Wednesday, 25 April 2018

Làm lành, tránh ác, tịnh tâm

Sống tử tế, giữ tâm bình thản để quán sát mọi chuyện trên đời. Chỉ vậy thôi.

Đây chỉ là một cách diễn dịch của riêng tôi (có thể còn sai sót) về lời dạy của Đức Phật trong câu kệ Pháp Cú 183 mà chúng ta đều biết: “Không làm các điều ác, Thành tựu các hạnh lành, Tâm ý giữ trong sạch, Chính lời chư Phật dạy”, hay nói tóm tắt: làm lành, tránh ác, tịnh tâm.

SỐNG TỬ TẾ là làm lành, tránh ác. MỌI CHUYỆN TRÊN ĐỜI là sáu căn tiếp xúc với sáu trần (cảnh), GIỮ TÂM BÌNH THẢN là tu tập để có tâm xả ly, QUÁN SÁT là ghi nhận và hiểu rõ về tính sinh diệt và các duyên tương quan, bản chất vô thường, vô ngã và bất toại ý của các chuyện đó (hay các pháp). Chỉ là một cách nói tóm gọn cho dễ nhớ, là nguyên tắc để áp dụng tu tập, là lý tưởng, là mục tiêu để một phàm phu tục tử tầm thường như tôi luôn ghi nhớ và hướng đến.

Thỉnh thoảng cũng nên dừng lại và tự hỏi về những công việc mình đang làm có giúp được gì cho mình trên con đường đó không? Trao đổi, tranh luận trên Facebook và các diễn đàn khác để làm gì? Tìm thỉnh kinh sách cho nhiều để làm gì? Tham gia các lễ hội để làm gì? Đi chùa, đi hành hương để làm gì? Tham gia các khóa thiền để làm gì? Nghe thuyết giảng, đi học các khóa giáo lý để làm gì? v.v. Tự hỏi và thành thật tự trả lời cho riêng mình.

Mỗi người có một hoàn cảnh, duyên phận khác nhau, không ai giống ai.

-- Bình Anson, 25/04/2018

*
Photo: Chuck Abbe (2010), flickr.com

Sunday, 22 April 2018

Bước ra khỏi cửa – Walking out the door

Tôi có chia sẻ với một bạn trên Facebook là dù muốn dù không, những ai có tuổi trên 50 nên sửa soạn cho mình lúc nghỉ hưu. Dĩ nhiên, đây là áp dụng cho số đông, ngoại trừ các trường hợp đặc biệt.

Khi tôi 50 tuổi, tôi dự định sẽ nghỉ hưu lúc 55. Dành 5 năm để sửa soạn, sắp đặt, từ những chuyện thực tế trong cuộc sống (giải quyết các món nợ, quản lý tiền hưu bổng, phân chia tài sản, v.v.) cho đến sửa soạn tâm lý, tìm hiểu sinh hoạt và đời sống của người già nghỉ hưu, v.v.

Đến khi được 55 tuổi, thấy các con chưa học xong, tôi tiếp tục làm việc thêm 5 năm nữa. Đến lúc 60, chuyện gia đình tương đối ổn định, hai cô con gái tốt nghiệp đại học và có việc làm tốt, tôi quyết định dứt khoát nghỉ hưu, buông bỏ mọi ràng buộc dính mắc của công ăn việc làm, chức danh, địa vị, sự nghiệp, không nhìn lại, không luyến tiếc. Do hoàn cảnh riêng, xem như tôi may mắn có được 10 năm để sửa soạn cho một giai đoạn mới, giai đoạn cuối cùng trong cuộc đời của mình.

Ngày cuối trước khi nghỉ việc, tôi thu dọn mọi thứ tại sở làm, trao tặng tất cả sách báo khoa học kỹ thuật cho các bạn đồng nghiệp. Vốn là con mọt sách, tôi có một tủ sách khá đồ sộ trong lĩnh vực chuyên môn của mình, nhưng tôi không đem đi một tài liệu nào. Trong buổi tiệc chia tay, tôi nói với bạn bè rằng một khi tôi bước ra khỏi cửa nơi nầy – walking out the door – tôi sẽ không quay trở lại. Tuy nhiên, khi bàn giao công việc, tôi nói với ông Trưởng Ban là trong vòng 3 tháng tới, nếu có những vấn đề ông ấy cần tôi đến giúp giải quyết, tôi sẵn sàng trở lại làm giúp mà không tính tiền thù lao, hoàn toàn tình nguyện, miễn phí.

Ba tháng trôi qua, không thấy ai liên lạc với mình. Một ngày trong tháng thứ tư tôi nhận được email của ông ấy nhờ tôi trở lại sở làm, giúp giải quyết vài vấn đề kỹ thuật của công việc. Tôi gửi email từ chối, xin lỗi, vì bây giờ đã hơn 3 tháng sau khi nghỉ việc, tôi đã quên hết, không còn nhớ gì cả. Từ đó, không thấy ai liên lạc với mình về các chuyện liên quan đến công việc xưa nữa.

Ngay cả đến các các đóng góp sinh hoạt Phật giáo trên Internet cũng thế. Tôi đã từng miệt mài xây dựng trang web Phật giáo BuddhaSasana (BudSas), tích cực tham gia thảo luận trên các diễn đàn Phật giáo tiếng Anh và tiếng Việt trong suốt 15 năm. Đến khi cảm thấy đã vừa đủ, tôi ngưng lại, không tiếp tục, không quan tâm nữa. Những việc làm linh tinh khác như dịch sách hay chia sẻ trong Paltalk [*], Facebook, Blog, v.v. bây giờ chỉ là tùy hứng, tùy duyên. Khi nào hết hứng, hết duyên thì ngưng, không ràng buộc, không dính mắc.

Điều quan trọng là sống an vui, thong thả thảnh thơi, tu tập nhẹ nhàng, thoải mái trong những năm tháng còn lại của cuộc đời mình. Chỉ vậy thôi.

Bình Anson
Perth, 22/04/2018 
Ghi thêm (02/04/2022):
[*] Tôi đã chấm dứt mọi sinh hoạt trong PalTalk vì thấy hết hứng, hết duyên. Bây giờ chỉ còn trang Facebook và trang Blog cá nhân này. Một ngày nào đó rồi cũng gửi gió theo mây ngàn bay...

*
  

Thursday, 19 April 2018

Nhạc Việt: Tiếng hát Diễm Liên (1971-)

Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps.

nviet40.zip – Tiếng hát Diễm Liên - Selection (212 MB)
https://mega.nz/#!e1pg0SIC!EWN-WSG9ABdFz-cU8xyB6Kunb-KXMuuYQNbCwfQp1U8

*
Diễm Liên - Selection (04/2018)

01 Bài không tên số 11, Vũ Thành An
02 Chiều về trên sông, Phạm Duy
03 Cho em hỏi, Diệu Hương
04 Cơn mưa phùn, Đức Huy
05 Cuối dòng sông khô, Vũ Thành An
06 Đời đá vàng, Vũ Thành An
07 Giọt nắng bên thềm, Thanh Tùng
08 Khắc khoải, Diệu Hương
09 Kiếp nào có yêu nhau, Phạm Duy
10 Mùa thu xa em, Ngô Thụy Miên
11 Nghìn trùng xa cách, Phạm Duy
12 Người tình trăm năm, Đức Huy
13 Người về, Phạm Duy
14 Nha Trang ngày về, Phạm Duy
15 Nỗi buồn, Văn Phụng
16 Tình khúc tháng 6, Ngô Thụy Miên
17 Xin làm người hát rong, Trần Long Ẩn
18 Yêu là chết trong lòng, Phạm Duy

*

Sunday, 15 April 2018

Thanh tịnh đạo (Visuddhimagga, Path of Purification)

THANH TỊNH ĐẠO (Visuddhimagga, Path of Purification), Luận sư Buddhaghosa

Nhiều bạn đạo hỏi tôi các thông tin về quyển Thanh Tịnh Đạo. Xin chia sẻ:

1) Bản dịch tiếng Anh có thể tải về từ trang web:
=> http://budsas.net/sach/en25.zip
(gửi tin nhắn đến tôi để lấy mật khẩu giải nén)

2) Bản dịch tiếng Việt (dịch từ bản tiếng Anh) của Ni sư Trí Hải có phổ biến tại nhiều trang web PG, đầu tiên do tôi đưa vào Internet:
=> http://budsas.net/uni/u-thanhtinh-dao/ttd-00.htm

hoặc tải về dạng PDF:
     a) http://nuirungvienkhong.wordpress.com/2011/05/30/thanh-tịnh-dạo/

     b) http://budsas.net/sach/vn09.zip

Bản nầy được tái bản in sách nhiều lần tại VN, có thể tìm mua tại các nhà sách PG.

3) Bản dịch tiếng Việt (phần Giới và Tuệ) của Tỳ-khưu Ngộ Đạo, dịch từ nguyên gốc Pāli, do chùa Bửu Quang (Gò Dưa, Thủ Đức) ấn tống. Có thể liên lạc với chùa để thỉnh. Tôi chưa có duyên để thỉnh được bản nầy.

*

Trích lời giới thiệu đầu trang của Ni sư Trí Hải, trong bản dịch từ Anh sang Việt:

– “Visuddhimagga (Thanh Tịnh đạo) do Luận sư Buddhaghosa trước tác vào tiền bán thế kỷ thứ V sau TL, là một bộ sách tóm tắt giáo lý nguyên thuỷ thuộc Pàli tạng, theo một hệ thống đặc biệt dưới những đề mục Bảy thanh tịnh và Ba vô lậu học. Ðây là một chỉ nam rất tốt cho hành giả trong việc thanh lọc bản thân. Sách được Đại đức Nanamoli (người Anh, tu ở Tích Lan) dịch sang Anh ngữ vào năm 1956. Bản dịch này y cứ bản Anh ngữ ấy.”

