Friday, 29 December 2017

Sách: Phật giáo Nam tông Kinh Việt Nam 1938-1963

Sách mới.

Thiện Hậu Kusalapaccha (2017). Phật giáo Nam tông Kinh Việt Nam 1938-1963.


Tải về đọc: http://budsas.net/sach/vn46.pdf (2.92 MB)

*

Thursday, 28 December 2017

Mèo của tôi

Đây là mèo bốn chân, không phải là loại mèo hai chân thường là nguyên nhân gây gổ giữa vợ chồng trong xã hội. Nó là loại mèo hoang, không biết từ đâu đến nhà chúng tôi. Hai cô con gái tôi đi học về – lúc ấy còn học trường trung học, thấy nó dễ thương, vuốt ve, và đem cơm cho nó ăn. Thế là nó ở lại, không chịu đi nơi khác.

Một ngày nọ, tôi đi làm về, vào phòng cô Hai hỏi thăm, thấy cô ấy đem nó lên giường, nằm vuốt ve nó! Tôi không hài lòng, vì đó là mèo hoang, không biết dơ sạch thế nào, nên tôi cấm hai cô đem nó vào nhà, và đuổi nó đi. Hai cô năn nỉ, xin phép tôi giữ nó lại và nuôi nó. Chìu ý con, tôi nói có thể giữ nó lại, nhưng tuyệt đối không đem vào nhà.

Từ đó, nó thành mèo của chúng tôi. Tôi mua cho nó một cái giỏ đặc biệt dành cho mèo để nó ngủ, mua thức ăn đặc biệt cho nó. Mỗi ngày cho nó ăn và uống một ít sữa tươi. Vì là gốc mèo hoang, nó dễ sống, và cũng dễ dạy. Tôi chỉ rầy la mấy lần là nó biết ý, không chạy vào nhà nữa. Không biết nó là đực hay cái, cũng không biết đặt tên là gì, bèn gọi nó là “Mr C” – C là Cat, con mèo. Từ đó, cả nhà dùng tên nầy để gọi nó.

Khi dọn về nhà mới, tôi mang nó theo. Lúc đầu nó sợ, nhưng rồi cũng quen sân vườn nhà mới. Bây giờ hai cô đã học xong. Cô Hai lấy chồng rồi sang miền Đông lập nghiệp. Cô Ba tốt nghiệp, có việc làm, mua nhà phía sau, cũng dọn ở riêng. Chỉ còn vợ chồng tôi và Mr C. Mỗi ngày hai lần, tôi gánh vác việc cho nó ăn uống. Nhưng cũng vui, vì mỗi lần tôi ra tưới cây làm vườn là nó chạy theo làm bạn. Ban đêm, khi tôi ngồi trong phòng đọc sách hay mở máy vi tính, nó đi đến nằm bên ngoài vách tường, cạnh khung cửa sổ. Thỉnh thoảng gọi meo meo, có lẽ để trò chuyện với tôi qua khung cửa.

Mấy tháng trước nó bị kiến cắn sưng mắt. Cô Ba đem nó đến bệnh viện thú y. Khi khám bệnh, mới biết là mèo cái! Đã lỡ gọi là “Mr C” rồi, thì thôi, đành phải tiếp tục gọi như thế. Không biết nó bao nhiêu tuổi, nhưng nó ở với chúng tôi đã trên 15 năm. Theo thống kê, một năm tuổi mèo tương đương với bảy năm tuổi người. Như thế, tính theo tuổi người, nó cũng hơn trăm tuổi.

Mấy tuần qua, đột nhiên nó biếng ăn, hơi thở khọt khẹt, không còn năng động như trước, lông bắt đầu rụng khá nhiều. Tôi đoán có lẽ nó gần hết tuổi thọ. Tôi khéo léo báo cho bà xã và hai cô con gái biết, giải thích về sự vô thường, để sửa soạn tâm lý cho mọi người.

Trưa nay, đi bơi về, không thấy nó ra đón. Nhưng tôi bận, không để ý. Đến khoảng 6 giờ chiều, như thường lệ, tôi mở cửa sau nhà, gọi nó đến ăn, nhưng không thấy nó đâu. Tôi đi vòng ra phía trước, thấy nó nằm trước cửa, thoi thóp thở. Tôi đến gần, quan sát vuốt ve, biết ngay đây là những giây phút cuối cùng của nó. Tôi lấy cái nôi của nó, đặt nó vào đó, vuốt ve, nhẹ nhàng nói với nó nên ra đi thanh thản, đừng sợ sệt, đừng bám víu vào cái gì, nguyện cho nó được tái sinh vào cõi tốt lành, đừng tái sinh vào cảnh thú vật nữa.

Khoảng mười phút sau, nó nhắm mắt, ngừng thở. Chết nhẹ nhàng, không một tiếng rên la. Cũng lạ là hôm nay nhà vắng, không có ai, chỉ có tôi với nó. Tôi gọi điện thoại đến bệnh viện thú y hỏi thông tin, và đem xác nó đến đó để hỏa thiêu.

Trên đường đi, tôi suy nghĩ về sự vô thường, về kiếp sống khổ cực của loài thú, về duyên nghiệp của nó với gia đình chúng tôi, và nhất là về sự may mắn của tôi được sinh ra làm người, lại biết được Phật pháp và được gần gũi những người có tâm tu tập tốt. Vì vậy, tôi cần phải tinh tấn hơn nữa, trong sự tu tập cũng như trong các thiện sự. Đời người ngắn ngủi và bất định, không nên để phí thì giờ vào những việc hơn thua, tranh luận, tranh cãi vô ích.

Bình Anson
Perth, tháng 12-2014
-------------------------------------------

Sau một tuần lễ, khi các cảm xúc đã lắng dịu, tôi gửi email nầy đến cô Hai & cô Ba:

At 6.00 pm Friday 05/12/2014, as usual, I went outside to feed her. I called her few times but she did not turn up. I went around the house to the front door and saw her laying there, very weak. I touched her and she still recognised me. I knew she was dying. I took her basket, spread Jennifer’s old towel, and placed her on it. Then I took the basket to the front sliding door of the shrine room and left her there. I went inside, lid the candles, burnt the incense. I also placed an incense stick next to her basket. I prayed to the Buddha, then, went ouside and gently caressed her. I told her to let go, it’s time now to depart this world peacefully, don’t be scared, don’t be attached to anything, don’t be reborn again as a cat, let go ... About 10 minutes later, she had her last breath. I believe she had a good and peaceful death, and a good rebirth to a better destination in this universe.

I contacted the veterinary hospital in Balcatta, and took the whole basket there for cremation. I told them I did not want her ashes back.

Yesterday, a young Vietnamese boy died suddenly from a freak car accident in front of his house. I am helping his family for funeral arrangements. He just turned 18. Life is short and uncertain. Let enjoy every moment we have in a meaningful way.


Friday, 22 December 2017

Bốn pháp lập niệm & niệm hơi thở

Bốn pháp LẬP NIỆM (Tứ niệm xứ) & Quán niệm hơi thở
Tỳ-khưu Bodhi 
(Trích “Những lời Phật dạy”, trang 344-348, Bình Anson dịch)
 
Bài kinh giảng thường được xem bao gồm những hướng dẫn hành thiền đầy đủ nhất là Kinh Lập Niệm hay Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna Sutta). Có hai phiên bản bài kinh này, phiên bản dài trong Trường bộ, phiên bản trung bình ở Trung Bộ. Bản dài khác với bản trung bình ở phần phân tích mở rộng về Tứ Thánh Đế, có lẽ nguyên thủy là một chú giải sơ bộ được đưa vào bài kinh. Toàn bộ một chương trong Tương ưng bộ – chương Tương ưng Lập niệm (Satipaṭṭhāna-saṃyutta), cũng dành cho hệ thống hành thiền này.
 
Bài kinh Lập Niệm không đề nghị một đề mục hành thiền duy nhất hay một pháp hành thiền duy nhất. Mục đích của bài kinh là giải thích làm thế nào để thiết lập một chế độ chiêm niệm cần thiết để thực chứng Niết-bàn. Khung tâm thức thích hợp được thiết lập, như ngụ ý trong tựa bài kinh, được gọi là “thành lập niệm”. Từ “satipaṭṭhāna” có lẽ nên hiểu như là một hợp từ của “sati”, niệm hay tỉnh thức và “upaṭṭhāna”, thành lập. Vì thế “thành lập niệm” có lẽ là cách dịch tốt nhất nắm bắt được ý nghĩa nguyên thủy.
 
Theo công thức tiêu chuẩn kèm theo mỗi bài tập, mỗi “satipaṭṭhāna” là một phương thức trú xứ (viharati). Phương thức trú xứ này có liên quan đến việc quan sát các đối tượng trong một khung tâm thức thích hợp. Khung tâm thức đó gồm có ba phẩm chất tích cực: nhiệt tâm (tinh cần, ātāpa), niệm (sati) và tỉnh giác (hiểu biết rõ ràng, sampajañña). Từ “sati” nguyên thủy có nghĩa là trí nhớ, nhưng trong ngữ cảnh này có nghĩa là ghi nhớ hiện tại, một sự nhận thức bền vững về những gì đang xảy ra cho ta và trong ta trong mỗi lần trực nghiệm. Niệm, trong những giai đoạn đầu tiên, có liên quan đến giữ tâm quán sát liên tục vào đối tượng, có nghĩa liên tục giữ đối tượng trong tâm. Niệm ngăn ngừa tâm tuột đi, lang thang đến nơi khác qua những ý tưởng ngẫu nhiên, tạo thành hý luận và quên lãng. Niệm thường được xem xảy ra kết hợp chặt chẽ với “tỉnh giác”, một sự hiểu biết rõ ràng về những gì hành giả đang trực nghiệm.
 
Công thức mở đầu của bài kinh nói rằng hành giả tham gia vào việc thực hành này sau khi “đã chế ngự tham dục và ưu sầu trên đời” (vineyya loke abhijjhā-domanassaṃ). Cụm từ “đã chế ngự” không nhất thiết phải hiểu rằng hành giả trước tiên phải vượt qua ham muốn và ưu sầu – theo Chú giải, có nghĩa là dục tham và sân hận và từ đó đại diện cho năm triền cái – trước khi hành giả thực hành lập niệm. Cụm từ đó có thể hiểu là chính sự thực hành là phương tiện để chế ngự tham dục và ưu sầu. Như thế, trong khi chế ngự các ảnh hưởng ngăn che của tham lam và sân hận, hành giả làm khơi dậy các phẩm chất tích cực của nhiệt tâm, niệm và tỉnh giác và quán soi bốn lĩnh vực đối tượng: Cơ thể, các cảm thọ, các trạng thái tâm và các hiện tượng (thân, thọ, tâm, pháp).
 
