúc nào tôi cũng chọn sự giản dị mà chê bai, xa lánh những vấn đề phức tạp, rắc rối. Chẳng hạn như biểu đồ kèm theo, do ông Stephen Karakashev thiết kế vào năm 2013 trong diễn đàn Phật giáo Dhamma Wheel (dhammawheel.com), tóm tắt các điểm cốt lõi trong giáo lý nhà Phật và sự tương quan. Tuy thấy rắc rối nhưng nếu ta bình tâm quan sát, theo dõi, sẽ thấy rất thú vị và thu thập được nhiều điều lợi lạc.
 
Một ích lợi quan trọng khác là giúp cho học viên các khóa Phật học tiếng Anh thu thập thêm từ vựng và thuật ngữ. Ngay cả cho những ai đọc được tiếng Anh, đây cũng là một dịp tốt để ôn lại và bổ sung thêm cho vốn liếng từ ngữ Phật học của mình.

Có thể tải về bản gốc tại:
https://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/b/b3/Dhamma_Chart_in_English.gif 
(1,800 x 1,500 pixels)

*

Thursday, 2 November 2017

Mạng ảo, người thật

Trưa nay, bưu điện mang đến một hộp quà của một bạn đạo ở Mỹ gửi tặng. Bạn ấy vừa thực hiện một chuyến hành hương Đông Nam Á (Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Ấn Độ), và khi trở về Mỹ gửi quà đến mình. Tôi rất cảm động và hoan hỷ khi nhận được món quà nầy, đầy đủ hương vị quê hương: trà hoa cúc, càfê, bánh đậu xanh, mứt dừa, thanh long sấy khô. Bạn ấy còn chu đáo gửi kèm phin lọc cafê để tôi thưởng thức cho đúng điệu Sài Gòn. Ngoài ra còn có một túi càfê sữa 3-in-1 quốc tế. Gọi là “quốc tế” vì sản xuất tại Malaysia, bán ở Miến Điện, bạn ấy mua đem về Mỹ, rồi gửi sang Úc!

Tôi chưa từng gặp mặt và trực tiếp nói chuyện với người bạn ấy. Qua Facebook, chúng tôi chỉ trao đổi vài kinh nghiệm tu học, vài thông tin hành hương viếng các cảnh chùa, vài thông tin về các vị cao tăng thiền sư. Thế nhưng, có lẽ chúng tôi có được một sự đồng cảm nào đó giữa những người con Phật.

Tôi sinh hoạt trong các môi trường Internet trong hơn 20 năm qua, qua các diễn đàn Phật giáo, qua đóng góp trên các trang web Phật giáo, qua Paltalk và gần đây là qua trang Facebook cá nhân. Nhờ vậy, tôi có được những người bạn thân tình như thế mà cho đến nay vẫn chưa đủ duyên để gặp nhau trò chuyện dưới đất.

Nhưng đó không phải là điều tối cần thiết. Nếu đủ duyên thì sẽ có dịp gặp nhau. Chưa đủ duyên thì liên lạc, trao đổi qua các mạng ảo. Điều quan trọng là vẫn giữ được tình bạn đạo để giúp nhau, khích tấn, trao đổi kinh nghiệm, sự hiểu biết để mỗi người chúng ta tự bước đi, tiến dần đến bờ sông giải thoát.

*

Wednesday, 1 November 2017

Sách: Satipaṭṭhāna - Con Đường Thẳng Tới Chứng Ngộ

SATIPAṬṬHĀNA - CON ĐƯỜNG THẲNG TỚI CHỨNG NGỘ
& Nghiên Cứu Đối Chiếu với các bộ A Hàm
Nguyễn Văn Ngân dịch (2017)

Nguyên tác:
The Direct Path to Realization &
A Comparative Study of the Majjhima Nikaya
Bhikkhu Anālayo (2004)

Tải bản PDF về để đọc trên máy vi tính:
=> http://budsas.net/sach/vn43.pdf (dung lượng: 5.50 MB)

*

Sunday, 29 October 2017

Khánh Ly: Cuối cùng, chỉ còn lại tiếng hát

Khánh Ly: Cuối cùng, chỉ còn lại tiếng hát
Đậu Dung phỏng vấn, 21-10-2017

Ngồi nói chuyện cùng danh ca Khánh Ly sau chuỗi đêm nhạc “Khánh Ly–55 năm hát tình ca” diễn ra ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Nha Trang, Đà Lạt, Huế… vừa qua, bà nói, nghĩ về con số 55 năm thấy giật mình lắm. 55 năm, đủ chôn vùi tất cả. Cuối cùng, chỉ còn lại tiếng hát. Thôi, cũng đủ, cho một đời.