*

Nhiều năm trước, trong một diễn đàn Phật giáo quốc tế trên Internet, có người đặt ra một câu hỏi để lấy ý kiến của các thành viên về một cuốn sách mà họ xem là quan trọng nhất. Câu hỏi như sau:

– Nếu bạn bị đày ra một đảo hoang và chỉ được phép mang theo một cuốn sách thôi, bạn sẽ chọn cuốn nào?

Có nhiều trả lời khác nhau, tùy theo sự nhận định của mỗi người. Riêng tôi, lúc ấy vừa đọc xong cuốn Thanh Tịnh Đạo, bản dịch tiếng Anh, và tôi rất tâm đắc với cuốn nầy, tôi trả lời ngay lập tức, không do dự: cuốn The Path of Purification (Thanh tịnh đạo, Visuddhimagga).

Ghi thêm: Bạn nào hành thiền trong truyền thống Theravada – cho dù có tên gọi là thiền an chỉ, thiền minh sát, thiền định, thiền tuệ, v.v. – mà chưa đọc cuốn nầy thì theo tôi, là một thiếu sót lớn.

-- Bình Anson, 15/04/2018
*
  

Saturday, 14 April 2018

Nhạc Việt: Tiếng hát Lệ Quyên (1981-)

Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps.

1) nviet39.zip – Lệ Quyên hát nhạc Vũ Thành An, 2014 (111 MB)
https://mega.nz/#!nwQR1aYB!SNiEGu8P4XYn5X9slcuBz0iPxI5XgeOtwqkunPk5hYQ

2) nviet40.zip – Lệ Quyên hát nhạc Trịnh Công Sơn, 2018 (136 MB)
https://mega.nz/#!2pwAFL6C!NDpqlGeO2ApCLlLyjw2zFiYQB3J28qDlPYxwxx942SA

Track list:

(1) Lệ Quyên - Vùng tóc nhớ, Tình khúc Vũ Thành An (PNF, 2014)
01 Bài không tên số 1 - Lệ Quyên
02 Bài không tên số 2 - Lệ Quyên
03 Bài không tên số 3 - Lệ Quyên
04 Bài không tên số 4 - Lệ Quyên
05 Bài không tên số 5 - Lệ Quyên
06 Bài không tên số 6 - Lệ Quyên
07 Bài không tên số 7 - Lệ Quyên
08 Bài không tên số 8 - Lệ Quyên
09 Bài không tên số 9 - Lệ Quyên
10 Bài không tên cuối cùng - Lệ Quyên

(2) Lệ Quyên - Trịnh Công Sơn (Việt Tân, 2018)
01 Ướt Mi - Lệ Quyên
02 Diễm Xưa - Lệ Quyên
03 Sóng Về Đâu - Lệ Quyên
04 Còn Tuổi Nào Cho Em - Lệ Quyên
05 Ru Em Từng Ngón Xuân Nồng - Lệ Quyên
06 Ru Ta Ngậm Ngùi - Lệ Quyên
07 Dấu Chân Địa Đàng - Lệ Quyên
08 Biển Nhớ - Lệ Quyên
09 Ru Đời Đi Nhé - Lệ Quyên
10 Mưa Hồng - Lệ Quyên
11 Phôi Pha - Lệ Quyên
12 Gọi Tên Bốn Mùa - Lệ Quyên

*
  

Friday, 6 April 2018

Đây có phải hình Đức Phật không?

ĐÂY CÓ PHẢI HÌNH ẢNH ĐỨC PHẬT KHÔNG? 

Thỉnh thoảng tôi thấy hình nầy truyền bá trên Internet. Đây có phải hình Đức Phật không?

Có người giải thích đây là do ngài Phú-lâu-na (Purna, Purana, Punna) vẽ khi Đức Phật còn tại thế (41 tuổi), được lưu giữ tại viện bảo tàng Anh quốc. Tôi đã biết đến hình nầy khoảng 20 năm trước, khi một đạo hữu ở Bắc Mỹ gửi cho tôi bản photocopy kèm lời giải thích. Về sau, tình cờ tôi thấy được hình nầy trong trang cuối của một cuốn sách Phật học cũ, xuất bản tại VN trước 1975 (tôi không nhớ tên cuốn sách nầy). Như thế, có thể nói tấm hình và lời giải thích về xuất xứ đã được truyền bá trong 30, 40 năm qua.

Tôi có vài nhận xét như sau:

1) Gương mặt giống như người Tàu (giống dân Mông Cổ), không có vẻ là người Ấn Độ.

2) Râu tóc xồm xoàm, không giống như các tỳ-khưu PG phải cạo râu tóc.

3) Đeo bông tai, một loại trang sức, trái nghịch với giới luật tỳ-khưu.

4) Trong kinh điển, mặc dù có đề cập đến ngài Phú-lâu-na (Punna, Purna), nhưng không thấy nói ngài có tài hội họa, vẽ chân dung.

5) Người Ấn Độ vào thời Đức Phật chưa biết làm ra giấy để viết hay vẽ (giấy là do người Trung Hoa sáng chế vào thế kỷ 1 TL). Cho nên, chuyện vẽ hình Đức Phật trên giấy khi Ngài còn tại thế là chuyện khó tin.

6) Vào thời Đức Phật cho đến khoảng 500 năm sau khi Ngài nhập diệt, người Ấn Độ không có truyền thống vẽ hay tạc tượng các vị đạo sư. Để tưởng nhớ hay để tôn kính Ngài, họ chỉ nắn, tạc hoặc khắc vào đá hình bánh xe Pháp hoặc hình cây và lá bồ đề. Đến khi đoàn quân Hy Lạp xâm lăng và định cư tại miền Tây Bắc Ấn Độ, nghệ thuật tạc hình của Hy Lạp mới được truyền vào Ấn Độ, và từ đó có những hình tượng Đức Phật được tạo ra.

7) Tôi tìm tòi trên mạng, về các cổ vật PG trưng bày tại các viện bảo tàng Anh quốc, chưa bao giờ tìm thấy hình vẽ nầy. Thật ra, tôi chưa bao giờ tìm thấy một hình vẽ nào của Đức Phật – trên giấy hay trên vải – trong thời kỳ cổ xưa đó tại Ấn Độ.

8) Nếu quả thật đây là hình vẽ Đức Phật, lại được lưu giữ tại viện bảo tàng Anh quốc, ắt hẵn đây phải là một di tích quan trọng mà nhiều học giả PG trên thế giới biết đến. Tuy nhiên cho đến nay, qua những sách báo tài liệu về lịch sử và văn hóa PG (bằng tiếng Anh) của các học giả Phật học và các chuyên san Phật học có uy tín, tôi không thấy ai đề cập đến tấm hình nầy.

Vì thế, cho đến khi nào tôi có được những bằng chứng, hay kiến giải, có tính thuyết phục, tôi vẫn cho rằng đây là một hình giả mạo, xuất xứ nguồn gốc không rõ ràng, giải thích không có căn cứ. Chúng ta không nên tiếp tay truyền bá sự giả mạo đó.

-- Binh Anson, 05 September 2014

----------------------------
Ghi thêm (18/05/2020)

Vào tháng 12-2019, “Siam BC Discovery Channel” của Thái Lan có phát hình một chương trình về nhà điêu khắc Pichet Chaiyakul đi tìm khuôn mặt thật của Đức Phật. Ông đi viếng nhiều nơi ở Nepal và Ấn Độ, xem các tượng Phật và chụp hình, quan sát những nét đặc biệt của khuông mặt người Ấn Độ, Nepal. Trong công tác đó, có người giới thiệu ông hình Đức Phật này, nói là chân dung của Ngài lúc 41 tuổi và hiện nay được phát tán rộng rãi trên Internet. Thoạt nhìn, ông không tin, thấy khuôn mặt không có vẻ gì là người Ấn Độ. Rồi ông tìm kiếm thêm thông tin về tấm hình đó.

Ông tìm thấy bài viết này của tôi. Rồi dùng Google Translation dịch sang tiếng Thái. Ông đọc và rất tâm đắc với nội dung của các điểm nêu ra trong bài viết đó. Ông nêu ra từng điểm một bằng tiếng Thái, trong chương trình nói trên, từ phút 10:30 trở đi.

Nghĩ lại thấy cũng hoan hỷ. Tôi viết bài này vào 6 năm trước, 2014, với ý định chỉ phổ biến đến bạn bè Facebook. Vài tờ báo và trang web Việt ngữ đăng lại, phổ biến trên mạng. Có lẽ nhờ bác Gúc Gồ mà bây giờ có thêm vài người Thái biết đến, nhất là trong giới nắn tượng, điêu khắc.

เผยเบื้องลึกการค้นพบใบหน้าที่แท้จริงของพระพุทธเจ้า
Đi tìm những thông tin về chân dung Đức Phật
https://www.youtube.com/watch?v=1cf23hqugzI (time at: 10:40 min)

* Năm 2011, khi còn làm việc ở Hoa Kỳ, ông Pichet Chaiyaku đã nắn một tượng Phật cao 2 mét cho chùa Linh Sơn, Belmont, Michigan.
https://www.youtube.com/watch?v=xRseEAFwpmQ

*



Sunday, 25 March 2018

Nhạc Việt: Tình khúc Phạm Duy 1950-1960

Dành cho những ai thích nghe nhạc Phạm Duy, đã từng theo dõi Chương trình Phạm Duy mỗi tối Thứ Sáu trên đài Phát thanh Sài Gòn trước 1975. Mỗi bài hát đều có lời giới thiệu của nhạc sĩ Phạm Duy, với các giọng hát quen thuộc của Sài Gòn ngày xưa: Thái Thanh, Lệ Thu, Khánh Ly, Duy Trác, Anh Ngọc, Sĩ Phú, Duy Khánh, Thanh Tuyền.