Đây là bốn lĩnh vực đối tượng phân chia việc quan sát tỉnh thức thành bốn sự thành lập niệm. Bốn lĩnh vực đối tượng này chia phần mô tả kinh Lập Niệm thành bốn đoạn chính. Hai trong số đoạn này, đoạn đầu và đoạn cuối, có nhiều phân đoạn. Khi tổng cộng các phân đoạn, chúng ta có được hai mươi mốt đề mục hành thiền. Nhiều đề mục này có thể dùng để phát triển an chỉ (samatha), nhưng toàn thể hệ thống lập niệm dường như đặc biệt được thiết kế để phát triển minh quán (vipassanā). Những đoạn chính trong cách phân chia này như sau:
 
1. Quán thân (kāyānupassanā). Gồm có mười bốn đề mục: quán niệm hơi thở; quán bốn oai nghi; quán thân hành; quán thân ô trược (qua quan sát các bộ phận của cơ thể); quán tứ đại; và chín đề mục quán tử thi – những pháp quán tử thi qua các giai đoạn hư thối.

2. Quán thọ (vedanānupassanā). Cảm thọ chia làm ba loại chính – lạc, khổ, không khổ không lạc – và mỗi loại thọ được phân biệt thêm về cảm thọ nơi thân xác hay ở tâm. Tuy nhiên, bởi vì chúng chỉ là cảm thọ, quán thọ được xem chung là một đề mục.
 
3. Quán tâm (cittānupassanā). Đây là một đề mục về tâm, phân biệt thành tám đôi trạng thái tâm đối nghịch.

4. Quán pháp (dhammānupassanā). Từ “pháp” (dhammā) ở đây có lẽ để chỉ các hiện tượng, được phân thành năm loại theo lời dạy của Đức Phật, là Giáo Pháp (Dhamma, Pháp). Như thế, “quán pháp” có ý nghĩa kép, là các pháp (dhammas, hiện tượng) được quán bằng Giáo Pháp (Dhamma). Năm phân hạng là: năm triền cái, năm uẩn, sáu nội xứ và sáu ngoại xứ, bảy giác chi và bốn sự thật cao quý.
 
Mặc dù không nói rõ trong bài kinh, một chuỗi tăng tiến dường như được ngụ ý bằng các điều khoản mô tả mỗi pháp quán. Trong quán niệm hơi thở, hành giả tiến dần đến các mức độ an định vi tế; trong pháp quán thọ, hành giả tiến đến các cảm thọ phi cơ thể không lạc không khổ; trong pháp quán tâm, hành giả tiến đến trạng thái tâm tập trung và giải thoát. Những điều này cho thấy các diễn tiến trong ba pháp quán này giúp tăng cường mức định tâm. Trong pháp thứ tư – quán các pháp, tầm quan trọng chuyển hướng đến minh sát. Hành giả bắt đầu bằng cách quan sát và chế ngự năm triền cái. Chế ngự năm triền cái đánh dấu thành công trong định tâm. Với tâm định, hành giả quán năm uẫn và sáu xứ. Khi quán niệm có đà phát triển, bảy giác chi hiện rõ ra và phát triển bảy giác chi đưa đến đỉnh điểm về tri kiến bốn sự thật cao quý. Tri kiến bốn sự thật cao quý giúp giải phóng tâm khỏi các lậu hoặc và như thế, đưa đến chứng đắc Niết-bàn. Do đó, hệ thống hành thiền này hoàn tất con đường trực tiếp hướng đến thực chứng Niết-bàn, như Đức Phật đã giảng dạy.
 
Mỗi bài tập quán niệm chính được bổ sung bằng một đoạn phụ trợ, một “điệp khúc” với bốn phân đoạn. Phân đoạn thứ nhất cho biết hành giả quán đề mục bên trong (bên trong kinh nghiệm của chính mình), bên ngoài (suy ngẫm như thể xảy ra với kinh nghiệm của người khác) và cả hai. Việc này đảm bảo hành giả có được một cái nhìn cân bằng và đầy đủ về đối tượng. Phân đoạn thứ hai cho biết hành giả quán đề mục vốn được sinh khởi, bị đoạn diệt, được sinh khởi lẫn bị đoạn diệt. Điều này soi sáng tính chất vô thường và từ đó, đưa đến tuệ minh về ba đặc tướng: vô thường, khổ và vô ngã (anicca, dukkha, anattā). Phân đoạn thứ ba dạy hành giả đơn thuần ghi nhận đối tượng với mức độ cần thiết cho niệm vững bền và tri kiến. Phân đoạn thứ tư chỉ rõ hành giả an trú vào trạng thái tâm hoàn toàn xả ly, không dính chấp vào bất cứ việc gì trên đời.


Trong bài kinh Lập Niệm, quán niệm hơi thở (ānāpānasati) được đưa vào như chỉ là một đề mục hành thiền trong nhiều đề mục khác, nhưng kinh tạng Nikāya gán cho pháp thiền ấy một vị trí có tầm quan trọng cơ bản. Đức Phật nói Ngài dùng pháp quán niệm hơi thở như là đề mục hành thiền chính để chứng đạt giác ngộ (SN 54:8). Trong suốt cuộc đời hoằng pháp, thỉnh thoảng Ngài sống ẩn dật và dành trọn thời gian cho việc “định tâm bằng quán niệm hơi thở”, và Ngài đã vinh danh pháp quán đó qua cách gọi đó là “trú xứ của Như Lai (Như Lai trú)” (SN 54:11).

Quán niệm hơi thở là chủ đề của trọn một chương trong Tương ưng bộ (SN 54, Ānāpāna-saṃyutta, Tương ưng Hơi thở vào ra). Trong khi kinh Lập Niệm giải thích quán niệm hơi thở qua công thức bốn bước, các bài kinh trong Tương ưng bộ mở rộng thành mười sáu bước. Các bài kinh nầy mô tả mười sáu bước đó. Bởi vì các bước này không cần thiết phải tuần tự nhưng có phần trùng lặp, chúng có thể xem như là các khía cạnh chứ không phải là các bước thực hành. Mười sáu bước được gom lại thành bốn nhóm bộ bốn, mỗi bộ tương ứng với một trong bốn cách lập niệm. Bộ bốn đầu tiên là bốn khía cạnh đã đề cập trong kinh Lập Niệm trong đoạn về quán thân, nhưng các bộ bốn kia mở rộng việc thực hành đến quán thọ, quán tâm và quán pháp. Vì vậy, phát triển quán niệm hơi thở có thể thực hiện không chỉ là một nhưng tất cả bốn sự thiết lập niệm.
 
Bốn pháp lập niệm, dựa trên quán niệm hơi thở, lần lượt hoàn tất bảy giác chi; và điều này đưa đến tuệ tri và giải thoát. Bài giảng này cho thấy quán niệm hơi thở là pháp thiền đầy đủ, bắt đầu bằng chú tâm đơn giản vào hơi thở và đưa đến đỉnh điểm tâm giải thoát vĩnh viễn.

* * *

Sunday, 17 December 2017

Học trò cùng trường

HỌC TRÒ CÙNG TRƯỜNG

Phật tử chúng ta như thể là những học trò cùng học một trường. Có người học “full-time”, dành toàn thời gian để học. Có người học “part-time”, vừa đi học, vừa đi làm. Có người học full-time vài năm rồi chuyển sang part-time. Cũng có người học part-time một thời gian rồi chuyển sang full-time. Có người thích học môn học nầy, có người thích học môn học kia. Có người thích học các môn học căn bản để áp dụng vào đời sống hằng ngày; nhưng cũng có người chọn học các môn học triết lý siêu hình, lý luận xa vời viễn vông.

Từ "Phật tử" (Buddhists) ở đây được dùng theo nghĩa rộng, để chỉ chung cho những người con Phật, đệ tử, học trò của Ngài, tức là "tứ chúng": xuất gia (học full-time) và tại gia (học part-time), nam và nữ.

Có người học chậm, có người học nhanh. Có người học nghiêm túc, thi cử đàng hoàng. Có người chỉ thích học tắt, có khi tìm cách gian lận lúc làm bài thi. Có người siêng năng, chăm chỉ; nhưng cũng có người ham chơi, lười biếng, v.v.

Tuy nhiên, trường học này không bao giờ xua đuổi học trò cho dù chúng học chậm, trốn học, quậy phá, gian lận v.v. Chỉ có trò bỏ trường, trường không bao giờ bỏ trò.

Đặc biệt của trường học này là rất hiếm có thầy giỏi. Thông thường, người học lớp trên chỉ dạy lại cho người học lớp dưới. Nguyên tắc chung là mỗi người phải nỗ lực tự tìm tòi học hỏi cho riêng mình.

Có rất ít người học xong và tốt nghiệp ra trường. Cần phải dè dặt, suy xét, tìm hiểu về những người tự xưng đã tốt nghiệp, hay được người khác tôn xưng đã tốt nghiệp. Có thể đó là những người dùng bằng cấp giả, hay được người khác gán ghép cho những bằng cấp mà họ chưa có.

*

Friday, 15 December 2017

9 câu ngụy biện điển hình của người Việt

9 câu ngụy biện điển hình của người Việt 
Quang Minh, 07/11/2016


Có một thói quen rất nguy hiểm mà người Việt thường xuyên sử dụng trong giao tiếp, đó là thói quen ngụy biện. Thói quen này đã lây nhiễm một cách vô hình từ giao tiếp thường nhật, từ tâm lý thắng thua khi tranh cãi, và nhất là trong cộng đồng cư dân mạng …

Dưới đây xin được tổng hợp lại 9 câu “ngụy biện” điển hình của người Việt:

1. “Nhìn lại mình đi rồi hẵng nói người khác”

Mình làm sai thì là sai rồi, sao lại không nhận sai, không nói thẳng vào vấn đề “mình sai” mà lại quay qua tìm điểm yếu của người khác? Việc này cũng giống như là khi nhận được góp ý: “Viết sai chính tả rồi kìa”, thì thay vì sửa sai, bạn lại bốp chát: “Thế mày chưa viết sai bao giờ à?”

