Saturday, 7 August 2021

Phỏng vấn Tỳ khưu Bodhi, người dịch kinh Phật

 PHỎNG VẤN TỲ KHƯU BODHI, NGƯỜI DỊCH KINH PHẬT
Bình Anson dịch

Tỳ khưu Bodhi (Bhikkhu Bodhi) là một tu sĩ người Mỹ và là một dịch giả nổi tiếng về kinh điển Pāli nguyên thủy. Các bản dịch Anh ngữ của ngài về Trung bộ (Majjhima Nikāya) và Tương ưng bộ (Samyutta Nikā-ya) đã trở thành những quyển sách tham chiếu căn bản của giới Phật học ở phương Tây. Vào đầu năm 2006, chuyên san Phật giáo "Inquiring Mind" thực hiện một cuộc phỏng vấn được ghi lại dưới đây.

* HỎI: Do duyên cớ gì Sư chú tâm vào việc dịch kinh?

TỲ KHƯU BODHI: Khi mới xuất gia, tôi không có ý định trở thành một dịch giả. Vị thầy đầu tiên của tôi là một tu sĩ người Việt, và tôi ở với thầy tại California trong thập niên 1960. Thầy đã chỉ cho tôi thấy tầm quan trọng trong việc học các loại ngữ văn của kinh điển Phật giáo, bắt đầu là tiếng Pāli, như là một công cụ để thông hiểu Giáo Pháp. Khi tôi đến Sri Lanka và thọ giới tỳ khưu trong truyền thống Phật giáo Nguyên thủy (Theravāda) vào năm 1972, tôi tích cực học tiếng Pāli để có thể trực tiếp đọc và hiểu được những bài kinh nguyên thủy của Đức Phật. Tôi quyết định theo học với Hòa thượng Balangoda Ananda Maitreya, vì lúc ấy ngài là một trong các vị học giả giỏi nhất ở Sri Lanka. Ngài cũng rất thông thạo tiếng Anh, và là một người rất hiền hòa và từ bi.

Vào năm 1974, tôi có dịp làm việc chung với vị sư người Đức, Hòa thượng Nyanaponika, chủ nhiệm và chủ bút của Hội Xuất bản Phật giáo (Buddhist Publication Society), thành phố Kandy. Trong thời gian đó, tôi sử dụng cuốn sổ tay của Hòa thượng, do ngài ghi chép từ thập niên 1950, để tăng cường sự hiểu biết về tiếng Pāli chú giải. Cuối năm 1975, tôi đến Kandy và sống với ngài Nyanaponika. Ngài xem qua vài bài dịch riêng của tôi và khuyên tôi nên dịch bài kinh Phạm Võng (Brahmajala Sutta, bài kinh đầu tiên trong Trường bộ), cùng với những chú giải và phụ chú giải. Bản dịch đó được xuất bản trong tập sách Chú giải kinh Phạm Võng (The Discourse on the All-Embracing Net of View) vào năm 1978, đánh dấu khởi điểm cho "sự nghiệp" dịch thuật của tôi.

* HỎI: Sư có những nhận xét gì về vai trò của kinh điển đối với các người phương Tây theo học Phật Pháp? Và lý do gì đã thúc đẩy Sư phổ biến những bản dịch Anh ngữ đến với họ?

TỲ KHƯU BODHI: Khoảng năm 1972, trước khi tôi rời Hoa Kỳ đi sang châu Á để thọ giới tỳ khưu, quan tâm về đạo Phật của giới trẻ Hoa Kỳ có khuynh hướng phản trí thức (anti-intellectual) – nghĩa là ít chú ý đến việc nghiên cứu kinh sách. Lúc đó, trong khi đa số những người Tây phương đi tu học và hành thiền tại các tự viện Phật giáo Nguyên thủy trong vùng rừng núi ở Thái Lan hoặc tại các trung tâm thiền tập ở Miến Điện; duyên nghiệp lại đưa đẩy tôi đến Sri Lanka, đến với những vị thầy có hiểu biết thâm sâu về kinh điển và sẵn sàng hết lòng dạy tôi.

Khi tôi bắt đầu tìm đọc các bài kinh bằng tiếng Pāli, tôi rất hồ hởi bởi tính chất rõ ràng, lý luận sâu sắc, vẻ đẹp tế nhị và tình cảm tinh tế, nằm ngay bên dưới bề mặt trầm lặng của chúng. Tôi bắt đầu phiên dịch những bài kinh và các đoạn chú giải với mục đích duy nhất là để giúp cho mình thông hiểu, chứ không có ý định xuất bản. Nhưng sau một thời gian, tôi nhận thấy rằng người học Phật phương Tây có một khoảng trống rất lớn: đó là thiếu một sự hiểu biết rõ ràng về những lời dạy của Đức Phật. Do đó, tôi nghĩ rằng, điều cực kỳ quan trọng là làm sao dịch những bài kinh này ra một thứ ngôn ngữ hiện đại, trong sáng, kèm theo với những chú thích để trình bày những nghĩa lý thâm sâu và giá trị thực tiễn. Đó là sự nghiệp của tôi cho đến ngày hôm nay.

* HỎI: Sự uyên bác và công việc nghiên cứu kinh điển đã giúp ích được gì trong sự hành trì và phát triển tâm linh của Sư?

TỲ KHƯU BODHI: Nhiều Phật tử phương Tây thường cho rằng hành trì đồng một nghĩa với thiền tập, và rồi họ tách biệt, phân chia giữa hai lãnh vực học hỏi và thực hành. Họ cho rằng, khi một vị tu sĩ chuyên tâm nghiên cứu Phật học, vị ấy không thể nào là một hành giả nghiêm túc; như thể công việc học Phật là đối chọi lại với công phu hành trì chân thật. Tôi phải công nhận rằng sự hành thiền của tôi cũng chưa hoàn toàn như ý mong muốn, nhưng đó là vì điều kiện sức khoẻ của tôi (đây là trở ngại do nghiệp quả mà tôi phải trực diện); chứ hoàn toàn không phải vì tôi chú tâm quá nhiều cho việc nghiên cứu và phiên dịch kinh điển.

Chúng ta nên nhớ rằng, ở các quốc gia Phật giáo tại châu Á, từ nhiều thế kỷ và hầu như trong mọi tông phái, công tác chính yếu của Tăng đoàn là gìn giữ và quảng bá Phật pháp, bằng cách nghiên cứu, học hỏi và truyền bá giáo lý và kinh điển. Công việc ấy đã dựng nên một nền móng vững chắc, từ đó, những thành đạt cao hơn trong việc tu tập được xây đắp; như thể bộ xương nâng đở bắp thịt và các cơ quan khác trong thân thể Phật pháp. Mặc dù trong mọi truyền thống đều có những tích truyện về những vị thiền giả tuy ít học mà vẫn đạt được những thực chứng thâm sâu, nhưng nổi bật nhất vẫn là những vị có thể phối hợp được cả hai pháp học và pháp hành. Ta cũng có thể nghi ngờ những câu chuyện tiểu sử các bậc hiền triết ít học, như là những phóng đại do tôn sùng quá đáng.

Mối tương quan giữa sự học Phật uyên bác và sự thực hành, theo tôi, là một vấn đề rất phức tạp, mà ta không thể nào tìm được một câu trả lời duy nhất có thể thích hợp cho tất cả mọi người. Mỗi người có một khuynh hướng tự nhiên thiên về một phía nào đó. Có một điều ta có thể nói dứt khoát rằng, kiến thức uyên bác mà không có áp dụng thực tế sẽ trở thành cằn cỗi, và hành thiền tinh tấn nhưng thiếu sự hướng dẫn để hiểu rõ các nguyên tắc sẽ trở thành vô hiệu quả. Tôi e rằng nếu không có hiểu biết sâu sắc về kinh điển, chỉ trong vòng vài thế hệ nữa, truyền thống tu tập của chúng ta sẽ bị pha loãng, lấn áp, và nuốt trọn bởi nền văn hóa vây quanh, nhất là khi nền văn hóa ấy có tính duy thần hay có khuynh hướng chuộng vật chất.

* HỎI: Xin Sư cho biết ý kiến về giá trị của việc học kinh điển trong sự tu tập của Phật tử Âu Mỹ ngày nay.

TỲ KHƯU BODHI: Trước khi giải thích về giá trị của việc học kinh điển trong sự tu tập của mình, ta nên đặt câu hỏi: Thế nào là tu tập? Tu tập có nghĩa là gì? Nếu ta không nhấn mạnh về những câu hỏi này, ta có khuynh hướng mang những giả thuyết không được xem xét rõ ràng vào mục đích của sự tu tập. Từ đó, sự tu tập của ta sẽ dễ dàng trở nên tùy tiện cho những ý đồ riêng tư, hoặc là những thiên kiến văn hóa, thay vì là một phương tiện đưa đến mục tiêu giải thoát mà Đức Phật đã đề ra. Theo tôi thấy, đó là điều đang xảy ra cho Phật giáo phương Tây, và đó cũng giải thích được lý do vì sao Phật giáo Âu Mỹ đã thay đổi truyền thống, và có người xem rằng đó như thể đã thỏa hiệp với ngành tâm lý học hiện đại hay với chủ nghĩa nhân bản thế tục.

Học Phật Pháp không phải là việc khuân vác một mớ văn hóa từ một xứ Ấn Độ cổ xưa đem về đổ xuống sau vườn nhà mình. Nó phải được xem xét, phân tích cẩn thận. Nếu thực hiện nghiêm túc, nghiên cứu Phật học là phương cách để ta học hỏi và hấp thu cơ cấu của Phật Pháp. Đây là cách để ta có được một sự thông hiểu tường tận về các nguyên lý nền tảng của giáo pháp. Quan trọng hơn nữa, đây là cách để ta nuôi dưỡng những hạt giống tuệ giác trong tâm mình.

Công việc đầu tiên ta cần làm khi đi theo con đường của Đức Phật là phải có Chánh Kiến, chi đầu tiên của Bát Chánh Đạo, đó là kim chỉ nam cho suốt hành trình tâm linh của ta. Chánh kiến được bắt đầu bằng "văn", gồm có đọc kinh điển, nghe và học hỏi từ những vị thầy có khả năng. Kế đến là "tư", nghĩa là suy tư, quán chiếu về thực chất của giáo lý, liên quan đến cuộc sống của chính mình. Khi quan kiến của ta được sáng tỏ và sâu sắc, niềm tin nơi Đức Phật trở nên kiên cố. Lúc đó, dựa trên chánh kiến và lòng tín thành này, công phu hành thiền của ta, "tu", sẽ tiến đến đúng mục tiêu.

Trí tuệ chân thật chỉ xuất hiện khi ta thẩm sát những gì thiện và những gì bất thiện, nghĩa là những gì đưa ta đến bình an hạnh phúc và đem an vui đến cho người khác, và những gì gây tai hại và đau khổ cho ta và cho người khác. Điều này phát nguồn từ việc học kinh điển nghiêm túc, và đó chỉ là một phần nhỏ những gì ta tìm được trong nguồn kinh điển. Ta cần phải thẩm tra những gì ta học được, suy tư và hấp thu vào nội tâm, và xuyên suốt qua tuệ quán.

* HỎI: Bằng cách nào chúng ta có thể kết hợp việc nghiên cứu các bài kinh với sự tu tập của mình?

TỲ KHƯU BODHI: Trước hết, ta cần phải biết bắt đầu từ đâu. Cho người mới bắt đầu học kinh, tôi đề nghị tìm đọc tập sách trích lục kinh điển của Hòa thượng Nyanatiloka, "Phật ngôn" (The Word of the Buddha). Hoặc tìm đọc theo hệ thống các bài kinh căn bản trình bày tại trang web "Truy cập Tuệ quán" (Access to Insight, www.accesstoinsight.org); và tôi cũng đề nghị đọc bài "Làm bạn với kinh điển" ("Befriending the Suttas") của ông John Bullitt, chủ biên trang web. Kế đến, bạn có thể đọc cuốn "Những Lời Phật Dạy" (In the Buddha’s Words), do tôi trích lục từ Kinh tạng. Sau đó, cho những ai muốn đọc đầy đủ hơn, tôi đề nghị tìm đọc Trung Bộ (Majjhima Nikāya). Trang web của Tu viện Bodhi (Bodhi Monastery, www.bodhimonastery.net) có lưu trữ các bài giảng kinh Trung bộ của tôi, thu âm trong suốt ba năm thuyết giảng, có thể tải xuống để nghe. Như thế, sẽ giúp người nào muốn tìm hiểu nghiêm túc chi tiết các kinh văn này.

Phương pháp học tập: Tôi đề nghị là trong lần đầu, ta gắng đọc lướt qua toàn bài kinh để làm quen với mạch văn. Sau đó, đọc lại lần thứ nhì cẩn thận hơn và ghi chú các chi tiết. Khi đã quen với nhiều bài kinh, liệt kê một số các đề tài có vẻ vượt trội và các chủ đề trùng lặp, và dùng chúng như là các đề mục cho việc học kinh trong tương lai. Khi ta tiếp tục đọc kinh, nên lấy ghi chú và sắp xếp chúng theo từng chủ đề, tạo thêm chủ đề mới nếu cần thiết; nhưng luôn luôn ghi rõ xuất xứ các đoạn kinh. Dần dần – sau một năm hay vài năm – ta sẽ có được một cái nhìn tổng thể về Phật Pháp; cuối cùng, ta sẽ thấy các bài pháp ấy kết hợp với nhau thành một khối đồng nhất, như thể các mảnh hình nhỏ được kết nối lại trong trò chơi ráp hình.

Tôi cũng muốn nhấn mạnh ở đây là các bản kinh Pāli bắt nguồn từ thời kỳ cổ xưa nhất của lịch sử kinh văn Phật giáo và vì thế, là một di sản chung cho mọi truyền thống Phật giáo. Vì vậy, học tập các bản kinh này không phải là công việc dành riêng cho Phật tử Nam tông hay những hành giả thiền Minh sát; đó là công việc, và cũng là nhiệm vụ, của mọi Phật tử thuộc tất cả các tông phái, nếu họ thật tâm muốn thông hiểu cội rể của Đạo Phật.

* HỎI: Có những cạm bẫy hay nguy cơ nào trong việc sử dụng kinh điển không?

TỲ KHƯU BODHI: Có một điều nguy hiểm trong việc sử dụng kinh điển đã được Đức Phật chỉ ra rất rõ ràng trong bài kinh Xà dụ (kinh "Người bắt rắn", Trung bộ, MN 22). Đức Phật nói về những người học kinh điển, thay vì đem ra thực hành các lời giảng dạy, lại sử dụng những kiến thức ấy để phê phán kẻ khác, hoặc để khoe tài năng của mình khi tranh luận với kẻ khác. Đức Phật ví dụ họ như người bắt rắn nhưng nắm ở đằng đuôi, họ sẽ bị con rắn quay đầu lại cắn, gây đau đớn trầm trọng hoặc mất mạng. Tôi thấy nhiều Phật tử Tây phương đã rơi vào cạm bẫy này, nhiều lúc có cả chính tôi. Mặc dù ta bắt đầu với ý định tốt nhất, nhưng ta lại nắm bắt Phật Pháp bằng thái độ giáo điều cố chấp, dùng kiến thức của mình để tranh cãi với kẻ khác, và rồi, dính mắc vào "trận chiến diễn dịch" với những ai có sự giải thích kinh văn khác với mình.

Một nguy hiểm khác là ta buông bỏ khả năng suy xét của mình và hoàn toàn tin vào bất cứ những gì ghi lại trong kinh. Thật ra, cũng có những điều trong kinh không còn đúng và thích hợp nữa, qua kiến thức khoa học hiện đại. Ta không thể phê bình những người tin theo thuyết sáng tạo của Ky-tô giáo để rồi mình cũng bị chấp dính vào những thái độ tương tự.

* HỎI: Có những đoạn kinh nào mà Sư ưa thích nhất?

TỲ KHƯU BODHI: Khi tôi mới bắt đầu đọc kinh điển Phật giáo, lúc còn học đại học, tôi cảm thấy rất hứng khởi với những lời dạy của Đức Phật về lý nhân duyên, ngũ uẩn, vô ngã, v.v., vì chúng đưa ta thẳng vào trọng tâm của Pháp. Nhưng một trong những bài kinh gây ấn tượng nhất cho tôi lại không phải là những bài kinh giảng thâm sâu về hành thiền hoặc về thực chứng giải thoát. Khi đọc những bài kinh giảng về lý duyên khởi và vô ngã, tôi nghĩ: Đức Phật quả là một bậc giác ngộ, nhưng có lẽ cũng chưa toàn vẹn lắm. Nhưng khi tôi đọc đến bài kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt (Sigalovāda Sutta, Trường bộ, 31), những nghi ngờ của tôi hoàn toàn tan biến. Khi tôi đọc bài kinh này, đặc biệt là đoạn kinh giảng về "cách lễ lạy sáu phương", tôi nhận thấy rằng mặc dù đã thấu đạt những chân lý sâu xa nhất về sự hiện hữu, Đức Phật vẫn có thể giảng dạy rất chi tiết cho bậc cha mẹ về cách dạy con cái, cho vợ chồng về cách thương yêu tương kính, cho người chủ về cách chăm sóc người làm của mình, v.v.; khi ấy, tôi chợt hiểu rằng, vị Thầy này quả là một bậc giác ngộ hoàn toàn. Trong tâm tôi, bài kinh này chứng minh rằng, Đức Phật không những đã đạt được một "trí tuệ siêu thế" cao quý nhất, mà Ngài còn có cả "trí tuệ hiệp thế" với lòng từ bi bao trùm khắp thế gian, mang sự hiểu biết của mình hòa nhập với trình độ của thế tục, để dạy dỗ và hướng dẫn mọi người bằng những phương cách phù hợp với căn cơ của họ.