*

- Có thể thấy, mấy năm trở lại đây, Khánh Ly về nước hát liên tục. Có một vài người nói rằng, bà đang tận dụng thời gian còn lại của mình để kiếm tiền...

Khánh Ly: Người nào hát thì cũng lấy tiền cả thôi. Hình như chưa có ai hát mà không lấy tiền. Vấn đề là lấy nhiều hay lấy ít. Nhưng tôi nghĩ, cả điều đó cũng không quan trọng bằng việc Khánh Ly từng này tuổi rồi, vẫn còn được hát và hát được cho khán giả của mình nghe. Nếu mà nói mọi người đi hát chỉ để kiếm tiền thì lời nói này, hơi ác. Đừng nghĩ ác về người ta như thế. Không nên. Hãy cố nghĩ tử tế về người khác, không chỉ riêng Khánh Ly mà với bất kỳ ai. Có một câu trong một bộ phim nói rằng, hãy sống tốt khi còn bên nhau. Tôi biết, để được như thế rất khó nhưng mình cứ hy vọng vậy, mong là như thế đi. Đừng nhìn ai ở khía cạnh xấu, sẽ có lúc phải ân hận đó. Tôi không nhắc đến hai chữ “nhân-quả” ở đây vì mình cũng không mong ai gặp những chuyện không hay đó. Nhưng các cụ mình nói rồi, trồng cây nào thì hái quả đó.

- Còn lá rụng về cội thì sao, thưa bà?

Khánh Ly: Không hẳn. Ở đâu cũng là hát thôi. Nhưng khi mình có một chút thời gian, không còn nợ chồng, nợ con thì lúc đó, mình có thể đi hát ở những nơi mà mình muốn. Ở bất cứ đâu và bất cứ lúc nào. Bây giờ, mình chẳng phải trả nợ ai cả. Mình chỉ trả nợ mình thôi. Mà, Khánh Ly có nợ ai đâu nhỉ? À, không nếu nói một cách khác, mình nợ rất nhiều người.

- Ca sỹ Khánh Ly năm nay 73 tuổi rồi. Bà đối diện với hai chữ “sống – chết” ra sao?

Khánh Ly: Nó cũng bình thường thôi. Có sinh thì phải có tử chứ. Ai mà sống mãi được? Sống mãi chật đất à? Mọi người ai cũng phải ra đi cả. Từ từ rồi cũng đi hết. Không một ai sống mãi được đâu. Ông Bành Tổ còn chết, nói gì mình? Cho nên tôi nghĩ, còn sống được ngày nào thì hãy cứ làm điều gì đó có ích, dù chỉ mang lại cho người ta một nụ cười, chỉ để lau giùm đứa nhỏ một giọt nước mắt. Nếu bạn còn đỡ được một người ngã đứng lên, thì mình vẫn còn nên sống, vẫn còn lý do để sống.

- Cách đây một năm, bà có nói với tôi rằng, cuộc đời này đã làm cho Khánh Ly bầm dập nhiều. Vậy mà giờ đây, vẫn phải trả ơn đời ư?

Khánh Ly: Ôi cái chuyện bầm dập ai cũng gặp phải, có phải riêng mình đâu. Không cách này thì cách khác. Chẳng nên trách ai cả. Chỉ có điều, đời mình thì mình sống thôi. Và vẫn phải trả ơn đời, vẫn phải biết ơn đời…

- Và chương trình “Vòng tay nhân ái” mà bà tham gia, cũng là một cách trả ơn đời…?