2. “Có làm được gì cho đất nước đâu mà to mồm”

Người ta có làm được gì hay không thì là điều mình chưa biết, hơn nữa bạn đã “lạc đề” rồi. Vấn đề người ta nêu ra thì bạn không trả lời, không đưa ra luận điểm logic, mà lại đi đường vòng, chuyển qua công kích người khác.

3. “Nó ăn trộm chó thì cứ đánh cho nó chết”

Lập luận này đã khiến cho những kẻ trộm chó vốn không đáng phải chết bị giết chết bởi chính những người dân tưởng chừng “lương thiện”. “Ăn trộm chó” là sai, nhưng “giết người” cũng là sai, hai sai thì không phải là một đúng, mà là sai lại càng sai.

4. “Làm được như người ta đi rồi hãy nói”

Lại một hình thức “lạc đề”. Luận điểm mà người ta đưa ra thì bạn không xoay quanh mà bàn luận, lại cứ phải công kích cá nhân người khác thì mới vừa lòng sao?

5. “Nếu không hài lòng thì cút xéo ra nước ngoài mà sinh sống”

Lời nói này không chỉ đánh lạc hướng vấn đề, mà còn rất bất lịch sự, chuyên dùng để làm người đối diện tức giận, chứ chẳng có một chút logic nào trong đó cả.

6. “Chỉ có những người chân lấm tay bùn từ nhỏ mới là người cần cù chăm chỉ xây dựng đất nước”

Câu khẩu hiệu này đã từng xuất hiện ở Việt Nam trong quá khứ. Người ta có câu “vơ đũa cả nắm”, ấy chính là để chỉ việc lập luận cảm tính, khái quát cảm tính, mà không hề đưa ra logic hợp lý nào cả. Cũng như vậy, khi phân chia giai cấp và tuyệt đối hóa đấu tranh giai cấp, thì người ta đã mắc sai lầm ngụy biện, ví như chủ đất không nhất định là xấu, chủ doanh nghiệp cũng không nhất định là xấu, và người làm công ăn lương hay nông dân chắc gì đã là một người tốt cần cù chăm chỉ?

7. “Nước nào mà chẳng có tham nhũng”

Vì nước nào cũng có tham nhũng nên Việt Nam được phép có tham nhũng hay sao? Vì mọi người đều vượt đèn đỏ nên tất nhiên tôi cũng phải vượt đèn đỏ? Vì xã hội thiếu gì nghiện hút nên trong nhà có người hút chích cũng là bình thường?

8. “Nếu anh là họ mà anh làm được thì hẵng nói”

Đặt mình vào vị trí người khác là một tiêu chuẩn người xưa dùng để tu sửa bản thân, hướng vào bản thân tìm lỗi, là một nét văn hóa rất độc đáo của phương Đông. Tuy nhiên câu nói đó chỉ sử dụng khi một người tự răn mình, chứ không phải là một câu nói dùng trong tranh luận. Việc sử dụng nó trong tranh luận không chỉ là sự bịt miệng những phê bình của người khác, không giải thích các luận điểm của người khác, mà còn chứng tỏ rằng chúng ta đang phá hoại và lãng quên văn hóa truyền thống của chính mình.

9. “Tại sao anh dám nói chúng tôi sai? Anh là một tên phản bội dân tộc”

Kiểu lập luận chụp mũ này mặc nhiên coi mình là đúng, họ là sai, và những người đồng quan điểm với họ cũng là sai. Nó không hề đưa ra một thứ logic nào, nhưng lại cắt ngang một cái giới tuyến, và tùy tiện định tội cho người khác.

*

Tất nhiên đây mới chỉ là những câu ngụy biện cơ bản nhất, thường thấy nhất. “Văn hóa ngụy biện” đã ngày càng xuất hiện thường xuyên hơn, muôn hình vạn trạng, và luôn ẩn giấu trong tư duy của người Việt. Vậy nguyên nhân của thói quen này là từ đâu?

Trong phần nhiều các lỗi ngụy biện thường gặp của người Việt, có một tâm lý cơ bản hiện rõ ra khi tham gia thảo luận, đó chính là tâm tranh đấu, hiếu thắng, và không hề tôn trọng người đối diện. Ngoài đó ra, chúng ta cũng hay bị ảnh hưởng của tâm lý đám đông, lợi dụng tâm lý đám đông để che đi trách nhiệm của bản thân mình.

Muốn tránh cách tư duy ngụy biện, chúng ta không những phải sửa lối tư duy vòng vo, thiếu suy nghĩ, mà còn phải sửa chính từ tâm thái của mình khi trao đổi và luận bàn về mọi việc. Điều cơ bản nhất khi tham gia tranh luận là có trách nhiệm trong lời nói của chính mình và biết tôn trọng người đối diện.

Quang Minh tổng hợp

*
Đọc thêm:
Về thói Ngụy Biện, http://budsas.blogspot.com.au/2013/03/ve-thoi-nguy-bien.html

*

Sunday, 10 December 2017

Nên đọc Kinh như thế nào?

NÊN ĐỌC KINH NHƯ THẾ NÀO

How to Read the Suttas

Bhante Sujato
Nhóm Phật tử Bắc Mỹ dịch Việt

Từ những ngày mới bắt đầu thực hành Phật Pháp, tôi đã thấy các bộ kinh Phật là nơi nương tựa tuyệt vời. Nơi ấy có biết bao điều uyên thâm, kỳ diệu – thật là một kho tàng vô tận về Giáo Pháp. Tôi muốn khuyến khích mọi Phật tử nên hàng ngày mở kinh ra đọc, hay ít nhất là hàng tuần.

Kinh Phật không có sức lôi cuốn tức khắc. Trái lại, thường lập đi lập lại, và có thể không có gì hấp dẫn. Nhưng cái hay đẹp của kinh rất tinh tế. Nó tiềm ẩn trong sự quân bình, trong cách cấu trúc rõ ràng, trong sự hợp lý, trong bản chất thanh tịnh và trí tuệ của Đức Phật trước mọi tình huống có thể tưởng tượng được.

Tốt nhất là nên đọc mỗi lần một ít. Mỗi lần đọc kinh thì nên đọc một đoạn kinh dài trung bình là lý tưởng nhất. Đọc từ từ, cẩn trọng. Để ý xem có chỗ nào mình không hiểu – và cẩn thận xem xét lại cả những chỗ mình nghĩ là mình đã hiểu. Đọc xong rồi nên kiểm lại với những chú thích cuối trang hay những hướng dẫn khác để thông hiểu . Tránh không phân tích quá chi li – hãy cố gắng thâm nhập trọn vẹn cốt lõi của lời kinh. Nếu chúng ta đọc kinh trước khi ngồi thiền, nó có thể giúp ta hứng khởi, tâm tư trong sáng, ý nghĩa trong kinh sẽ rõ ràng hơn.

Nên nhớ là chúng ta đang đọc bản dịch. Đừng vướng mắc, bận tâm vào những thuật ngữ này nọ - đó chỉ là sự chọn lựa chữ dùng của dịch giả. Nên tập làm quen, mỗi lần một chữ, với các từ Pali hay Sanskrit vốn là nền tảng của lời Phật dạy. Lại càng nên đề phòng thói quen hay diễn giải quá lố từng chữ một: ý nghĩa đích thực của bài kinh thoát ra từ ngữ cảnh và kinh nghiệm, không phải nơi từ ngữ chuyên khoa.

Lắng nghe những cảm xúc của chính mình: điều gì cho mình cảm hứng, điều gì thấy nhàm chán, điều gì mơ hồ, không rõ. Cái phản ứng đó là của bạn, không phải là từ bài kinh.

Hãy coi chừng cái tâm có thói hay phê phán lời người khác. Mặc dù chính tôi tin rằng việc học hỏi, nghiên cứu, phê bình lời kinh là việc quan trọng, đây là sau nhiều năm nghiên cứu và tu tập. Cần phải có thời gian mới thấm được ý nghĩa. Nên thương yêu, quý mến lời kinh. Đọc với lòng nâng niu, trìu mến, như là ta đang lắng nghe người bạn thiết tha trò chuyện. Lời lẽ trong kinh được hình thành từ truyền thống truyền khẩu, xảy ra từ một thuở đã xa xưa, ở một nơi xa xôi lắm. Nó còn được lưu truyền đến ngày nay đã là một phép lạ. Vì thế, chúng ta không nên nản lòng cho dù đôi khi cách diễn đạt có vẻ xa lạ với chúng ta.

Một điều nữa có lẽ còn nguy hại hơn, đó là ý muốn hiểu kinh theo nghĩa đen hay cứ chấp chặt theo một cách giảng giải riêng biệt nào đó. Trong kinh Phật cũng có một chữ để chỉ thái độ ấy: idasaccabhinivesa– khăng khăng cho rằng “chỉ điều này mới là sự thật”. Lời kinh nào cũng có thể có nhiều cách giảng khác nhau, đặt trọng tâm vào những chỗ khác nhau. Rất dễ thấy trường hợp các vị sư hiện thời, hay các trường phái truyền thống giảng dạy những điều khác biệt với kinh tạng. Điều không dễ gì hiểu được, nhưng rất đáng quan tâm, là những sự đổi thay ấy do đâu mà có, và những khía cạnh nào của giáo pháp có thể bị ảnh hưởng đến. 

Nếu bạn hoang mang, hãy nhớ đến tinh thần bình thản mà kinh Phật vẫn nhắc đến: “Không chấp nhận, cũng không chối từ, tôi sẽ tìm hiểu ý nghĩa…” Trong đạo Phật, chúng ta không nhất thiết phải hoàn toàn tin vào từng chi tiết của kinh điển; nhưng nếu ai đọc kinh với thái độ bới lông tìm vết, thì người ấy sẽ chẳng bao giờ thực sự hiểu được.

Ở bất cứ khía cạnh nào của Pháp – dù là thiền, là triết lý, là đạo đức, luân lý, là những câu chuyện đầy cảm hứng - không gì sánh được với những trải nghiệm của chính bản thân. Hãy thử sống theo lời dạy trong kinh rồi xem nó ảnh hưởng như thế nào đến cuộc đời bạn. Hãy quán niệm về nó. Tôi đã làm điều ấy 18 năm, và chưa lần nào bị thất vọng. Lỗi lầm gì của tôi, tất cả đều xảy ra do tôi không sống được đúng theo Pháp, chứ chẳng khi nào là do sai lầm của Pháp.

Chuyển dịch: Một nhóm Phật Tử Bắc Mỹ

---------------------------- 

How to Read the Suttas

Bhante Sujato


Since I started practicing Buddhism, I have found the Suttas to be an invaluable refuge. There is so much wisdom, so many amazing things – they are an inexhaustible trove of Dhamma. I encourage all Buddhists the have the habit of daily, or at least weekly, reading the Suttas.