Một trong những đặc điểm của kinh điển mà tôi có ấn tượng nhất, ngay từ khi bắt đầu học kinh và mãi cho đến bây giờ, là các ví dụ so sánh. Dường như Đức Phật có thể đem bất cứ một hiện tượng thiên nhiên nào, hay là bất cứ một việc gì trong đời sống hằng ngày, biến thành một ví dụ sâu sắc để làm sáng tỏ một điểm quan trọng nào đó trong bài giảng. Mặt trời, trăng sao, hoa lá, cỏ cây, sông núi, biển hồ; bốn mùa thay đổi; sư tử, khỉ, voi, ngựa; vua, quan và chiến sĩ; nghệ nhân, y sĩ và đạo tặc – danh sách về những đề tài ví dụ của Đức Phật hầu như nhiều vô tận. Đôi khi chúng ta đọc một loạt những bài kinh có vẻ rất khô khan, rồi đột nhiên ta gặp một ví dụ rất tươi mới và sáng rõ, và hình ảnh ấy không bao giờ phai nhạt trong tâm ta, ngay cả sau nhiều thập niên.

* HỎI: Khi dịch kinh điển, Sư gặp những khó khăn đặc biệt nào?

TỲ KHƯU BODHI: Tôi nghĩ rằng bất cứ ngôn ngữ nào cũng có một cấu trúc nhận thức cơ bản của mỗi nền văn hóa, chứa đựng những ẩn dụ để tạo dựng từ ngữ, và bao gồm các ý nghĩa phụ thuộc và sắc thái riêng của từ ngữ. Vi thế, khi chuyển dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, lúc nào ta cũng gặp vấn đề không hòa hợp giữa hai cấu trúc nhận thức đó. Điều này dẫn đến các xung đột mà thông thường chỉ giải quyết được bằng cách hy sinh những liên hệ quan trọng về khái niệm trong ngữ văn gốc để chuyển dịch sao cho suông sẻ và dễ hiểu. Vấn đề này trở nên trầm trọng hơn khi ta phải chuyển dịch từ một cổ ngữ, với những ẩn dụ cổ xưa, sang ngôn ngữ hiện đại với một nền văn hóa rất khác biệt.

Ta có thể thấy vấn đề này ngay ở những từ Pāli đơn giản. Thí dụ như từ "samādhi" (định), tiếng Anh dịch là: concentration - tập trung; composure - an tĩnh; collectedness - tự chủ, mental unification - hợp nhất tâm, v.v. nhưng các từ này không chuyển tải được ý nghĩa của samādhi để chỉ một trạng thái luyện tâm đặc biệt, hay một hệ thống các trạng thái luyện tâm, trong hệ thống huân tập tâm ý của đạo Phật (và trong các đạo giáo Ấn Độ).

Ngay cả từ "sati" (niệm), tiếng Anh thường dịch là "mindfulness", cũng không phải là không có vấn đề. Từ này phát nguồn từ động từ "sarati", nghĩa là "ghi nhớ", và đôi khi trong ngữ văn Pāli, sati vẫn được hiểu như có liên quan đến ý nghĩa về sự ghi nhớ. Nhưng khi từ ngữ đó được dùng trong các pháp hành thiền, chúng ta không có chữ tiếng Anh nào để dịch cho chính xác. Một dịch giả nào đó đã tạo ra chữ "mindfulness", lúc đó chưa xuất hiện trong cuốn tự điển của tôi. Chữ dịch này cũng khá hay, nhưng tự nó không bảo tồn được ý nghĩa về sự ghi nhớ, đôi khi rất cần thiết để thông hiểu một đoạn kinh.

Từ "satipatthāna" thường được dịch là "foundation of mindfulness" (niệm xứ, nền tảng của niệm), nghe có vẻ thanh lịch; nhưng nếu ta hiểu Pāli, ta có thể nghi ngờ, hợp từ ấy không bắt nguồn từ sati + patthāna (từ đó, dịch là niệm xứ), mà là sati + upatthāna, nghĩa là "establishment of mindfulness" (sự thiết lập niệm). Rồi, nếu ta hiểu kinh văn gốc, ta sẽ thấy có rất nhiều câu, trong đó, sati được dùng với những từ có liên hệ đến upatthāna, như upatthitas-sati (người có niệm được thiết lập), mà không có câu nào kết hợp sati với các từ có liên hệ đến patthāna. Điều này xác minh cho việc chúng ta nên dịch sati-patthāna là "sự thiết lập niệm - establishment of mindfulness", hơn là dịch "nền tảng của niệm, niệm xứ". Cho dù từ "niệm xứ - foundation of mindfulness" nghe có vẻ thanh lịch, điểm quan trọng ở đây là tiến trình nội tâm để thiết lập chánh niệm, chứ không phải là về đối tượng của quán niệm.

* HỎI: Khi Sư thấy truyền thống Phật giáo Nguyên thủy đang được các vị giáo thọ Tây phương biến đổi để thích nghi trong thời đại mới, những điều nào Sư nghĩ là có ích lợi và những điều nào không có ích lợi?

TỲ KHƯU BODHI: Tôi rất ngần ngại khi phê bình về việc làm của các vị thầy khác, nhưng tôi chỉ xin đề cập đến một vấn đề quan trọng đang xảy ra trong việc giảng dạy thiền quán Vipassana, mà có thể ta không chú ý đến. Tôi có cảm tưởng rằng mục đích của thiền quán niệm, đang được dạy ở Tây phương, đã bị biến đổi rất nhiều, khác xa chức năng truyền thống của nó. Có lẽ là vì đa số các vị giáo thọ Âu Mỹ giảng dạy ra ngoài khuôn khổ của giáo lý Phật giáo cổ điển. Ngày nay, dường như pháp thiền quán niệm được dạy như là một cách thức để làm tăng trưởng kinh nghiệm của ta trong giây phút hiện tại. Mục đích của pháp hành là để giúp ta chấp nhận tất cả những gì xảy đến cho mình mà không phân biệt. Qua sự nâng cao chánh niệm trong giây phút hiện tại, ta học cách chấp nhận mọi việc như tự bản chất chúng là tốt đẹp, nhìn thấy mọi vấn đề như đáng để học hỏi, thể nghiệm mọi sự như đáng ân thưởng. Vì vậy mà ta chỉ cần an trú trong hiện tại, sẵn sàng tiếp nhận bất cứ việc gì xảy ra, hoàn toàn cởi mở đón nhận dòng chảy của các sự kiện luôn tươi mới và luôn bất định.

Ở một cấp độ nào đó, đường lối giảng dạy ấy cho ta nhiều bài học giá trị. Đương nhiên, chấp nhận bất cứ những gì xảy đến cho ta bao giờ cũng tốt hơn là sống mà cứ náo nức đeo đuổi lạc thú và sợ sệt trốn tránh khổ đau. Càng khôn ngoan hơn nếu ta thấy được các bài học tích cực trong những nỗi đau, mất mát và đổi thay, thay vì than van, trách móc cho số phận. Thế nhưng, theo quan kiến của tôi, nếu chỉ trình bày những điều này như là điểm chính của lời Phật dạy, thì đó là một sự suy diễn sai lầm về Pháp. Lời dạy của Đức Phật, ghi lại trong các bài kinh, có những luận cứ khác biệt. Mục đích tối hậu của giáo pháp không phải là để chấp nhận cuộc đời, nhưng là để giúp ta vượt qua giới hạn của kinh nghiệm hữu vi, để thăng hoa cuộc đời, đạt đến trạng thái không có già, không có chết, nghĩa là chấm dứt mọi khổ đau. Nếu ta chỉ đơn giản duy trì nhận thức trong hiện tại để có một sự chấp nhận không ràng buộc về hiện tại, nó có thể gián tiếp đưa ta đến sự thỏa hiệp với cõi Ta-bà luân hồi (samsara), nghĩa là sẽ lại dính mắc vào Ta-bà, chứ không giải thoát khỏi nó.

Trong giáo pháp truyền thống, qua chú tâm tỉnh giác trong hiện tại, ta tập trung quán sát tiến trình sinh và diệt của mọi hiện tượng để phát triển tuệ giác về đặc tính vô thường của chúng. Nhưng nếu chúng ta dừng lại ở tính vô thường của mọi vật, thì đó không phải là cách để ta chấm dứt khổ đau. Tuệ giác về vô thường (anicca), phải là cửa ngõ đưa đến tuệ giác về khổ (dukkha), đặc tính bất chu toàn của mọi pháp hữu vi, và về tính vô ngã (anatta) của mọi pháp. Với tuệ giác về ba đặc tính này, ta nhàm chán về mọi pháp hữu vi. Do nhàm chán, xả ly phát sinh. Do xả ly, giải thoát phát sinh, đưa đến thực chứng Niết-bàn tại đây và ngay bây giờ.

Cốt lõi của Phật pháp không phải chỉ là luận thuyết cho rằng tháo gỡ được sự dính mắc sẽ giúp ta sống một cuộc đời không có lo sợ và đau buồn. Thật ra, luận thuyết đó chỉ là một phần về sự liên hệ của hai Diệu Đế đầu – Khổ Đế và Tập Đế, nhưng chưa đủ sâu sắc. Phân tích thâm sâu hơn về Tứ Diệu Đế là phải thấy rõ rằng dính mắc của năm uẩn là ý nghĩa chính của Khổ Đế; phải thấy rõ rằng hoạn khổ bắt nguồn từ sự thèm khát khoái lạc của các giác quan và sự thèm khát vào một sự hiện hữu tiếp nối; và phải thấy rõ rằng hoạn khổ – đau khổ của dính mắc vào vòng sinh tử luân hồi – chỉ chấm dứt khi nào sự thèm khát hoàn toàn tàn diệt. Nếu không thấy được như thế, giảng dạy về Tứ Diệu Đến, trọng tâm của Phật Pháp, sẽ không đầy đủ.

Dĩ nhiên, mỗi vị giáo thọ phải tự quyết định lúc nào là thích hợp để trình bày đầy đủ giáo thuyết ấy. Đức Phật ngày xưa, chỉ giảng dạy Tứ Diệu Đế khi nào Ngài biết thính chúng có khả năng để lĩnh hội. Nhưng nếu ta muốn Phật Pháp được hưng thịnh, ít ra, ta phải chấp nhận ý nghĩa chân chính của các lời dạy trên; cho dù chúng ta quyết định rằng bây giờ cần phải chuẩn bị trước với những phương cách khác, thích nghi hơn, của con đường đưa đến giải thoát.

* HỎI: Chúng tôi rất ngạc nhiên khi thấy trong kinh điển, Đức Phật không bao giờ đề nghị người nào đi theo con đường Bồ-tát của Ngài để đắc quả vị Phật, nhưng Ngài chỉ dạy về đạo quả A-la-hán như là mục đích chính. Theo Sư, tại sao như thế?

TỲ KHƯU BODHI: Đây là câu hỏi mà tôi đã từng suy tư rất nhiều, nhưng vẫn chưa tìm được câu trả lời tối hậu. Có nhiều ý tưởng về quả vị Phật tìm thấy trong kinh điển nguyên thủy hướng đến giáo thuyết ban sơ về con đường Bồ-tát trong thời Đức Phật còn tại thế. Trong thời đó, có lẽ cũng có những người hứng khởi về tấm gương của Ngài như là một Bậc Giải thoát Từ bi, và họ, thay vì nhắm đến quả vị A-la-hán, ước nguyện đắc quả vị Chánh Đẳng Giác trong một tương lai nào đó. Cũng có thể họ có đến gặp Đức Phật để xin Ngài hướng dẫn để đạt mục tiêu ấy, và Ngài đã giảng dạy cho họ.

Tuy nhiên, trong trường hợp đó, sẽ phát sinh câu hỏi sau đây: -"Tại sao trong các bài kinh, chúng ta không tìm thấy các lời giảng rõ ràng về con đường tiến đến quả vị Phật? Tại sao các lời giảng ấy chỉ được ghi trong kinh văn hậu tác như là Chuyện Tiền thân (Jatakas), Sử tích (Apadānas), và các bộ kinh Đại thừa phát triển về sau?"

Tôi không có câu trả lời chính xác về câu hỏi khó khăn nhưng thích thú này, nhưng tôi có thể tạm thời đưa ra hai giả thuyết trái ngược, mặc dù tôi cũng chưa hài lòng với giả thuyết nào. Đó là: (i) Trong thời kỳ nguyên khai, Đức Phật được xem như là vị A-la-hán đầu tiên, vượt trội hơn các vị A-la-hán khác về tài năng giảng dạy và uy tín cá nhân của Ngài. Phản biện: Nếu như thế, giả thuyết này ngầm hiểu rằng hầu như tất cả những gì ghi lại trong các bài kinh về các uy lực của Đức Phật, các tuệ giác cao quý và phẩm hạnh cao thượng của Ngài đều được ghi thêm vào sau này, như thế là gián tiếp làm suy giảm giá trị khả tín của các bài kinh. (ii) Các kỳ Kết tập Kinh điển đầu tiên là do các vị tu sĩ có khuynh hướng đi theo con đường A-la-hán tổ chức trùng tuyên; vì thế, các vị ấy đã gạt bỏ những đoạn kinh không liên quan đến con đường của mình, kể cả các bài kinh về con đường Bồ-tát. Phản biện: Giả thuyết nầy không có cơ sở, vì trong kinh tạng nguyên thủy lưu truyền đến ngày nay, có bao gồm nhiều bài giảng của Đức Phật cho hàng cư sĩ tại gia, các bà nội trợ cũng như các vua quan, để chu toàn nhiệm vụ thường ngày của họ, mà không liên quan gì đến sự hành trì của hàng tu sĩ; và như thế, nếu có các bài giảng khác cho những ai ước nguyện theo con đường Bồ-tát thì ắt hẳn chúng cũng được trùng tuyên.

Cho nên, hai giả thuyết trên đều không đứng vững. Câu trả lời dễ nhất mà tôi nghĩ ra – mặc dù không phải là lời giải đáp mà tôi hoàn toàn ưng ý – qua đức hạnh của Ngài, Đức Phật là một tấm gương cho những người muốn theo đường Bồ-tát, nhưng bởi vì giáo pháp tối hậu của Ngài là đưa đến giải thoát, Ngài không thể dạy những khái niệm tranh đua nhau để tiến đến mục tiêu cuối cùng. Ở đây, lời giảng của Ngài là phải đề cao những vị đã thực chứng được mục tiêu tối hậu, đó là các vị A-la-hán, và mô tả con đường đưa đến quả vị đó. Dù trong bất cứ trường hợp nào, con đường A-la-hán như đã mô tả trong kinh tạng nguyên thủy vẫn là nền tảng cho con đường Bồ-tát phát triển về sau trong thời kỳ Phật giáo Bộ phái và Phật giáo Đại thừa; cho nên, con đường sau không thể có được nếu không có con đường trước.

* HỎI: Vài người nhận định rằng các bản chú giải, nhất là các chú giải của Luận sư Phật Âm (Buddhaghosa), trình bày một quan kiến khác với các bài kinh – như là một sự diễn dịch hạn hẹp hơn về sự hành trì Pháp. Sư nghĩ thế nào về sự thông hiểu căn bản về pháp nghĩa của các bài kinh, so với các giải thích trong chú giải? Chúng giống nhau hay khác nhau như thế nào?

TỲ KHƯU BODHI: Sự liên hệ giữa các bản kinh và các bản chú giải cực kỳ phức tạp và đây là một điều nguy hiểm nếu ta có những phê phán tổng quát cho sự liên hệ đó. Các chú giải thật ra không phải là các tác phẩm nguyên gốc của ngài Phật Âm, mà là các phiên bản biên tập của các chú giải cổ xưa đã được gìn giữ ở Sri Lanka. Nguồn gốc lịch sử của chúng không rõ ràng, nhưng chắc là bắt nguồn từ chính các bản kinh; nghĩa là có những bản kinh mang ý nghĩa chú giải cho các bản kinh khác (thí dụ: Trung bộ 141, Tương ưng 12:31; Tương ưng 22:3,4). Trong thời kỳ ban đầu của sự truyền khẩu, các vị trưởng lão Phật giáo ắt hẳn có triển khai một tập hợp chú giải đi kèm với bản văn gốc, và ắt hẳn các chú giải này đã tích tụ qua nhiều thế hệ, như thể trái banh tuyết lăn tròn và lớn rộng ra với nhiều lớp tuyết dính vào.

Các cổ bản chú giải Sri Lanka – không còn hiện hữu – mà ngài Phật Âm dựa vào đó để biên soạn, có lẽ là một kho tàng các tư liệu tích lũy qua nhiều thế kỷ, và có lẽ bắt nguồn từ các vị đại đệ tử của Đức Phật. Ngay cả trong các bản chú giải mà chúng ta thừa hưởng hôm nay, có những tầng lớp dường như đã hiện hữu trước cả thời kỳ phân chia Tăng đoàn thành các bộ phái, vì chúng có những tư liệu dùng chung cho các bản luận giải của nhiều tông phái khác nhau. Những tư liệu mới hơn thì bắt nguồn các vị thầy tổ của tông phái Theravāda (Trưởng lão bộ) sau khi tông phái nầy thành hình, và vì thế, phản ánh những phương cách diễn dịch riêng biệt. Ngoài ra, còn có một khuynh hướng trao đổi tư liệu diễn giải giữa các tông phái; tuy nhiên, nhờ tính bảo thủ, các vị tu sĩ Theravāda đã nghiêm ngặt tách rời các tư liệu mới nầy ra khỏi phần kinh văn ghi lời Đức Phật giảng.