Âm thanh thu trước 1975, nghe không rõ ràng và phong phú như các đĩa CD hiện đại, nhưng đây là kỷ niệm một thời đã qua. Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps.

nviet38.zip – Tình khúc Phạm Duy 1950-1960 (Tape, 205 MB)

*

Saturday, 24 March 2018

Hoàn thành ước nguyện: Hành trình xuyên Việt

Trong 50 năm qua, từ khi còn là học trò trung học, tôi có ước nguyện đi xuyên Việt, ngắm nhìn quang cảnh dọc theo bờ biển hình chữ S của Việt Nam, từ nam ra bắc.

Trong các chuyến về Việt Nam công tác trong thập niên 1990 và sau đó, cùng với bạn bè đi du lịch tham quan trong 15 năm qua, tôi đã có dịp đi dọc theo bờ biển từ Móng Cái – sát biên giới Trung Quốc, xuống tận Thanh Hóa. Rồi từ Hà Tiên – sát biên giới Camphuchia, xuống Cà Mau, đi ngược lên Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến tre, Vũng Tàu, Phan Thiết, Phan Rang, v.v. cho đến Thừa Thiên và Quảng Trị.

Nếu các bạn trong trang Facebook của tôi còn nhớ, vào khoảng năm 2014 tôi có tâm tình, ngỏ ý muốn hoàn tất tham quan đoạn đường ven biển còn lại – từ Quảng Trị đến Vinh. Vào tháng 2-2017, tôi về Việt Nam. Dù chân vẫn còn đau vì bị gút, tôi đã cố gắng tìm được cơ hội đáp máy bay đến Đà Nẵng. Ở đó hai ngày, rồi thuê xe đi theo Quốc lộ 1A đến Quảng Trị, viếng Đông Hà, qua cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải, đến ngủ một đêm tại Đồng Hới. Rồi vượt qua sông Gianh (ranh giới Nam-Bắc trong thời Trịnh-Nguyễn) đến Hà Tĩnh và cuối cùng đến thành phố Vinh. Ở Vinh hai ngày, tham quan thành phố rồi đáp máy bay về Sài Gòn.

Như thế, xem như tôi đã hoàn thành ước nguyện ấp ủ bấy lâu nay.

Bình Anson
Tháng 3-2017

*

Friday, 23 March 2018

Vài kinh nghiệm đi hành hương, thăm viếng các địa điểm lịch sử Phật giáo

Tôi thích đi hành hương, thăm viếng các địa điểm lịch sử Phật giáo với một nhóm nhỏ để được chủ động. Có những chuyến đi (Sri Lanka, Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia) chỉ có hai vợ chồng, thuê xe nhỏ với tài xế kiêm hướng dẫn viên, do chư tăng ni hay bạn bè giới thiệu hoặc tìm thông tin trong những trang web về du lịch. Tuy hơi đắt, nhưng mình chủ động, tiết kiệm thì giờ, đi viếng được nhiều nơi. Có khi đến nơi rồi mới tìm xe taxi, do nhân viên khách sạn giới thiệu, rồi thương lượng với tài xế. Có khi dùng những phương tiện di chuyển bình dân như xe lôi, xe ôm, xe lửa, xe buýt, ghe tàu.

Trước khi đi, tôi tìm thông tin trên Net, qua các tài liệu du lịch, sách hành hương. Soạn chương trình, lập hai danh sách các địa điểm mình muốn đến viếng, và lộ trình đi đến các điểm đó. Danh sách 1 là các điểm ưu tiên, phải đến viếng bằng mọi cách. Danh sách 2 là các điểm tùy duyên, linh động theo hành trình.

Là Phật tử, tôi tin có chư thiên bảo hộ cho những ai có lòng thành tín trong các thiện sự. Trước khi lên đường và trong suốt cuộc hành trình, hằng ngày tôi tụng kinh tán dương Ân đức Tam Bảo – có khi tụng ra lời, có khi chỉ tụng thầm trong tâm tùy duyên, rồi rải tâm Từ đến mọi loài chúng sinh kể cả chư thiên, xin chư thiên hộ trì cho chuyến đi. Có những sự cố xảy ra bất ngờ nhưng đều được giải quyết tốt đẹp. Có những sự kiện xảy ra rất lạ lùng, mầu nhiệm mà mình không thể giải thích được, nhưng giúp cho mình tăng thêm niềm tin nơi Tam Bảo.

-------------
Ghi thêm: Hành trang cần phải đơn giản gọn nhẹ. Không cần có những loại lễ phục lụng thụng, quần áo kiểu cọ màu mè. Chỉ vài bộ quần áo là đủ. Khi cần thiết, hoặc có khi hành lý bị thất lạc, có thể mua thêm trên đường đi. Mình đi hành hương để giúp tăng trưởng tâm linh, không phải để đóng phim, chụp hình, khoe khoang với người khác.

*

Thursday, 22 March 2018

Viên mãn tâm nguyện: Bốn nơi động tâm và sáu nơi kết tập kinh điển

Trong 15 năm qua, tôi có tâm nguyện là sẽ tìm cơ hội, cố gắng thu xếp để đến viếng thăm chiêm bái các địa điểm lịch sử Phật giáo có ảnh hưởng sâu đậm trong đời sống tâm linh của tôi:

1) Bốn nơi động tâm: 
1.1) Nơi ngài Bồ-tát đản sinh (Lumbini, Nepal),
1.2) Thành đạo (Bodh Gaya, Ấn Độ),
1.3) Chuyển Pháp luân (Sarnath, Ấn Độ) và
1.4) Bát-niết-bàn (Kusinara, Ấn Độ).

2) Sáu nơi kết tập, trùng tuyên kinh điển: 
2.1) Hang Sattapani (Rajgir, Rajagahar, Vương Xá, Ấn Độ),
2.2) Patna (Pataliputta, Hoa Thị Thành, Ấn Độ),
2.3) Vesali (Tỳ-xá-li, Ấn Độ),
2.4) Aluvihara (Matale, Sri Lanka),
2.5) Kuthodaw Paya (Mandalay, Myanmar) và
2.6) Mahapasana Cave (Yangon, Myanmar).

Sau chuyến du hành Myanmar vào tháng 2-2016 vừa qua, xem như tôi đã hoàn mãn các tâm nguyện quan trọng của đời mình. Trong tương lai, nếu có cơ hội và nếu có đủ điều kiện về sức khỏe và tài chánh, có thể tôi sẽ đi thăm viếng các địa điểm lịch sử Phật giáo khác, nhưng đối với riêng tôi, đó chỉ là những địa điểm tùy duyên, không quan trọng, không tha thiết.

Xin chia phần phước báu thanh cao đã tạo ra trong các chuyến hành hương trong các năm qua đến tất cả bà con họ hàng, bạn bè, thầy cô, chư thiên và tất cả chúng sinh trong cõi Ta-bà nầy.

_()_ _()_ _()_

--------------
Ghi thêm: Vì không đủ chỗ, trong hình đầu còn thiếu hình của kinh đô Hoa Thị Thành xưa (Pataliputta) của vua A Dục (Asoka), nơi kết tập kinh điển lần thứ III. Ngày nay chỉ còn lại các nền đất và các cột trụ gãy đổ ở công viên Kumhrar, thành phố Patna, bang Bihar của Ấn Độ. Xem hình tiếp theo bên dưới.

*

   
Công viên Kumhrar, thành phố Patna
Bốn nơi động tâm & Sáu nơi kết tập kinh điển

Sunday, 11 March 2018

Cơm bình dân, sách căn bản

Bây giờ già rồi, đã từng tham dự các buổi tiệc tùng liên hoan, không còn ham mấy thứ đó nữa. Tôi rất ngại đi ăn các bữa tiệc buffet linh đình vì bây giờ bụng mình đã yếu, không tiêu hóa được nữa. Chỉ thích ăn đơn giản với vài món bình dân, vừa miệng, vừa bụng mình.

Sách vở cũng thế. Tật mê sách vẫn còn. Thấy bạn bè khoe hình ảnh các sách mới làm mình cũng ham, cũng động tâm muốn xin vài cuốn để trưng bày trên kệ sách cho đẹp. Nhưng rồi thôi, tự ngăn lòng mình lại. Thỉnh sách cho nhiều để làm gì? Có đủ thì giờ và quyết tâm để đọc không? Hay là chỉ để thỏa mãn lòng hiếu kỳ và bản ngã?

Thôi thì trở về với các cuốn sách căn bản, trong đó, tác giả trích dẫn, tham chiếu các nguồn kinh điển một cách nghiêm túc, rõ ràng. Tuy lời văn khô khan với những thuật ngữ cổ xưa, không có những từ ngữ thời thượng, không chứa các ý tưởng hấp dẫn theo trào lưu, nhưng đó là kết quả của sự nghiên cứu cẩn trọng có hệ thống, có chiều sâu, có giá trị lâu dài.

-------------------
GHI THÊM:
Đây chỉ là tâm tư của một ông già đã từng ăn tiệc buffet nhiều rồi. Bây giờ đã chán mà bụng cũng đã yếu, không tiêu hóa được, cho nên phải quay về các món căn bản, dễ tiêu hóa hơn. Còn những bạn trẻ khác, háo hức muốn tìm ăn thử đủ món cho biết thì cũng tốt, không sao cả. Tiệc buffet cũng có cái hay của nó. Mỗi người có hoàn cảnh, có nhu cầu khác nhau. Không ai giống ai. Quan trọng là phải thành thật chiêm nghiệm xem có ích lợi gì cho cuộc sống của mình. Sưu tập kinh sách cũng tương tự như thế. Chỉ vậy thôi.