The Suttas are not immediately striking. They are often repetitive, and can be mundane. But their beauty is a subtle thing. It lies in the balance, the sense of form, the reasonableness, the Buddha’s serenity and wisdom in every imaginable situation.

It’s best to read them a little at a time. One Middle-length Sutta is ideal for one session. Read it slowly, carefully. Notice if there are things that you don’t understand—and beware of what you think you already understand. When you have finished, check any footnotes or other guides to comprehension. Don’t get too analytic about it—try to soak in the whole essence of the teaching. If you read a Sutta before meditation, it can uplift and inspire your mind, and the meaning becomes clear.

Remember you are reading a translation. Don’t get hung up on the specific connotations of terminology—that’s just the choices of the translator. Become familiar, one word at a time, with the Pali/Sanskrit terms that underlie all Buddhist teachings. But beware of over-interpreting individual words: the true meaning of a spiritual text emerges from context and experience, not from etymology.
Notice your own response to the text: what is inspiring, what is boring, what is dubious. Your responses belong to you, not the text.

Beware of the mind that wants to criticize the text. Even though I myself believe in the importance of text-critical studies, this is after many years of study and reflection. It takes time to get a sense for these things. Have compassion for the text. Read it kindly, as if you were listening to a beloved friend. It was composed in an oral tradition in a far off time and place. It is a miracle that it exists at all, and we should not be put off if some of the modes of expression are alien to us.

Perhaps a bigger problem is the desire to literalize or insist on a particular reading. The Suttas have a word for this: idasaccabhinivesa—the insistence that “this alone is the truth”. Any text is open to different readings and emphases. It is easy enough to find cases where modern teachers or traditional schools teach things that differ from the Suttas. It is not so easy, but far more valuable, to understand why these changes came to be made, and to understand what aspect of Dhamma is at stake.

If you are in doubt, remember the poised attitude that the Suttas themselves speak of: “Neither accepting nor rejecting, I will inquire about the meaning…”. In Buddhism, we are not expected to believe literally every detail of the scriptures; but if we read them with a fault-finding mind, we will never really get it.

Whatever aspect of Dhamma—whether meditation, philosophy, ethics, or inspiring stories—there’s nothing like the real thing. Take the text, and live it. Try it out and see what it does in your life. Meditate on it. I’ve been doing this for 18 years now, and I’ve never been let down. Whatever faults I have, they’re all because of my failing to live up to the Dhamma, not because of the Dhamma itself.

*

Saturday, 2 December 2017

Tượng Phật xúc địa trong chùa Đại Giác, Bồ-đề Đạo Tràng (Mahabodhi Temple, Bodh Gaya)

Nguồn: Bhante Dhammika, The Buddha’s True Face

Trong suốt 500 năm, chánh điện trong chùa Đại Giác vẫn trống rỗng. Vào năm 1877, vua Miến Điện gửi một phái đoàn được gửi đến sửa chữa ngôi chùa, và họ đã an vị một tượng Phật bên trong chùa nhưng là một tượng không được đẹp lắm vì được làm bằng gạch trát vữa. Sau đó vào năm 1880, ông Joseph Beglar được chính phủ Ấn Độ ủy quyền để sửa chữa ngôi đền. Vị cố vấn không chính thức của ông trong nhiệm vụ này là nhà khảo cổ nổi tiếng Alexander Cunningham. Sau khi việc trùng tu ngôi chùa kết thúc, hai ông cảm thấy vẫn còn thiếu một cái gì đó, cần có một tượng Phật phù hợp để đặt trong chánh điện. Rất nhiều tượng Phật được tìm thấy trong vùng Bodh Gaya nhưng sau khi xem xét hai ông thấy đều không phù hợp – hoặc quá nhỏ, hoặc không nguyên vẹn, hoặc giống các vị bồ- tát hơn là Đức Phật.

Cuối cùng họ tìm được một tượng Phật tại một ngôi đền nhỏ trong dinh thự của vị đạo sư Ấn Độ giáo trong vùng, là người đã từng đòi quyền sở hữu khuôn viên Bodh Gaya và chùa Đại Giác. Tượng Phật nầy vẫn còn nguyên vẹn, với hình dáng rất đẹp và vừa đúng kích thước, không quá nhỏ để cảm thấy tầm thường trong chánh điện mà cũng không quá lớn làm cho chánh điện có vẻ chật chội. Những dòng chữ khắc trên đế của tượng Phật cho biết tượng do ông Chhindha Purnabhadra đặt làm trong khoảng thế kỷ 12.

Khi ông Cunnimgham hỏi xin tượng Phật đó, vị đạo sư Ấn Độ giáo từ chối. Nhưng ông là một người khôn khéo nhiều mưu lược nên cuối cùng ông cũng có được tượng Phật từ vị đạo sư ấy. Chúng ta không biết bằng cách nào ông đã thành công – bằng những lời hứa hẹn, những lời tâng bốc, hay những lời đe dọa. Hôm nay tượng Phật này được an vị trong chánh điện chùa Đại Giác, trầm lặng nhìn xuống khách hành hương từ khắp nơi trên thế giới đến đây chiêm bái.

– Quy Dac Nguyen dịch Việt
(Binh Anson hiệu đính), 19-07-2017

* * *
For nearly 500 years the asana inside the Mahabodhi Temple stood empty. In 1877, the embassy sent by the king of Burma to repair the Mahabodhi Temple installed a statue inside it but this was a rather unattractive image made out of old bricks and plaster. Then in 1880, Joseph Beglar was commissioned by the Indian government to repair the Temple. His unofficial adviser in this task was the great archaeologist Alexander Cunningham. After work on the Temple was finished the two men felt that there was still something missing, a fitting statue in its main shrine. Numerous Buddha statues were lying all around Bodh Gaya but on examination they were all found to be unsuitable, either too small, damaged or of Bodhisattvas rather than of the Buddha himself.

Finally a statue was located in a small shrine in the Mahant’s residence, the Hindu monk who laid claim to own Bodh Gaya village and its temple. The statue was undamaged, with fine feature and just the right size, neither too small so as to look insignificant in the shrine or too large so as to make it appear cluttered. The fragmentary inscription on the base of this statue says that it was commissioned by the Chhindha Purnabhadra in about the 12th century.

When Cunnimgham asked the Mahant if he could have the statue he refused. But he was a resourceful man and he finally was able to pry it from the Mahants grip. What promises, flattery or threats he used we do not know. Today this statue sits in the Mahabodhi Temple, its serene and being gaze looking down on those who come from all over the world to worship it.

*


November 2017

Saturday, 18 November 2017

Khóa Phật học từ xa (Buddhist Distance Education)

Khóa Phật học từ xa (Buddhist Distance Education)
Học viện PGVN, Sài Gòn

Hôm qua tôi xem một video trên Youtube trong đó thầy Nhật Từ có giới thiệu đến các cư sĩ Phật tử về chương trình các khóa Phật học từ xa (Distance Learning, Distance Education) của Học viện Phật giáo Việt Nam, Sài Gòn. Tò mò, tôi tìm đến trang web http://vbu.edu.vn/elearning/ để xem chương trình học.

Tôi hoan hỷ và xin tán thán công đức của quý vị giảng sư và ban tổ chức chương trình nầy. Rất đầy đủ, có thể so sánh tương đương với khoa Phật học của các đại học khác trên thế giới.

Tôi biết có vài bạn cư sĩ Phật tử của tôi đã hoàn tất hay đang theo học chương trình nầy và tôi thật sự ngưỡng mộ các bạn ấy. Tôi xin giới thiệu đến các bạn khác, tùy hoàn cảnh và nếu thu xếp được, cũng nên tìm hiểu và tác ý đăng ký theo học.

---------------
Chương trình (Khóa III, 2013-2017)

HỌC KỲ 1
Khái luận về Phật học
Lịch sử Phật giáo Ấn Độ
Tiếng Việt thực hành
Triết học Ấn Độ
Phương pháp nghiên cứu
Hán cổ (1)
Thuật ngữ Phật pháp tiếng Anh (1)
Kinh Trung bộ (1)

HỌC KỲ 2
Luật học Phật giáo đại cương
Thiền học đại cương
Lịch sử triết học phương Tây
Lịch sử Việt Nam
Trường A Hàm
Hán cổ (2)
Thuật ngữ Phật pháp tiếng Anh (2)
Kinh Trung bộ (2)

HỌC KỲ 3
Kinh Trung bộ (3)
Văn học Phật giáo
Lịch sử Phật giáo Việt Nam
Tâm lý học
Triết học Mác-Lênin
Hán cổ (3)
Thanh tịnh đạo luận
Thuật ngữ Phật pháp tiếng Anh (3)

HỌC KỲ 4
Kinh Pháp Hoa
Tín ngưỡng tôn giáo
Lịch sử văn học Việt Nam
Triết học Phật giáo
Tiểu bộ kinh
Quản trị hành chánh
Thuật ngữ Phật pháp tiếng Anh (4)
Hán cổ (4)

HỌC KỲ 5
Kinh Kim Cang
Đạo đức học Phật giáo
Thắng pháp tập yếu luận
Câu xá luận
Hán cổ (5)

HỌC KỲ 6
Triết học Tôn giáo
Triết học Chính trị-Xã hội Phật giáo
Đại thừa khởi tín luận
Logic học Phật giáo
Hán cổ (6)

HỌC KỲ 7
Kinh Lăng Già
Dị bộ tông luân luận
Thành duy thức luận
Nhận thức luận Phật giáo
Hán cổ (7)

HỌC KỲ 8
Trung quán luận
Phật giáo Nguyên thủy và Đại thừa
Kinh Trường bộ
Tư tưởng Phật giáo Việt Nam
Hán cổ (8)

*

Thursday, 9 November 2017

Mission accomplished (Sứ mệnh đã hoàn thành)

Sách: NHỮNG LỜI PHẬT DẠY, Bhikkhu Bodhi, Bình Anson dịch

Một cuốn đã hứa cho bạn đạo tại Perth, còn lại một cuốn cuối cùng dành cho người hữu duyên. Nghe nói chùa Giác Ngộ, Q. 10 Sài Gòn, cũng đã phát hết sách.