Để hiểu tác động của các chú giải ở cấp độ giáo thuyết, chúng ta nên nhớ rằng các bài kinh thật ra không phải chỉ là kinh văn của tông phái Theravāda. Đây là sự truyền tải của các tu sĩ Theravāda về một hạng kinh điển chung cho các tông phái Phật giáo trong thời kỳ nguyên khai, mỗi tông phái ắt hẳn có phương cách diễn dịch riêng. Những bản chú giải mà chúng ta có được từ Luận sư Phật Âm (và nhiều vị khác) tiếp tục nhiệm vụ diễn giải các kinh điển này qua quan kiến của tông phái Theravāda. Vì thế, quan kiến của các vị ấy dĩ nhiên là phải hạn hẹp hơn là các kinh văn vì cần phải có tính đặc thù: họ nhìn thế giới tâm ý của các bản kinh qua lăng kính của các phương pháp bình luận thánh thư do các vị thầy tổ Theravāda triển khai, dùng những phương pháp nầy để giải thích chi tiết về các bài giảng của Đức Phật.

Nếu ta so sánh ví dụ các bản kinh như là một vùng lãnh thổ đất đai rộng lớn, quan sát từ trên cao để thấy các điểm chính của địa hình nhưng chi tiết lại rất sơ sài; lúc đó, các chú giải có thể ví như một báo cáo chi tiết về phương hướng, vị trí của lãnh thổ đó. Câu hỏi ở đây là: Các chú giải này chỉ đi đến để mô tả phong cảnh với nhiều chi tiết, hay chúng mang theo các toán thợ xây dựng và các dự án xây nhà, xây thương xá và xa lộ trên vùng đất hoang sơ? Câu trả lời, theo tôi, là kết hợp cả hai.

Tóm lại, có hai thái độ cực đoan khi chúng ta đánh giá các chú giải. Một cực đoan, thường được các nhà Theravāda chính thống chấp nhận, là xem chúng có giá trị hầu như ngang hàng với các bản kinh. Một cực đoan khác là hoàn toàn gạt bỏ chúng, và cho rằng chúng đại diện cho sự diễn dịch khác với Phật Pháp. Tôi nghĩ rằng thái độ cẩn thận trung dung là chúng ta tham khảo các bản chú giải và sử dụng chúng, nhưng không chấp dính vào chúng. Các diễn giải thường giúp làm sáng tỏ kinh văn, nhưng ta cũng nên ghi nhận rằng chúng chỉ đại diện cho một sự hệ thống hóa đặc thù của các bài kinh giảng nguyên sơ. Đôi khi, các bài kinh nầy không cần có thêm các chú giải, và có vài điểm, các chú giải có vẻ không tương thích với bài kinh giảng.

* HỎI: Rất nhiều bài kinh khi kết thúc có ghi rằng những người khi nghe các lời dạy của Đức Phật, thông hiểu, rất hoan hỷ, và đôi khi được giác ngộ chỉ nhờ nghe và hiểu. Điều này quả thật rất kỳ lạ, rất khó suy ngẫm!

TỲ KHƯU BODHI: Chính các bản kinh cũng không giải thích rõ, chỉ nói rằng trong khi Đức Phật giảng dạy, tâm của người nghe trở nên "sẵn sàng, tiếp nhận, không còn những chướng ngại, hoan hỷ và tự tin." Nhưng thông thường, kinh cũng ghi rằng, Đức Phật giảng bài kinh đặc biệt cho một người hay một nhóm người nào đó trong thính chúng, cho nên có thể Đức Phật đã biết trước người ấy hay nhóm người ấy có khả năng thấu đạt chân lý. Theo tôi, sự nhanh nhẹn thấu đạt Chân Pháp của họ là do ba yếu tố.

Thứ nhất, họ đã tích lũy được đầy đủ các hạnh ba-la-mật (paramis), hay các phẩm hạnh cao quý, trong nhiều kiếp trước. Tôi tin hoàn toàn vào nguyên lý tái sinh, và tôi tin rằng sự giác ngộ là kết quả của công phu tu tập qua nhiều kiếp sống, kiện toàn những phẩm hạnh như bố thí, trì giới, nhẫn nại, tinh tấn, thiền định, trí tuệ, từ bi, xả ly, cương quyết, v.v. Vì thế, mặc dù những vị này có thể chưa hành trì Chánh Pháp trong đời này trước khi họ gặp Đức Phật, nhưng họ đã chu toàn các hạnh ba-la-mật với nhiều vị Phật trong quá khứ.

Thứ hai là một sự khát khao sâu xa trong tiềm thức, mong đạt được sự thanh tịnh và thấu đạt chân lý. Sự khát khao này có thể không hiển lộ trên bề mặt của tâm – có thể họ đang sống như các thương gia bận rộn, các bà nội trợ khiêm tốn, những người đầy tớ bình dị – nhưng vào những giây phút tĩnh lặng, một sự thúc đẩy nào đó hướng về chân lý, về sự toàn thiện và hoàn mỹ tinh thần đã choáng ngợp tâm các vị ấy, tạo nên một cảm giác bất an sâu đậm trong lòng, một nỗi bức rức chỉ được dập tắt khi họ gặp Đức Phật và nghe Ngài giảng dạy.

Thứ ba, trong vài trường hợp, có thể các vị ấy đã trực diện với một khổ đau khắc nghiệt, thô tháo hay vi tế, và khổ đau ấy đã xé toang được tấm màn vô minh trước mắt và thúc đẩy họ đi tìm một con đường giải thoát tối hậu.

Khi hai hoặc ba yếu tố này được trọn vẹn, các vị ấy như những đóa hoa sen trên mặt hồ, chờ mặt trời mọc để bừng nở. Sự xuất hiện của Đức Phật là mặt trời mọc lên, và Giáo Pháp của Ngài là những tia nắng sáng chói khai mở các đóa hoa sen trong tâm thức để tiếp nhận chân lý tối hậu.

 Bình Anson dịch
 Tây Úc, tháng 7-2006

* Nguồn: Interview with Bhikkhu Bodhi: Translator for the Buddha, Inquiring Mind, Vol. 22, No. 2 (2006).
https://www.inquiringmind.com/article/2202_w_bodhi-interview-with-bhikkhu-bodhi-translator-for-the-buddha/

* * *



Tuesday, 3 August 2021

Cuộc sống bấp bênh, cái chết chắc chắn.

 CUỘC SỐNG BẤP BÊNH, CÁI CHẾT CHẮC CHẮN
(Life is uncertain, death is certain)

Đó là tựa đề một tập sách gồm các bài giảng của Hòa thượng Dhammananda, Malaysia, mà tôi từng đọc và thích tựa đề ngắn gọn nhưng có ý nghĩa này. Sinh-già-bệnh-chết là điều tất nhiên của cuộc sống, chắc chắn sẽ xảy ra, không tránh được.  Mỗi mỗi biến động trong cuộc đời rốt cuộc rồi cũng đưa đến đó. Đôi khi mình quên điều này, mình vốn quen sống trong cảnh thanh bình, an toàn, mọi việc có vẻ xảy ra như trong kế hoạch dự tính, rồi khi đối diện với một biến cố bất ngờ nào đó, mình cảm thấy sốc, hoang mang, lo sợ, …, quên đi bản chất của cuộc đời vốn là vô thường và hoạn khổ.

Trong cơn đại dịch Covid hiện nay, xảy ra trong 2 năm qua và có lẽ sẽ kéo dài thêm 1 hay 2 năm nữa, mọi người trên thế giới đều chịu ảnh hưởng tác động của nó, không nhiều thì ít. Các biện pháp phong tỏa giản cách, hạn chế đi lại, hạn chế sinh hoạt làm ăn buôn bán xảy ra hầu như khắp nơi, tạo nhiều khó khăn trong cuộc sống. Ngay cả tại thành phố Perth thuộc bang Tây Úc, nơi chúng tôi sinh sống trong hơn 40 năm qua, cũng đã có 2 lần bị phong tỏa giãn cách. Riêng vợ chồng tôi, vì phải bay đi thăm cháu ngoại ở một bang khác, khi trở về là phải sống tự cách ly tại nhà suốt 2 tuần lễ. 

Bây giờ lại đi sang thăm cháu ngoại, chưa trở về nhà được vì không có chuyến bay. Với tình hình lây nhiễm Covid ở Úc, có lẽ khi có chuyến bay trở về Perth rồi cũng phải sống cách ly tại nhà thêm 2 tuần lễ nữa. Mọi kế hoạch di chuyển đều thay đổi, linh động theo báo cáo mỗi ngày về mức độ lây lan Covid. Đó là nói về chuyện di chuyển trong nước Úc. Còn chuyện đi ra nước ngoài thì hoàn toàn đình chỉ, không nghĩ đến. Có lẽ phải đợi đến giữa năm 2022 thì mới hy vọng kiểm soát được mức độ lây nhiễm Covid, và đến lúc đó mới nghĩ đến chuyện du hành ra nước ngoài.

Nhìn hình ảnh đường phố Saigon vắng tanh trong những ngày phong tỏa kèm theo các bình luận của bạn bè, tôi rất đồng cảm với tâm tư băn khoăn, lo buồn của mọi người. Rồi chợt nhớ các cảnh tương tự như thế đã từng xảy ra từ trước, khi tôi còn ở Việt Nam. Những ngày tháng bị giới nghiêm suốt ngày, đóng cửa ở trong nhà, trong các trận giao tranh trên đường phố suốt ba tháng trong năm 1968 (Tết Mậu Thân), cảnh đoàn người chạy tị nạn vì bom đạn, cảnh nhà cháy, rên la kêu gào … Rất đau buồn, khổ sở. Đó là những thảm cảnh tôi đã từng chứng kiến. Rồi nghĩ thêm vào những năm 1944-1945, khi có nạn đói năm Ất Dậu với cả triệu người chết vì đói khát và bệnh tật -- nghe ba má tôi kể lại, cũng thật là kinh hoàng, sầu khổ. Từ đó, mình mới thấm thía thêm về bản chất của cuộc đời. Rất bấp bênh, bất định, khổ não. Cứ vài chục năm là xảy ra những thảm cảnh như vậy. 

Lần này thì đại dịch có tác động sâu rộng hơn. Hầu như bất cứ nơi nào trên thế giới cũng đều bị ảnh hưởng, trực tiếp hay gián tiếp. Nhờ phương tiện truyền thông hiện đại, mình có thông tin và hình ảnh cập nhật, có thể tổ chức các công tác cứu trợ, ủy lạo nhanh chóng, thích nghi. Đây là lúc để chúng ta chung sức đóng góp, thể hiện tâm Từ và tâm Bi, trong khả năng và hoàn cảnh của mỗi cá nhân, không phải chỉ bàn luận lý thuyết suông qua ba mớ sách vở. Tôi rất hoan hỷ khi nhận được hình ảnh, thông tin bạn bè trên mạng xã hội FaceBoook đang thực hiện hạnh bố thí, cúng dường, cung cấp thức ăn, các phương tiện y tế giúp đỡ mọi người trong hoàn cảnh khó khăn này. Miếng khi đói bằng gói khi no. Lá lành đùm lá rách. Nếu không giúp được bằng những phương tiện vật chất thì cũng nên đóng góp ủy lạo tinh thần, với những lời đóng góp động viên tích cực, vui tươi, tránh loan truyền những thông tin, bình luận tiêu cực làm mọi người thêm hoang mang, lo sợ, … 

Đây cũng là lúc mình dành thì giờ tìm đọc kinh sách, suy ngẫm lời Phật dạy để thấy rõ thêm về bản chất vô thường, bấp bênh của cuộc sống, và trân quý giây phút hiện tại, chú tâm tu tập tâm mình. Không biết tương lai sẽ như thế nào, còn tùy thuộc rất nhiều yếu tố phức tạp ngoài tầm kiểm soát của mình, nhưng mình có thể giữ tâm an định ngay bây giờ, tại nơi đây. Mọi việc rồi sẽ qua  đi, bình tĩnh mà sống. Sống tốt, sống an vui, sống có ý nghĩa ngay trong hiện tại.

Bình Anson
Cairns, Australia
02/08/2021

*




Thursday, 29 July 2021

Tu tâm Từ để hộ thân, ngủ an lành - Nguyên Giác

Tu tâm Từ để hộ thân, ngủ an lành
Nguyên Giác

Đại dịch đang tàn phá quê nhà. Đất nước như trong nhà lửa. Mọi người đều đang sống trong nỗi lo. Nhiều người bất an, kể cả trong giấc ngủ, hễ chợp mắt là những hình ảnh đáng sợ hiện ra. Có những bài kinh nào để hộ thân, và để có giấc ngủ bình an?  Bài viết này sẽ tìm các bài kinh đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hành – vừa để hộ thân, vừa có giấc ngủ bình an. Người viết không có thẩm quyền gì, nơi đây chủ yếu là chép lời Đức Phật dạy. Các sai sót, nếu có, xin được sám hối. Công đức chép kinh xin hồi hướng về quê nhà cho tất cả mọi người bình an. 

• Giữ giới, mang an vui cho người, sẽ được chư thiên bảo vệ

Chúng ta có thể tự hộ thân bằng cách giữ giới, và mang an vui cho người. Đức Phật dạy trong Kinh T211.9 (Pháp Cú Thí Dụ Kinh - Song Yếu Phẩm, Đệ Cửu), rằng hễ mình giữ giới và mang an vui cho người, sẽ được chư thiên bảo vệ. Nơi đây sẽ dịch theo bản tiếng Anh của Samuel Beal:

“Người mang tới an vui bây giờ, sẽ được hạnh phúc về sau. Sống giới hạnh, sẽ được hạnh phúc gấp hai lần --- người này hạnh phúc và an vui; nhìn thấy chính niềm hạnh phúc của mình, tâm người này sẽ an lạc. Người này hạnh phúc bây giờ, người này sẽ hạnh phúc về sau; làm những điều công chính, người này có niềm vui gấp hai lần; người này được chư thiên bảo vệ nơi đây, và sẽ được quả lành và được an lạc về sau.” (1)

• Tu tâm từ, sẽ ngủ ngon, được chư thiên hộ vệ, thân tâm bình yên

Trong Kinh EA 49.10, Đức Phật dạy rằng những ai tu tâm từ giải thoát và quảng diễn ý nghĩa này, sẽ được ngủ yên, lìa ác mộng, được chư thiên bảo vệ, thoát nhiều nạn. Trích bản dịch của hai Thầy Tuệ Sỹ, Đức Thắng ghi lời Đức Phật dạy như sau.

“Nếu chúng sanh nào tu hành từ tâm giải thoát, quảng bố ý nghĩa ấy, diễn nói cho người khác nghe, sẽ thu hoạch được mười một quả báo. Những gì là mười một? Nằm ngủ yên, tỉnh giấc yên, không thấy ác mộng, chư thiên hộ vệ, mọi người yêu mến, không bị độc, không bị binh đao, không bị nước, lửa, giặc cướp; thảy đều không bị xâm hại; sau khi thân hoại mạng chung sanh lên trời Phạm thiên. Đó gọi là Tỳ kheo tu hành từ tâm sẽ có được mười một phước này.” (2)

Tương tự, trong Kinh AN 11.15, bản dịch của Thầy Minh Châu, trích như sau:

“Này các Tỷ-kheo, từ tâm giải thoát được thực hành, được tu tập, được làm cho sung mãn, được tác thành cỗ xe, được tác thành căn cứ địa, được tiếp tục an trú, được tích tập, được khéo khởi sự thời được chờ đợi là mười một lợi ích. Thế nào là mười một? Ngủ an lạc, thức an lạc, không ác mộng, được loài người ái mộ, được phi nhân ái mộ, chư Thiên bảo hộ, không bị lửa, thuốc độc, kiếm xúc chạm, tâm được định mau chóng, sắc mặt trong sáng, mệnh chung không hôn ám; nếu chưa thể nhập thượng pháp (A-la-hán quả); được sanh lên Phạm thiên giới.” (2)

• Dứt bỏ hơn thua, sẽ ngủ bình an

Kinh SA 1153, bản dịch của hai Thầy Tuệ Sỹ, Đức Thắng, ghi lời Đức Phật dạy rằng lìa bỏ hơn thua, là ngủ bình an. Nơi đây, bài kệ sẽ viết theo văn xuôi cho tiện trình bày:

“Bấy giờ, Thế Tôn liền nói kệ: Người hơn liền thêm oán, Người thua nằm không yên. Hơn thua đều buông xả, Là được ngủ an lành.” (3)

• Từ bỏ sân hận, sẽ ngủ bình an 

Đức Phật dạy, hễ từ bỏ sân giận thì giấc ngủ sẽ bình an, và được hỷ lạc trong tâm. Trong Kinh SA 1309, bản dịch của hai Thầy Tuệ Sỹ & Đức Thắng, ghi lời Đức Phật dạy (tương đương với Kinh này cũng có Kinh SA 1116): 

“Bấy giờ, Thế Tôn nói kệ đáp: Nếu giết hại sân nhuế, Giấc ngủ được an ổn. Sự giết hại sân nhuế, Khiến người được hỷ lạc. Sân nhuế là gốc độc, Ta khen người giết được. Giết sân nhuế kia rồi, Đêm dài không lo lắng.” (4)

• Lìa tham sân si, sẽ ngủ ngon

Tâm có tham sân si sẽ ngủ không yên, tâm lìa tham sân si sẽ ngủ bình an. Đó là lời Đức Phật dạy trong Kinh EA 28.3, bản dịch của hai Thầy Tuệ Sỹ, Đức Thắng.