*

Friday, 9 March 2018

Nhạc Việt: Hà Thanh (1937-2014), Họa mi xứ Huế

 
Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps.

nviet37.zip – Tiếng hát Hà Thanh, Họa mi xứ Huế (3 CDs, 345 MB)
https://mega.nz/#!fx4jnSBK!ZRx9v4kDfeEWGw49ihVCYW3x3yF7E5p2p2sz8Oh6xG8

*
CD HẢI NGOẠI THƯƠNG CA
01. Nhớ Huế (Lê Mộng Nguyên)
02. Bóng Mát (Phạm Thế Mỹ)
03. Nhớ Một Chiều Xuân (Nguyễn Văn Đông)
04. Từ Đàm Quê Hương Tôi (Nguyên Thông)
05. Mấy Dặm Sơn Khê (Nguyễn Văn Đông)
06. Khúc Tình Ca Xứ Huế (Trần Đại Mỹ)
07. Khúc Hát Thanh Xuân (Johann Strauss, lời Việt: Phạm Duy)
08. Hải Ngoại Thương Ca (Nguyễn Văn Đông)
09. Mưa Rơi (Ưng Lang)
10. Đêm Tàn Bến Ngự (Dương Thiệu Tước)

CD CHINH PHỤ CA
01. Quê hương (Hoàng Giác)
02. Giọt mưa thu (Đặng Thế Phong)
03. Suối mơ (Văn Cao & Phạm Duy)
04. Đêm đông (Nguyễn Văn Trương & Kiêm Minh)
05. Chinh phụ ca (Phạm Duy)
06. Em đế thăm anh một chiều mưa (Tô Vũ)
07. Tà áo xanh (Đoàn Chuẩn & Từ Linh)
08. Gửi gió cho mây ngàn bay (Đoàn Chuẩn & Từ Linh)
09. Nụ cười sơn cước (Tô Hải)
10. Bến Xuân (Văn Cao & Phạm Duy)

CD CHIỀU MƯA BIÊN GIỚI
01. Chiều Mưa Biên Giới (Nguyễn Văn Đông)
02. Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp (Nguyễn Văn Đông)
03. Tôi Đi Giữa Hoàng Hôn (Văn Phụng)
04. Thiên Thai (Văn Cao)
05. Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui (Trịnh Công Sơn)
06. Tiếng Xưa (Dương Tiệu Tước)
07. Nỗi Niềm (Tuấn Khanh)
08. Cô Nữ Sinh Đồng Khánh (Thu Hồ)
09. Chiều Vàng (Nguyễn Văn Khánh)
10. Khối Tình Trương Chi (Phạm Duy)

* * *
   

QUÀ hay PHƯỚC?

QUÀ hay PHƯỚC?

Nhiều năm trước, một chị bạn Phật tử gốc Singapore mời chúng tôi đến nhà chị ăn mừng sinh nhật 50. Trong thư mời, chị có ghi là không nhận quà mà chỉ nhận phong bì. Chúng tôi rất ngạc nhiên, vì gia đình chị rất giàu, là một trong những đại gia tại Perth.

Trong bữa cơm họp mặt, chị nói rằng bây giờ chị không cần có thêm tiền bạc hay quà tặng, nhưng cần có thêm phước cho tuổi già và cho đời sau. Vì thế, chị sẽ dùng số tiền từ phong bì của bạn bè mang đến tặng để tạo phước – cúng dường các chùa và đóng góp vào các hoạt động cứu trợ từ thiện, và chia phần phước ấy đến cho mọi người.

Tôi rất ấn tượng về nghĩa cử cao đẹp ấy, và từ đó, vợ chồng tôi cũng thực hiện theo ý tưởng nầy. Trước ngày sinh nhật vài tuần lễ, tôi nói với mọi người trong gia đình rằng tôi không muốn có một bữa tiệc đặc biệt hay quà tặng gì cả. Nếu muốn, chỉ cần làm một bữa cơm đơn giản, thân mật trong gia đình. Thông thường, trong dịp đó chúng tôi làm thức ăn mang đến chùa để cúng dường chư Tăng Ni; và nếu có được các phong bì, tôi dùng để đóng góp vào các Phật sự và thiện sự.

*
 

Tuesday, 27 February 2018

Lễ tang đơn giản nhưng ý nghĩa

JUDY RUSHFORTH

Hôm Chủ Nhật vừa qua, 25/02/2018, tôi đến Trung tâm PG Dhammāloka dự buổi lễ tưởng niệm (memorial service) bà Judy Rushforth, một hội viên kỳ cựu của Hội Phật giáo Tây Úc.

Bà qua đời tuần trước tại nhà riêng. Ra đi nhẹ nhàng sau một giấc ngủ đêm rồi không mở mắt thức dậy nữa. Tôi quen biết bà hơn 30 năm, từ khi bà đến với Hội, hoạt động đóng góp tích cực trong các sinh hoạt, giữ nhiều chức vụ trong ban trị sự, và đã từng cùng tôi tham gia nhóm hướng dẫn các khóa thiền cho người bắt đầu.

Theo lời bà căn dặn khi còn sống, lễ tang được thực hiện đơn giản và nhanh gọn. Gia đình liên hệ với dịch vụ tống táng để họ đem xác từ bệnh viện về, liệm trong quan tài làm bằng loại giấy bìa cứng tái chế (recycled cardboard), rồi đem thẳng đến lò hỏa thiêu của nghĩa trang thành phố.

Hội Phật giáo và các bạn đạo tổ chức một buổi lễ tưởng niệm, thỉnh mời ngài Ajahn Brahm và chư Tăng Ni đến hành lễ. Mọi người cùng ngồi hành thiền khoảng 10 phút, hướng tâm từ đến bà, rồi cùng nhau tụng đọc bài kinh Lòng Từ bằng tiếng Anh (Discourse on Loving-kindness, Metta Sutta). Sau đó ngài Ajahn Brahm và Ni sư Hasapanna có đôi lời về bà. Tiếp theo, các hội viên lần lượt nói về các kỷ niệm đẹp với bà trong sinh hoạt tu tập và đóng góp cho Hội, và chúc nguyện cho bà sớm tái sinh vào các cõi lành.

Buổi lễ kết thúc sau khoảng một giờ đồng hồ. Mọi người ở lại, chia buồn với tang quyến, trò chuyện, ăn bánh, uống trà rồi ra về. Tôi rất ấn tượng với cách thức tổ chức lễ tang như thế này. Đơn giản, thân mật, có ý nghĩa, nhanh gọn, không tốn hao hoang phí.

Khi về nhà ăn cơm chiều, tôi nói với bà xã và cô Ba là khi tôi chết, tôi muốn có lễ tang tổ chức đơn giản tương tự như thế.

Nguyện cho bà sớm tái sinh nơi nhàn cảnh. _()_

* Mời nghe bài kinh Lòng Từ tiếng Anh: http://budsas.net/dlpp/bai09/metta_dhammasara_eng.mp3

*



Thursday, 22 February 2018

Một buổi thiền đặc biệt

MỘT BUỔI THIỀN ĐẶC BIỆT.

Hôm qua tôi đến một bệnh viện nhỏ gần nhà để nội soi dạ dày (gastroscopy). Công việc đó cũng đơn giản, nghe bác sĩ nói chỉ 10 phút là xong, nhưng bệnh nhân phải được gây mê trước khi nội soi.

Đến đó lúc 3 giờ trưa. Sau khi làm thủ tục giấy tờ, họ đưa tôi vào phòng. Phát cho bộ áo, bảo phải tháo bỏ tất cả y phục trên người và chỉ mặc vào cái áo bệnh nhân. Vừa thay đồ vừa ngẫm nghĩ: Thì ra thế! Sang hèn xấu đẹp gì rồi cũng thế thôi. Phải bỏ đi tất cả, chỉ còn một tấm vải đắp vào người, ai cũng như ai. Ai rồi cũng phải bệnh. Vào đó thì bỏ tất cả, chỉ còn lại tấm thân trần trụi. Chỉ còn có bấy nhiêu đó thôi.

Họ đưa lên giường nằm đợi bác sĩ đến gây mê. Thay vì suy tưởng vu vơ, tôi tự bảo hãy xem đây là một dịp tốt để mình hành thiền trong tư thế nằm. Nhẹ nhàng theo dõi hơi thở vô ra, đến khi thật an tịnh, rồi nhìn lại thể xác nầy, tâm thân tứ đại. Nó là như thế, rất mong manh mà cũng rất diệu kỳ, đã hoạt động hơn 60 năm trời không ngừng nghỉ. Nhưng rồi nó cũng suy thoái và đến lúc nào đó sẽ ngưng hoạt động.

Khi tuổi thọ hết, cũng có thể mình sẽ ở trong hoàn cảnh tương tự như thế nầy. Nằm đó trơ trọi một mình, không ai chung quanh, và mình có chịu chấp nhận để ra đi thanh thản không? Không có khả năng làm gì được nữa mà cũng không còn có gì để bám víu vào đó. Còn có gì để luyến tiếc, lo sợ? Lúc ấy, điều mình có thể làm được là giữ tâm thanh thản, hướng về Tam Bảo với lòng tín thành để ra đi.

Muốn được như thế thì mình phải tập ngay từ bây giờ. Đây là một cơ hội tốt để mình thực tập. Tôi bắt đầu chuyển sang tụng Ân đức Tam Bảo bằng tiếng Pāli. Tụng thầm trong đầu, chậm rãi, nghĩ đến ý nghĩa từng câu tụng. Tụng tới tụng lui, trong lòng cảm thấy an vui, nhẹ nhàng.

Cứ như thế mà thời gian trôi qua rất nhanh cho đến khi bác sĩ cùng cô y tá đến đẩy giường vào phòng nội soi. Tôi chuyển sang ý nghĩ xem như thân nầy không phải là ta, là của ta nữa. Buông xả, xem nó như một cỗ máy sinh vật lý nào đó, phó mặc nó cho bác sĩ và các chuyên viên y tế xử lý. Tôi nhẹ nhàng rãi tâm từ và hướng lòng tri ân đến tất cả mọi người trong phòng nội soi, rồi ngủ mê lúc nào không biết.