Như thế, tổng cộng số sách đã in ấn tống (không bán) trong 2 năm qua trong nước (bởi các nhóm Phật tử hùn phước ấn tống, Pháp viện Minh Đăng Quang, Chùa Giác Ngộ) và hải ngoại (Chùa Pháp Luân, Texas, USA) là 25.000 cuốn.

Thêm vào đó, tôi đã có những buổi trình bày giới thiệu sách tại Sài Gòn, Đà Nẵng, Hà Nội, có 3 đợt chia sẻ trong diễn đàn PG Nam tông của PalTalk vào sáng Thứ Hai mỗi tuần, và gửi vào chia sẻ các biểu đồ, dàn bài trong trang Facebook cá nhân.

Sách cũng được phổ biến trong dạng e-book (PDF) tại các trang web Phật giáo. Ngoài ra, Trung tâm Diệu Pháp Âm (chùa Khuông Việt, Q. Tân Bình, Sài Gòn) đã tổ chức thu âm, phổ biến dạng sách nói.

Tôi đã nhiều lần khuyến khích mọi người cố gắng đọc cuốn sách cho xong trong 3 tháng. Không biết kết quả thế nào, tùy duyên, tùy nỗ lực tu học, tùy hoàn cảnh của mỗi cá nhân. Mỗi người phải tự mình thắp đuốc mà đi. Không ai tu giùm cho mình, mà mình cũng không nên có ảo tưởng tu cho người khác.

Xem như đã hoàn tất, kết thúc một giai đoạn. Bây giờ gác sang một bên, chuyển qua công việc khác.

*

Xin hồi hướng phần phước báu tạo được đến chư Thiên, cha mẹ ông bà, thân bằng quyến thuộc, quý chư tôn đức Tăng Ni đã khuyến khích hỗ trợ, quý vị thí chủ và các bạn cộng sự viên trong công tác ấn tống sách, bạn bè gần xa, và mọi loài chúng sinh trong cõi Ta-bà.

Nam-mô Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
_()_ _()_ _()_

Bình Anson
Perth, Western Australia
09/11/2017

* Xem thông tin về cuốn sách Những Lời Phật Dạy:

*

Wednesday, 8 November 2017

Rắc rối nhưng lợi ích

RẮC RỐI NHƯNG LỢI ÍCH
(nhất là cho các bạn đang học tiếng Anh)
 
Không phải lúc nào tôi cũng chọn sự giản dị mà chê bai, xa lánh những vấn đề phức tạp, rắc rối. Chẳng hạn như biểu đồ kèm theo, do ông Stephen Karakashev thiết kế vào năm 2013 trong diễn đàn Phật giáo Dhamma Wheel (dhammawheel.com), tóm tắt các điểm cốt lõi trong giáo lý nhà Phật và sự tương quan. Tuy thấy rắc rối nhưng nếu ta bình tâm quan sát, theo dõi, sẽ thấy rất thú vị và thu thập được nhiều điều lợi lạc.
 
Một ích lợi quan trọng khác là giúp cho học viên các khóa Phật học tiếng Anh thu thập thêm từ vựng và thuật ngữ. Ngay cả cho những ai đọc được tiếng Anh, đây cũng là một dịp tốt để ôn lại và bổ sung thêm cho vốn liếng từ ngữ Phật học của mình.

Có thể tải về bản gốc tại:
https://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/b/b3/Dhamma_Chart_in_English.gif 
(1,800 x 1,500 pixels)

*

Thursday, 2 November 2017

Mạng ảo, người thật

Trưa nay, bưu điện mang đến một hộp quà của một bạn đạo ở Mỹ gửi tặng. Bạn ấy vừa thực hiện một chuyến hành hương Đông Nam Á (Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Ấn Độ), và khi trở về Mỹ gửi quà đến mình. Tôi rất cảm động và hoan hỷ khi nhận được món quà nầy, đầy đủ hương vị quê hương: trà hoa cúc, càfê, bánh đậu xanh, mứt dừa, thanh long sấy khô. Bạn ấy còn chu đáo gửi kèm phin lọc cafê để tôi thưởng thức cho đúng điệu Sài Gòn. Ngoài ra còn có một túi càfê sữa 3-in-1 quốc tế. Gọi là “quốc tế” vì sản xuất tại Malaysia, bán ở Miến Điện, bạn ấy mua đem về Mỹ, rồi gửi sang Úc!

Tôi chưa từng gặp mặt và trực tiếp nói chuyện với người bạn ấy. Qua Facebook, chúng tôi chỉ trao đổi vài kinh nghiệm tu học, vài thông tin hành hương viếng các cảnh chùa, vài thông tin về các vị cao tăng thiền sư. Thế nhưng, có lẽ chúng tôi có được một sự đồng cảm nào đó giữa những người con Phật.

Tôi sinh hoạt trong các môi trường Internet trong hơn 20 năm qua, qua các diễn đàn Phật giáo, qua đóng góp trên các trang web Phật giáo, qua Paltalk và gần đây là qua trang Facebook cá nhân. Nhờ vậy, tôi có được những người bạn thân tình như thế mà cho đến nay vẫn chưa đủ duyên để gặp nhau trò chuyện dưới đất.

Nhưng đó không phải là điều tối cần thiết. Nếu đủ duyên thì sẽ có dịp gặp nhau. Chưa đủ duyên thì liên lạc, trao đổi qua các mạng ảo. Điều quan trọng là vẫn giữ được tình bạn đạo để giúp nhau, khích tấn, trao đổi kinh nghiệm, sự hiểu biết để mỗi người chúng ta tự bước đi, tiến dần đến bờ sông giải thoát.

*

Wednesday, 1 November 2017

Sách: Satipaṭṭhāna - Con Đường Thẳng Tới Chứng Ngộ

SATIPAṬṬHĀNA - CON ĐƯỜNG THẲNG TỚI CHỨNG NGỘ
& Nghiên Cứu Đối Chiếu với các bộ A Hàm
Nguyễn Văn Ngân dịch (2017)

Nguyên tác:
The Direct Path to Realization &
A Comparative Study of the Majjhima Nikaya
Bhikkhu Anālayo (2004)

Tải bản PDF về để đọc trên máy vi tính:
=> http://budsas.net/sach/vn43.pdf (dung lượng: 5.50 MB)

*

Sunday, 29 October 2017

Khánh Ly: Cuối cùng, chỉ còn lại tiếng hát

Khánh Ly: Cuối cùng, chỉ còn lại tiếng hát
Đậu Dung phỏng vấn, 21-10-2017

Ngồi nói chuyện cùng danh ca Khánh Ly sau chuỗi đêm nhạc “Khánh Ly–55 năm hát tình ca” diễn ra ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Nha Trang, Đà Lạt, Huế… vừa qua, bà nói, nghĩ về con số 55 năm thấy giật mình lắm. 55 năm, đủ chôn vùi tất cả. Cuối cùng, chỉ còn lại tiếng hát. Thôi, cũng đủ, cho một đời.

*

- Có thể thấy, mấy năm trở lại đây, Khánh Ly về nước hát liên tục. Có một vài người nói rằng, bà đang tận dụng thời gian còn lại của mình để kiếm tiền...

Khánh Ly: Người nào hát thì cũng lấy tiền cả thôi. Hình như chưa có ai hát mà không lấy tiền. Vấn đề là lấy nhiều hay lấy ít. Nhưng tôi nghĩ, cả điều đó cũng không quan trọng bằng việc Khánh Ly từng này tuổi rồi, vẫn còn được hát và hát được cho khán giả của mình nghe. Nếu mà nói mọi người đi hát chỉ để kiếm tiền thì lời nói này, hơi ác. Đừng nghĩ ác về người ta như thế. Không nên. Hãy cố nghĩ tử tế về người khác, không chỉ riêng Khánh Ly mà với bất kỳ ai. Có một câu trong một bộ phim nói rằng, hãy sống tốt khi còn bên nhau. Tôi biết, để được như thế rất khó nhưng mình cứ hy vọng vậy, mong là như thế đi. Đừng nhìn ai ở khía cạnh xấu, sẽ có lúc phải ân hận đó. Tôi không nhắc đến hai chữ “nhân-quả” ở đây vì mình cũng không mong ai gặp những chuyện không hay đó. Nhưng các cụ mình nói rồi, trồng cây nào thì hái quả đó.

- Còn lá rụng về cội thì sao, thưa bà?

Khánh Ly: Không hẳn. Ở đâu cũng là hát thôi. Nhưng khi mình có một chút thời gian, không còn nợ chồng, nợ con thì lúc đó, mình có thể đi hát ở những nơi mà mình muốn. Ở bất cứ đâu và bất cứ lúc nào. Bây giờ, mình chẳng phải trả nợ ai cả. Mình chỉ trả nợ mình thôi. Mà, Khánh Ly có nợ ai đâu nhỉ? À, không nếu nói một cách khác, mình nợ rất nhiều người.

- Ca sỹ Khánh Ly năm nay 73 tuổi rồi. Bà đối diện với hai chữ “sống – chết” ra sao?

Khánh Ly: Nó cũng bình thường thôi. Có sinh thì phải có tử chứ. Ai mà sống mãi được? Sống mãi chật đất à? Mọi người ai cũng phải ra đi cả. Từ từ rồi cũng đi hết. Không một ai sống mãi được đâu. Ông Bành Tổ còn chết, nói gì mình? Cho nên tôi nghĩ, còn sống được ngày nào thì hãy cứ làm điều gì đó có ích, dù chỉ mang lại cho người ta một nụ cười, chỉ để lau giùm đứa nhỏ một giọt nước mắt. Nếu bạn còn đỡ được một người ngã đứng lên, thì mình vẫn còn nên sống, vẫn còn lý do để sống.

- Cách đây một năm, bà có nói với tôi rằng, cuộc đời này đã làm cho Khánh Ly bầm dập nhiều. Vậy mà giờ đây, vẫn phải trả ơn đời ư?

Khánh Ly: Ôi cái chuyện bầm dập ai cũng gặp phải, có phải riêng mình đâu. Không cách này thì cách khác. Chẳng nên trách ai cả. Chỉ có điều, đời mình thì mình sống thôi. Và vẫn phải trả ơn đời, vẫn phải biết ơn đời…

- Và chương trình “Vòng tay nhân ái” mà bà tham gia, cũng là một cách trả ơn đời…?