“Thế Tôn bảo: «Như ý dục người kia đang mạnh, trong khi Như Lai diệt tận không còn dư tàn, gốc rễ không sinh trở lại, không trổi lên lại nữa. Thế nào, con trai của trưởng giả, nếu người mà tâm sân nhuế, ngu si khởi lên, há ngủ ngon được sao?»

Đồng tử thưa: «Không ngủ ngon được. Sở dĩ như vậy là vì do tâm có ba độc.»…” (5)

• Trú niệm, tỉnh giác, sẽ ngủ an lành, được chư thiên hộ vệ

Bạn muốn ngủ ngon, được chư thiên hộ vệ, cần phải giữ chánh niệm tỉnh giác trong mọi thời liên tục. Kinh AN 5.210, bản dịch của Thầy Minh Châu, Đức Phật dạy rằng:

“Này các Tỷ-kheo, có năm nguy hại này đối với người thất niệm, không tỉnh giác rơi vào giấc ngủ. Thế nào là năm? Ngủ một cách khổ sở; thức dậy một cách khổ sở; thấy ác mộng; chư Thiên không phòng hộ; bất tịnh chảy ra, mộng tinh, di tinh. Này các Tỷ-kheo, có năm nguy hại này đối với người thất niệm, không tỉnh giác rơi vào giấc ngủ.

Này các Tỷ-kheo, có năm lợi ích này đối với người trú niệm, tỉnh giác rơi vào giấc ngủ. Thế nào là năm? Ngủ một các ngon lành; thức dậy một cách ngon lành; không thấy ác mộng; chư Thiên phòng hộ; bất tịnh không chảy ra. Này các Tỷ-kheo, có năm lợi ích này đối với người trú niệm, tỉnh giác rơi vào giấc ngủ.” (6)

• Thà là thường ngủ, hơn là thức mà tâm loạn tưởng

Những người dễ thất niệm, dễ vọng tưởng sẽ gặp nhiều nguy hiểm, rồi sẽ sanh vào đường dữ. Do vậy, cần phải canh chừng tâm mình liên tục. Kinh EA 51.6, Đức Phật dạy cụ thể, theo bản dịch của hai Thầy Tuệ Sỹ, Đức Thắng:

“Chẳng thà cứ thường hay ngủ nhiều, chớ đừng trong khi thức mà tư duy loạn tưởng, để rồi thân hoại mạng chung sanh vào nẻo dữ. Chẳng thà để cho dùi sắt đang rực cháy ịn vào mắt, chứ không để nhìn sắc mà nổi lên loạn tưởng. Tỳ kheo khởi tưởng như vậy bị bại hoại bởi thức. Tỳ kheo bị hủy hoại bởi thức sẽ rời vào ba nẻo dữ, địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ. Điều Ta muốn nói là như vậy. Người kia chẳng thà cứ thường hay ngủ, chứ đừng khi thức mà tư duy loạn tưởng. Thà lấy dùi bén đâm vào lỗ tai cho nó hư hoại chứ không để vì nghe tiếng mà nổi lên loạn tưởng. Tỳ kheo nổi lên loạn tưởng sẽ bị bại hoại bởi thức. Chẳng thà cứ thường xuyên ngủ chứ đừng để khi thức mà tư duy loạn tưởng. Chẳng thà lấy kìm nóng làm hư hoại mũi, chứ đửng vì ngửi mùi mà nổi lên loạn tưởng. Tỳ kheo nổi lên loạn tưởng thì bị bại hoại bởi thức. Do bị bại hoại bởi thức mà rơi vào ba nẻo dữ, địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ. Điều mà Ta muốn nói là như vậy. Chẳng thà lấy gươm bén cắt đứt lưỡi, chứ không để vì lời nói hung dữ, thô bạo, mà rơi vào ba nẻo dữ, địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ. Chẳng thà thường ngủ, chứ đừng để trong khi thức mà nổi lên tư duy loạn tưởng. Chẳng thà lấy tấm lá đồng nóng đỏ quấn quanh thân mình, chứ không giao thông với phụ nữ của trưởng giả, cư sỹ, bà-la-môn. Nếu cùng giao thông, qua lại chuyện trò, tất phải rơi vào ba nẻo dữ, địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ.” (7)

• Giữ tâm tỉnh thức trong mọi thời, kể cả khi ngủ

Kinh SA 622 kể về trường hợp, một nàng kỹ nữ xinh đẹp tuyệt trần tới cúng dường Đức Phật, lúc đó Thế Tôn đang thuyết pháp cho đại chúng vây quanh. Đức Phật thấy nàng kỹ nữ Am-la sắp tới, mới dạy đại chúng phải nhiếp tâm trong mọi thời đi đứng nằm ngồi, kể cả trong giấc ngủ. Bản dịch của hai Thầy Tuệ Sỹ, Đức Thắng trích như sau:

“Này các Tỳ-kheo, các ông nên tinh cần nhiếp tâm an trụ, chánh niệm, chánh trí. Nay có cô gái Am-la đến, nên phải giáo giới các ông.

“Thế nào là Tỳ-kheo tinh cần nhiếp tâm an trụ? Nếu Tỳ-kheo nào đối với pháp ác bất thiện đã sanh thì nên đoạn trừ, phát khởi ý chí, phương tiện, tinh tấn, nhiếp tâm; đối với pháp ác bất thiện nếu chưa sanh, thì đừng để sanh. Đối với pháp thiện chưa sanh thì nên làm cho phát sanh; nếu pháp thiện đã sanh, thì khiến an trụ không để mất. Tu tập đầy đủ, phát khởi ý chí, phương tiện, tinh tấn, nhiếp tâm. Đó gọi là Tỳ-kheo tinh cần an trụ nhiếp tâm.

“Thế nào gọi là Tỳ-kheo chánh trí? Nếu Tỳ-kheo nào trong những oai nghi tới, lui, thường theo chánh trí; quay nhìn, trông, ngắm, co, duỗi, cúi, ngước, cầm y bát, đi, đứng, nằm, ngồi, ngủ, nghỉ, thức, nói, im lặng, đều an trụ với chánh trí. Đó là chánh trí.

“Thế nào là chánh niệm? Nếu Tỳ-kheo nào an trụ chánh niệm quán thân trên nội thân, tinh cần, phương tiện, chánh trí, chánh niệm, điều phục tham ưu thế gian; an trụ chánh niệm quán thọ, tâm, pháp trên pháp, tinh cần, phương tiện, chánh trí, chánh niệm, điều phục tham ưu thế gian. Đó gọi là Tỳ-kheo chánh niệm. Cho nên, các ông hãy tinh cần nhiếp tâm an trụ, chánh niệm, chánh trí. Nay có cô gái Am-la đến, nên phải giáo giới các ông.” (8)

• Tỉnh thức nơi 6 căn: xả ly, lìa ưa ghét, sẽ được tôn kính

Làm thế nào để được các cõi trời và người tôn kính và hộ vệ? Đức Phật dạy trong Kinh AN 6.1 rằng những người luôn tỉnh thức nơi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý và giữ được tâm buông xả (không ưa, không ghét) sẽ được các cõi trời và người tôn kính. Đây cũng là ý chỉ "ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm" của Kinh Kim Cang. Bản dịch của Thầy Minh Châu viết (người viết ghi thêm trong ngoặc cho rõ nghĩa):

"Thành tựu sáu pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời. Thế nào là sáu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, không có ưa thích, không có ghét bỏ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác; khi tai nghe tiếng (không có ưa thích, không có ghét bỏ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác)… khi mũi ngửi hương (không có ưa thích, không có ghét bỏ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác)… khi lưỡi nếm vị (không có ưa thích, không có ghét bỏ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác)… khi thân cảm xúc (không có ưa thích, không có ghét bỏ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác)… khi ý biết pháp, không có ưa thích, không có ghét bỏ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác. Thành tựu sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là vô thượng phước điền ở đời." (9)

• Khi ngủ, hãy giữ tâm từ, thương chúng sanh

Trong Kinh SN 4.13, ghi lại chuyện “chân Thế Tôn bị phiến đá gây thương tích. Thế Tôn cảm xúc khốc liệt, toàn thân đau đớn, nhói đau, đau nhức mãnh liệt, không thích thú, không vừa ý. Và Thế Tôn chánh niệm tỉnh giác, nhẫn chịu không để tâm tư buồn nản.” Thế rồi, lúc đó Ác ma tới, hỏi chuyện. Đức Phật mới trả lời rằng Đức Phật không nằm vì sầu muộn hay làm thơ, mà lúc nào cũng giữ tâm từ, thương xót chúng sanh. Bản dịch của Thầy Minh Châu ghi lời Đức Phật (nơi đây, viết theo văn xuôi):

“Ta không uể oải nằm, Không tìm thơ, tìm vận, Mục đích Ta đã đạt, Ðâu có sầu muộn gì! Ta nằm ngồi một mình, Trên ghế giường vắng lặng, Yên tĩnh Ta nằm nghỉ, Tâm từ, thương chúng sanh. Những kẻ, ngực bị đâm, Hổn hển tim dồn dập, Vẫn tìm được giấc ngủ, Dầu bị thương tích nặng. Sao Ta lại không ngủ, Khi không bị thương tích, Khi thức không âu lo, Khi ngủ chẳng sợ hãi, Ngày đêm không khởi lên, Phiền não bận lòng Ta? Ta không thấy tai hại, Một chỗ nào trên đời, Do vậy, Ta nằm nghỉ, Tâm từ, thương chúng sanh.” (10)

• Tu tâm từ sẽ chắc chắn chứng quả

Không chỉ là được chư thiên hộ vệ và ngủ bình an, người tu tâm từ sẽ chứng quả thánh thứ ba (A na hàm) hay cao hơn (tức A la hán). Trong Kinh MA 15, Đức Phật nói rằng khéo tu tâm từ sẽ “chắc chắn chứng quả” --- theo bản dịch của Thầy Tuệ Sỹ:

“Do đó, người tại gia hay xuất gia, nam hay nữ, thường phải siêng tu từ tâm giải thoát. Nếu người tại gia hay xuất gia, nam hay nữ ấy, tu từ tâm giải thoát, thì không còn mang thân này đi đến đời sau mà chỉ theo tâm đi khỏi cõi này. Tỳ-kheo nên nghĩ như vầy: ‘Ta vốn vì buông lung mà tạo nghiệp bất thiện. Tất cả nghiệp ấy có thể thọ báo trong đời này, chớ không thể đi đến đời sau nữa’. Nếu có người thực hành từ tâm giải thoát rộng lớn vô lượng, khéo tu tập như vậy, chắc chắn chứng quả A-na-hàm, hoặc chứng cao hơn nữa.” (11)

• Tu tâm từ có công đức hơn cúng dường vô lượng tỳ kheo bốn phương

Trong Kinh MA 155, Đức Phật dạy rằng cúng dường vô lượng tỳ kheo bốn phương cũng không bằng trong khoảnh khắc tu tâm từ hướng về tất cả chúng sanh. Bản dịch của Thầy Tuệ Sỹ, trích:

“Này Cư sĩ, Bà-la-môn Tùy-lam đã thực hành đại bố thí, bố thí thức ăn cho phàm phu toàn cõi Diêm-phù, bố thí thức ăn cho một trăm vị Tu-đà-hoàn, một trăm vị Tư-đà-hàm, một trăm vị A-na-hàm, một trăm vị A-la-hán, một trăm vị Bích-chi-phật, tạo phòng nhà bố thí cho chúng Tỳ-kheo bốn phương, tâm hoan hỷ quy y Ba ngôi tôn quý là Phật, Pháp, chúng Tỳ-kheo, và thọ giới; nếu lại có người trong khoảnh khắc thực hành từ tâm đối với tất cả chúng sanh, cho đến trong khoảng thời gian vắt sữa bò, thì so với sự bố thí kia, việc này hơn nhiều lắm.

“Này Cư sĩ, Bà-la-môn Tùy-lam đã thực hành đại bố thí, bố thí thức ăn cho phàm phu toàn cõi Diêm-phù, bố thí thức ăn cho một trăm Tu-đà-hoàn, một trăm vị Tư-đà-hàm, một trăm vị A-na-hàm, một trăm vị A-la-hán, một trăm vị Bích-chi-phật, tạo phòng, nhà bố thí cho Chúng Tỳ-kheo bốn phương, tâm hoan hỷ quy y Ba ngôi tôn quý là Phật, Pháp, chúng Tỳ-kheo, thọ giới và trong khoảnh khắc thực hành từ tâm đối với tất cả chúng sanh, cho đến trong khoảng thời gian vắt sữa bò, như thế; nếu lại có người quán được tất cả pháp là vô thường, khổ, không và vô ngã, thì so với sự bố thí kia, việc làm này hơn nhiều lắm.” (12)

• Sống an lạc hiện tại, thương xót chúng sanh đời sau

Đức Phật nói trong Kinh MA 77 rằng ngài muốn đời sau có chúng sanh học theo hạnh của ngài, để sống an lạc hiện tại và thương cho chúng sanh đời sau. Bản dịch của Thầy Tuệ Sỹ ghi lời Đức Phật dạy:

“Này A-na-luật-đà, không phải vì muốn đạt được những gì chưa đạt đến, vì muốn thu hoạch những gì chưa thu hoạch, vì muốn chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ mà Như Lai sống nơi rừng vắng, trong núi sâu, dưới gốc cây, thích ở non cao, vắng bặt tiếng tăm, xa lánh, không sự dữ, không có bóng người, tùy thuận tĩnh tọa. Này A-na-luật-đà, Như Lai chỉ vì hai mục đích sau đây nên mới sống nơi rừng vắng, trong núi sâu, dưới gốc cây, thích ở non cao, vắng bặt tiếng tăm, xa lánh, không sự dữ, không có bóng người, tùy thuận tĩnh tọa. Một là, sống an lạc ngay trong đời hiện tại. Hai là, vì thương xót chúng sanh đời sau. Đời sau hoặc có chúng sanh học theo Như Lai, sống nơi rừng vắng, trong núi sâu, dưới gốc cây, thích ở non cao, vắng bặt tiếng người, tùy thuận tĩnh tọa. Này A-na-luật-đà, vì những mục đích ấy mà Như Lai sống nơi rừng vắng, trong núi sâu, dưới gốc cây, thích ở non cao, vắng bặt tiếng tăm, xa lánh, không sự dữ, không có bóng người, tùy thuận tĩnh tọa”. (13)

• Nhìn mọi người như mẹ, như cha đời quá khứ

Nếu mình nhìn thấy một ai mà tự nhiên thấy trong tâm khởi lên “ái niệm hoan hỷ” thì hãy nhớ rằng người đó trong kiếp trước từng là thân quyến của mình. Do vậy, kiếp này hãy tinh tấn xa lìa sanh tử luân hồi. Kinh SA 945, bản dịch của hai Thầy Tuệ Sỹ, Đức Thắng, ghi lời Đức Phật dạy:

“Chúng sanh từ vô thỉ sanh tử luân chuyển mãi, mà không biết biên tế tối sơ của khổ. Các Tỳ-kheo, nếu thấy chúng sanh mà khởi ái niệm hoan hỷ, thì nên nghĩ rằng: ‘Chúng sanh như vậy, trong đời quá khứ chắc chắn đã từng là cha mẹ, anh em, vợ con, quyến thuộc, thầy bạn, tri thức của chúng ta, cứ mãi mãi luân chuyển sanh tử như vậy, không biết biên tế tối sơ của khổ. Cho nên các Tỳ-kheo, nên học như vầy: Hãy nỗ lực tinh cần, đoạn trừ các hữu, chớ cho tăng trưởng.” (14)

• Dù bị bạo hành, vẫn giữ tâm từ vô lượng

Đức Phật dạy rằng cho dù bị bọn ác chặt tay chân mình, cũng chớ khởi tâm sân hận, mà hãy hướng tâm từ nơi kẻ ác đó. Bản dịch Kinh MA 193 của Thầy Tuệ Sỹ trích như sau:

“Các ngươi hãy học như vậy: nếu có giặc cướp đến, dùng lưỡi cưa bén cưa xẻ tay chân các ngươi chi tiết, mà tâm không biến đổi, miệng không phát ra lời thô ác, hướng đến người cắt xả ấy, duyên nơi người cắt xả ấy mà khởi tâm từ mẫn, tâm tương ưng với từ, biến mãn một phương, thành tựu an trụ. Cũng vậy, hai, ba, bốn phương, tứ duy trên dưới, bao trùm tất cả tâm tương ưng với từ, không kết, không oán, không nhuế, không tránh, rộng lớn, vô lượng, vô biên, khéo tu tập, biến mãn khắp cả thế gian, thành tựu an trụ. Cũng vậy, bi và hỷ. Tâm tương ưng với xả, không kết, không oán, không nhuế, không tránh, rộng lớn, vô lượng, vô biên, khéo tu tập, biến mãn khắp cả thế gian, thành tựu an trụ. Các ngươi hãy học như vậy.” (15)

• Kinh Từ Bi: Đi đứng nằm ngồi đều giữ chánh niệm từ bi

Như thế nào để tu tâm từ? Trong Kinh Từ Bi (Metta Sutta), Đức Phật dạy rằng người tu phải giữ giới (thẳng thắn, khiêm cung, từ ái, không làm điều bị chê cười), khởi tâm nguyện cho tất cả mọi người, mọi loài sống an toàn (thân an), hạnh phúc (tâm vui), tự thấy mình như bà mẹ nhìn tất cả mọi người, mọi loài như đứa con duy nhất của mình, và giữ tâm như thế trong đi đứng nằm ngồi.