Đến khi mở mắt thức dậy thì thấy họ đã đưa mình về phòng cũ. Ông bác sĩ đứng bên cạnh, mỉm cười, giải thích kết quả, và đề nghị tôi trở về gặp lại bà bác sĩ gia đình để lấy toa thuốc mới mà ông sẽ gửi kết quả và các đề nghị chữa trị đến bà ấy.

Theo đúng quy trình, tôi nằm thêm khoảng 30 phút nữa cho thật tỉnh táo. Nhâm nhi càfê sữa, nước trái cây với bánh mì sandwich. Sau đó, bệnh viện gọi điện thoại cho bà xã lái xe đến đưa mình về. Về đến nhà là đúng 6.30 giờ chiều. Xem như tôi đã có một buổi thiền tập đặc biệt trong 3 giờ đồng hồ.

Đây cũng là một dịp hiếm có để cho bà ấy làm tài xế, còn mình thì ngồi trong xe thoải mái ngắm nhìn quang cảnh đường phố.

Hình ảnh minh họa, Google

Thursday, 15 February 2018

Suttanipāta (Kinh Tập, Tiểu Bộ) – Nhân duyên

SUTTANIPĀTA (Kinh Tập, Tiểu Bộ) – Nhân duyên

Trong chuyến du hành sang Cairns (bang Queesnland, Úc châu) thăm cô Hai vào đầu tháng 2 năm nay (2018), tôi mang theo cuốn Suttanipāta (Kinh Tập), bản dịch Anh ngữ mới nhất của ngài Bhikkhu Bodhi. Trong những ngày mưa tầm tã, tôi ở nhà cô Hai ngồi đọc tập kinh.

Rồi lang thang lướt web, tìm các bản dịch khác của tập kinh nầy. Từ trang web nầy sang trang web kia, tình cờ tìm được bản dịch Anh ngữ dạng thi kệ của ông Laurence Khantipalo Mills do Bhikkhu Sujato nhuận sắc lại. Dịch giả ngày xưa là một tu sĩ Theravāda, Phra Khantipalo, đã có nhiều công đức hoằng pháp tại Úc trong hai thập niên 1970-1980, và viết, dịch nhiều sách Phật giáo. Ngài là vị tu sĩ Nam tông đầu tiên dẫn dắt tôi đến với Phật giáo Nam truyền. Tôi luôn ghi nhớ công ơn đó.
(có thể đọc thêm: http://budsas.blogspot.com/2014/07/toi-tro-thanh-nguoi-tu-hoc-theo-ao-phat.html)

Sau khi giải y hoàn tục, ngài mở một thiền đường tại Cairns dung hợp các tông phái Phật giáo. Tôi có điện thoại thăm ngài vài lần rồi mất liên lạc. Qua lời giới thiệu trong bản dịch tập kinh, tôi được biết ngài bị đột quỵ và hiện nay được chăm sóc tại một nhà dưỡng lão của bang Victoria. Bản dịch nầy là dịch phẩm cuối cùng trước khi ngài lâm bệnh, bản thảo được Bhikkhu Sujato nhuận sắc và cho xuất bản.

Từ chuyện nầy lại nhớ chuyện kia. Tôi bỗng nhớ thêm một thông tin khác là Khun Vichai, một người bạn Phật tử gốc Thái tại Perth ngày trước, có lẽ bây giờ cũng sinh sống ở Cairns. Anh là người giới thiệu vợ chồng tôi đến với Hội Phật giáo Tây Úc khoảng 40 năm trước. Nhờ đó, tôi được gặp và được nghe Phra Khantipalo giảng dạy, hướng dẫn. Tôi vội gửi email về Perth hỏi thêm thông tin về Vichai, và cuối cùng liên lạc được anh ấy. Vợ chồng tôi ngồi ăn trưa với anh ấy và tâm tình suốt hai giờ đồng hồ sau hơn 30 năm xa cách.

Trên đời có nhiều chuyện diệu kỳ, thích thú như thế. Tuy nhiên cũng phải bắt đầu bằng một tác ý tốt lành. Ở đây là tác ý phát tâm mang theo và đọc cuốn Suttanipāta.

*
  

Sunday, 11 February 2018

The Wings to Awakening - An Anthology from the Pali Canon

The Wings to Awakening - An Anthology from the Pali Canon
(Các chi phần đưa đến giác ngộ - Hợp tuyển Kinh điển Pali)
Translated and Explained by Thanissaro Bhikkhu (1996, 2010)

Download PDF copy:
https://www.dhammatalks.org/Archive/Writings/wings_complete_v111219.pdf

CONTENTS

Acknowledgments
Abbreviations
Preface: How to Read This Book
A Table of the Wings to Awakening

I. The Seven Sets
II. The Factors of the Seven Sets classed under the Five Faculties

Introduction

PART I: BASIC PRINCIPLES
A. Skillfulness
B. Kamma & the Ending of Kamma

PART II: THE SEVEN SETS
A. The Treasures of the Teaching
B. The Four Frames of Reference
C. The Four Right Exertions
D. The Four Bases of Power
E. The Five Faculties
F. The Five Strengths
G. The Seven Factors for Awakening
H. The Noble Eightfold Path

PART III: THE BASIC FACTORS
A. Conviction
B. Persistence
C. Mindfulness
D. Concentration: Abandoning the Hindrances
E. Right Concentration
F. Concentration & Discernment
G. Equanimity in Concentration & Discernment
H. Discernment: Right View
   i. The Four Noble Truths
   ii. The First Truth
   iii. The Second & Third Truths
   iv. The Fourth Truth

Glossary
Index
Bibliography
*


Sutta Nipāta (Kinh Tập): The Discourse Group, translated by Ṭhānissaro Bhikkhu

Sutta Nipāta: The Discourse Group, translated by Ṭhānissaro Bhikkhu (revised Jan. 8, 2018)

This is a translation of the entire collection of 72 suttas, which includes some of the longer and more famous poems in the Pāli Canon, such as the Discourse on Goodwill (Karaṇīya-Mettā Sutta), the Discourse on Treasures (Ratana Sutta), and the Discourse on Protection (Maṅgala Sutta). It also contains two sets of poems considered to be deep expressions of advanced points of doctrine: the Aṭṭhaka Vagga, on the theme of non-clinging, and the Pārāyana Vagga, in which the Buddha answers questions posed by adepts in concentration practice. The collection also contains three suttas with rare biographical information of the Buddha’s early life.

Download PDF copy:
https://www.dhammatalks.org/ebook_index.html#/Archive/Writings/SuttaNipata180108.pdf

*



Thursday, 8 February 2018

The Sutta Nipāta (Kinh tập) - A poetic translation by Laurence Khantipalo Mills

The Sutta Nipāta (Kinh tập)
A poetic translation by Laurence Khantipalo Mills


PREFACE
How this translation came about

In the final stage of his life’s journey two things have stood out. The first is that—despite occasional outbursts—he maintains a remarkable and largely unswerving good humour, seeming to find joy in the simplest of things. The second is his continued devotion to the Dharma. Even in his current state of what is now advanced dementia , the visit by a Sangha member always produces a visible and profound sense of respect and joy in him. This is always inspiring to observe.

In writing this introduction, I had thought to write just a little about how the translation came to be. In doing so, I found myself telling the recent life history of Laurence Khantipalo Mills. I had not intended to do so, but the two are inextricably linked.

As a Theravada monk, Phra Khantipalo traveled widely throughout Australia teaching and proclaiming the Dhamma in the mid-1970’s and early 1980’s. Many people became students and many made the trek to Wat Buddhadhamma, the monastery and lay community he established with Ayya Khemma. Those interested in these details of Laurence’s life will find material online so there is no need to say more here.

In the mid-1990’s, while still a monk, Phra Khantipalo’s life changed profoundly as a result of meeting his Dzogchen Master Chogyal Namkhai Norbu in the USA. Practising the Dzogchen teachings became a catalyst for disrobing and becoming a non monastic practitioner for Laurence. He moved to far north Queensland, married and established the Bodhicitta Buddhist Centre.

Jump then to the summer of 2009. Laurence had been invited down to the Victorian countryside by a student but a bushfire nearby had forced an evacuation to the safety of Melbourne. He found a temporary home with a fellow Dzogchen practitioner where he resided for a short time until he left again for far north Queensland.

We were aware that Laurence had suffered a stroke in 2005 and on this trip there were clear signs that it had affected his cognition. He still spoke eloquently of the Dharma, but there were gaps in his talks, when he lost words, lost the thread, only to pick it up again. He murmured of taking robes again. The dissolution of his ten year marriage and the subsequent demise of the Bodhicitta Buddhist Centre, had led him to consider where he belonged. He became aware of his lack of practical living skills, fragility and most importantly the isolation from his wider Sangha friends in NSW and Victoria.

Even though I doubt Laurence had ever thought of Melbourne as home, he reappeared again early the next year and began the monastic journey one more time, taking robes as a novice in the Mahayana tradition under Ven. Thich Phuoc Tan—once a student of his, but now the abbot of Quang Minh temple. He was ordained Ven. Minh An, meaning Peace with Wisdom, and was supported with much care and respect. However by this time the effects of his stroke and an associated vascular dementia were starting to take hold. Laurence was unable to sustain his practice and unable to remain at Quang Minh.

Things immediately looked a bit grim. A few old students, including Gary and myself, had been providing some small support. None of us could envisage Laurence living happily in an aged care facility even if that was what was being recommended.