Khánh Ly: Từ trước đến giờ, Khánh Ly chỉ có tiếng hát thôi. Ai muốn làm gì thì làm. Tiền tôi chẳng biết đến. Từng này tuổi rồi, tôi vẫn chẳng biết gì về tiền. Tôi chỉ biết, ai có tiền muốn đi theo để giúp những người khốn khó thì đi cùng. Tôi nghĩ, mình nên tới những chỗ đó, rồi kêu gọi mọi người tới, còn hơn ngồi ở nhà chẳng làm gì cả rồi tưởng tượng những điều không có thật. Nó không tốt, cũng không ích lợi gì cho ai cả. Phải đến nhìn những cảnh đời đó thì mới thấy rằng, mình là người may mắn. Còn nói được vì không câm. Còn nhìn được vì không khiếm thị. Còn nghe được vì không bị điếc. Còn đi được vì không tàn tật. Còn cầm bát cơm mà ăn, nghĩa là đôi tay còn sử dụng được. Vì vậy, ráng làm điều gì đó cho tốt đẹp đi. Còn hơn ngồi đó rồi nghĩ xấu cho người khác.

- Nếu tôi lấy 100% làm số đo thì Khánh Ly sống được bao nhiêu phần cho mình trong 100% ấy?

Khánh Ly: Đời tôi, tôi chỉ sống cho chồng con và khán giả là nhiều. Còn bản thân mình thì… chưa đâu.

- Bà định bao giờ mới sống cho mình đây?

Khánh Ly: Ngày cuối cùng. Một ngày cuối cùng thôi.

- Nếu có một ngày gọi là ngày cuối cùng như thế, bà sẽ làm gì cho bản thân mình?

Khánh Ly: Ngồi yên và không nghĩ gì cả, đó là sống cho mình.

- Nghe có vẻ bình thản. Nhưng ai mà chẳng sợ cái chết chứ?

Khánh Ly: Bây giờ, tôi có thể ngồi đây và mạnh miệng nói tôi không sợ gì cả. Nhưng ai mà biết được? Tôi mong mình không có thời gian để chờ đợi. Tôi muốn mình đang đi trên đường thì lăn đùng ra chết. Hoặc ngủ không dậy nữa. Đó là một hạnh phúc lớn lắm. Tôi vẫn luôn ráng sống làm người tử tế để tôi được chết như vậy.

Còn hiện tại, tôi chẳng nghĩ gì đâu. Tôi chỉ biết ngày hôm nay tạ ơn Chúa, Mẹ rằng mình còn sống, mình còn làm được một cái gì đó, mình còn hát được một bài nào đó, thế là hạnh phúc. Còn ai muốn nói gì cũng được. Ai muốn “đạp” mình cũng được. Ai muốn chửi mình cũng được. Đó là quyền của người ta. Tôi chưa thấy ai mang tâm hại người này người kia mà bị đóng thuế. Nếu tất cả mọi điều đều bị đóng thuế thì tôi nghĩ, chẳng ai nói xấu ai đâu. Của đau con xót mà.

- Khánh Ly hay nói câu ‘tôi chẳng biết cái gì cả’. Vậy Khánh Ly biết cái gì?

Khánh Ly: Tôi chỉ biết hát thôi.

- Nhưng biết hát liệu đã đủ chưa?

Khánh Ly: Tôi nghĩ là đủ. Vì Chúa, Mẹ chỉ cho tôi thế thôi. Tôi nghĩ, nếu mình còn sống, còn hát được và nếu tiếng hát của mình có thể giúp thêm một hạt cơm, hạt gạo cho nhà chùa, cho các trẻ em mồ côi thì đó cũng là hạnh phúc lớn rồi. Vậy thì, cũng đủ hãnh diện để tôi sống những ngày còn lại của mình.

- Đúng kiểu “Đời cho ta thế với những sớm tối không đổi thay…” thì phải, thưa bà?

Khánh Ly: Đúng rồi. Đời cho ta thế thì ta nhận thế thôi. Không đòi hỏi. Không phàn nàn. Không trách móc. Không hờn giận. Không gì cả.

- Ở tuổi này, ca sỹ Khánh Ly mới có suy nghĩ đó hay trước đó mấy chục năm, bà đã như vậy rồi?

Khánh Ly: Từ cách đây mấy chục năm rồi. Những lời này tiếng nọ ở đâu đổ lên đầu mình. Mình nghe hết chứ. Nhưng có sao đâu? Bởi đó là cuộc đời. Nếu không như thế thì không phải là cuộc đời rồi. Cuộc đời phải thế. Hỉ nộ ái ố, đủ cả. Mọi người có đá thì cứ ném, chẳng may trúng mình thì mình ráng chịu thôi. Biết làm sao giờ?

- Nghe Khánh Ly nói chuyện thì tôi thấy, hình như Khánh Ly đã “già từ ngày còn xanh”?

Khánh Ly: Ở ta, người ta gọi như thế là chín ép đấy. Chưa chín nhưng bắt nó phải chín.

- Nhưng như thế thì có tội nghiệp cho tuổi trẻ của mình không, thưa bà?

Khánh Ly: Rất tội nghiệp. Rất đáng thương. Nhưng tự mình thấy thế thôi chứ mình không có nhu cầu cần ai thương hại. Mình tự thương mình thôi. Mình tự thương mình là thật nhất.

- Tôi tò mò một điều rằng, Khánh Ly ở tuổi này còn tin vào tình yêu không?

Khánh Ly: Tình yêu có nhiều loại tình yêu. Không chỉ có tình yêu đôi lứa đâu. Tôi chỉ có một niềm tin thôi, tin vào tôn giáo, tin vào Chúa, Mẹ, tin vào Thượng Đế. Chúa, Đức Phật đâu có dạy mình giết người, làm điều gì ác; thành ra, tôi tin. Còn lại, tôi không tin vào bất cứ thứ gì cả.

- Kể cả chồng ư?

Khánh Ly: Kể cả chồng. Tôi rất yêu nhưng không tin.

-Nghe hơi cực đoan và tàn nhẫn với tình yêu của mình…

Khánh Ly: Chồng tôi chẳng làm cái gì có lỗi với tôi cả. Nhưng cuộc đời dạy tôi một điều rằng, không nên tin vào bất cứ điều gì, kể cả chồng, kể cả con.

- Khánh Ly hát cho triệu người nghe nhưng đã bao giờ, ngay khi đứng trên sân khấu, bà thấy tiếng hát của mình không diễn tả được tiếng lòng của mình chưa? Đã bao giờ bà bất lực chưa?

Khánh Ly: Khi đứng trên sân khấu hát, nghĩa là tôi đang hát cho nỗi lòng của mình đó. Nhưng mà, không chỉ hát về nỗi lòng của mình; qua tiếng hát, tôi tìm tri âm, tri kỷ. Vì tôi biết, nhiều người cũng ở trong tâm trạng như tôi. Họ không hát được, không nói được, họ cũng không biết chia sẻ với ai và cũng không ai chia sẻ với họ. Người ta chỉ thích chia sẻ những cái vui, những điều hào nhoáng, những thú xôn xao thôi. Ai thích chia sẻ cái buồn?

Còn bạn hỏi tôi đã bao giờ cảm thấy bất lực chưa? Thì tôi trả lời rằng chưa, ít ra là với mình. Nhờ tiếng hát, nhờ âm nhạc, Khánh Ly cởi bỏ được tấm áo nặng nề, cởi bỏ được (một phần) quá khứ, dĩ vãng, cởi bỏ được những ồn ào, xôn xao xung quanh. Đến với tiếng hát, tôi trút được tất cả nỗi muộn phiền của đời sống này.

- Lần đầu tiên tôi nghe bà hát là ca khúc “Một cõi đi về.” Khánh Ly bây giờ 73 tuổi rồi, “Một cõi đi về” của bà bây giờ là gì?

Khánh Ly: Thì cứ nghe lời ông Sơn đi: “Rọi suốt trăm năm một cõi đi về. Đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng.Ngọn gió hoang vu thổi buốt xuân thì.”

Tuổi xuân nó ở trong trái tim, không phải ở trên khuôn mặt. Mình phải nghĩ, cuộc đời này màu hồng (dù mình biết nó không phải màu hồng đâu). Trong suy nghĩ của mình, mình phải bắt nó là màu hồng, muốn nó là màu hồng. Đó là một cách sống để mình có thể đi qua những ngày vui ít ỏi và cũng để quên những “ngày tháng tiêu điều” của cuộc đời.

*


Wednesday, 25 October 2017

Sách: NHỮNG LỜI PHẬT DẠY, Bình Anson dịch, phiên bản 2023-3

Tải sách Những Lời Phật Dạy dạng PDF để đọc trên máy vi tính, phiên bản tháng 3-2023 với nhiều chỉnh sửa, tại:

https://tinyurl.com/ju2p7k4p

* Giới thiệu sách Những Lời Phật Dạy, dàn bài & biểu đồ minh họa: http://budsas.net/dlpp/index.htm#nlpd

1) Đối với quý vị ở Việt Nam, xin hoan hỷ liên lạc đến xin sách tại:

   Chùa Giác Ngộ
   92 Nguyễn Chí Thanh, P.3, Q.10, Sài Gòn
   ĐT: +84 28 3830 9570

   Pháp viện Minh Đăng Quang
   505 Xa lộ Hà Nội, An Phú, Q. 2, Sài Gòn
   ĐT:  +84 91 827 27 78

2) Quý vị ở nước ngoài có thể liên hệ chùa Pháp Luân:

   Phap Luan Buddhist Cultural Center
   13913 S Post Oak Rd, Houston, TX 77045, USA
   Phone: +1 713-433-4364

3) Sách nói, do Trung Tâm Diệu Pháp Âm (Chùa Khuông Việt, 1355 Hoàng Sa, P.5, Q. Tân Bình, Sài Gòn) thực hiện:

   3a. Nghe online: http://dieuphapam.net/dpa/nhung-loi-phat-day.3899/

   3b. Nghe trên Youtube: https://www.youtube.com/playlist?list=PL8DgjWmX16apZQUyeanKymxZ6rtSTb_KI 

   3c. Tải về toàn bộ 49 tập tin âm thanh (MP3, audio files) :

   Chương 01-04: nlpd_audio_00-04.zip (dung lượng 462.4 MB)
   => https://mega.nz/#!CpRjBBjK!zOuINSNrMrZKLow1KlN7ssjs5ZL7Jzq2_sPYhkiJV1s

   Chương 05-08: nlpd_audio_05-08.zip (dung lượng 463.0 MB)
   => https://mega.nz/#!yxQn2KhK!oJbZ3ddbqamSGt7A-P_Ja5BknTWTXDsIxiRwXSNldww

   Chương 09-10: nlpd_audio_09-10.zip (dung lượng 361.9 MB, có kèm bản PDF của cuốn sách)
   => https://mega.nz/#!v1xWWABZ!oqIymVOEFl6v0GzpFwArOqN_NdqFUZszAF_lllV0m4c

   Đây là các files dạng nén ZIP. Giải nén để được các files âm thanh MP3.