Sau đây là bản văn Thầy Nhất Hạnh dịch Kinh Từ Bi (Metta Sutta):

“Những ai muốn đạt tới an lạc thường nên học hạnh thẳng thắn, khiêm cung, biết xử dụng ngôn ngữ từ ái. Những kẻ ấy biết sống đơn giản mà hạnh phúc, nếp sống từ hòa, điềm đạm, ít ham muốn, không đua đòi theo đám đông. Những kẻ ấy sẽ không làm bất cứ một điều gì mà các bậc thức giả có thể chê cười.

Và đây là điều họ luôn luôn tâm niệm:

Nguyện cho mọi người và mọi loài được sống trong an toàn và hạnh phúc, tâm tư hiền hậu và thảnh thơi.

Nguyện cho tất cả các loài sinh vật trên trái đất đều được sống an lành, những loài yếu, những loài mạnh, những loài cao, những loài thấp, những loài lớn, những loài nhỏ, những loài ta có thể nhìn thấy, những loài ta không thể nhìn thấy, những loài ở gần, những loài ở xa, những loài đã sinh và những loài sắp sinh.

Nguyện cho đừng loài nào sát hại loài nào, đừng ai coi nhẹ tính mạng của ai, đừng ai vì giận hờn hoặc ác tâm mà mong cho ai bị đau khổ và khốn đốn.

Như một bà mẹ đang đem thân mạng mình che chở cho đứa con duy nhất, chúng ta hãy đem lòng từ bi mà đối xử với tất cả mọi loài.

Ta hãy đem lòng từ bi không giới hạn của ta mà bao trùm cả thế gian và muôn loài, từ trên xuống dưới, từ trái sang phải, lòng từ bi không bị bất cứ gì làm ngăn cách, tâm ta không còn vương vấn một chút hờn oán hoặc căm thù. Bất cứ lúc nào, khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm, miễn là còn thức, ta nguyện duy trì trong ta chánh niệm từ bi. Nếp sống từ bi là nếp sống cao đẹp nhất.

Không lạc vào tà kiến, loại dần ham muốn, sống nếp sống lành mạnh và đạt thành trí giác, hành giả sẽ chắc chắn vượt thoát khỏi tử sinh.” (16)

• Thiền tâm từ

Thiền về tâm từ không đơn giản, đó là nói theo Kinh Phật (thí dụ Kinh Bát Thành, MN 52, dạy về 11 pháp để giải thoát). Thiền về tâm từ trong nhiều Kinh có vẻ phức tạp, nhưng cũng không phức tạp bằng Thiền về tâm từ như được dạy trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) và nhiều luận thư khác, nơi đó dạy cách quán niệm, rải tâm từ về chính mình trước, rồi tới người thân hay bạn hữu, rồi tới một người mình không ưa cũng không ghét, rồi tới người mình có bất bình hay xích mích, rồi tới cả các nhóm người đó, rồi tới tất cả chúng sanh các cõi, mười phương. Đặc biệt, Đức Đạt Lai Lạt Ma trong thời buổi sáng lại có thêm pháp Tonglen (quán tưởng nhận vào niềm đau của chúng sinh, và gửi niềm vui tới chúng sinh). 

Chúng ta trong thời kỳ căng thẳng này (và thời kỳ rất khẩn cấp này), nên tìm cách làm cho mọi chuyện đơn giản, dễ nhớ, dễ tu và dễ hướng dẫn bạn hữu. Nếu cần tóm tắt thì là: giữ giới, tỉnh thức nơi sáu căn (không ưa, không ghét, xả ly, không dính mắc), xa lìa tham sân si, thương xót chúng sanh. Trong trường hợp Phật tử là công nhân nhà máy, đang chống dịch  với lệnh “3 tại chỗ” (sản xuất tại chỗ, ăn tại chỗ, nghỉ tại chỗ) thì hiển nhiên, không thể nào giữ được bất kỳ nghi thức nào gọi là hài lòng. 

Do vậy, chúng ta có thể tóm lược Kinh Từ Bi vào một vài ý dễ nhớ: “Nguyện cho con giữ giới trọn vẹn, thân không hại ai, lời nói hòa nhã, tâm ý trong sạch. Nguyện cho con và chúng sanh khắp các cõi được thân an lành, tâm hạnh phúc. Nguyện cho con có tâm từ vô lượng, thương xót khắp các cõi, trong mọi thời đi đứng nằm ngồi.” 

Nên tự nhắc trong tâm vài câu như thế. Không cần nhớ chính xác từng chữ. Bạn có thể suy nghĩ, nghiền ngẫm từng ý tóm lược trong đó, hay nghiền ngẫm từng câu trong bài Kinh Từ Bi đầy đủ, không nhất thiết phải tụng có kệ, có vần, có chuông mõ. Theo các luận thư, Kinh Từ Bi cũng là kinh hộ thân, do Đức Phật dạy chư tăng khi vào ngồi tu trong rừng để không bị giới phi nhân quậy phá. Và trong thời đại dịch này, có được thân an lành và tâm hạnh phúc là ước mơ nhiều rồi, huống gì đã tu học với tâm từ nhất định sẽ tới lúc giải thoát, không đời này thì cũng đời sau.

Nguyên Giác
– 28/7/2021

GHI CHÚ:

(1) Pháp Cú Thí Dụ Kinh: https://suttacentral.net/t211.9/en/beal 

(2) Kinh EA 49.10: https://suttacentral.net/ea49.10/vi/tue_sy-thang

Kinh AN 11.15: https://suttacentral.net/an11.15/vi/minh_chau

(3) Kinh SA 1153: https://suttacentral.net/sa1153/vi/tue_sy-thang 

(4) Kinh SA 1309: https://suttacentral.net/sa1309/vi/tue_sy-thang

(5) Kinh EA 28.3: https://suttacentral.net/ea28.3/vi/tue_sy-thang

(6) Kinh AN 5.210: https://suttacentral.net/an5.210/vi/minh_chau

(7) Kinh EA 51.6: https://suttacentral.net/ea51.6/vi/tue_sy-thang

(8) Kinh SA 622: https://suttacentral.net/sa622/vi/tue_sy-thang

(9) Kinh AN 6.1: https://suttacentral.net/an6.1/vi/minh_chau

(10) Kinh SN 4.14: https://suttacentral.net/sn4.13/vi/minh_chau

(11) Kinh MA 15: https://suttacentral.net/ma15/vi/tue_sy

(12) Kinh MA 155: https://suttacentral.net/ma155/vi/tue_sy

(13) Kinh MA 77: https://suttacentral.net/ma77/vi/tue_sy

(14) Kinh SA 945: https://suttacentral.net/sa945/vi/tue_sy-thang

(15) Kinh MA 193: https://suttacentral.net/ma193/vi/tue_sy

(16) Kinh Từ Bi: https://thuvienhoasen.org/a10456/kinh-tu-bi-metta-sutta

*


Tuesday, 6 July 2021

Sách: CÁCH NHÌN PHÁP (The Vision of Dhamma), Hòa thượng NYANAPONIKA

CÁCH NHÌN PHÁP (The Vision of Dhamma)
Hòa thượng NYANAPONIKA 
Tu nữ HUYỀN CHÂU dịch

Tải về bản song ngữ Việt-Anh, dạng PDF, tại:
=> https://budsas.net/sach/vn179.pdf

*

MỤC LỤC

Lời nói đầu, Erich Fromm
Chú thích về các nguồn tài liệu
Lời giới thiệu, Tỳ khưu Bodhi

1. CON ĐƯỜNG THOÁT KHỔ ĐẾN TỰ DO
2. DA CHẾT
3. NĂNG LỰC CỦA CHÁNH NIỆM
4. RỄ TỐT VÀ XẤU
5. NĂM CHƯỚNG NGẠI
6. BỐN DƯỠNG CHẤT TRONG ĐỜI SỐNG
7. BA NƠI NƯƠNG NHỜ (TAM QUY)
8. TỨ VÔ LƯỢNG TÂM
9. VÔ NGÃ VÀ NIẾT BÀN 

10. NHỮNG BÀI LUẬN NGẮN
Thấy Mọi Vật như Chúng Đang Là
Đạo Phật và Quan Niệm Thần Linh
Lòng Sùng Kính trong Đạo Phật
Lòng Trung Thành Dũng Cảm
Tại Sao Chấm Dứt Khổ
Nghiệp và Quả của Nghiệp
Quán Thọ
Bảo Vệ nhờ Chánh Niệm

Bản Chú Giải Thuật Ngữ
Thư Mục Những Ấn Bản Phẩm của Hòa Thượng Nyanaponika

*



*----------*

Monday, 5 July 2021

Các sách tiếng Anh của Bhikkhu KHANTIPALO (Laurence Mills, 1932-2021)

Để tưởng niệm, tôi cố gắng sưu tầm các sách tiếng Anh do Sư soạn dịch và viết trong suốt 3 thập niên (1965-1995):

Bhikkhu Khantipalo. A New Age? A Buddhist View and Relating Religions (1979) 
(Thời đại mới? Một nhãn quan Phật giáo và các tôn giáo liên hệ)
https://budsas.net/sach/en216.pdf

Bhikkhu Khantipalo. Heedfulness (1984)
(Chú tâm tinh tấn)
https://budsas.net/sach/en217.pdf

Bhikkhu Khantipalo. Buddha-Bush, Seeing Dhamma in Nature (1982)
(Rừng cây của Phật, Nhìn Pháp trong thiên nhiên)
https://budsas.net/sach/en218.pdf

Bhikkhu Khantipalo. Aggression, War, and Conflict (1986)
(Xâm lược, Chiến tranh, và Xung đột)
https://budsas.net/sach/en219.pdf

Bhikkhu Khantipalo. The Advantages of Merit (1967)
(Lợi ích của việc tạo phước)
https://budsas.net/sach/en220.pdf

Bhikkhu Khantipalo. Lay Buddhist Practice (1974, 1982) 
(Tu tập của giới cư sĩ)
https://budsas.net/sach/en221.pdf

Bhikkhu Khantipalo. With Robes and Bowl - Glimpses of the Thudong Bhikkhu Life (1965, 1986) 
(Y và bình bát - Sơ lược về hạnh đầu đà)
https://budsas.net/sach/en222.pdf

Bhikkhu Khantipalo. The Wheel of Birth and Death (1970) 
(Bánh xe sinh tử)
https://budsas.net/sach/en223.pdf

Bhikkhu Khantipalo. Practical Advice for Meditators (1968) 
(Lời khuyên thực tế cho các thiền sinh)
https://budsas.net/sach/en224.pdf

Bhikkhu Khantipalo. Forest Meditations - The Verses of the Arahant Tālapuṭa Thera (1977) 
(Hành thiền trong rừng - Các bài kệ của A-la-hán Tālapuṭa)
https://budsas.net/sach/en225.pdf

Bhikkhu Khantipalo. The Buddhist Monk’s Discipline (1984) 
(Giới luật của tu sĩ Phật giáo)
https://budsas.net/sach/en226.pdf

Bhikkhu Khantipalo. The Buddha’s Last Bequest - A Translation from the Chinese Tipiṭaka (1967) 
(Di huấn cuối cùng của Đức Phật - Bản dịch từ Tam Tạng Trung quốc]
https://budsas.net/sach/en227.pdf

Bhikkhu Khantipalo. The Blessings of Piṇḍapāta (1964) 
(Phước báo của việc đi bát)
https://budsas.net/sach/en228.pdf

Bhikkhu Khantipalo. Bag of Bones - A Miscellany on the Body (1080) 
(Một túi xương - Họp tuyển về quán thân)
https://budsas.net/sach/en229.pdf

Bhikkhu Khantipalo. Banner of the Arahants - The History of the Theravada Order of Buddhist Monks and Nuns (1979) 
(Ngọn cờ của A-la-hán - Lịch sử về Tăng đoàn và Ni đoàn Theravada)
https://budsas.net/sach/en230.pdf

Bhikkhu Khantipalo. The Sutta Nipāta (Kinh tập) (2015)  
https://budsas.net/sach/en169.pdf

Bhikkhu Khantipalo. Buddha, My Refuge (Đức Phật là nơi nương tựa của tôi) (1990)  https://budsas.net/sach/en170.pdf

Bhikkhu Khantipalo. Calm and Insight, A Buddhist Manual for Meditators (1994)  
(Chỉ và Quán, Cẩm nang hành thiền)
https://budsas.net/sach/en171.pdf 

* Ghi thêm: 

Sư viết và soạn dịch nhiều cuốn khác nữa, nhưng tôi chưa tìm ra trên mạng, như: Buddhism Explained, The Buddha’s Words, Tolerance, Jewels within the Heart, Life's Highest Blessings, The Dharma Flavour, Dhammapada - Path of Truth, Noble Friendship, …

*-----*


Monday, 28 June 2021

Sách: Bhikkhu Bodhi (2016). Lời Phật Dạy về sự Hòa Hợp trong Cộng Đồng và Xã Hội

Sách:

Lời Phật Dạy về sự Hòa Hợp trong Cộng Đồng và Xã Hội
(The Buddha's Teachings on Social and Communal Harmony)
Bhikkhu Bodhi (2016)
 Nguyên Nhật Trần Như Mai dịch (2019)

Tải về bản song ngữ Việt-Anh, dạng PDF, tại link:

=> https://budsas.net/sach/vn178.pdf

*


Sách: Thiền sư S.N. Goenka (1924-2013)

 Xin giới thiệu 2 tập sách của thiền sư S. N. Goenka vừa đưa vào trang web, dạng PDF:

1) Vì lợi lạc của nhiều người (For the Benefit of Many)
Diễn từ và trả lời các câu hỏi của thiền sinh Vipassana.

=> https://budsas.net/sach/vn176.pdf 

2) Ký sự Dhamma (Chronicles of Dhamma)
Các bài viết chọn lọc từ Bản tin Vipassana

=> https://budsas.net/sach/vn177.pdf

*


Saturday, 5 June 2021

Thế nào là người Cư sĩ Phật tử lý tưởng?

Giới thiệu: Ðức Phật giảng cho ông Mahānāma, một cư sĩ của bộ tộc Thích-ca, về người cư sĩ Phật tử lý tưởng: quy y Tam Bảo, có giới đức, có lòng thành tín đối với Phật, có tâm bố thí và thành tựu trí tuệ.

Tương Ưng (SN 55.37)
MAHĀNĀMA

Một thời, Thế Tôn trú giữa dân chúng Sakya (Thích-ca), tại Kapilavatthu (Ca-tì-la-vệ), trong khu vườn cây bàng. Rồi họ Thích Mahānāma đi đến Thế Tôn, sau khi đến lễ Ngài, ngồi xuống một bên, họ Thích Mahānāma bạch Thế Tôn:

– Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là người cư sĩ?

– Ai quy y Phật, này Mahānāma, quy y Pháp, quy y Tăng. Cho đến như vậy, này Mahānāma, là người cư sĩ.

– Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là người cư sĩ đầy đủ giới đức?

– Này Mahānāma, người cư sĩ từ bỏ sát sinh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Cho đến như vậy, này Mahānāma, là người cư sĩ đầy đủ giới đức.

– Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là người cư sĩ đầy đủ lòng tin?

– Ở đây, này Mahānāma, người cư sĩ có lòng tin, tin tưởng ở sự giác ngộ của Như Lai: "Ðây là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn". Cho đến như vậy, này Mahānāma, là người cư sĩ đầy đủ lòng tin.

– Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn là người cư sĩ đầy đủ bố thí?

– Ở đây, này Mahānāma, người cư sĩ trú ở gia đình, tâm thoát khỏi cấu uế của xan tham, bố thí dễ dàng, bàn tay rộng mở, thích thú từ bỏ, đáp ứng điều yêu cầu, thích thú chia sẻ vật bố thí. Cho đến như vậy, này Mahānāma, là người cư sĩ đầy đủ bố thí.

– Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là người cư sĩ đầy đủ trí tuệ?

– Ở đây, này Mahānāma, người cư sĩ có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sinh diệt (các pháp), là trí tuệ cao quý và thâm sâu, đưa đến tận diệt khổ đau. Cho đến như vậy, này Mahānāma, là người cư sĩ đầy đủ trí tuệ.

(Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt)

* * *

Mahānāma (SN 55.37)

On one occasion the Blessed One was dwelling among the Sakyans at Kapilavatthu in Nigrodha’s Park. Then Mahānāma the Sakyan approached the Blessed One, paid homage to him, sat down to one side, and said to him:

“Venerable sir, in what way is one a lay follower?”

“When, Mahānāma, one has gone for refuge to the Buddha, the Dhamma, and the Saṅgha, one is then a lay follower.”

“In what way, venerable sir, is a lay follower accomplished in virtue?”

“When, Mahānāma, a lay follower abstains from the destruction of life, from taking what is not given, from sexual misconduct, from false speech, and from wines, liquor, and intoxicants that are a basis for negligence, the lay follower is accomplished in virtue.”

“In what way, venerable sir, is a lay follower accomplished in faith?”