Again an old student, now also a Dzogchen practitioner, stepped forth and offered Laurence a temporary home. Those two weeks of respite in January 2011 became 20 months of care. It wasn’t an easy time because Laurence could not be left for any length of time in case he should wander off. Various people materialised to fill in gaps and offer support.

When Laurence did go out, with friends, he carried in his shoulder bag a small red book. In it were his handwritten notes of a new translation of the Sutta Nipāta started many years before, but still incomplete. This was obviously precious to him because he carried it everywhere he went. Gary remembers him saying that he felt the previous translations had failed to capture the subtlety of the Pali language. It was Laurence’s aim to draw this out in a readable fashion. I didn’t get as much detail, but over a cup of tea one day Laurence said that what he aimed to achieve was a poetic translation. I understood this to mean that his translation would have life and vitality. It would not be just a dry rendition of an ancient text.

Still the text was unfinished. Laurence, although he sat at his desk, could no longer organise his thoughts. Important though it clearly was to him, there was no more progress on the Sutta Nipāta. Laurence’s health deteriorated and, in late 2012 he finally had to go into an aged care facility. Things languished at this point, and those around Laurence were simply concerned to establish his well being and comfort as best they could in the new setting.

Then sometime in 2013, among a collection of books and effects shipped from Queensland, Gary discovered a typewritten—but incomplete— copy of the text. Efforts to locate who may have typed the document failed. We did not have a digital copy but Gary conceived the idea of completing and publishing the Sutta Nipāta in tribute to Laurence and in appreciation of the importance the project had held for him. In order to achieve this, two things needed to occur: firstly, the text had to be transferred into a digital format so that it could be manipulated, corrected and the missing sections completed. Secondly, there needed to be a suitably qualified person who was willing to look at the text, correct inconsistencies and minor errors of the parts which were illegible and then, hopefully, to provide a translation of the missing text. Somehow this came together.

Here are the acknowledgements to those who made it happen: To Bhante Sujato, who kindly offered to read and complete the text and who has provided energy and enthusiasm in abundance. Only in looking at what he has done do I realize what a task this has been. To Gary Dellora, whose vision and dedication drove the process; to Sean Read who painstakingly scanned and corrected the text into a format from which it could be edited; to Dammika Pereira who provided support and advice; and Michael Wells who assisted with proofing. Nothing that follows could have been achieved without their efforts and we are indebted to them for their commitment and generosity of spirit.

Just a closing word on Laurence, whose health continues it’s long slow decline. In the final stage of his life’s journey two things have stood out. The first is that—despite occasional outbursts—he maintains a remarkable and largely unswerving good humour, seeming to find joy in the simplest of things. The second is his continued devotion to the Dharma. Even in his current state of what is now advanced dementia , the visit by a Sangha member always produces a visible and profound sense of respect and joy in him. This is always inspiring to observe.

There remain a number of dedicated people who surround Laurence. Some are staff, some are friends. All contribute to his well being. Whatever merit may accrue from this publication, we offer it to all beings, but especially to all those who have assisted in his journey over the last few years. This book could not have arisen with out them.

Michael Wells and Gary Dellora
Melbourne, Australia, 2015.

*
Contents

Preface
Foreword

1   FIRST CHAPTER
1.1   The Serpent Sutta
1.2   With the Cattle-owner Dhaniya
1.3   The Rhino Horn
1.4   The Farmer Bhāradvaja
1.5   To the Smith Cunda
1.6    Disaster
1.7    Who is the Outcaste?
1.8    Loving-kindness
1.9    Sātāgira and Hemavata the Yakkhas
1.10  With the Yakkha Āḷavaka
1.11  Victory Over Fascination
1.12  The Sage Inwardly Silent

2  THE MINOR CHAPTER
2.1   The Threefold Gem
2.2   The True Meaning of “Stench”
2.3   Conscience
2.4   The Supreme Good Omens
2.5   To the Yakkha Sūciloma
2.6   Wrong Conduct in the Bhikkhu’s Life
2.7   How Brahmins Lived by the Dharma
2.8   Dharma as a Boat
2.9   What is Good Conduct?
2.10  Wake up! Make an Effort!
2.11 Teaching Rāhula
2.12 Vaṅgīsa’s Questions
2.13  Perfection in the Wandering Life
2.14  To Dhammika

3  THE GREAT CHAPTER
3.1    The Leaving Home of Gotama
3.2    The Striving of Gotama
3.3    The Well-spoken
3.4    To Sundarika-Bhāradvāja
3.5    To Māgha
3.6    Sabhiya’s Questions
3.7    To Sela
3.8    Dart of Death
3.9    To Vāseṭṭha
3.10  To Kokāliya
3.11  The Sages Asita and Nālaka
3.12  Observation of Dualities

4  THE CHAPTER OF EIGHTS
4.1    Objects, Desires and Pleasures
4.2    The Body as a Cave
4.3    Corruptions
4.4    Purity
4.5    The Ultimate
4.6    Ageing and Decay
4.7    To Tissametteyya
4.8    Being Overbold
4.9    With Māgandiya
4.10  Before Breaking-up
4.11   Arguments and Disputes
4.12  Smaller Discourse on Quarrelling
4.13  Greater Discourse on Quarrelling
4.14  The Quick Way
4.15  Assuming Forcefulness
4.16  Sāriputta

5  THE WAY TO THE BEYOND
5.1    The Prologue
5.2    Ajita’s Questions
5.3    Tissamettaya’s Questions
5.4    Puṇṇaka’s Questions
5.5    Mettagū’s Questions
5.6    Dhotaka’s Questions
5.7    Upasīva’s Questions
5.8    Nanda’s Questions
5.9    Hemaka’s Questions
5.10  Todeyya’s Questions
5.11   Kappa’s Question
5.12  Jatukaṇṇi’s Questions
5.13  Bhadrāvudha’s Question
5.14  Udaya’s Questions
5.15  Posāla’s Question
5.16  Mogharāja’s Question
5.17  Piṅgiya’s Question
5.18  In Praise of the Way to the Beyond
5.19  Piṅgiya’s Song of the Way to the Beyond


  

Sunday, 28 January 2018

Nhạc hòa tấu - Piano RICHARD CLAYDERMAN - My Favourite Melodies

Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps:

* nht20.zip – Piano, Richard Clayderman - My Favourite Melodies, 2CDs (319 MB)
https://mega.nz/#!79BE1YrT!3kIWM2KTS8aI7UeDKreLI9nnWJOdHOo3HcYLahKgBF4

Track list:
CD1
1.01 Ballade Pour Adeline
1.02 Just The Way You Are
1.03 How Deep Is Your Love
1.04 Careless Whisper
1.05 I Just Called To Say I Love You
1.06 My Way
1.07 Chariots Of Fire
1.08 Cant Take My Eyes Off You
1.09 Besame Mucho
1.10 What A _Wonderfull World
1.11 Love Story
1.12 Let It Be
1.13 Feelings
1.14 Ebony & Evory
1.15 Che Sara
1.16 Detalhes
1.17 No Se Tu
1.18 Aquarela
1.19 A Comme Amour
1.20 Um Dia De Domingo

CD2
2.01 Lettre A Ma Mere
2.02 Dont Cry For Me Argentina
2.03 Anonimo Veneziano
2.04 Another Day In The Paradise
2.05 Im Not In Love
2.06 Sabor A Mi
2.07 Strangers In The Night
2.08 Corcovado
2.09 Lettre A Elise
2.10 Medley - Cinema Paradiso - Shine
2.11 Bridge Over Troubled Water
2.12 Mariage Damour
2.13 Esta Tarde Vi Llover
2.14 El Reloj
2.15 E Penso A Te
2.16 Medley - Chi Mai - Intermezzo - Heres To You
2.17 My Heart Will Go On
2.18 The Girl From Ipanema
2.19 Everytime You Go Away
2.20 Senza Una Donna
*

Saturday, 27 January 2018

Nhạc hòa tấu - Guitar YOSHIO KIMURA (1934-1996)

Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps:

nht19.zip – Hòa tấu Guitar Yoshio Kimura - A Time For Us, Movie Themes (119 MB)
https://mega.nz/#!6oJ2CIIa!TGdWc-MtV2ukx7NnqXKqEu8nwb8cxKpcshvJB_7DpwI

Track list:
[Guitar] Yoshio Kimura (木村好夫) - A Time For Us: Movie Themes (2017)
01. Romeo & Juliet - A Time For Us
02. The Graduate - The Sound Of Silence
03. The Godfather - Speak Softly, Love
04. Johnny Guitar
05. Sunflower (I Girrasoli) - Lost Of Love
06. The Way We Were
07. Gone With The Wind
08. Love Story
09. Les Parapluies De Cherbourg - I Will Wait For You
10. Papillon - Free As The Wind
11. 13 Jours En France
12. Love Is A Many - Splendored Thing
13. Black Orpheus (Orfeu Negro) - Manha Do Carnaval
14. A Summer Place
15. The Third Man
16. East Of Eden
17. Live For Life (Vivre Pour Vivre)
18. A Man And A Woman (Un Homme Et Une Femme)

*

Friday, 12 January 2018

Bhikkhuni ordination: The secret of Thailand’s biggest female clergy

THE SECRET OF THAILAND’S BIGGEST FEMALE CLERGY
Sanitsuda Ekachai
Bangkok Post, 23 Nov 2017

*

The clergy prohibits female ordination. That does not stop the Nirotharam Monastery in Chiang Mai from being the country’s biggest community of female monks and novices — and with strong support from local monks and residents too.

Under the order by the Sangha Supreme Council (SSC), monks are prohibited from ordaining female monks, or they risk being punished. Women who want to live a monastic life then need to seek ordination in Sri Lanka which recognises the bhikkhuni order. The more practical and less costly option is to invite Sri Lankan preceptors to come to Thailand so they can ordain several women at a time.