Khánh Ly: Từ trước đến giờ, Khánh Ly chỉ có tiếng hát thôi. Ai muốn làm gì thì làm. Tiền tôi chẳng biết đến. Từng này tuổi rồi, tôi vẫn chẳng biết gì về tiền. Tôi chỉ biết, ai có tiền muốn đi theo để giúp những người khốn khó thì đi cùng. Tôi nghĩ, mình nên tới những chỗ đó, rồi kêu gọi mọi người tới, còn hơn ngồi ở nhà chẳng làm gì cả rồi tưởng tượng những điều không có thật. Nó không tốt, cũng không ích lợi gì cho ai cả. Phải đến nhìn những cảnh đời đó thì mới thấy rằng, mình là người may mắn. Còn nói được vì không câm. Còn nhìn được vì không khiếm thị. Còn nghe được vì không bị điếc. Còn đi được vì không tàn tật. Còn cầm bát cơm mà ăn, nghĩa là đôi tay còn sử dụng được. Vì vậy, ráng làm điều gì đó cho tốt đẹp đi. Còn hơn ngồi đó rồi nghĩ xấu cho người khác.

- Nếu tôi lấy 100% làm số đo thì Khánh Ly sống được bao nhiêu phần cho mình trong 100% ấy?

Khánh Ly: Đời tôi, tôi chỉ sống cho chồng con và khán giả là nhiều. Còn bản thân mình thì… chưa đâu.

- Bà định bao giờ mới sống cho mình đây?

Khánh Ly: Ngày cuối cùng. Một ngày cuối cùng thôi.

- Nếu có một ngày gọi là ngày cuối cùng như thế, bà sẽ làm gì cho bản thân mình?

Khánh Ly: Ngồi yên và không nghĩ gì cả, đó là sống cho mình.

- Nghe có vẻ bình thản. Nhưng ai mà chẳng sợ cái chết chứ?

Khánh Ly: Bây giờ, tôi có thể ngồi đây và mạnh miệng nói tôi không sợ gì cả. Nhưng ai mà biết được? Tôi mong mình không có thời gian để chờ đợi. Tôi muốn mình đang đi trên đường thì lăn đùng ra chết. Hoặc ngủ không dậy nữa. Đó là một hạnh phúc lớn lắm. Tôi vẫn luôn ráng sống làm người tử tế để tôi được chết như vậy.

Còn hiện tại, tôi chẳng nghĩ gì đâu. Tôi chỉ biết ngày hôm nay tạ ơn Chúa, Mẹ rằng mình còn sống, mình còn làm được một cái gì đó, mình còn hát được một bài nào đó, thế là hạnh phúc. Còn ai muốn nói gì cũng được. Ai muốn “đạp” mình cũng được. Ai muốn chửi mình cũng được. Đó là quyền của người ta. Tôi chưa thấy ai mang tâm hại người này người kia mà bị đóng thuế. Nếu tất cả mọi điều đều bị đóng thuế thì tôi nghĩ, chẳng ai nói xấu ai đâu. Của đau con xót mà.

- Khánh Ly hay nói câu ‘tôi chẳng biết cái gì cả’. Vậy Khánh Ly biết cái gì?

Khánh Ly: Tôi chỉ biết hát thôi.

- Nhưng biết hát liệu đã đủ chưa?

Khánh Ly: Tôi nghĩ là đủ. Vì Chúa, Mẹ chỉ cho tôi thế thôi. Tôi nghĩ, nếu mình còn sống, còn hát được và nếu tiếng hát của mình có thể giúp thêm một hạt cơm, hạt gạo cho nhà chùa, cho các trẻ em mồ côi thì đó cũng là hạnh phúc lớn rồi. Vậy thì, cũng đủ hãnh diện để tôi sống những ngày còn lại của mình.

- Đúng kiểu “Đời cho ta thế với những sớm tối không đổi thay…” thì phải, thưa bà?

Khánh Ly: Đúng rồi. Đời cho ta thế thì ta nhận thế thôi. Không đòi hỏi. Không phàn nàn. Không trách móc. Không hờn giận. Không gì cả.

- Ở tuổi này, ca sỹ Khánh Ly mới có suy nghĩ đó hay trước đó mấy chục năm, bà đã như vậy rồi?