“Here, Mahānāma, a lay follower is a person of faith. He places faith in the enlightenment of the Tathāgata thus: ‘The Blessed One is an arahant, perfectly enlightened, accomplished in true knowledge and conduct, fortunate, knower of the world, unsurpassed leader of persons to be tamed, teacher of devas and humans, the Enlightened One, the Blessed One.’ In that way a lay follower is accomplished in faith.”

“In what way, venerable sir, is a lay follower accomplished in generosity?”

“Here, Mahānāma, a lay follower dwells at home with a mind devoid of the stain of stinginess, freely generous, open-handed, delighting in relinquishment, one devoted to charity, delighting in giving and sharing. In that way a lay follower is accomplished in generosity.”

“In what way, venerable sir, is a lay follower accomplished in wisdom?”

“Here, Mahānāma, a lay follower is wise, he possesses wisdom directed to arising and passing away, which is noble and penetrative, leading to the complete destruction of suffering. In that way a lay follower is accomplished in wisdom.”

(translated by Bhikkhu Bodhi)

*


Friday, 4 June 2021

Luật xuất gia (Thích Nhật Từ dịch, 2021)

 Xin giới thiệu các tập sách về Luật xuất gia do Thượng tọa Thích Nhật Từ dịch, dạng PDF:

(1) Thích Nhật Từ dịch (2021). Nghiên cứu Giới Tỳ-kheo của Thượng tọa bộ. 
=> https://budsas.net/sach/vn170.pdf

(2) Thích Nhật Từ dịch (2021). Giới bổn Tỳ-kheo của Luật Tứ phần.
=> https://budsas.net/sach/vn171.pdf

(3) Thích Nhật Từ dịch (2021). Giới bổn Tỳ-kheo-ni của Luật Tứ phần. 
=> https://budsas.net/sach/vn172.pdf

(4) Thích Nhật Từ dịch (2021). Giới Sa-di, Oai nghi, Luật nghi và Lời Khuyến tu của Tổ Quy Sơn.
=> https://budsas.net/sach/vn173.pdf 

(5) Thích Nhật Từ dịch (2021). Giới Sa-di-ni, Oai nghi, Luật nghi và Lời Khuyến tu của Tổ Quy Sơn. 
=> https://budsas.net/sach/vn174.pdf

*



Monday, 31 May 2021

Trí nhớ suy giảm

 Trí nhớ suy giảm.

Hôm qua đọc một cuốn sách về Niệm (Mindfulness) của Bhikkhu Analayo, trong đó Sư đề cập đến Tam Minh mà ngài Bồ-tát lần lượt đắc được trong đêm rằm tháng Vesak trước khi đắc quả Chánh Đẳng Giác. Tôi cố gắng nhớ lại xem Tam Minh ấy là gồm những gì mà vẫn không nhớ được. Lại phải đến hỏi bác Gờ (Google). À, thì ra thế! Đó là: Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh.

Thấy trí nhớ của mình bây giờ sa sút rõ rệt. Các đóng góp, chia sẻ trong trang Facebook cá nhân hay trong trang Blog này đều là nhờ bác Gờ. Nếu không có bác giúp là không tài nào moi ra được thông tin vốn đã sưu tập và lưu trong đầu óc trong mấy chục năm qua.

Cũng trong ngày hôm qua, vài bạn học cũ có nhắc đến một trại công tác ngày xưa tại một trường học ở Biên Hòa, tôi theo dõi các chia sẻ đó mà hoàn toàn không nhớ được gì cả. Chuyện này thì bác Gờ không giúp được. Thôi thì đành cho nó qua đi.

Đó cũng là một lý do khiến tôi ngưng buổi sinh hoạt hằng tuần trong một room Phật giáo của PalTalk, và cũng từ chối tham gia vào các diễn đàn, các nhóm Phật giáo trong Facebook và trên mạng Internet. Không còn hứng thú mà cũng không nhớ, không giúp được gì. Life is short - Đời sống ngắn ngủi. Quay về sống với nội tâm trong năm tháng còn lại của cuộc đời là cần thiết và quan trọng nhất đối với mình trong hoàn cảnh hiện tại. Sống nay, chết mai, không có gì là chắc chắn. 

Bình Anson
Perth, Western Australia
30/05/2021

*


Thursday, 27 May 2021

Chỉ nhiêu đó thôi (1).

 CHỈ NHIÊU ĐÓ THÔI.

Đang đọc cuốn “Introducing Mindfulness” (Giới thiệu Niệm) của Bhikkhu Anālayo. Trong đó Sư đề cập đến bài kinh quen thuộc mà có lẽ tất cả các thiền sinh chúng ta đều biết đến: kinh Quán niệm Hơi thở (MN 118). Trong bài kinh, Đức Phật giảng về 16 bước quán niệm hơi thở để tiến đến giải thoát giác ngộ. Chia thành bốn nhóm, mỗi nhóm có 4 bước (4 x 4 = 16). Nhóm bốn bước đầu tiên, theo Sư Anālayo, là căn bản quan trọng nhất. Đức Phật cũng chỉ đề cập đến nhóm đầu tiên này trong các bài giảng khác (thí dụ: kinh Lập niệm, MN 10; kinh Thân hành niệm, MN 119).

Sáng nay, sau khi xả thiền, ngồi ngẫm nghĩ những gì Sư viết, thấy quả thật đúng như vậy. Trong mấy chục năm qua, mình chỉ hành thiền niệm hơi thở được có bấy nhiêu đó thôi. Rồi từ đó chuyển sang các đề mục khác, tùy duyên, tùy hứng (niệm Phật, niệm tâm Từ, niệm chết, …). Đọc sách, nghe thuyết giảng, bàn luận đủ thứ chuyện, nhưng rốt cuộc rồi thì chỉ thực hành được nhiêu đó. 

Có lẽ mình thuộc hạng “phước mỏng, nghiệp dày” như ngài Hòa thượng Thanh Từ thường hay nhắc nhở. Thôi kệ, cứ từ từ bước đi, chậm mà chắc, rồi cũng sẽ đến đó. Kiếp này không xong thì tiếp tục trong các kiếp sau. “Từ từ rồi cháo cũng nhừ”, người bình dân mình thường hay nói như thế.

*-----*

… Ở đây, tỳ-khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến nơi thanh vắng, ngồi xuống, xếp chéo chân, giữ lưng thẳng và trú niệm trước mặt. Có niệm, vị ấy thở vào; có niệm, vị ấy thở ra.

(1) Thở vào dài, vị ấy nhận biết: “Tôi thở vào dài.” Hoặc thở ra dài, vị ấy nhận biết: “Tôi thở ra dài.” 

(2) Hoặc thở vào ngắn, vị ấy nhận biết: “Tôi thở vào ngắn.” Hoặc thở ra ngắn, vị ấy nhận biết: “Tôi thở ra ngắn.” 

(3) “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vào,” vị ấy tập luyện. “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra,” vị ấy tập luyện. 

(4) “An tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở vào,” vị ấy tập luyện. “An tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở ra,” vị ấy tập luyện. (….) 

– Trích kinh Quán Niệm Hơi Thở (Anapanasati Sutta, MN 118)

*

… Here a bhikkhu, gone to the forest or to the root of a tree or to an empty hut, sits down; having folded his legs crosswise, set his body erect, and established mindfulness in front of him, ever mindful he breathes in, mindful he breathes out.

Breathing in long, he understands: ‘I breathe in long’; or breathing out long, he understands: ‘I breathe out long.’ Breathing in short, he understands: ‘I breathe in short’; or breathing out short, he understands: ‘I breathe out short.’ He trains thus: ‘I shall breathe in experiencing the whole body of breath’; he trains thus: ‘I shall breathe out experiencing the whole body of breath.’ He trains thus: ‘I shall breathe in tranquillising the bodily formation’; he trains thus: ‘I shall breathe out tranquillising the bodily formation.’ (...)

– Extract from Discourse on Mindfulness of Breathing (Anapanasati Sutta, MN 118)

*




Monday, 24 May 2021

Lược sử Phật giáo. Edward Conze, Nguyễn Minh Tiến dịch.

 LƯỢC SỬ PHẬT GIÁO.
Nguyễn Minh Tiến dịch (2006)
Nguyên tác: Buddhism, A Short History, Edward Conze (1980)

Tải về bản song ngữ Việt-Anh, dạng PDF:
https://tinyurl.com/5y4krkdw   [vn169.pdf, 2.0 MB] 

MỤC LỤC

Lời giới thiệu
Đôi nét về tác giả

Bối cảnh lịch sử và các thời đại trong lịch sử Phật giáo
A. Bối cảnh lịch sử 
B. Phân đoạn các thời kỳ Phật giáo

Chương I: Thời kỳ 500 năm trước Công nguyên 

1. Những đặc điểm của thời kỳ đầu
2. Giới luật 
3. Giáo lý cơ bản
4. Các bộ phái và những bất đồng
5. Cư sĩ
6. Sự mở rộng

Chương II: Thời kỳ thứ hai (Từ đầu công nguyên đến năm 500)

1. Phật Giáo Đại Thừa Ở Ấn Độ
2. Sự Phát Triển Của Tiểu Thừa Ở Ấn Độ
3. Nepal Và Kashmir
4. Tích Lan
5. Sự Mở Rộng Sang Đại Á
6. Trung Á
7. Trung Hoa

Chương III: Thời kỳ thứ ba (Từ năm 500 đến năm 1000)

1. Ấn Độ
2. Nepal Và Kashmir
3. Tích Lan
4. Trung Á
5. Đông Nam Á
6. Trung Hoa Và Triều Tiên
7. Nhật Bản
8. Tây Tạng

Chương IV: Một ngàn năm cuối (Từ năm 1000 đến năm 1978)

1. Ấn Độ: Sự suy sụp và nguyên nhân
2. Nepal và Kasmir
3. Tích Lan
4. Đông Nam Á
5. Trung Hoa và Triều Tiên
6. Nhật Bản
7. Tây Tạng
8. Mông Cổ
9. Thực trạng hiện nay

*


Saturday, 22 May 2021

Hòa thượng THÍCH MINH CHÂU và Bhikkhu ANĀLAYO

 Luận án tiến sĩ của ngài Hòa thượng Thích Minh Châu hoàn tất năm 1961 và sau đó được in thành sách với tựa đề “The Chinese Madhyama-āgama and the Pali Majjhima-nikāya: a Comparative Study” (So sánh Kinh Trung A-hàm chữ Hán và Kinh Trung bộ chữ Pāli) đã được nhiều học giả Phật giáo trên thế giới biết đến và được dùng như là một trong những tài liệu nghiên cứu căn bản về bộ Trung A-hàm của Hán tạng, so sánh đối chiếu với Trung bộ kinh của tạng Nikāya Pāli.

Năm mươi năm sau, Bhikkhu Anālayo sau mười năm học chữ Hán cổ và nghiên cứu các bộ A-hàm trong Hán tạng, đã biên soạn nhiều bài tham cứu về kinh A-hàm và xuất bản tập sách “Madhyama-āgama Studies” (Nghiên cứu Trung A-hàm) vào năm 2012. Trong đoạn cuối cùng của phần Giới thiệu (Introduction), Sư viết:

…”Tôi xin dâng tặng cuốn sách này đến vị tu sĩ học giả Việt Nam Thích Minh Châu (1918–2012) để tưởng niệm đến ngài. Nghiên cứu đột phá của ngài về so sánh đối chiếu Trung bộ kinh và Trung A-hàm đã tạo hứng khởi cho tôi để học tiếng Hán và tiến hành nghiên cứu các bộ A-hàm.”

Các sách về Trung A-hàm và Trung bộ kinh của Tỳ-khưu Anālayo:

1. A Comparative Study of the Majjhima-nikāya, (Dharma Drum Buddhist College Research Series 3), Taipei: Dharma Drum Publishing Corporation, 2011 (2 vols.)

2. The Madhyama Āgama (Middle Length Discourses), (ed. and trsl. in collaboration with Marcus Bingenheimer (chief editor) and Rod Bucknell), BDK English Tripiṭaka Series, Berkeley: Numata Center for Buddhist Translation and Research, 2013

3. Madhyama-āgama Studies, (Dharma Drum Buddhist College Research Series 5), Taipei: Dharma Drum Publishing Corporation, 2012

* Công trình nghiên cứu của Tỳ-khưu Analayo:
https://www.buddhistinquiry.org/resources/offerings-analayo/publications/


*


Đại Đường Tây Vực Ký (T-2087)

Đại Đường Tây Vực Ký (大唐西域記, T-2087)
HT Thích Như Điển dịch Việt. 

The Great Tang Dynasty Record Of The Western Regions,
English translation by Li Rongxi.

Tải về bản dịch song ngữ Việt-Anh, dạng PDF:
=> https://tinyurl.com/mw9j79rw  [vn168.pdf, 14.3 MB]

Có lẽ đa số chúng ta đều biết chuyện Đường Tam Tạng, Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới qua cuốn tiểu thuyết giả tưởng Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân. Thật ra, Ngô Thừa Ân viết cuốn này dựa theo cuốn nhật ký hành hương Đại Đường Tây Vực Ký của Pháp sư Trần Huyền Trang (602-664).

Những ai đã từng đi hành hương Phật tích Ấn Độ -- hay có ý định sẽ đi -- nên dành thì giờ đọc thêm cuốn này. Ngài Huyền Trang ghi chép tỉ mỉ về các địa điểm PG của Ấn Độ trong thế kỷ 7 DL, mà cho đến thế kỷ 19 và 20 sau này, các nhà khảo cổ Tây phương vẫn dựa vào đó để xác định các Phật tích và hoạt động PG vào thời đó.

*


Trường A-hàm – Bản dịch tiếng Anh từ Hán tạng

THE CANONICAL BOOK OF THE BUDDHA’S LENGTHY DISCOURSES 

Dīrgha Āgama –  長阿含經 , Trường A-hàm Kinh

Translated from the Chinese by SHOHEI ICHIMURA (2018)

Vol I  : https://budsas.net/sach/en214-1.pdf

Vol II : https://budsas.net/sach/en214-2.pdf

Vol III: https://budsas.net/sach/en214-3.pdf 

*

Vol I
Sutra 01. The Great Origin (Kinh Ðại Bổn)
Sutra 02. Last Journey and Sojourns (Kinh Du Hành)
Sutra 03. A Great Treasury Councilor (Kinh Ðiển Tôn )
Sutra 04. Janavasabha’s Exhortation (Kinh Xà-Ni-Sa)
Sutra 05. Lesser Causality (Kinh Tiểu Duyên)
Sutra 06. The Universal Ruler’s Practice (Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Tu Hành)
Sutra 07. Pāyāsi’s Dialogue (Kinh Tệ-Tú)
Sutra 08. Sandhāna (Kinh Tán-Ðà-Na)
Sutra 09. Numerically Assembled Doctrines (Kinh Chúng Tập)
Sutra 10. Ten Progressively Classified Doctrines (Kinh Thập Thượng)

Vol II
Sutra 11. The Gradual Increase of Doctrines by One (Kinh Tăng Nhất)
Sutra 12. Doctrines in Groups of Three (Kinh Tam Tụ)
Sutra 13. Greater Causality (Kinh Ðại Duyên Phương Tiện)
Sutra 14. Indra’s Questions on Causality (Kinh Thích Ðề Hoàn Nhân Vấn)
Sutra 15. The Episode at Anupiya (Kinh A-Nậu-Di)
Sutra 16. Kalyāṇi-jātika (Kinh Thiện Sanh)
Sutra 17. Purity (Kinh Thanh Tịnh)
Sutra 18. Happiness Caused by Oneself (Kinh Tự Hoan Hỉ)
Sutra 19. A Great Assembly (Kinh Ðại Hội)
Sutra 20. Ambaṭṭha (Kinh A-Ma-Trú)

Vol III
Sutra 21. Brahmā’s Net (Kinh Phạm Ðộng)
Sutra 22. One Who Cultivates Virtue (Kinh Chủng Ðức)
Sutra 23. Brāhmaṇa Kūṭadanta (Kinh Cửu-La-Ðàn-Ðầu)
Sutra 24. Kevaddha (Kinh Kiên Cố)
Sutra 25. A Naked Brāhmaṇa Ascetic (Kinh Lõa Hình Phạm Trí)
Sutra 26. Knowledge of the Three Vedas (Kinh Tam Minh)
Sutra 27. The Rewards of the Life of a Śrāvaka (Kinh Sa-Môn-Quả)
Sutra 28. Poṭṭhapada (Kinh Bố-Tra-Bà-Lâu)
Sutra 29. Lohitya (Kinh Lộ Già)
Sutra 30. A Buddhist Cosmology (Kinh Thế Ký)

*


Tuesday, 18 May 2021

Tuổi già

 Nursing home – Nhà dưỡng lão, người nhà đang gửi gắm hay rũ bỏ?
Tạp Chí Hoa Kỳ - 18 Tháng Mười Hai, 2017

Chuyện kể sau hai ngày đầu thực tập tại Nhà Dưỡng Lão (Nursing Home) của Mỹ.

Với tâm trạng đầy háo hức cùng chúng bạn, tôi bước vào làm công việc giúp đỡ người già tại viện dưỡng lão trong vai trò thực tập sinh. Cảm xúc thì nhiều lắm nhưng vì ko có nhiều thời gian viết lách nên tôi tóm tắt tạm bằng ngôn từ xấu xa của tôi: địa ngục trần gian, trả nợ kiếp người, v.v…

Bên cạnh khoảng 1/5 tổng số là những cụ già vui vẻ, độc lập, ít sầu lo, ít thống khổ, lòng tôi quặn thắt với hình ảnh những cụ già của 4/5 còn lại. Cụ khù khoằm với xương thân cứng đơ và các ngón tay cuộn lại, cụ đeo oxy nằm bẹp trên giường đêm ngày, cụ dính mình vào chiếc xe lăn ngày đêm như một hòn đá tĩnh lặng, cụ hầm hè cả ngày khoanh tay nhìn thế gian như thù hằn… Tất cả, tạo nên bức tranh một nhà dưỡng lão lặng ngắt đến rùng mình, đâu đây chỉ còn tiếng thút thít hay rên la đau đớn.