The elders want to stop that too. They have asked the Foreign Ministry not to grant visas for Sri Lankan monks, preventing them from entering Thailand to ordain women. The Foreign Ministry meekly complies, although it is a gross violation of a person’s freedom of movement and religious beliefs.

My recent visit to Nirotharam — meaning a place to end suffering — reconfirmed my belief that state discrimination is fruitless. What counts is public faith and there’s no stopping female ordination when people welcome female monks with open arms.

“When you want to grow your seeds of merit, you naturally want to go to the place you believe is most fertile,” said Sanit Inyasom, a community leader. “I looked around and I’ve found that here at Nirotharam.”

Mr Sanit was among hundreds of people who attended a mass ordination of some 90 samaneri or female novices last month at the Nirotharam monastery in Chiangmai’s Chomthong District. Outside the ordination hall, local supporters brought all sorts of vegetarian food to serve for free. Inside, some 90 new samaneri, young and old — all clad in saffron robes — chanted the vows solemnly before ceremoniously paid respects to the Buddha image. Some novices shed tears of joy, as did many of their relatives.

Although their monastic lives would last only two weeks, that women can now be ordained similarly to men — an impossibility until a decade ago — is a watershed moment in Thai Buddhism. Short-term ordination is also increasingly popular, especially among working women, showing the cleric establishment’s brick wall against female ordination is fast tumbling.

Since Thailand’s first female ordination of Bhikkhuni Dhammananda in 2003, the number of female monks and novices in Thailand has grown rapidly despite the clergy’s fierce opposition.

According to a recent survey by the Vijja Bhikkhuni Aramaya Centre, there are at least 173 bhikkhuni, 50 samaneri, and 23 sikhamana (women who are observing religious practices at the temple to prepare themselves for ordination) in 60 bhikkhuni centres across the country.

The Nirotharam monastery is led by Bhikkhuni Nanthayanee, 63, a famous dhamma teacher. It is the biggest bhikkhuni sangha, comprising 34 bhikkhuni, 16 samaneri and 16 sikkhamna. When the present batch of samaneri have full ordination, the number of bhikkhuni at Nirotharam will rise to 50.

After the ordination ceremony, the abbess led all newly ordained novices and the whole Bhikkhuni Sangha of Nirotharam to pay their respects to top monks of Chiang Mai. They received a warm welcome in a grand ceremony.

What is the secret of Nirotharam that has led them to enjoy such wide local support?

“People want dhamma teachers who can clearly and systematically explain difficult concepts in the Buddhist Canons for us ordinary people. Such teachers are hard to find. Phra Acharn is the one,” said Thira Nathong, another Nirotharam supporter. Phra Acharn means venerable teacher.

That is the very reason Nirotharam was the place of choice for feminist Sutada Mekrungruengkul when she decided to be ordained.

“To practise well, you need a teacher. Phra Acharn is a great teacher,” said Ms Sutada, a women’s rights activist. “Her strict observance of monastic discipline makes her a role model for us to follow. Also, Nirotharam provides a real temple atmosphere with close interactions with local communities.”

At Nirotharam, female monks and novices do not touch money and devote themselves to the study of Buddhist scriptures and spiritual practices. Money matters are managed by a foundation and its committee to ensure transparency. The female monks and novices take one vegetarian meal a day. They also walk barefoot in accordance with the monastic code of conduct.

Bhikkhuni Nanthayanee, born Rungduan Suwan, has enjoyed public respect as a dhamma teacher since she was still a maechee or white-robed, head-shaven nun. Born and bred in Chiang Mai, she was ordained a maechee in 1980 after graduating from Chiang Mai University and after having strictly observed a religious life for some years.

Her lively and easy-to-understand teaching of difficult Buddhist concepts — along with her strict monastic discipline — has made her a much-sought after dhamma teacher by educational institutions and both private and state enterprises.

Given the nun’s inferior status to monks, maechee Rungduan did not pose any threats to the clergy despite her prominence as a dhamma teacher back then. Nor now.

After over two decades of nunhood, she was ordained first as a samaneri in Sri Lanka in 2006, then as a bhikkhuni in 2008 — with support from local monks who appreciate her role as a dhamma teacher.

As a bhikkhuni, the abbess maintains cordial relations with the local clergy, showing that discrimination against female monks mainly exists in the clergy’s echelon.

Maintaining reference to monks is also part of the bhikkhuni code of conducts which stipulates that female monks must always pay respect to monks no matter how junior they are.

Many supporters of female ordination argue that the monastic discipline for female monks — which is much harsher than for monks — were discriminatory and written down centuries after the Buddha’s death. They also link female ordination with equal women’s rights.

At Nirotharam, the policy is keeping a low profile, sticking to the Vinaya or monastic rules while quietly practising, teaching, strengthening bonds with local communities, and staying away from the bhikkhuni controversy.

For example, the double ordination controversy. Under the Vinaya, bhikkhuni must be ordained by senior bhikkhu and bhikkhuni. The Thai clergy uses this rule to insist that female ordination is no longer possible because bhikkhuni were long extinct, which rights advocates view as a mere excuse.

In response, the supporters of female ordination argue monks can ordain women since the roles of female monks in the old days only involved the screening and preparation of ordination candidates.

For Bhikkhuni Nanthayanee, the Vinaya has the last say. Instead of arguing with the clergy, she simply keeps sending the novices who want full ordination to Sri Lanka.

Even when her seniority will soon enable her to ordain female monks locally, she said she would still fly the candidates to Sri Lanka for ordination when Thai monks refuse to do so.

Going by the Buddhist Canon has also saved hers and other bhikkhuni temples from being wrongly attacked. Under the bhikkhuni code of conduct, their residences must reside in the monks’ vicinity, but all bhikkhuni monasteries are outside monks’ temples.

“We must go back to the Tri Pitaka to understand how this rule was practised,” said the abbess. “In the Buddha’s times, the bhikkhuni did not live in the temples of monks either. They lived nearby so they could visit the monks for advice and teachings regularly, which is the rule set by the Buddha for female monks,” she explained.

For the bhikkhuni standing to be legitimate, it must be based on the Buddhist Canon, she insisted.

Her scholarship and quiet diplomacy with the local clergy aside, much public respect for the abbess undeniably derives from public frustration with monks’ widespread misconduct and failure to meet modern-day Buddhists’ intellectual and spiritual needs.

Refusing to comment on monks’ behaviour, Bhikkhuni Nanthayanee simply showed a page from the Tri Pitaka, in which the Buddha stressed that a monk’s life must be free of money and wealth which breeds worldly desires, and that any act that breeds worldly desires are not his teachings.

“All we’re doing is following the Tri Pitaka, following the Buddha,” said the bhikkhuni modestly and matter-of-factly.

The secret behind the constant growth of the female clergy at Nirotharam is actually no secret after all. Just be true to the teachings, practise what you preach, and people will come for your guidance regardless of your gender or where you stand in the monastic hierarchy.

Sadly, it is the secret misogynist monks have yet to unlock.

*

Nhạc Việt – Thi sĩ, nhạc sĩ Nguyễn Tất Nhiên (1952-1992)

Nhạc Việt – Thi sĩ, nhạc sĩ Nguyễn Tất Nhiên (1952-1992)

Đây là một album sưu tập một số ca khúc quen thuộc của thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên. Đa số được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc. Có vài bài được các nhạc sĩ Anh Bằng, Nguyễn Đức Quang và Nguyễn Hữu Nghĩa phổ nhạc. Thi sĩ cũng phổ nhạc vài bản.

Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps:
* nviet36.zip – Tình khúc Nguyễn Tất Nhiên - Những Năm Tình Lận Đận,1984 (224 MB)
=> https://mega.nz/#!T8RRTLya!j7Nie0lb44UAQa82mLgrpjQ30z1Ri1_gwwVB8WiE0wg

TÌNH KHÚC NGUYỄN TẤT NHIÊN: NHỮNG NĂM TÌNH LẬN ĐẬN
(Phát hành 1984, Audio cassette: Mimosa; CD: Thúy Anh 30)

1a. Vào Tình Khúc – Nguyễn Tất Nhiên đọc
1b. Thà Như Giọt Mưa – thơ Nguyễn Tất Nhiên, nhạc Phạm Duy – Lệ Thu
2. Như Màu Nắng Sân Trường - thơ Đào Văn Dũng, nhạc Nguyễn Tất Nhiên – Duy Quang
3. Saigon trên đường Nguyễn Du – Nguyễn Tất Nhiên – Lệ Thu
4. Em Hiền Như Ma Soeur – thơ Nguyễn Tất Nhiên, nhạc Phạm Duy – Sĩ Phú
5. Khi Nào Em Vượt Biển – thơ Bắc Phong, nhạc Nguyễn Tất Nhiên – Khánh Ly
6. Xin chở tình ta theo – thơ Nguyễn Tất Nhiên, nhạc Nguyễn Hữu Nghĩa – Lệ Thu
7. Hai Năm Tình lận đận – thơ Nguyễn Tất Nhiên, nhạc Phạm Duy – Sĩ Phú
8. Chiều trên đường Hồng thập Tự – Nguyễn Tất Nhiên – Khánh Ly
9. Nga – thơ Nguyên Sa, nhạc Nguyễn Tất Nhiên – Duy Quang
10. Sông chiều áo trắng – Nguyễn Tất Nhiên – Sĩ Phú
11. Paris Thu Khúc – Nguyễn Tất Nhiên – Lệ Thu
12 Trên nát tan tôi – Nguyễn Tất Nhiên – Duy Quang