*

Friday, 13 October 2017

Dự lưu: Nhập dòng thánh giải thoát

Bậc thánh Dự lưu là vị đã cắt đứt ba kiết sử đầu tiên, trói buộc chúng sinh trong vòng luân hồi: thân kiến, hoài nghi, giới lễ nghi thù.

Điều quan trọng cần ghi nhớ về quả vị DỰ LƯU:

1) Dự lưu hướng phần là bốn yếu tố hướng về (tạo điều kiện cho) quả vị nầy:
Thân cận bậc chân nhân.
Nghe diệu pháp.
Như lý tác ý.
Thực hành pháp và tùy pháp.

2) Dự lưu hạnh phần là bốn yếu tố tạo nên đức hạnh (tính chất) của một vị thánh Dự lưu:
Lòng tin vững chắc nơi Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng).
Giới đức trong sạch.
Tâm bố thí chia sẻ rộng rãi.
Có trí tuệ (thấy và biết sự sinh diệt của mọi hiện tượng).

Có hai hạng căn tánh của hành giả tiến đến quả vị Dự Lưu, dựa theo ngũ căn (tín, tấn, niệm, định, tuệ):

a) Tùy tín hành (Saddhānusāri): hành giả có TÍN căn nổi trội (tín căn mạnh hơn các căn khác).
b) Tùy pháp hành (Dhammānusāri): hành giả có TUỆ căn nổi trội (tuệ căn mạnh hơn các căn khác).

*


Saturday, 30 September 2017

Ảnh Đức Phật

Dưới đây là tấm ảnh nổi tiếng do bác Phạm Kim Khánh chụp tượng mẫu tại xưởng của nhà điêu khắc Phúc Điền vào năm 1961, dùng để đắp tượng Phật ở Thích Ca Phật Đài, Vũng Tàu.

Độ phân giải: 2635 x 3543 pixels, dung lượng 1.62 MB.

1) http://budsas.net/uni/u-dp&pp/phat_thichca1.jpg
2) http://budsas.net/uni/u-dp&pp/phat_thichca2.jpg

Đọc thêm: Nguồn gốc tấm hình Đức Phật nổi tiếng của bác Phạm Kim Khánh
http://budsas.blogspot.com/2017/02/nguon-goc-tam-hinh-uc-phat-noi-tieng.html

*




Wednesday, 27 September 2017

Nói có sách, mách có chứng

Nói có sách mách có chứng, nghĩa là nói điều gì đó xác thực, có chứng cứ rõ ràng, có thể kiểm chứng được. Nói có sách, mách có chứng có nghĩa là không nói vu vơ kiểu ăn ốc nói mò, không thêu dệt, không nói kiểu tung tin thất thiệt, bịa đặt dựng chuyện, vu oan giá hoạ để bóp méo, xuyên tạc sự thật hay đổ lỗi cho người khác.

Nhưng tại sao, để diễn đạt ý nghĩa đó người Việt Nam lại chọn cách nói như vậy? Có thể bắt đầu từ cấu trúc thành ngữ, sau đó cậy nhờ việc suy xét ý nghĩa dân gian của các từ sách, mách, chứng được dùng trong thành ngữ này để hiểu nội dung thành ngữ. Dễ thấy là, thành ngữ nói có sách, mách có chứng gồm 2 vế: Nói có sách và mách có chứng, được tạo thành trên hai cơ sở của phép đối và điệp. Nói đối với mách, sách đối với chứng. Trong thực tế sử dụng thành ngữ này có thêm một số biến thể khác như: nói phải có sách, mách phải có chứng hoặc nói chẳng có sách, mách chẳng có chứng gì cả. Do vậy, cấu trúc của mỗi vế nói trên cũng có các biến thể khác nhau như đã thấy.

Đối với loại thành ngữ được tạo ra theo kiểu này, khi nắm được ý nghĩa của một trong hai vế, thường là vế thứ nhất, là có thể hiểu được nội dung chính yếu của các thành ngữ. Sách trong quan niệm dân gian là kho báu, là nơi thâu góp được những điều hay, lẽ phải ở đời. Sách là nơi cho những điều tin cẩn, rõ ràng và sự sáng suốt. Sách là mực thước. Soi trong sách có thể nhận được điều chân xác và sự yên tâm ở lời nghe được và những lời nói ra. Nói có sách, mách có chứng mang được ý nghĩa trên, trước hết là nhờ vào ngữ nghĩa dân gian ấy của từ sách.

Còn mách trong ý nghĩa nguyên sơ của nó, cũng có nghĩa là nói, nói cho biết, bảo cho biết. Mách trong mách bảo, mách nước cũng với nghĩa như thế. Chứng là chứng cứ. Mách có chứng nghĩa là nói cho ai đó điều gì đó phải có chứng cứ cụ thể, tức điều đem báo, đem mách cho ai đó là điều có thật, đã trông tận mắt, nghe tận tai. Mách có chứng cũng yêu cầu không được nói sai, nói không có căn cứ, nói những điều chưa biết chắc đúng, sai, thật, hư. Mách có chứng cũng có nghĩa là nói đàng hoàng, đúng đắn, công khai, chứ không theo lối mách lẻo hay thóc mách.

Nguồn: https://www.sachhayonline.com/tua-sach/giai-thich-thanh-ngu-tuc-ngu/noi-co-sach-mach-co-chung/1785

*

Saturday, 23 September 2017

Tủ kinh sách Tam Tạng tiếng Việt

Đây là tủ sách Tam Tạng tiếng Việt tôi sưu tập trong hơn 25 năm qua, trong các chuyến về thăm viếng VN. Ngoài ra, tôi còn có các bộ kinh khác in trong thập niên 1970 và 1980, màu giấy đã vàng úa nhưng tôi rất trân quý. Hiện nay tôi còn thiếu bộ Tương Ưng, in lần đầu tiên vào năm 1982. Có lẽ chưa đủ duyên.

Riêng cá nhân tôi, tôi vẫn thích đọc bản in trên giấy hơn là đọc trên máy vi tính. Mặc dù tôi có khá đầy đủ các bản vi tính -- dạng PDF và HTML, nhưng đa phần là dùng để biên soạn, sao chép, đối chiếu, trích dịch. Đối với tôi, thỉnh kinh sách về nhà là để đọc, tham khảo, tìm hiểu, ghi nhớ, không phải để thờ cúng hay để trang trí với bông hoa, nhang đèn.

Khi đọc, tôi không đánh dấu hay tô màu trên các bộ kinh. Tôi thường cắt ra nhiều mảnh giấy nhỏ có nhiều màu khác nhau để làm dấu các trang mình cần phải tham khảo nhiều lần. Thêm vào đó, tôi nhét vào đầu hay cuối cuốn kinh một tờ giấy A4 xếp lại, để viết ghi chú.

Sử dụng kinh sách như thế nào là tùy theo căn duyên và ý nguyện của mỗi cá nhân. Mỗi người có phương cách tu học riêng, không ai giống ai.
*

Wednesday, 20 September 2017

Tình bạn đạo

Một Nửa (Upaddha Sutta, SN 45:2)
(Hòa thượng Thích Minh Châu dịch)

Như vầy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn trú giữa các dân chúng Sakya, tại thị trấn của dân chúng Sakya tên là Nāgaraka. Rồi Tôn giả Ānanda đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn:

– Một nửa phạm hạnh này, bạch Thế Tôn, là thiện bạn hữu (kalyāṇamittatā), thiện bạn đãng (kalyāṇasahāyatā), thiện thân tình (kalyāṇasampavaṅkatā).

– Chớ có nói vậy, này Ānanda! Chớ có nói vậy, này Ānanda! Toàn bộ phạm hạnh này, này Ānanda, là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình. Với thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình, vị tỳ-khưu tu tập và làm cho viên mãn Bát Chi Thánh Đạo.

Và này Ānanda, thế nào là tỳ-khưu với thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình, tu tập và làm cho viên mãn Bát Chi Thánh Đạo? Ở đây, này Ānanda, tỳ-khưu tu tập chánh kiến liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Tỳ-khưu ấy tu tập chánh tư duy... chánh ngữ... chánh nghiệp... chánh mạng... chánh tinh tấn... chánh niệm... tu tập chánh định liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Như vậy, này Ānanda, là tỳ-khưu với thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình, tu tập và làm cho viên mãn Bát Chi Thánh Đạo.

Này Ānanda, chính với pháp môn này, ông cần phải hiểu thế nào toàn bộ phạm hạnh này là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình. Nhờ lấy Ta làm thiện bạn hữu, này Ānanda, nên các chúng sinh bị sinh được giải thoát khỏi sinh; các chúng sinh bị già được giải thoát khỏi già; các chúng sinh bị chết được giải thoát khỏi chết; các chúng sinh bị sầu, bi, khổ, ưu, não được giải thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não. Chính với pháp môn này, này Ānanda, ông cần phải hiểu thế nào toàn bộ phạm hạnh này là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình. (SN 45:2)

* * *

THIỆN TRI THỨC (SĀ 726)
Hòa thượng Thích Đức Thắng dịch (Tạp A-hàm, 2010)

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tinh xá Giáp cốc [1] thành Vương xá. Khi ấy Tôn giả A-nan cũng ở tại đó.
Bấy giờ, Tôn giả ở một mình nơi vắng, thiền tịnh tư duy và nghĩ như vầy: ‘Một nửa phạm hạnh tức là thiện tri thức, thiện bạn đảng, thiện tùy tùng, chẳng phải là ác tri thức, ác bạn đảng, ác tùy tùng.’
Rồi Tôn giả từ thiền tịnh tỉnh giấc, đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên, bạch Phật rằng:

“Bạch Thế Tôn, Con ở một mình nơi vắng, thiền định tư duy và nghĩ như vầy: ‘Một nửa phạm hạnh này là thiện tri thức, thiện bạn đảng, thiện tùy tùng, chẳng phải là ác tri thức, ác bạn đảng, ác tùy tùng’.”