Vì cùng ngôn ngữ, tôi thường được phân công đút ăn cho một cụ người Việt dính mình trên xe lăn, tôi mới hiểu rõ hơn thêm về một kiếp nhân sinh. Cụ cũng như nhiều cụ khác, không hề câm hay điếc nhưng dường như khả năng dùng ngôn ngữ trả lời đã hoàn toàn biến mất. Chỉ còn khả năng nghe là rất tốt, cụ dùng đôi mắt để nói chuyện, gật và lắc đầu hay nhăn nhó để thể hiện cảm xúc. Tôi có nhắc tới những đứa con có thăm cụ không, cụ lắc đầu.

Tôi có hỏi ở trong này cụ có ra ngoài trời nắng đẹp chơi không, cụ lắc đầu. Ngay sau đó tôi thấy cụ khóc. Giọt nước mắt ngấn rơi ra khỏi đôi mắt kèm nhèm gỉ mắt vì không có người quan tâm rửa mặt cho buổi sáng. Nhà dưỡng lão có thuê những người chăm sóc cho các cụ, nhưng bằng lý do này hay lý do khác, họ chỉ có thể thu xếp một người chăm sóc chăm tám cụ một lúc.

Cụ nào nhiều tiền, con cái hiếu thảo mới có thể giúp đỡ thuê thêm người chăm nom (khoảng 15-20$/giờ và cần ít nhất 8 giờ/ngày), còn lại hầu hết các cụ bị bỏ rơi như một vật phế thải.

Bây giờ thì tôi đã hiểu, dù nhà dưỡng lão làm ăn rất bài bản bằng các nhân viên với đủ các vị trí và chức vụ được đào tạo nghiệp vụ đầy mình, hệ thống chăm sóc hiện đại với đầy đủ cơ sở vật chất hỗ trợ, đồ ăn thức uống không thiếu thốn, nhưng nỗi buồn vì bị bỏ rơi, vì thiếu người quan tâm, vì cảm thấy mình vô dụng, vì thiếu sự giao tiếp trong tình thương, kể cả thiếu giao tiếp với thiên nhiên mỗi ngày… là những thứ rất từ từ và thầm lặng tước đi của con người tất cả cho đến tận khi được cái chết chấp nhận.

Vâng, chết được hoàn toàn không phải chuyện đơn giản, bạn sẽ có thể phải đợi cho tuổi già cướp đi dần dần hơi ấm, hơi thở, sự mềm dẻo, khả năng suy nghĩ bình thường, khả năng hoạt động, v.v... khiến bạn phải chìm đắm trong những nỗi đau đớn, sự thiếu dễ chịu đến tột cùng trong suốt những tháng ngày như vô tận.

Là một người còn trẻ và may mắn được trải nghiệm chứng kiến, tôi tin những kiếp người sẽ trở nên thê thảm nếu trở nên phụ thuộc phần lớn hoặc phụ thuộc hoàn toàn cuộc sống vào một ai đó. Mỗi người hoàn toàn có thể tránh được cho tương lai nỗi khốn cùng này bằng cách có sự chuẩn bị từ trước, rèn luyện sức khoẻ, rèn luyện trí não, rèn cả chí khí, tính khí.

Một người có sự chuẩn bị tốt vẫn có thể sống trong tuổi già một cách rất độc lập, theo đuổi các thú vui hoạt động lành mạnh không khác những người trẻ là bao. Theo như khoa học đã kết luận, tuổi già chỉ là giai đoạn con người chứng kiến mọi sự suy giảm các chức năng trong cơ thể chứ không hề đồng nghĩa với bệnh tật và tất cả những đớn đau ta thường thấy.

Tuy nhiên, không phải ai cũng như ai và chắc chắn không ai có thể đoán trước được tương lai mỗi người sẽ ra sao, như ý muốn hay cực kỳ thảm hại. Hãy yêu thương và thông cảm với người già vì đó có thể là hình ảnh của chính bạn trong không bao lâu nữa.

Cuối đời, không gì khác, chính là sự trả nợ trần gian kiếp người trước khi tạm biệt nó về lại cõi vĩnh hằng.

ANH NGUYEN
Seattle, Washington, USA

*


Sách: BỐN BỘ A-HÀM

 BỐN BỘ A-HÀM

Xin trân trọng giới thiệu bốn bộ A-hàm, dạng PDF:

1) Trường A-hàm. Tuệ Sỹ dịch và chú. 
https://tinyurl.com/vn164

2) Trung A-hàm. Tuệ Sỹ dịch và chú. 
Tập I  :  https://tinyurl.com/vn165-a
Tập II :  https://tinyurl.com/vn165-b
Tập III:  https://tinyurl.com/vn165-c

3) Tạp A-hàm. Thích Đức Thắng dịch, Tuệ Sỹ chú thích. 
Tập I  :  https://tinyurl.com/vn166-1
Tập II :  https://tinyurl.com/vn166-2
Tập III:  https://tinyurl.com/vn166-3

4) Tăng nhất A-hàm. Thích Đức Thắng dịch, Tuệ Sỹ chú thích. 
Tổng mục lục:  https://tinyurl.com/vn167-0
Tập I :  https://tinyurl.com/vn167-1
Tập II:  https://tinyurl.com/vn167-2

*


Monday, 3 May 2021

Món phở của người Việt gây tranh cãi khắp thế giới

Món phở của người Việt gây tranh cãi khắp thế giới
Lili Tu
BBC Travel
2 tháng 5, 2021

Khi một blogger ẩm thực người Mỹ tên là Tieghan Gerard ngây thơ gọi món mì ăn liền cô nấu là "phở gà", câu nói đó đã gây ra cơn bão tranh luận về món ăn này.

Cô bị cáo buộc là muốn "tẩy trắng" món phở nổi tiếng của người Việt, làm tổn hại văn hóa và con người.

Dù nhà sản xuất kênh Half Baked Harvest với hàng triệu người theo dõi sau đó đã xin lỗi và đổi tên món ăn của cô lại là "mì gà ăn với súp cay và mè", nhưng nhiều người Mỹ gốc Việt tin rằng việc đổi tên này là chưa phù hợp, và vấn đề thực ra nghiêm trọng hơn chứ không chỉ là chuyện một món ăn, nhất là trong tình trạng tội phạm thù địch nhắm vào người Mỹ gốc Á dâng cao như hiện nay.

Dù thảm họa ẩm thực này xuất hiện trên Instagram và khiến mọi người từ giới đầu bếp, người nổi tiếng, đến dân ghiền ẩm thực phản đối, nhưng về mặt tích cực thì nó khiến mọi người chiêm nghiệm kỹ hơn về món ăn quốc hồn quốc túy nổi tiếng của người Việt trong lịch sử lâu đời cả ở Việt Nam và nhiều nơi trên thế giới.

Phở, với nước dùng sôi sùng sục, thơm ngọt, bổ dưỡng, được nêm gia vị nhẹ chan vào sợi bánh phở đã được chần nóng, là món khá mới trong danh sách các món ăn đặc trưng của người Việt - nó chỉ mới xuất hiện trong các ghi chép từ đầu thế kỷ 20 - nhưng lịch sử của món ăn khiêm nhường này vừa tinh tế vừa phức tạp như chính hương vị của nó.

"Tôi đã ăn phở suốt cả đời, nhưng câu chuyện về phở rất sâu sắc," Andrea Nguyễn, tác giả viết sách nấu ăn người Mỹ gốc Việt nổi tiếng và là người thắng giải cuộc thi James Beard, nói. "Và vì vậy, bạn có thể nghĩ rằng bạn biết rành món phở, nhưng thực ra không phải vậy, bởi vì món phở có những đổi thay."

Dù đa phần các nhà sử học đồng tình rằng phở được phát minh hồi cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 ở miền bắc Việt Nam, trong thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, nhưng nguồn gốc của món này vẫn không rõ ràng.

Một số người tin rằng phở là một món ăn kiểu địa phương, được cải biên từ món hầm kiểu Pháp với bò và rau có tên pot-au-feu, tên gọi hơi giống về ngữ âm so với chữ "phở".

Một số người khác cho rằng món này bắt nguồn từ những nhóm người Hoa đến định cư ở miền bắc Việt Nam và bán một món ăn tên là ngưu nhục phấn (牛肉粉 , tức là mì bò). Phần Hán tự 'phấn' (粉) được phát âm là "fuh", cũng tương tự như chữ tiếng Việt "phở".

Alex Trần, một đầu bếp người Việt và tác giả viết về ẩm thực sống ở New Zealand, cho rằng nguồn gốc của phở có thể là sự hòa phối của cả hai món trên.

"Không nghi ngờ gì, sợi phở và các gia vị khác được dùng để nấu nước dùng có liên hệ với người Hoa sống ở miền Bắc. Tuy nhiên, thịt bò không phải là loại thịt hàng ngày mà người Việt ăn vì ta sử dụng trâu bò để cày ruộng. Chỉ dưới thời Pháp thuộc, thì chuyện ăn thịt bò mới xuất hiện và trở nên phổ biến."

Dù nguồn gốc của phở từ đâu, thì mọi người đều yêu thích món ăn này như món quốc hồn quốc túy và là niềm tự hào cháy bỏng của dân địa phương lẫn khả năng gây tranh cãi dữ dội, vì mỗi vùng có cách nấu và sử dụng nguyên liệu riêng mà họ yêu thích.

"Cá nhân tôi sẽ gọi đây là món ăn gầy dựng tình đoàn kết và gây chia rẽ," đầu bếp Trần cho biết. "Đây là niềm tự hào quốc gia của chúng tôi, nhưng chúng tôi chưa bao giờ có thể đồng tình với nhau là phở nào mới là "phở thật". Nếu bạn muốn làm người Việt đánh nhau, cứ hỏi họ phở nào ngon nhất."

PHỞ NAM ĐỊNH

Trong khi nhiều người sành ăn phở sống ở nước ngoài sẽ quen thuộc với phở nấu kiểu miền Nam phong vị Sài Gòn, có nước dùng vị ngọt hơn và sử dụng các loại gia vị và rau ăn kèm thoải mái hơn, thì phiên bản món phở đầu tiên được cho là bắt nguồn từ miền Bắc, từ tỉnh Nam Định, cách Hà Nội khoảng 100km về phía nam.

Tại nơi đây, ở vùng đồng bằng Sông Hồng giàu có, màu mỡ, đường chân trời thẳng băng ngập đồng lúa, cây chuối và rặng tre.

Vùng nông nghiệp này có phần đa cư dân làm nông dân truyền thống, đây cũng là quê hương của hầu hết những đầu bếp nấu phở nổi tiếng nhất ở Việt Nam. Rất nhiều người trong số họ có liên hệ với gia đình Phở Cồ, ở làng Vân Cù, nằm ở phía nam thành phố Nam Định.

Ngôi làng yên bình với đồng lúa xanh biếc bao quanh, tương phản với những ngôi nhà mái ngói đỏ.

Ở cổng làng có một cửa hiệu chưng tấm biển bán phở qua nhiều thế hệ. Nơi đây là quê hương của ông Vũ Ngọc Vượng và cậu của ông là Cồ Việt Hùng, 87 tuổi, một trong những đầu bếp nấu phở lớn tuổi nhất còn sống.

Bản thân Vũ Ngọc Vượng là một đầu bếp bấu phở từng đoạt giải, sở hữu chuỗi 5 nhà hàng phở cùng một xưởng làm bánh phở tại Hà Nội.

Theo ông Vượng, khi hết mùa thu hoạch lúa, các cụ tổ nhà ông đi đến các thị trấn, thành thị làm nghề bán dạo.

Họ làm và bán món bánh đa cua, nấu bằng cua đồng, với sợi bánh đa dẹt màu trắng hơi giống bánh phở.

Họ cũng có một món ăn truyền thống và độc đáo, đó là món xáo, thường nấu với ít thịt trâu thái mỏng với nước dùng ninh xương, chan bún, ăn kèm với hành lá và rau thơm.

Dù không ai biết đích xác phở ra đời thế nào, nhưng hầu hết mọi người tin rằng dân làng thấy có cơ hội làm ăn vào năm 1898 khi thực dân Pháp bắt đầu xây dựng nhà máy dệt Nam Định.

Kỹ thuật viên người Pháp và hàng ngàn công nhân đổ về vùng làm việc trong nhà máy dệt lớn nhất Đông Dương, và hai món ăn này có vẻ như được kết hợp với nhau, gia giảm chút ít cho hợp với khẩu vị của người Pháp.

"Người Pháp thích thịt bò nên dân làng cải biên một chút bằng cách thêm thịt bò vào bánh đa cua," ông Vượng kể. "Ngoài ra, mọi người cũng được người Pháp đến xây nhà máy cho lại xương thừa mà họ không ăn, dân làng đem xương về và nấu thành nước dùng. Họ kể chúng tôi nghe đó là cách món phở thành hình."

Khi công nhân xây dựng di chuyển từ Nam Định ra Hà Nội để thi công dự án cầu Long Biên, món phở giàu dinh dưỡng nhanh chóng lan xa khỏi ngôi làng.

Với gánh phở trên vai, người làng nghèo đói theo chân công nhân xây dựng, kiếm sống tốt nhờ nghề bán phở, và món ăn một tô này trở thành món ngon người dân thủ đô yêu thích.

"Người đầu tiên từ gia đình họ Cồ đưa phở đến Hà Nội là ông Cồ Hữu Vặng. Nếu còn sống chắc cụ nay phải 130 hay 140 tuổi rồi," ông Vượng kể. "Cụ đến Hà Nội và thuê một căn nhà. Đàn ông trong làng đến và nấu phở, họ gánh gánh phở đi bán khắp Hà Nội ban ngày và trở về nhà ngủ ban đêm."

Con trai và con gái cụ Cồ Hữu Vặng cuối cùng bèn mở quán phở trong khu Phố Cổ Hà Nội, và một số tiệm trong số đó, giờ đây do thế hệ thứ ba của gia đình nấu, vẫn nằm trong số danh sách các hàng phở được đánh giá cao nhất trong thành phố, ví dụ như Phở Gia Truyền Bát Đàn và Phở Bò Việt Hòa Cụ Chiêu.

"90% dân làng tôi đã di cư đến Hà Nội sống và bán phở, chỉ còn 10% người làng vẫn ở Nam Định," ông Vượng nói.

PHỞ BẮC, PHỞ TRUNG, PHỞ NAM

Từ đây, món phở phát triển theo nhiều hướng khác nhau.

Trong món phở Nam Định, thịt bò thái mỏng được xào tái với tỏi cùng các loại rau xanh và vài lát cà chua, bày lên trên bánh phở đã chần nóng, sau đó chan nước dùng thơm lừng. Trong khi đó, dân Hà Nội ăn phở với kiểu cách tối giản hơn rất nhiều.

Ở Hà Nội, nói về phở là nói về chất lượng nước dùng, thậm chí nhiều người còn cảm thấy bỏ thêm rau thơm sẽ làm hỏng vị phở.

Theo bà Bùi Thị Sương, đại sứ văn hóa ẩm thực Việt, nước dùng phở bò ở Hà Nội nấu chỉ bằng xương bò và thịt bò, còn nước dùng phở gà thì chỉ dùng gà.

Càng đi về phía nam bạn sẽ thấy những đặc tính không còn giống như vậy. Chẳng hạn như nước dùng bún bò Huế ở miền Trung sử dụng cả thịt bò và heo cùng với cách nêm nếm phức tạp hơn.

"Cách sử dụng duy nhất một loại thịt trong nước dùng rất giống với ẩm thực kiểu Pháp, khiến cho món ăn thêm phần tinh tế và đậm đà," bà Sương nói.

Ngày nay, rất nhiều người theo trường phái thuần túy nói rằng phở "gốc" là phở từ Hà Nội.

Ông Vượng tin rằng chỉ cần nếm thử nước dùng là biết được một bát phở có ngon hay không. Ông giải thích rằng nước dùng ngon nên có vị ngọt đằm từ tủy xương nấu trong nhiều giờ, nhưng nước phải trong, có màu nhẹ như khói và nêm gia vị nhẹ nhàng.

"Gia vị nấu phở phải có vị đằm tinh tế chứ không nồng, gắt. Khi khách nếm, họ không nên cảm thấy vị nào đậm hơn vị nào," ông giải thích.

Dù phở bò là món ăn quen thuộc ở Hà Nội cho mãi đến giữa thế kỷ 20, nhưng món ăn này vẫn tiếp tục biến đổi.

Vào năm 1939, chính quyền cố gắng kiểm soát tình trạng giết thịt bò bằng cách cấm bán thịt bò vào thứ Hai và thứ Sáu, và người Hà Nội phải chế lại món phở để đỡ thèm.

Phở gà cũng được dân thủ đô yêu thích, và ngày nay, cùng với phở bò, đây là phiên bản của món phở được mọi người ở Việt Nam và khắp nơi yêu mến.