Khánh Ly: Từ cách đây mấy chục năm rồi. Những lời này tiếng nọ ở đâu đổ lên đầu mình. Mình nghe hết chứ. Nhưng có sao đâu? Bởi đó là cuộc đời. Nếu không như thế thì không phải là cuộc đời rồi. Cuộc đời phải thế. Hỉ nộ ái ố, đủ cả. Mọi người có đá thì cứ ném, chẳng may trúng mình thì mình ráng chịu thôi. Biết làm sao giờ?

- Nghe Khánh Ly nói chuyện thì tôi thấy, hình như Khánh Ly đã “già từ ngày còn xanh”?

Khánh Ly: Ở ta, người ta gọi như thế là chín ép đấy. Chưa chín nhưng bắt nó phải chín.

- Nhưng như thế thì có tội nghiệp cho tuổi trẻ của mình không, thưa bà?

Khánh Ly: Rất tội nghiệp. Rất đáng thương. Nhưng tự mình thấy thế thôi chứ mình không có nhu cầu cần ai thương hại. Mình tự thương mình thôi. Mình tự thương mình là thật nhất.

- Tôi tò mò một điều rằng, Khánh Ly ở tuổi này còn tin vào tình yêu không?

Khánh Ly: Tình yêu có nhiều loại tình yêu. Không chỉ có tình yêu đôi lứa đâu. Tôi chỉ có một niềm tin thôi, tin vào tôn giáo, tin vào Chúa, Mẹ, tin vào Thượng Đế. Chúa, Đức Phật đâu có dạy mình giết người, làm điều gì ác; thành ra, tôi tin. Còn lại, tôi không tin vào bất cứ thứ gì cả.

- Kể cả chồng ư?

Khánh Ly: Kể cả chồng. Tôi rất yêu nhưng không tin.

-Nghe hơi cực đoan và tàn nhẫn với tình yêu của mình…

Khánh Ly: Chồng tôi chẳng làm cái gì có lỗi với tôi cả. Nhưng cuộc đời dạy tôi một điều rằng, không nên tin vào bất cứ điều gì, kể cả chồng, kể cả con.

- Khánh Ly hát cho triệu người nghe nhưng đã bao giờ, ngay khi đứng trên sân khấu, bà thấy tiếng hát của mình không diễn tả được tiếng lòng của mình chưa? Đã bao giờ bà bất lực chưa?

Khánh Ly: Khi đứng trên sân khấu hát, nghĩa là tôi đang hát cho nỗi lòng của mình đó. Nhưng mà, không chỉ hát về nỗi lòng của mình; qua tiếng hát, tôi tìm tri âm, tri kỷ. Vì tôi biết, nhiều người cũng ở trong tâm trạng như tôi. Họ không hát được, không nói được, họ cũng không biết chia sẻ với ai và cũng không ai chia sẻ với họ. Người ta chỉ thích chia sẻ những cái vui, những điều hào nhoáng, những thú xôn xao thôi. Ai thích chia sẻ cái buồn?

Còn bạn hỏi tôi đã bao giờ cảm thấy bất lực chưa? Thì tôi trả lời rằng chưa, ít ra là với mình. Nhờ tiếng hát, nhờ âm nhạc, Khánh Ly cởi bỏ được tấm áo nặng nề, cởi bỏ được (một phần) quá khứ, dĩ vãng, cởi bỏ được những ồn ào, xôn xao xung quanh. Đến với tiếng hát, tôi trút được tất cả nỗi muộn phiền của đời sống này.

- Lần đầu tiên tôi nghe bà hát là ca khúc “Một cõi đi về.” Khánh Ly bây giờ 73 tuổi rồi, “Một cõi đi về” của bà bây giờ là gì?

Khánh Ly: Thì cứ nghe lời ông Sơn đi: “Rọi suốt trăm năm một cõi đi về. Đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng.Ngọn gió hoang vu thổi buốt xuân thì.”

Tuổi xuân nó ở trong trái tim, không phải ở trên khuôn mặt. Mình phải nghĩ, cuộc đời này màu hồng (dù mình biết nó không phải màu hồng đâu). Trong suy nghĩ của mình, mình phải bắt nó là màu hồng, muốn nó là màu hồng. Đó là một cách sống để mình có thể đi qua những ngày vui ít ỏi và cũng để quên những “ngày tháng tiêu điều” của cuộc đời.