Sưu tầm:
13. Khúc Tình Buồn (nhạc Nguyễn Hoàng Thi) – Khánh Ly
14a.Trúc Đào (nhạc Anh Bằng) - Phi Nhung
14b.Trúc Đào (nhạc Anh Bằng) - Lệ Quyên
15a. Vì tôi là linh mục (nhạc Nguyễn Đức Quang) - Don Hồ
15b. Vì tôi là linh mục (nhạc Nguyễn Đức Quang) - Anh Tú
16a. Thiên Thu (nhạc Nguyễn Đức Quang) - Ấu Tím
16b. Thiên Thu (nhạc Nguyễn Đức Quang) - Lệ Mai
-------------------------------------

GHI THÊM: Những bài hát phổ thơ Nguyễn Tất Nhiên (theo Wikipedia)

Chiều trên đường Hồng Thập Tự (tự sáng tác)
Sài Gòn trên đường Nguyễn Du (tự sáng tác)
Sông chiều áo trắng (tự sáng tác)
Paris thu khúc (tự sáng tác)
Trên nát tan tôi (tự sáng tác)
Thà như giọt mưa (Phạm Duy)
Cô Bắc kỳ nho nhỏ (Phạm Duy)
Hai năm tình lận đận (Phạm Duy)
Em hiền như Ma soeur (Phạm Duy)
Anh vái trời (Phạm Duy)
Hãy yêu chàng (Phạm Duy)
Thiên Thu (Nguyễn Đức Quang)
Vì tôi là linh mục (Nguyễn Đức Quang)
Trúc Đào (Anh Bằng)
Nỗi sầu khổ dịu dàng (Nguyễn Hữu Nghĩa)
*
Như màu nắng sân trường (thơ Đào Văn Dũng, nhạc Nguyễn Tất Nhiên)
Khi nào em vượt biển (thơ Bắc Phong, nhạc Nguyễn Tất Nhiên)
Nga (thơ Nguyên Sa, nhạc Nguyễn Tất Nhiên)


*

Tuesday, 9 January 2018

Ba bài tham luận về NIỆM trong kinh điển nguyên thủy

Ba bài tham luận về NIỆM trong kinh điển nguyên thủy

Tôi vừa đưa vào trang web 3 bài tham luận về NIỆM trong kinh điển nguyên thủy, theo tôi, trình bày nghiêm túc, có dẫn chứng đầy đủ:

1) Bhikkhu Bodhi. What does mindfulness really mean? (2011) 
(Niệm thật sự nghĩa là gì?)

2) Gethin, Rupert. On some definitions of mindfulness (2011) 
(Về vài định nghĩa của Niệm)

3) Bhikkhu Analayo. Mindfulness in Early Buddhism (2014) 
(Niệm trong Phật giáo Sơ kỳ)

Tôi sẽ giúp hiệu đính nếu có bạn nào phát tâm dịch sang tiếng Việt.

*

Monday, 8 January 2018

Nhạc Pháp - FRANCE GALL (1947-2018)

Nhạc Pháp - FRANCE GALL (1947-2018)

Tặng cho những ai thích nghe nhạc Pháp, nhất là những ai đã từng là học sinh, sinh viên ở Sài Gòn trước 1975 để nhớ lại một thời xa xưa...

Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps:

nqt17.zip – France Gall, Greatest Hits 1991 (93.8 MB)
https://mega.nz/#!DtYBjSCC!O9I8kZ37EHRzAEFcQHNgbUFyLQEASwF04DhfNFFJjxk

*
01 Poupée De Cire Poupée De Son
02 Sacré Charlemagne
03 Attends Ou Va T'En
04 Ne Soit Pas Si Bête
05 Bébé Requin
06 Ne Dis Pas Aux Copains
07 Laisse Tomber Les Filles
08 Teenie-Weenie-Boppie
09 L'Amérique
10 Pense A Moi
11 Jazz A Gogo
12 Christiansen
13 Le Coeur Qui Jazze
14 Nous Ne Sommes Pas Des Anges
15 Baby Pop
16 N'Ecoute Pas Les Idoles

*

Sunday, 7 January 2018

Nên dè dặt với các từ điển Phật học

Bát chi Thánh đạo – Nên dè dặt với các từ điển Phật học

Thử tra từ “BÁT CHÁNH/CHÍNH ĐẠO” trong các cuốn từ điển Phật học tiếng Việt mà tôi đang có ở nhà:

1) Phật học Từ điển, Đoàn Trung Còn
2) Từ điển Phật học Việt Nam, Thích Minh Châu và Minh Chi
3) Từ điển Phật học Huệ Quang, Thích Minh Cảnh
4) Phật Quang Đại từ điển, Thích Quảng Độ

Cả 4 cuốn nầy đều ghi rằng “Bát chánh/chính đạo” là tám con đường đạo chân chánh, tám con đường thánh đạo, kể cả cuốn từ điển của Hòa thượng Thích Minh Châu. Cuốn từ điển của học giả Đoàn Trung Còn còn chua thêm tên tiếng Pháp là “Noble Voie Octuple”, trong đó, “Voie” (con đường) được viết là số ít (singulier), không có “s”, nghĩa là một con đường. Nhưng trong phần định nghĩa tiếng Việt, tác giả lại ghi “Bát chánh đạo: Đạo bát chánh tức tám con đường chánh … Ai noi theo tám con đường đó mà đi thì thoát khổ, được an lạc”.

“BÁT CHÁNH/CHÍNH ĐẠO” hay “BÁT CHI THÁNH ĐẠO” là con đường gồm có tám yếu tố, hay tám chi, để đưa đến giải thoát giác ngộ như Đức Phật đã dạy về Đạo đế trong bài kinh Chuyển Pháp Luân, bài giảng đầu tiên sau khi Ngài đắc quả vị Chánh Đẳng Giác. Nhầm lẫn cho rằng Bát chánh đạo là Tám con đường chánh là một sự nhầm lẫn rất phổ thông trong hàng Phật tử chúng ta.

Vì vậy, chúng ta nên dè dặt khi sử dụng các cuốn từ điển. Cần phải đối chiếu, tra khảo thêm với các nguồn kinh điển khả tín khác.

Không phải chỉ riêng tiếng Việt mà trong các cuốn từ điển Phật học tiếng Anh cũng thế. Thỉnh thoảng tôi cũng gặp vài mục từ mà tôi phân vân, nghi ngờ về định nghĩa và nguồn gốc, xuất xứ. Tôi sẽ trình bày thêm trong một dịp khác.

*

Rảnh rỗi sinh nông nỗi, tiếp tục tra từ “Bát chánh/chính đạo” trong các cuốn từ điển Phật học tiếng Việt còn lại mà tôi đang có:

5) Từ điển Phật ngữ Anh-Việt, Huỳnh Văn Thanh.
Tại mục từ “NOBLE EIGHTFOLD PATH”, với PATH là số ít (singular) nghĩa là một con đường, tác giả dịch là “Bát thánh đạo” chua thêm tiếng Hán. Nhưng trong phần giải thích, tác giả lại ghi “tám con đường thánh dẫn tới sự giải thoát”.

6) Danh từ Phật học Thông dụng, Tâm Tuệ Hỷ.
Tại mục từ BÁT CHÁNH ĐẠO, tác giả định nghĩa là “con đường của tám sự hành trì chân chánh”, nhưng trong những đoạn tiếp theo, lại ghi là “… nếu tu tập theo tám con đường nầy thì sẽ giác ngộ” và “tám con đường hành trì của một người quyết tâm đi tìm sự thật”.

7) Từ điển Phật học Hán Việt, Kim Cương Tử và Thích Thanh Ninh.
Trong mục từ BÁT CHÍNH ĐẠO, không thấy ghi rõ đây là một hay tám con đường, nhưng liệt kê và giải thích tóm tắt tám yếu tố, gọi là tám pháp, của chính đạo hay thánh đạo.

8) Tiểu từ điển Phật học Thông dụng, Thiện Nhựt Huỳnh Hữu Hồng.
Trong mục từ BÁT CHÁNH ĐẠO, BÁT THÁNH ĐẠO, tác giả ghi rõ ràng là “con đường Thánh đạo tám ngành” và liệt kê tám ngành đó.

9) Từ điển Phật học, Chân Nguyên và Nguyễn Tường Bách.
Trong mục từ BÁT CHÍNH ĐẠO, tác giả định nghĩa là “con đường tám nhánh giải thoát khỏi Khổ, là chân lí cuối cùng của Tứ diệu đế”. Trong đoạn sau, có ghi “Bát chính đạo không nên hiểu là những ‘con đường’ riêng biệt”.

Tóm lại, trong 9 cuốn từ điển Phật học tiếng Việt mà tôi có sẵn trong nhà, chỉ có hai cuốn ghi rõ ràng “Bát chánh/chính đạo” là một con đường có tám yếu tố hay tám chi. Sáu cuốn kia cho rằng đó là tám con đường, và một cuốn không ghi rõ là một hay tám con đường.

*


Sunday, 31 December 2017

Nhạc Việt: Phạm Duy, Trường ca CON ĐƯỜNG CÁI QUAN & MẸ VIỆT NAM


Trường ca CON ĐƯỜNG CÁI QUAN & MẸ VIỆT NAM.
Thu âm tại Sài Gòn vào năm 1965, với lời giới thiệu của Phạm Duy.

Tải về dạng nén ZIP, giải nén sẽ được các files audio, dạng MP3 - 320 kbps:

* nviet35.zip – Trường ca Con Đường Cái Quan & Mẹ Việt Nam (136 MB)
https://mega.nz/#!blYmlbpS!y16lL2XZiufGasE2k1E8beDHSarzbwAUZVed81CYeVg 

1) Trường ca Con Đường Cái Quan, Phạm Duy sáng tác từ năm 1954 đến 1960.
- Từ miền Bắc
- Qua miền Trung
- Vào miền Nam

2) Trường ca Mẹ Việt Nam, Phạm Duy sáng tác từ năm 1963 đến 1964. 
- Đất mẹ
- Núi mẹ
- Sông mẹ
- Biển mẹ.

*