Tác giả ẩm thực Nguyễn nói khoảnh khắc ăn phở mà bà nhớ nhất ở Hà Nội là được ăn một "tô phở gà tuyệt đỉnh". "Nói vậy có nghĩa là tô phở có vị hệt như phở mẹ tôi nấu, nhưng nó có đủ các phần thịt gà mà tôi chưa từng ăn trước đó," bà kể lại. "Nước dùng thịt gà được nấu rất ngon, và có vị như thuốc bổ. Nó như một loại thuốc tuyệt vời."

Năm 1954, khi thời kỳ thực dân Pháp đô hộ kết thúc và Việt Nam chia cắt làm hai miền, hàng triệu người Bắc di cư vào miền Nam.

Phở theo chân người di dân đến vùng đất mới và thích nghi với khẩu vị, văn hóa địa phương và nguyên liệu có sẵn của mỗi vùng.

Vị của phở cũng có thể ngọt hơn, mặn hơn hoặc cay hơn, tùy theo mức độ nấu theo người địa phương.

Điểm còn giữ nguyên là nước dùng nấu từ xương trong vắt, sợi bánh phở trắng mềm, thịt thái mỏng và hành lá.

Các nguyên liệu dùng trang trí, gia vị và các thức ăn kèm cũng đa dạng hơn. Chẳng hạn như ở Hội An, thuộc vùng Nam Trung Bộ, phở ăn kèm với đậu phộng giã dập, với loại ớt rim với dầu, và đu đủ xanh muối xổi, rau húng quế, ớt tươi, chanh và bánh mì chiên giòn xắt lát ăn kèm.

Sự đa dạng văn hóa ở Sài Gòn, với cộng đồng đông người gốc Hoa và người Campuchia và có thêm nhiều loại nguyên liệu mới, món ăn chuyển biến xa hơn nữa.

Người ta sử dụng đường phèn theo kiểu nấu ăn của người Hoa, dùng củ cải trắng, và nguyên liệu từ món hủ tiếu của người Campuchia, thêm vào nước dùng để cân bằng lại vị mặn và khiến nước dùng ngọt hơn.

"Vị phở Sài Gòn có xu hướng ngọt nhiều hơn mặn, trong khi ở Hà Nội thì vị mặn nhiều hơn ngọt. Còn một điểm khác về Sài Gòn và kiểu nấu ăn của ẩm thực miền Nam là khẩu phần ăn lớn hơn. Vì vậy tô phở cũng bự hơn nhiều," Nguyễn cho biết.

Và trong lúc người Hà Nội khi ăn phở kiểu truyền thống chỉ kèm thêm lá húng Láng, thứ rau thơm chỉ trồng được ở làng Láng của Hà Nội, thì ở Sài Gòn, các loại gia vị khác như tương đen, tương ớt và các thức ăn kèm khác như giá, rau quế, ngò và ngò gai cũng được phục vụ tại bàn để thực khách có thể tự thêm vào món ăn theo ý thích riêng.

"Người Nam rất dễ tính," bà Sương nói. "Họ không quan trọng có thay đổi chút ít trong cách nêm nếm. Thực ra kiểu này khiến họ thấy mới hơn."

Sau khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc vào mùa xuân năm 1975, nhiều người từ miền Nam, hầu hết là ở Sài Gòn, vượt biên đi Mỹ và đến nhiều nơi khác trên thế giới, mang món phở nấu kiểu Nam đi cùng.

Phở bắt rễ ở bất cứ nơi đâu có người Việt sống và giờ đây đã trở thành món ăn nổi tiếng nhất của người Việt.

Nguyễn quan sát rằng khi ẩm thực Việt Nam trở nên nổi tiếng hơn, thực khách nước ngoài bắt đầu được biết đến nhiều kiểu nấu phở và đổi vị, cũng như ẩm thực vùng miền Trung Hoa - từ Sơn Đông đến Tứ Xuyên - cũng ngày càng trở nên thời thượng trong vài năm qua.

"Món ăn đã thay đổi từ món ban đầu do người tị nạn Việt Nam đem đến đây, và trở nên gần hơn với vị mà bạn ăn ở Việt Nam," bà giải thích.

Đổi thay cũng đang diễn ra ở Việt Nam. Các chuỗi hàng phở sử dụng bò nhập khẩu do người Việt từ nước ngoài đem về giờ đây đang định hình lại thị trường phở ở Việt Nam. "Vậy là bạn biết món ăn này có qua có lại, chiều ảnh hưởng rất thông suốt," Nguyễn giải thích.

Bản chất phở là món ăn linh hoạt và dễ thích nghi. Nhưng khi phở tiếp tục biến đổi, thì quan ngại là - như trong vụ món ăn của Gerard - trong quá trình đó món ăn sẽ có thể dần mất đi cái hồn của nó.

"Tôi nghĩ rằng điều quan trọng ở đây là mọi người hiểu xuất xứ của phở. Và với những người thực sự sáng tạo với món này, họ cần phải hiểu món ăn đến từ đâu và tôn trọng những người làm ra nó," Nguyễn nói.

Bà Sương đồng ý công thức nấu không phải dẫm chân tại chỗ, và bà nghĩ rằng không ai có thể nấu phở chính xác như 100 năm trước.

"Truyền thống và hiện đại cần đi song song để phở có thể phát triển," bà nói. "[Nhưng] chúng ta cần phải bảo vệ nguồn gốc của phở để biết nguồn gốc của mình."

*

Phở Sài Gòn

------------------

Pho: The humble soup that caused an outrage
Lili Tu
BBC Travel
22 April 2021

When an American blogger named Tieghan Gerard naively dubbed her quick noodle soup recipe "chicken Pho", it caused a storm in a soup bowl. She was accused of whitewashing the iconic Vietnamese dish and misappropriating a culture and its people. Although the creator of Half Baked Harvest with millions of followers apologised and renamed her recipe "sesame chicken and noodles in spicy broth", many Vietnamese Americans believe the title change was not sufficient and that the issue extends far beyond food, especially with the current rise in hate crimes targeting Asian Americans.

While the culinary catastrophe played out on Instagram and had everyone from chefs to influencers to food lovers up in arms, the upside was that it shone a fresh light on Vietnam's beloved national dish and its long history both in Vietnam and across the world.

Pho, a fragrant, nourishing and gently spiced beef and rice noodle soup, is relatively new in the Vietnamese culinary canon – only appearing in written records in the early 20th Century – but the history of this humble soup is both as subtle and complex as its flavour.

"I have had Pho for all my life, but the story of Pho is very rich," said Andrea Nguyen, acclaimed Vietnamese American cookbook writer and James Beard winner. "And so, you think you know Pho, but you really don't because Pho changes."

While most historians agree that Pho was invented in the late 19th and early 20th Century in northern Vietnam during French colonial times, its origins are murky. Some believe Pho was an adaptation of the French one-pot beef and vegetable stew pot-au-feu, which shares a phonetic similarity to "phở". Others say it was from the Chinese communities who settled in the north of Vietnam and sold a dish called 牛肉粉 (beef with noodles). The Chinese character for 粉 is pronounced "fuh", which is similar to the Vietnamese "phở".

Alex Tran, a Vietnamese chef and food writer who is currently based in New Zealand, suggests the origin of Pho may be a combination of both. "Rice noodles and other spices used in making the broth undoubtedly have a connection with Chinese people in the north. However, beef is not the daily meat of the Vietnamese as we use buffaloes for farming. Only under the French colonial regime did the consumption of beef start to appear and bloom."

Whatever Pho's origins, it is both beloved across the country as its national dish and a matter of fierce local pride and contention, where each region has its own preferred take on the ingredients.

"I personally would call it a dish that unites and tears us apart," Tran said. "This is our national pride, but we would never settle on which type of Pho is the 'real Pho'. If you want to make Vietnamese fight each other, ask them which Pho is the best."

While many overseas Pho connoisseurs will be familiar with Saigon's southern-style of Pho, which has a sweeter broth and a liberal use of garnishes and condiments, the first version of the soup is thought to have originated in the north, 100km south of the Vietnamese capital of Hanoi, in Nam Dinh province.

Here, south of the rich, fertile Red River Delta, a wide flat horizon embraces rice paddies, banana trees and bamboo hedges. This agricultural region, where most of the workforce were traditionally farmers, is also where most of the best-known Pho masters in Vietnam come from. Many of them are linked to the Co family in Van Cu village, south of Nam Dinh city.

The peaceful village is surrounded by traditional green rice paddies that contrast with the red tile house roofs. At the village entrance is a shop with a Pho sign that has hung there for many generations. This is the hometown of Vu Ngoc Vuong and his uncle Co Viet Hung, who at 87 is one of the oldest Pho masters alive. Vu Ngoc Vuong is an award-winning Pho master himself, with a chain of five Pho restaurants plus a rice noodle workshop in Hanoi.

According to Vuong, when not cultivating rice, his ancestors travelled to towns and cities where they worked as street vendors. They made and sold bánh đa cua, a type of river crab soup using the tiny crabs that were abundant in the rice fields to make a seafood broth that's served with a type of white flat rice noodles, similar to Pho noodles. They also ate a traditional soup unique to the region called xáo, which was made with slices of water buffalo meat cooked in a simple bone broth with rice vermicelli noodles, spring onions and herbs.

Although no one is sure exactly how Pho came about, most believe that villagers saw an opportunity in in 1898 when French colonialists started constructing the Nam Dinh textile plant. French technicians and thousands of workers flooded into the region to work on Indochina's largest silk plant, and these two soup dishes were likely combined and modified to cater to French tastes.

"The French like beef so the villagers tweaked it by adding beef to the bánh đa cua," Vuong said. "Also, they were given the discarded bones by the French who came to build the textile plant, so they took them back and boiled those to make the broth. They told us that was how Pho was created."

As construction workers moved from Nam Dinh to Hanoi to work on the Long Bien bridge project, the nourishing noodle soup quickly spread beyond the village. Carrying portable Pho stalls on poles over their shoulders, impoverished villagers followed the construction workers, making a good income from selling Pho, and the meal-in-a-bowl soon became a favourite for people living in the capital.

"The first person from the Co family who brought Pho to Hanoi was Co Huu Vong. If he was still alive, he would be 130 or 140 years old," Vuong said. "He came to Hanoi and rented a house. Young men from the village came and made Pho; they took their mobile stalls around Hanoi during the day and went back to the house to sleep at night."

Co Huu Vong's sons and daughters eventually set up Pho shops in Hanoi's Old Quarter, and a few of those, now run by the third generation, are among the highest regarded Pho vendors in the city, such as Phở Gia Truyền Bát Đàn and Phở Bò Việt Hoà Cụ Chiêu. "Ninety percent of my village have moved to Hanoi to live and run Pho businesses, only 10% have stayed in Nam Dinh," Vuong said.

From here, Pho went in very different directions. In Nam Dinh's version, beef slices are wok-fried with garlic, greens and a piece of tomato, then placed on top of blanched noodles before pouring a huge ladle of the aromatic broth into the bowl. Meanwhile, Hanoians took a far minimalist approach to the dish.

In Hanoi, Pho is all about the quality of the broth, with some feeling that even herbs can distract from the flavour. According to Mrs Bui Thi Suong, a cultural ambassador for Vietnamese cuisine, beef Pho broth in Hanoi is made of just beef bones and beef meat; while chicken Pho broth only has chicken. Heading further south you don't see that same specificity. Bun Bo Hue broth in Hue in central Vietnam, for example, uses both beef and pork plus more complex seasonings.

"The single use of an animal type in broth is very similar to the French cooking, which makes the taste more delicate and refined," Suong said. Today, many purists say that the most "authentic" Pho is from Hanoi.

Vuong believes that the broth is the litmus test of a good Pho. He explained that a good broth should have a deep and sweet flavour from the marrow bones that have been simmering for hours, yet it needs to be clear, amber-like colour and subtly spiced. "Spices used in Pho should be subtle undertones of flavour rather than complex layers. When the customers taste it, they shouldn't feel any spice stronger than others," he said.

Although beef Pho was the go-to in Hanoi up until the mid-20th Century, the dish continued evolving. In 1939, the government tried to curb the slaughtering of cows by forbidding the sale of beef on Mondays and Fridays, and Hanoians had to reinvent Pho to satisfy their cravings. Chicken Pho was embraced by residents of the capital, and today, along with beef, it remains a much-loved version in Vietnam and beyond.

Nguyen says her fondest moment eating Pho in Hanoi was "a spectacular chicken Pho". "By that, I mean it tasted just like my mother's Pho, yet it had all of the chicken parts that I have never eaten before," she said. "The chicken broth was so beautifully made, and it tasted like tonic. It's like a wonderful medicine."

In 1954, as the French colonial period ended and Vietnam divided into two, millions of northern Vietnamese migrated towards the south. Pho came with the migrants to the new lands and was adapted to the local taste, culture and produce of each region. The flavours of Pho could be sweeter, saltier or spicier depending on the degree of local preference. What remained consistent was the clear bone broth, the soft white rice noodles, the tender meat slices and green spring onion. The garnish, condiments and additions are where things diverged. In Hoi An, on Vietnam's south-central coast, for example, Pho is served with crushed peanuts, a local chilli oil called ớt rim, pickled green papaya, Thai basil, fresh chilli, lime and fried baguette slices on the side.

Saigon's cultural diversity, with its large Chinese and Cambodian communities and the availability of new ingredients, further fuelled the dish's evolution. Rock sugar from Chinese cooking, and white radish, an ingredient of Cambodian noodle soup kuy teav, were added to the broth to balance the saltiness and make it sweeter. "The flavour of Saigon Pho tends to be more sweet than savoury, whereas Hanoi is more savoury than sweet. And the other thing about Saigon and southern style foods is that everything is larger. So the bowls of Pho are far bigger," said Nguyen.

And while Hanoians only traditionally used mint from the capital's Láng area, in Saigon, condiments like fermented bean and chilli sauce and garnishes such as bean sprouts, basil, cilantro and rice-paddy herb were placed at the table so diners could customise the soup to their preference.

"Southern people are very easy going," said Suong. "They don't mind a bit of change in the use of seasoning. It is actually refreshing for them."

After the Vietnam War ended in spring 1975, many people from the south, mostly Saigon, fled to the US and other parts of the world, taking southern-style Pho with them. Pho has taken root wherever the Vietnamese are and has now become the most recognised Vietnamese dish around the world.

Nguyen observes that as Vietnamese food becomes more popular, people outside Vietnam are starting to be educated on its many variations and permutations, just as regional Chinese cooking – from Shandong to Sichuan – has becoming increasingly trendy in recent years. "It changes from what was brought over here initially by Vietnamese refugees, and becomes perhaps closer to the experience that you would get in Vietnam," she said.

Changes are happening in Vietnam, too. Imported beef and Pho chains run by expatriate Vietnamese are redefining the Pho landscape in Vietnam. "So you know it goes back and forth, the direction is very fluid," Nguyen added.

Pho by nature is a versatile and easily adaptable dish. But as Pho keeps evolving, the concern – as seen in the outrage over Gerard's dish – is it might lose its soul in the process.

"I think that what's important is for people to understand the origins of Pho. And for people to be really creative with it, they need to understand where Pho came from and appreciate the people who make it," said Nguyen.

Suong agrees that recipes aren't stagnant and thinks that no one could cook Pho exactly like it was 100 years ago. "The traditional and the modern need to be in parallel so Pho can evolve," she said. "[But] we need to protect the origin of Pho so we know our roots."

*

Phở Nam Định






Sách: THẾ LÀ GIÀ! Tư Tưởng Thiền về Tuổi Già với Chút Tự Trào và Tự Hào. Susan Moon (2011). Diệu Liên Lý Thu Linh dịch Việt (2012)

 Sách:

THẾ LÀ GIÀ!
Tư Tưởng Thiền về Tuổi Già với Chút Tự Trào và Tự Hào
Susan Moon (2011)
Diệu Liên Lý Thu Linh dịch Việt (2012)

Nguyên tác: 

THIS IS GETTING OLD
Zen Thoughts on Aging with Humor and Dignity

Tải về bản PDF, song ngữ Việt Anh:
=> https://budsas.net/sach/vn163.pdf

*  MỤC LỤC

Lời giới thiệu
Lời người dịch

Phần I- Những Vết Rạn Trên Thân Tâm
Chương 1: Tôi để bình bát ở đâu?
Chương 2: Vết Nhơ Trên Bầu Trời|
Chương 3: Rời khỏi vị thế Hoa Sen
Chương 4: Ống Thở
Chương 5: Xương Già
Chương 6: Tất Cả Đều Sụp Đổ
Chương 7: Giây Phút Lão Hóa, Giây Phút Tuyệt Vời

Phần II- Những Thay Đổi Trong Các Mối Liên Hệ
Chương 8: Dưới Bóng Mát Cây Đời
Chương 9: Hoán Đổi Giữa Ta và Người
Chương 10: Ngôi Nhà Chung
Chương 11: An Nhiên Tự Tại
Chương 12: Tâm Lão Bà
Chương 13: Vô Ái Dục
Chương 14: Vô Hình, Vô Tướng
Chương 15: Cô Bé Tinh Nghịch Trở Về

Phần III- Trong Cõi Tâm Linh
Chương 16: Uống Trà Với Thượng Đế
Chương 17: Tôi Chẳng Là Tôi Nữa
Chương 18: Không Thể Mang Theo
Chương 19: Chốn Bí Mật
Chương 20: Trò Chuyện Với Người Mẹ Đã Khuất Của Tôi
Chương 21: Hiện Tại
Chương 22: Cô Đơn Giữa Mọi Người
Chương 23: Bao La Cõi Đời

*-----------------*