Phật bảo A-nan:

“Chớ nghĩ như vầy: ‘Một nửa phạm hạnh này là thiện tri thức, thiện bạn đảng, thiện tùy tùng, chẳng phải là ác tri thức, ác bạn đảng, ác tùy tùng.’ Vì sao? Thuần nhất mãn tịnh, phạm hạnh thanh bạch [2], chính là thiện tri thức, thiện bạn đảng, thiện tùy tùng [3], chẳng phải là ác tri thức, ác bạn đảng, ác tùy tùng. Vì Ta là thiện tri thức nên có chúng sanh ở nơi Ta mà tiếp nhận Niệm giác phần, y viễn ly, y vô dục, y tịch diệt, hướng đến xả. Cũng vậy, Trạch giác phần, Tinh tấn giác phần, Hỷ, Khinh an, Định và Xả giác phần, y viễn ly, y vô dục, y tịch diệt, hướng đến xả. Vì vậy cho nên, A-nan, thuần nhất mãn tịnh, phạm hạnh thanh bạch chính là thiện tri thức, thiện bạn đảng, thiện tùy tùng, chẳng phải là ác tri thức, ác bạn đảng, ác tùy tùng.”

Sau khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.

[1] Giáp cốc tinh xá 夾谷精舍.
[2] Pāli: sakalam evidaṃ brahmacariyaṃ yadidṃ kalyaṇāmittā kalyāṇasahāyatā, chính toàn bộ đời sống phạm hạnh này là thiện tri thức, thiện đồng hành...
[3] 善知識 thiện tri thức, 善伴黨 thiện bạn đảng, 善隨從 thiện tùy tùng

*

THIỆN TRI THỨC (SĀ 779)
Hòa thượng Thích Đức Thắng dịch (Tạp A-hàm, 2010)

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

“Ở trong ngoại pháp, Ta không thấy một pháp nào có thể khiến cho pháp thiện chưa sanh, khiến sanh; pháp thiện đã sanh rồi, khiến tái sanh và làm tăng trưởng, như đã nói về thiện tri thức, thiện bạn đảng, thiện tùy tùng. Các Tỳ-kheo, thiện tri thức, thiện bạn đảng, thiện tùy tùng có thể khiến cho chánh kiến chưa sanh, sanh; chánh kiến đã sanh rồi khiến tái sanh và làm tăng trưởng. Cũng vậy, chánh chí, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm, chánh định chưa sanh, khiến sanh; đã sanh rồi khiến tái sanh và làm tăng trưởng.”

Sau khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.

* * *
Half the Holy Life (SN 45:2)
(Trans. Bhikkhu Bodhi)

Thus have I heard. On one occasion the Blessed One was dwelling among the Sakyans where there was a town of the Sakyans named Nāgaraka.[4] Then the Venerable Ānanda approached the Blessed One. Having approached, he paid homage to the Blessed One, sat down to one side, and said to him:

“Venerable sir, this is half of the holy life, that is, good friendship, good companionship, good comradeship.”[5]

“Not so, Ānanda! Not so, Ānanda! This is the entire holy life, Ānanda, that is, good friendship, good companionship, good comradeship. When a bhikkhu has a good friend, a good companion, a good comrade, it is to be expected that he will develop and cultivate the Noble Eightfold Path.[6]

“And how, Ānanda, does a bhikkhu who has a good friend, a good companion, a good comrade, develop and cultivate the Noble Eightfold Path? Here, Ānanda, a bhikkhu develops right view, which is based upon seclusion, dispassion, and cessation, maturing in release.[7] He develops right intention … right speech … right action … right livelihood … right effort … right mindfulness … right concentration, which is based upon seclusion, dispassion, and cessation, maturing in release. It is in this way, Ānanda, that a bhikkhu who has a good friend, a good companion, a good comrade, develops and cultivates the Noble Eightfold Path.

“By the following method too, Ānanda, it may be understood how the entire holy life is good friendship, good companionship, good comradeship: by relying upon me as a good friend, Ānanda, beings subject to birth are freed from birth; beings subject to aging are freed fromaging; beings subject to death are freed from death; beings subject to sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair are freed from sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair. By this method, Ānanda, it may be understood how the entire holy life is good friendship, good companionship, good comradeship.”

–Trans. Bhikkhu Bodhi

NOTES:
[4] This entire sutta is quoted by the Buddha at 3:18, in a conversation with King Pasenadi. Spk has commented on the text there and thus passes over it here. I draw the excerpts below from Spk’s exegesis of the earlier text. In Be and Ee the name of the town is Sakkara.

[5] Kalyāṇamittatā kalyāṇasahāyatā kalyāṇasampavaṅkatā. The three are synonymous. Spk: When he was in seclusion Ānanda thought, “This practice of an ascetic succeeds for one who relies on good friends and on his own manly effort, so half of it depends on good friends and half on one’s own manly effort.”

[6] C.Rh.D renders kalyāṇamitto bhikkhu “a bhikkhu who is a friend of righteousness” (KS 1:113); Woodward, “a monk who is a friend of what is lovely” (KS 5:2); Ireland, “a bhikkhu who is a friend of the good” (SN-Anth 1:75). These renderings all rest on a misunderstanding of the grammatical form of the expression. As an independent substantive, kalyāṇamitta means a good friend, i.e., a spiritual friend who gives advice, guidance, and encouragement. When used in apposition to bhikkhu, however, kalyāṇamitta becomes a bahubbbīhi compound, and the whole expression means “a bhikkhu who has a good friend.” To represent this formally: yassa bhikkhuno kalyāṇamittaṁ hoti (not yo bhikkhu kalyāṇassa mittaṁ hoti), so kalyāṇamitto bhikkhū ti vuccati (my own etymology). On the importance of the good friend, see below 45:49, 63, 77, and also AN IV 351–53 (= Ud 34–37).

Spk: With children, it isn’t possible to say, “So much comes from the mother, so much from the father”; the same is true in this case too. One cannot say, “So much of right view, etc., comes from good friends, so much from one’s own manly effort.” The Blessed One says in effect: “The four paths, the four fruits, etc., are all rooted in the good friend.”

[7] The vivekanissita formula is affixed to the path factors at Vibh 236. Spk explains seclusion (viveka) in the light of the commentarial notion of the fivefold seclusion: (i) “in a particular respect” (tadaṅga, temporarily, by the practice of insight); (ii) by suppression (vikkhambhana, temporarily, by attainment of jhāna); (iii) by eradication (samuccheda, permanently, by the supramundane path); (iv) by subsiding (paṭippassaddhi, permanently, in fruition); and (v) by escape (nissaraṇa, permanently, in Nibbāna). In the next two paragraphs I translate from Spk.

“He develops right view dependent on seclusion (vivekanissitaṁ): dependent on seclusion in a particular respect, dependent on seclusion by eradication, dependent on seclusion by escape. For at the moment of insight this meditator, devoted to the development of the noble path, develops right view dependent on seclusion in a particular respect by way of function and dependent on seclusion by escape as inclination (since he inclines to Nibbāna); at the time of the path, he develops it dependent on seclusion by eradication as function and dependent on seclusion by escape as object (since the path takes Nibbāna as object). The same method of explanation is also extended to the terms ‘dependent on dispassion’ (virāganissita) and ‘dependent on cessation’ (nirodhanissita).

Release (vossagga) is twofold, release as giving up (pariccāga) and release as entering into (pakkhandana). ‘Release as giving up’ is the abandoning (pahāna) of defilements: in a particular respect (tadaṅgavasena) on the occasion of insight, by eradication (samucchedavasena) at the moment of the supramundane path. ‘Release as entering into’ is the entering into Nibbāna: by way of inclination towards that (tadninnabhāvena) on the occasion of insight, and by making it the object (ārammaṇakaraṇena) at the moment of the path. Both methods are suitable in this exposition, which combines the mundane (insight) and the supramundane (the path). The path is maturing in release (vossaggapariṇāmi) because it is maturing towards or has matured in release, meaning that it is ripening towards or has ripened (in release). The bhikkhu engaged in developing the path is ‘ripening’ the path for the sake of giving up defilements and entering into Nibbāna, and he develops it so that it has ‘ripened’ thus.”

When I translate vossagga as “release,” this should be understood as the act of releasing or the state of having released rather than as the experience of being released. Vossagga and paṭinissagga are closely related, both etymologically and in meaning, but as used in the Nikāyas a subtle difference seems to separate them. Paṭinissagga, here translated “relinquishment,” pertains primarily to the phase of insight and thus might be understood as the active elimination of defilements through insight into the impermanence of all conditioned things. Vossagga, as that in which the path matures, probably signifies the final state in which all attachment is utterly given up, and thus comes close in meaning to Nibbāna as the goal of the path. Paṭinissagga occurs as a distinct contemplation, the last, in the sixteen steps in the development of mindfulness of breathing (see 54:1). Though Spk glosses it in the same way as it does vossagga (see n. 293 below), in the suttas themselves the two terms are used with different nuances.

[293] “Contemplating impermanence” (aniccānupassī) is contemplation of the five aggregates as impermanent because they undergo rise and fall and change, or because they undergo momentary dissolution. This tetrad deals entirely with insight, unlike the other three, which can be interpreted by way of both serenity and insight. “Contemplating fading away” (virāgānupassī) and “contemplating cessation” (nirodhānupassī) can be understood both as the insight into the momentary destruction and cessation of phenomena and as the supramundane path, which realizes Nibbāna as the fading away of lust (virāga, dispassion) and the cessation of formations. “Contemplating relinquishment” (paṭinissaggānupassī) is the giving up (pariccāga) or abandoning (pahāna) of defilements through insight and the entering into (pakkhandana) Nibbāna by attainment of the path. See n. 7. 

*

Sunday, 10 September 2017

Tôi rất sợ làm người nổi tiếng

Tôi rất sợ làm người nổi tiếng.

Một ngày nào đó, khi tôi già yếu, tôi chỉ muốn được yên thân trong những năm tháng cuối cùng. Tôi chỉ thích lặng lẻ ngắm nhìn cuộc đời, không thích ai đến viếng thăm, ồn ào, rắc rối. Nhìn cảnh tượng người ta vây quanh những nhân vật nổi tiếng ngồi xe lăn được đưa đi chỗ nầy chỗ kia, tham dự lễ nầy lễ nọ, chụp ảnh quay phim, đưa vào các bản tin trên báo, bàn luận xôn xao trên các mạng xã hội, mà tôi thấy thương cảm, tội nghiệp cho những người già nua, bệnh hoạn đó.

Vâng, tôi rất sợ làm người nổi tiếng. Chỉ xin làm một người vô danh tiểu tốt, thảnh thơi thong thả trong giai đoạn cuối cùng của cuộc đời.