*


Wednesday, 25 October 2017

Sách: NHỮNG LỜI PHẬT DẠY, Bình Anson dịch, phiên bản 2023-3

Tải sách Những Lời Phật Dạy dạng PDF để đọc trên máy vi tính, phiên bản tháng 3-2023 với nhiều chỉnh sửa, tại:

https://tinyurl.com/ju2p7k4p

* Giới thiệu sách Những Lời Phật Dạy, dàn bài & biểu đồ minh họa: http://budsas.net/dlpp/index.htm#nlpd

1) Đối với quý vị ở Việt Nam, xin hoan hỷ liên lạc đến xin sách tại:

   Chùa Giác Ngộ
   92 Nguyễn Chí Thanh, P.3, Q.10, Sài Gòn
   ĐT: +84 28 3830 9570

   Pháp viện Minh Đăng Quang
   505 Xa lộ Hà Nội, An Phú, Q. 2, Sài Gòn
   ĐT:  +84 91 827 27 78

2) Quý vị ở nước ngoài có thể liên hệ chùa Pháp Luân:

   Phap Luan Buddhist Cultural Center
   13913 S Post Oak Rd, Houston, TX 77045, USA
   Phone: +1 713-433-4364

3) Sách nói, do Trung Tâm Diệu Pháp Âm (Chùa Khuông Việt, 1355 Hoàng Sa, P.5, Q. Tân Bình, Sài Gòn) thực hiện:

   3a. Nghe online: http://dieuphapam.net/dpa/nhung-loi-phat-day.3899/

   3b. Nghe trên Youtube: https://www.youtube.com/playlist?list=PL8DgjWmX16apZQUyeanKymxZ6rtSTb_KI 

   3c. Tải về toàn bộ 49 tập tin âm thanh (MP3, audio files) :

   Chương 01-04: nlpd_audio_00-04.zip (dung lượng 462.4 MB)
   => https://mega.nz/#!CpRjBBjK!zOuINSNrMrZKLow1KlN7ssjs5ZL7Jzq2_sPYhkiJV1s

   Chương 05-08: nlpd_audio_05-08.zip (dung lượng 463.0 MB)
   => https://mega.nz/#!yxQn2KhK!oJbZ3ddbqamSGt7A-P_Ja5BknTWTXDsIxiRwXSNldww

   Chương 09-10: nlpd_audio_09-10.zip (dung lượng 361.9 MB, có kèm bản PDF của cuốn sách)
   => https://mega.nz/#!v1xWWABZ!oqIymVOEFl6v0GzpFwArOqN_NdqFUZszAF_lllV0m4c

   Đây là các files dạng nén ZIP. Giải nén để được các files âm thanh MP3.


*

Friday, 13 October 2017

Dự lưu: Nhập dòng thánh giải thoát

Bậc thánh Dự lưu là vị đã cắt đứt ba kiết sử đầu tiên, trói buộc chúng sinh trong vòng luân hồi: thân kiến, hoài nghi, giới lễ nghi thù.

Điều quan trọng cần ghi nhớ về quả vị DỰ LƯU:

1) Dự lưu hướng phần là bốn yếu tố hướng về (tạo điều kiện cho) quả vị nầy:
Thân cận bậc chân nhân.
Nghe diệu pháp.
Như lý tác ý.
Thực hành pháp và tùy pháp.

2) Dự lưu hạnh phần là bốn yếu tố tạo nên đức hạnh (tính chất) của một vị thánh Dự lưu:
Lòng tin vững chắc nơi Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng).
Giới đức trong sạch.
Tâm bố thí chia sẻ rộng rãi.
Có trí tuệ (thấy và biết sự sinh diệt của mọi hiện tượng).

Có hai hạng căn tánh của hành giả tiến đến quả vị Dự Lưu, dựa theo ngũ căn (tín, tấn, niệm, định, tuệ):

a) Tùy tín hành (Saddhānusāri): hành giả có TÍN căn nổi trội (tín căn mạnh hơn các căn khác).
b) Tùy pháp hành (Dhammānusāri): hành giả có TUỆ căn nổi trội (tuệ căn mạnh hơn các căn khác).

*